Quyền về đất đai của phụ nữ trong luật nhân quyền quốc tế và pháp luật Việt Nam

Quyền về đất đai của phụ nữ trong luật nhân quyền quốc tế  
và pháp luật Việt Nam  
TS Ngô Minh Hương  
Khoa Luật – Đại Học Quốc Gia Hà Nội  
1. Giới thiệu  
Quyền tiếp cận, sử dụng và kiểm soát đất đai là quyền cơ bản được ghi trong  
Tuyên ngôn Nhân quyền phổ quát (UDHR) và Công ước Xóa bỏ Mọi Hình thức Phân  
biệt Đối xử với Phụ nữ (CEDAW). Tiếp cận và kiểm soát đất đai cho phép mọi người  
xây dựng nơi ở và / hoặc duy trì sinh kế cho bản thân và gia đình của họ. Quyền sở  
hữu cá nhân đối với nhà và đất có thể làm tăng quyền lực của cá nhân trong gia đình,  
cộng đồng và trong xã hội. Tuy nhiên, khả năng sở hữu và sử dụng đất phụ thuộc vào  
cả bối cảnh pháp lý và xã hội. Mặc dù cả nam giới và phụ nữ đều có thể bị từ chối đất  
đai và các quyền tài sản khác, nhưng phụ nữ thường bị gạt ra ngoài lề bởi luật pháp  
và xã hội có định kiến giới.  
Bài viết này làm rõ các nội hàm của quyền đất đai của phụ nữ trong luật nhân  
quyền quốc tế và những kinh nghiệm pháp luật của một số nước. bài viết cũng đặt ra  
những thách thức và giải pháp để đảm bảo quyền ở Việt Nam. Bài viết gồm bốn phần  
chính: (i) quy định về quyền đất đai của phụ nữ trong các công ước quốc tế về quyền  
con người; (ii) quy định về quyền đất đai của phụ nữ trong pháp luật Việt Nam và sự  
tương thích; (iii) Thách thức và các biện pháp khuyến nghị cho Việt nam nhằm đảm  
quyền đất đai của phụ nữ.  
Bài viết phân tích về quyền đất đai của phụ nữ ở Việt nam và những hạn chế  
trong việc thực thi đảm bảo quyền này cũng như các hậu quả của việc từ chối quyền  
này hoặc khi phụ nữ không thể tiếp cận được quyền. Quyền tiếp cận sở hữu đất đai  
của phụ nữ được quy định trong pháp luật quốc tế và quốc gia từ đó có những khuyến  
nghị giải pháp đỗi với Việt Nam trên phương diện xây dựng pháp luật.  
2. Quyền sở hữu đất đai của phụ nữ theo pháp luật quyền con người quốc tế  
Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người ghi nhận các quyền và tự do cơ bản  
mang tính phổ biến, do vậy, tất cả mọi người kể cả phụ nữ cũng là chủ thể của quyền.  
244  
Tuyên ngôn cũng ghi nhận không có sự phân biệt đối xử dựa trên các cơ sở nhu dân  
tộc, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, giới tính hoặc tình trạng khác.  
“Nghị quyết số 2000/13 của Ủy ban Nhân Quyền quy định về sở hữu bình  
đẳng của phụ nữ, tiếp cận và kiểm soát đất đai và quyền bình đẳng về sở hữu tài sản  
và nhà ở thoả đáng được thông qua vào năm 2000, thừa nhận rằng luật pháp, chính  
sách, phong tục và truyền thống ngăn cản phụ nữ sở hữu và thừa kế đất đai, tài sản  
và nhà ở là phân biệt đối xử. Tại Hội nghị Thế giới lần thứ tư về Phụ nữ vào tháng 9  
năm 1995, Tuyên bố và Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh đã được thông qua nhằm  
mục đích thúc đẩy các mục tiêu bình đẳng, phát triển và hòa bình cho tất cả phụ nữ,  
cũng như thúc đẩy quyền của họ. Điều 35 của Tuyên bố Bắc Kinh yêu cầu các quốc  
gia đảm bảo quyền tiếp cận đất đai bình đẳng cho cả nam giới và phụ nữ, trao quyền  
cho phụ nữ và trẻ em gái.  
Công ước CEDAW Điều 14 (2) (g) quy định rằng các quốc gia thành viên của  
Công ước phải đảm bảo rằng phụ nữ ở nông thôn được hưởng lợi từ phát triển nông  
thôn bằng cách đảm bảo cơ hội tiếp cận cảu phụ nữ với khoản vay và tín dụng nông  
nghiệp, và đối xử bình đẳng về đất đai trong việc thực hiện các cải cách nông nghiệp  
và dự án tái định cư đất đai '. Điều 16 (h) cũng bảo vệ phụ nữ trong tất cả các vấn đề  
liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình, và yêu cầu các Quốc gia thực hiện mọi  
biện pháp cần thiết để xóa bỏ sự phân biệt đối xử chống lại họ bằng cách tạo ra các  
quyền như nhau cho cả nam và nữ đối với 'quyền sở hữu, mua , quản lý, điều hành,  
sử dụng và định đoạt tài sản. Điều 2 và 3 của Công ước xoá bỏ mọi sự phân biệt đối  
xử với phụ nữ (CEDAW) quy định rõ về trách nhiệm của nhà nước cần quy định  
nguyên tắc bình đẳng nam nữ trong hiến pháp, pháp luật quốc gia và đảm bảo thực  
hiện các nguyên tắc này trên thực tế, Quốc gia cần có các biện pháp ngăn chặn các  
hình thức phân biệt đối xử chông lại phụ nữ bằng mọi biện pháp, kể cả chế tài hình  
sự. Thêm nữa, quốc gia cũng cần thiết lập các cơ chế pháp lý để phụ nữ được bảo vệ  
các quyền bình đẳng của họ. Điều 15 CEDAW Khoản 2 cũng cụ thể hơn về quyền  
bình đẳng của phụ nữ trong việc ký kết hợp đồng, quản lý tài sản và phải đối xử bình  
đẳng với phụ nữ trong tất cả những giai đoạn tố tụng trước toà án và các cơ quan xét  
xử. Điều 16 quy định quốc gia thành viên cần có các biện pháp thích hợp để xoá bỏ  
sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong tất cả các vấn đề liên quan đến hôn nhân  
245  
và quan hệ gia đình kể cả bình đẳng đối với việc sở hữu, thừa kế, kiểm soát, quản lý,  
hưởng thụ và sử dụng tài sản. Bình luận chung số 21 của CEDAW (đoạn 25) giải  
thích thêm quốc gia cần đảm bảo quyền sở hữu, quản lý, hưởng thụ và sử dụng tài  
sản cho phụ nữ vì đây là trọng tâm để bảo đảm quyền của phụ nữ được độc lập về  
mặt tài chính. Ở nhiều nước, quyền này cũng là hết sức quan trọng đối với khả năng  
kiếm sống, được có đầy đủ nơi ăn, chốn ở và dinh dưỡng cho bản thân và gia đình  
của người phụ nữ. Phụ nữ có quyền được hưởng phần đất phân chia trên cơ sở bình  
đẳng với nam giới, bất kể tình trạng hôn nhân ra sao.  
Khuyến nghị chung số 34 (2016) của CEDAW về quyền của phụ nữ nông thôn  
và quyền đất đai và tài nguyên thiên nhiên (điều 14, đoạn 2 (g), đọc cùng với điều  
13). Phụ nữ nông thôn thường bị hạn chế đối với quyền sở hữu đất đai và tài nguyên  
thiên nhiên thậm chí phụ nữ phải chịu sự phân biệt đối xử vì vốn đất đai do nam giới  
kiểm soát phần lớn. do vậy CEDAW khuyến nghị các quốc gia thành viên phải đảm  
bảo rằng luật pháp đảm bảo quyền của phụ nữ nông thôn đối với đất, nước và các tài  
nguyên thiên nhiên khác trên cơ sở bình đẳng với nam giới, bất kể tình trạng dân sự  
và hôn nhân của họ ((đoạn 59). Quốc gia phải đảm bảo rằng việc thu hồi đất, bao gồm  
cả hợp đồng thuê đất, không vi phạm quyền của phụ nữ nông thôn hoặc dẫn đến việc  
buộc phải di dời và bảo vệ phụ nữ nông thôn khỏi những tác động tiêu cực của việc  
thu hồi đất của các công ty xuyên quốc gia, các dự án phát triển, các ngành công  
nghiệp khai thác.  
Phụ nữ nông thôn cần được trao quyền để tham gia một cách có ý nghĩa vào  
các quyết định về quản lý đất đai và phát triển lãnh thổ (Điều 7, 8 và 14 của CEDAW;  
c.f. ILC, 2011). Phụ nữ nông thôn thường không được trao quyền để yêu cầu và bảo  
vệ các quyền về đất đai của họ. Họ thường thiếu kiến thức về quyền của mình. Phụ  
nữ nông thôn thường ít biết đọc biết viết vì ít được tiếp cận với giáo dục; và thiếu  
năng lực, tài liệu và cơ hội tham gia vào quản lý đất đai dẫn đến nhiều khả năng bất  
bình đẳng trong tiếp cận và được bảo vệ quyền sở hữu đất đai.  
Luật pháp bước đầu là quan trọng, nhưng chưa đủ. CEDAW yêu cầu các quốc  
gia thành viên đảm bảo bình đẳng bằng pháp luật và trên thực tế (Điều 2, 3, 4 và 5).  
Có những quan ngại rằng kể cả khi đã có pháp luật tiến bộ, vẫn còn những bất bình  
246  
đẳng tồn tại, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và vùng sâu vùng xa, hoặc giữa các  
nhóm dân tộc thiểu số và bản địa.  
Để phụ nữ có thể có các quyết định về cách thức sử dụng, kiểm soát hoặc sở  
hữu đất đai, phụ nữ cần được tham gia bình đẳng trong việc ra quyết định cùng với  
nam giới ở tất cả các cấp từ hộ gia đình và cộng đồng đến các cơ quan quản lý đất đai.  
Phân biệt đối xử cũng được thể hiện ở việc phụ nữ thiêu các cơ hội tiếp cận  
các khoản vốn vay và tín dụng, vì các rào cản về sở hữu các giấy tờ có thể thế chấp,  
hoặc yêu cầu phải có người giám hộ, bảo lãnh như chồng hay các anh em trai là những  
người đang sở hữu các tài sản. Phân biệt đối xử dựa trên tình trạng sở hữu tài sản đối  
với phụ nữ là khi tài sản được hiểu bao gồm cả sở hữu về đất đai, hợp đồng thuê đất,  
tài sản cá nhân, sở hữu trí tuệ và các thu nhập khác. 1 Luật pháp, chính sách cần đảm  
bảo phụ nữ tiếp cận bình đẳng và độc lập đối với các khoản vay và tín dụng, để phụ  
nữ có thể sở hữu đất đai, tài sản và các nguồn lực sản xuất khác bất kể tình trạng hôn  
nhân và không có yêu cầu của nam giới (chồng, cha, anh , v.v.) với tư cách là người  
đồng ký tên hoặc người bảo lãnh.  
Tình trạng hôn nhân và gia đình có thể khác nhau khi cá nhân ở tình trạng đã  
kết hôn hoặc chưa kết hôn, kết hôn theo luật pháp hoặc đang sống với mối quan hệ  
trên thực tế nhưng không được pháp luật công nhận là hôn nhân, ly hôn hoặc góa bụa,  
sống ở một gia đình hoặc nhóm họ hàng. Phân biệt đối xử trên cơ sở kết hôn nhân  
hay tình trạng gia đình có thể xảy ra đối với phụ nữ bởi việc sở hữu hay công nhận  
quyền sở hữu đất đai chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của vợ hoặc chồng hoặc sự  
đồng tình hoặc bảo đảm của họ hàng. Do vậy, để xoá bỏ phân biệt đối xử này, các  
quốc gia phải thay đổis pháp luật về phân biệt đối xử và tình trạng sở hữu của phụ nữ  
dựa trên tình trạng hôn nhân nhằm khả năng tiếp cận các nguồn lực kinh tế của phụ  
nữ. Đặc biệt, các Quốc gia cần đảm bảo quyền sở hữu bình đẳng cho phụ nữ và nam  
1 https://undocs.org/E/C.12/GC/20 GENERAL COMMENT No. 20 Non-discrimination in  
economic, social and cultural rights (art. 2, para. 2, of the International Covenant on  
Economic, Social and Cultural Rights) . See CESCR general comments Nos. 15 and 4  
respectively.  
247  
giới, bao gồm quyền thừa kế và thừa kế, được hiểu theo Khuyến nghị chung 21 về  
Bình đẳng trong Quan hệ Hôn nhân và Gia đình.  
Luật pháp, chính sách và quy định của nhiều quốc gia còn cần phải đồng bộ  
hướng tới việc đảm bảo quyền sở hữu đất đai của phụ nữ. Tuy nhiên nhiều luật pháp  
còn thiếu nhạy cảm về bình đẳng. Hơn nữa còn tồn tại nhiều dạng phân biệt đối xử  
đặc biệt dựa trên tình trạng của phụ nữ, năng lực pháp lý, quy định về thừa kế và tình  
tràng tài sản, hôn nhân và bình đẳng trong hôn nhân. Các luật này có thể trở thành  
hạn chế và rào cản để phụ nữ có quyền sở hữu đất đai. Do vậy luật pháp trong lĩnh  
vực hôn nhân gia đình, ly hôn, khoá phụ, thừa kế cần hướng tới việc phụ nữ được  
quyền tự quyết định tiếp cận, sở hữu, mua, nắm giữ và quản lý, sử dụng tài sản đất  
đai mới có thể đảm bảo quyền đất đai của phụ nữ.  
Tuy nhiên ở nhiều xã hội với các văn hoá tập tục, việc tiếp cận đất đai hoặc  
đòi quyền sở hữu còn có thể gây ra các rủi ro về xã hội cho phụ nữ, các biện pháp  
quy định về pháp lý về sở hữu chung của gia đình trong đó có cả vợ và chồng kể cả  
việc mua, tặng, giao dịch, quyết định về sử dụng tài sản đất đai đó cũng có thể là  
phương thức đảm bảo pháp lý về quyền đất đai cho phụ nữ.  
Một nghiên cứu chỉ ra rằng phụ nữ có thể tiếp cận quyền sở hữu đất đai có thể  
làm tăng vị thế của phụ nữ, đặc biệt là đối với các goá phụ hoặc phụ nữ ly hôn  
(Whitehead and Tsikata 2003). Khả năng được tiếp cận các nguồn tín dụng và tạo thu  
nhập cũng là biện pháp làm tăng sự tự chủ, tăng vai trò trong gia đình trong việc ra  
quyết định, đi lại, và năng lực thương thuyết trước nam giới. (Pitt et al. 2006). Phụ  
nữ tham gia các hoạt động tạo sinh kế và thu nhập cũng làm tăng năng lực đàm phán.  
Các kinh nghiệm tăng quyền và bình đẳng giới của phụ nữ trong tiếp cân quyền  
đất đai ở một số nước đang phát triển chứng mình hiệu quả luật pháp. Đây cũng là  
một số kinh nghiệm tốt về việc làm luật về quyền đất đai của phụ nữ.  
Ở Ru-an-da, cùng với việc sửa đổi hiến pháp năm 2003, và luật Thừa kế năm  
1999. Sau đó là luật đất đai năm 2005, phụ nữ đã được quyền sở hữu đất đai, tuy  
nhiên vẫn còn có hạn chế là chỉ thường áp dụng với các phụ nữ có hôn nhân hợp pháp  
chính thức. Luật Thừa kế năm 1999 trao quyền thừa kế bình đẳng cho con trai và con  
gái, đồng thời bảo vệ quyền tài sản của những phụ nữ đã kết hôn hợp pháp, yêu cầu  
phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng đối với bất kỳ việc mua bán đất nào. Quy định  
248  
này đã củng cố việc đảm bảo quyền sở hữu cho phụ nữ đã kết hôn và giảm bớt sự  
phân biệt trên cơ sở giới về thừa kế . Luật Đất đai 2005 yêu cầu phụ nữ / trẻ em gái  
phải được thuận tình bằng văn bản hoặc từ chối bằng văn bản đối với bất kỳ giao dịch  
tài sản hôn nhân hoặc tài sản gia đình. Cả vợ và chồng có nghĩa vụ cùng nhau đi nhận  
giấy chứng nhận đất.  
Ở Nepal, chính phủ có chính sách giảm thuế cho phụ nữ khi họ đi đăng ký  
quyền sở hữu đất, cũng như giảm phí cho việc đăng ký sở hữu đất bằng tên chung của  
cả vợ và chồng đã dẫn đến việc tăng tỷ lệ đăng ký chứng nhận sở hữu đất của phụ nữ  
và của hộ gia đình.  
Ở Bang-la-desh, luật và chính sách bắt buộc đảm bảo dứoi sở hữu chung của  
cả vợ và chông. Việc hôn nhân cũng bắt buộc phải có đăng ký nhằm đảm bảo phụ nữ  
có quyền đòi tài sản và đầu tư của chồng trong trường hợp họ trở thành goá bụa.  
Ở Ấn độ, Luật đạo Hindu đảm bảo việc bảo vệ quyền có tài sản thừa kế, kể cả  
đất đai bình đẳng giữa nam và nữ.  
Ở Cam-pu-chia, việc sửa đổi Luật đất đai và Luật Lâm nghiệp cũng như Luật  
về khu vực bảo tồn đã đảm bảo hiệu quả quyền đất đai của người nghèo và ngừoi dân  
tộc thiểu số, đặc biệt là phụ nữ.  
Ở Nigeria, Hiến pháp năm 1999 đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ  
trong các lính vực và không phân biệt đối xử trên cơ sở giới, sắc tộc và điều 43 khẳng  
định mọi người đều có quyền sở hữu tài sản. Tuy nhiên luật đất đai 1978 của Nigeria  
vẫn quy định đất đai thuộc sở hữu và quản lý của nhà nước. Một số quyền về sở hữu  
tài sản đất đai chưa được nội luật hoá theo như hiến định. 2  
Kenya quy định phụ nữ có quyền sở hữu đất đai trong Hiến pháp năm 2010,  
đồng thời trong luật chống phân biệt đối xử trên cơ sở giới, tập quán. Luật đăng ký  
đất đai năm 2012 quy định chưng nhận sở hữu phải đứng tên cả vợi và chồng để đảm  
bảo phụ nữ không bị mất tài sản khi chấm dứt hôn nhân. Đạo luật Tài sản Hôn nhân  
năm 2013 công nhận rằng phụ nữ đã kết hôn có quyền giống như nam giới đã kết  
2 Taiwo A. (2016), “The Nigerian Land Law” (2nd Ed, Princeton and Associates  
Publishing Co. Ltd.). Women and Land Tenure Security: The Nigerian Experience Remi  
Adeyemo1, *, Michael Kirk2 , Olaitan Olusegun. International Journal of Agricultural  
Economics 2019; 4(2): 41-47 doi: 10.11648/j.ijae.20190402.11  
249  
hôn. 3Luật đăng ký đất đai năm 2021 cũng xác nhận việc sử dụng chung tài sản của  
4
cả vợ và chồng với mục tiêu bảo vệ quyền sở hữu đất đai của phụ nữ.  
3. Khung pháp lý ở Việt Nam về quyền đất đai của phụ nữ  
Ở Việt Nam, kể từ khi “Đổi mới” năm 1986, Việt Nam đã thực hiện quá trình  
chuyển đổi mạnh mẽ từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường.  
Năm 1988, chính phủ bắt đầu chuyển đổi hệ thống kinh tế tập thể dựa trên hợp tác xã  
nông nghiệp với chính sách mới cho phép các hộ nông dân thuê đất từ mười đến mười  
lăm năm. Để cải thiện cơ cấu khuyến khích đối với các hộ nông dân. Chính phủ đã  
thông qua Luật Đất đai mới vào năm 1993 trong đó kéo dài thời gian thuê lên 20 năm  
đối với đất trồng cây hàng năm và 50 năm đối với đất trồng cây lâu năm. Ngoài ra,  
luật cho phép nông dân mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp quyền  
sử dụng đất của họ. Luật Đất đai năm 1993 cũng tạo ra cần đẩy về thị trường bất  
động sản khi cho phép các giao dịch về đất đai và quyền sử dụng đất lần đầu tiên ở  
Việt Nam (Ravallion, M. And D. Van de Walle. 2008) 5. Mặc dù không có phân biệt  
về giới trong luật, nhưng Luật Đất đai năm 1993 dường như đem lại lợi ích cho nam  
giới nhiều hơn với tỷ lệ nam đứng tên trên GCNQSD trong khi chỉ có 10-12% phụ  
nữ có tên trên GCNQSD.6  
Việc thay đổi luật được thực hiện thông qua việc cấp cho các hộ nông dân sử  
dụng đất thông qua Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (LUC). Tuy nhiên, đã tồn  
tại nhiều vấn đề về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, là do sự chậm trễ  
3 Đọc: https://www.ilo.org/dyn/natlex/docs/ELECTRONIC/97351/115471/F-  
540095358/KEN97351.pdf  
4 Đọc: http://www.parliament.go.ke/sites/default/files/2017-05/LandAct2012.pdf  
5 Ravallion, M. And D. Van de Walle. 2008. Land in Transition: Reform and Poverty in  
Rural Vietnam. The International Bank for Reconstruction and Development. The World  
Bank.  
6 Committee on the Elimination of Discrimination Against Women (CEDAW). 2005.  
Consideration of Reports Submitted by States Parties Under Article 18 of the Convention  
on the Elimination of All Forms of Discrimination Against Women: Vietnam, Combined  
Fifth and Sixth Periodic Reports of States Parties, CEDAW/C/VNM/5-6, CEDAW, New  
York, NY.  
250  
của các cơ quan quản lý trong việc xây dựng hướng dẫn cấp GCNQSDĐ. Thuế suất  
thuế sử dụng đất đã đặt ban đầu quá cao, các hồ sơ về đất đai trước đây không chính  
xác hoặc mất, tạo ra một số lượng lớn các tranh chấp và đơn yêu cầu giải quyết và  
các khoản nợ cần được xóa trước khi có thể ban hành GCNQSDĐ.  
Việc cấp quyền sử dụng đất cũng cho thấy là không đồng đều vì chủ yếu đất  
đai chủ yếu do nam giới nắm giữ. Về nguyên tắc, các cải cách pháp luật đã không tạo  
ra phân biệt đối xử trong việc cấp quyền vì Luật Đất đai quy định “cá nhân” và “người  
sử dụng”. Tuy nhiên, quá trình thực thi luật đã có sự chênh lệch về giới trong cấp  
quyền sử dụng đất. Ví dụ, trong những năm đầu tiên, các GCNQSDĐ chỉ có một tên  
mà chủ hộ điền vào. Do có nhiều hộ gia đình có cả vợ và chồng mà do người chồng  
làm chủ hộ hơn là người vợ, nên kết quả là số phụ nữ có tên trong GCNQSDĐ ít hơn.  
Điều này đã được thay đổi bằng nghị định năm 2001 của chính phủ quy định rằng tên  
của cả vợ và chồng phải được ghi trên GCNQSDĐ nếu đất thuộc sở hữu chung. Một  
nghiên cứu cũng cho rằng quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp cũng đem laị lợi ích  
nhiều hơn cho nam giới vì trên GCNQSDĐ trước đây chỉ có một chỗ để điền tên, nên  
thường là nam giới có tên trên giấy chứng nhận đó (Ravallion and van de Walle,  
2008). Nghiên cứu cũng chỉ ra lợi thế về đứng tên trên GCNQSDĐ là nghiêng về nam  
giới vì ở địa phương, nam giới thươgnf đứng tên chủ hộ, phụ nữ đứng tên chủ hộ là  
ít hoặc bị phân biệt.  
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận cụ thể tại Chương  
II: Quyền con người, quyền và tự do cơ bản của công dân. Theo đó, mọi người đều  
bình đẳng trước pháp luật và không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị,  
dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn, hôn nhân theo  
nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn  
nhau, Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ  
em. Đặc biệt, Điều 26 Hiến pháp nhấn mạnh: Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi  
mặt; Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước, xã  
hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình  
trong xã hội; nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới  
Luật Bình đẳng giới 2006 cũng quy định bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị  
trí, vai trò ngang nhau trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, được tạo  
điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của  
251  
gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó và không bị phân  
biệt đối xử về giới Nhà nước ngăn chặn mọi hình thức phân biệt đối xử, xóa bỏ những  
tập tục, tập quán, văn hóa, khuôn mẫu có tính chất phân biệt đối xử,  
Quyền tiếp cận đất đai, cụ thể là của phụ nữ được ghi nhận như quyền và lợi  
ích hợp pháp trong pháp luật. Pháp luật về đất đai đã sửa đổi để thể hiện sự bình đẳng  
của phụ nữ và nam giới, bao gồm các quy định quyền của phụ nữ được đứng tên cùng  
chồng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp.  
Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn với đất cũng giúp cho phụ nữ có sự tự tin,  
chủ động trong gia đình, sản xuất, kinh doanh. Luật đất đai 2003 đã đưa yếu tố bình  
đẳng giới vào. Đồng thời bình đẳng giới cũng được thể hiện trong các quy phạm pháp  
luật dân sự, hôn nhân, gia đình, kinh doanh, đầu tư.  
Tuy nhiên, đất đai được quy định là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nhà nước  
quản lý, theo hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất (Điều 54  
của Hiến pháp 2013). Đất đai được quy định sở hữu toàn dân và nhà nước làm chủ đại  
diện sở hữu (khoản 1 điều 5, luật đất đai năm 2003). Còn một số tồn tại trong pháp luật  
về đất đai, khi quy định nhà thuộc sở hữu tư, đất thuộc sở hữu tập thể, thuộc sử quản  
lý của nhà nước, thì nhà nước có quyền quyết định về sở hữu của đất đai. Điều này có  
thể xảy ra xung đột với quyền sử dụng của người dân khi người dân muốn thay đổi  
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà gắn với đất của họ. Luật đất đai 2003 khoản 2  
điều 27 và điều 95 Luật đất đai 2013 cũng quy định về nghĩa vụ của người sử dụng đất  
đăng khi quyền sử dụng đất, làm đầy đủ thủ tục khi chuyển nhượng chuyển đổi, cho  
thuê lại thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, bảo lãnh, thế chấp, góp vốn v,v,.  
Luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2014 và Bộ Luật dân sự Việt Nam năm  
2005 đã quy định cho con trong giá thú và con ngoài giá thú đều được hưởng di sản  
thừa kế. Các chính sách được xác định và thực hiện rõ ràng đã giúp tăng khả năng  
tiếp cận đất đai của phụ nữ khi yêu cầu cả hai vợ chồng phải có tên trong giấy chủ  
quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, trong nhiều tình huống khi việc phân chia tài sản trong  
gia đình là ý muốn của cha mẹ có thể muốn chia nhiều hơn cho con trai, thì pháp luật  
không được áp dụng.  
252  
4. Thực trạng và thách thức về quyền sở hữu đất đai của phụ nữ ở Việt Nam  
Có nhiều nghiên cứu về thực trạng tiếp cận quyền đất đai của phụ nữ đã được  
thực hiện cho thấy đa số nam giới vẫn đang nắm giữ hoặc đứng tên trên giấy chứng  
nhận quyền sử dụng đất. Nghiên cứu của UNDP (2013) cho thấy 60% nam giới trong  
khi chỉ có 20% phụ nữ được đúng tên trên GCNQSDD. Tuy nhiên tỷ lệ giấy chứng  
nhận có tên chung của cả vợ và chồng tăng từ 14% từ năm 2004 lên 18% năm 2008  
(theo số liệu điều tra dân số VHLSS 2004, 2008). Báo cáo cũng chỉ ra từ những phỏng  
vấn sâu với phụ nữ là họ cảm thấy có quyền quyết định hơn cả trong gia đình, xã hội,  
lĩnh vực kinh tế khi có tên trên GCNQSDĐ.  
Quyền sử dụng và phân chia tài sản trong gia đình là yếu tố quan trọng trong  
việc đảm bảo quyền tài sản và quyền đất đai của phụ nữ. Một nghiên cứu của ngân  
hàng thế giới (WB, 2013) trên cũng thực hiện điều tra khảo sát về ý kiến cho rằng cả  
vợ và chồng cần có tên trên giấy chứng nhận cho thấy 74.6% số người được hỏi chung,  
chỉ có 49% người được hỏi trong cồng đồng mẫu hệ, 88.8% người dân thành thị so với  
chỉ có 69.2% người dân nông thôn cho rằng cả vợ và chồng cần có tên trên giấy chứng  
nhận. Điều này cho thấy có sự khác biệt về nhận thức về sự bình đẳng giữa vợ và chồng  
trong quyền sử dụng đất là khác nhau giữa văn hoá và các khu vực sống.  
Thái độ về việc phân chia tài sản trong gia đình trong trường hợp ly hôn cũng  
khác nhau giữa các dân tộc, giữa nông thôn và thành thị. Trong cộng đồng phụ hệ,  
74,7% người được hỏi đồng ý, trong cộng đồng mẫu hệ chỉ có 35.3% đồng ý. Hầu  
hết người được hỏi của cộng đồng phụ hệ và bình thường đồng ý tài sản cần được  
phân chia đồng đều trong đó chỉ có 40% từ cộng đồng mẫu hệ là đồng ý. Chỉ rất ít  
những người sống ở thành thị cũng đồng ý rằng con trai được quyền chia tài sản nhiều  
hơn con gái hoặc con gái sẽ bị gạt ra không được nhận tài sản thừa kế trong khi hơn  
50% người được hỏi ở cộng đồng phụ hệ cho rằng con trai được thừa kế phân chia tài  
sản gia đình nhiều hơn do con trai có trách nhiệm hương khói cho ông bà tổ tiên hoặc  
tập quán cho rằng con gái là con người ta, khi đi lấy chồng thì thuộc về gia đình khác.  
Nghiên cứu cũng cho thấy ở trình độ học vấn cao hơn thì có thể có tỷ lệ quyền  
sử dụng và tài sản đứng tên chung cao hơn và cả vợ và chông đều chia sẻ quyền quyết  
định trên tài sản của gia đình. Tuy nhiên nghiên cữu cũng chỉ ra rằng, nam giới có xu  
hướng tìm hiểu về pháp luật và quy định về đất đai, tài sản nhiều hơn phụ nữ và do  
vậy họ có thể biết cách đòi quyền sở hữu tốt hơn. Nhận thức và tiếp cận công lý trong  
253  
quyền đất đai của phụ nữ cũng thấp hơn. Nghiên cứu chỉ ra rẳng, mặc dù đảm bảo  
quyền sở hữu cho phụ nữ có thể đem lại lợi ích lơn, bao gồm cả tình trạng và vị thế  
kinh tế, xã hội, tình trạng sức khoẻ của phụ nữ và trẻ em. Nhưng đòi hỏi sự hiểu biết  
của phụ nữ về pháp luật và các thủ tục cách thức tiếp cận tư pháp ở cả cấp địa phương  
để có thể đòi hỏi công lý cho quyền sở hữu trong trường hợp bị tranh chấp (Menon,  
N., Y. Rodgers, and A. Kennedy, 2014) .  
Phụ nữ phải đối mặt với các rào cản liên quan đến phong tục truyền thống và  
thái độ tiêu cực đối với việc tiếp cận đất đai của phụ nữ. Thiếu kiến thức về các quy  
trình để được cấp GCNQSDĐ và đăng ký sang tên trong GCNQSDĐ cũng là những  
rào cản quan trọng đối với phụ nữ.  
Một nghiên cứu khác cho thấy, ít có sự thống nhất về phân chia tài sản trong  
hôn nhân, và phụ nữ goá bụa hoặc phụ nữ không có con trở nên dễ bị tổn thương hơn  
trong vẫn đề đảm bảo quyền sở hữu đất và nhà khi người chồng qua đời. Nghiên cứu  
cũng khảo sát và cho tháy chỉ có 50% người được hỏi là không đồng ý với việc phụ  
nữ và nam giới có thể sở hữu riêng tài sản trong hôn nhân. 7  
Một số thách thức chính ngăn cản phụ nữ tiếp cận đầy đủ các quyền về đất đai  
của họ là (i) pháp luật và thủ tục quy định; (ii) tập quán dòng họ; (iii) ban hòa giải;  
(iv) thực hành di chúc; (v) tiếp cận các dịch vụ pháp lý và (v) thái độ giới ở địa  
phương, vốn đặc quyền cho quyền lực nam giới ở các nhóm dân tộc (WB, 2012)  
Về khía cạnh quyền được sở hữu riêng tài sản khi kết hôn hoặc phụ nữ có  
quyền sở hữu riêng do được thừa hưởng và quyền sở hữu riêng nếu không có con  
cũng còn nhiều vấn đề luật chưa rõ ràng. Những năm vừa qua, mặt dù tập quán làm  
chúc thư thừa kế có người làm chứng gia tăng, những vẫn còn tồn tại nhiều việc phân  
chia tài sản bằng miệng, hoặc đưa tên con trai vào giấy tờ nhà đất để xác nhận quyền  
sở hữu, đặc biệt là ở nông thôn và cộng đồng dân tộc thiểu số. Tập quán này đã cản  
trở quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ. Tập quán về quan hệ họ hàng trong cộng đồng  
phụ hệ đã hạn chế sự tiếp cận quyền đất đai của phụ nữ và con gái khá nặng nề vì họ  
thương giành lợi ích, đặc lợi nhiều hơn cho con trai, hoặc nam giới.  
7 USAID, ICRW, ISDS (2015) Women, Land and Law in Vietnam.  
254  
Khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ pháp lý để đòi quyền đất đát là một trong  
các trở ngại lớn của phụ nữ. Ngoài việc phụ nữ ít hiểu về pháp luật, ít có thông tin về  
các thủ tục pháp lý hơn nam giới, tư pháp, phụ nữ thường e ngại khi phải đến tiếp xúc  
với các cơ quan công quyền hoặc toà án. Nhiều phụ nữ dân tộc cũng gặp trở ngại về  
ngôn ngữ mà khôgn có sự trợ giúp thì khó có thể gửi thư hoặc trao đổi trước toà.  
Ở nhiều địa phương ở Việt Nam, hiện nay nhóm hoà giải tại cộng đồng với vai  
trò là phổ biến kiến thức cho người dân và duy trì hoà giải trong cộng đồng, gia đình  
nếu có xung đột, mâu thuẫn. Ban hoà giải ít tham gia vào các công việc tư pháp, bảo  
vệ quyền đất đai, mà chỉ thuần tuý là hoà giải nhằm xoa dịu, hài hoà quan hệ, lợi ích  
giữa các bên. Rất nhiều vụ việc phụ nữ muốn đòi quyền được bảo vệ, nhưng ở địa  
phương, họ chỉ biết đi tới các hôi Phụ nữ để nhờ giúp, Tuy nhiên các hội này không  
đủ nguồn lực, hiểu biết và chuyên môn để bảo vệ qua các tư vấn tưu pháp nên phụ nữ  
bị thiệt thòi khó có thể nhờ cậy.  
Về thừa kế hay sở hữu tài sản được phân chia trong gia đình, phụ nữ không có  
hôn thú chính thức, mặt dù có con chung vẫn đang bị thiệt thòi và dễ bị tổn thương,  
vì pháp luật về tài sản chỉ áp dụng cho các hôn nhân hợp pháp. Nhiều mâu thuẫn và  
các vụ kiện đã xảy ra về phân chia tài sản đối với phụ nữ và con của họ, khi họ làm  
vợ thứ, không được pháp luật công nhận.  
Về vấn đề thừa hưởng di chúc, trẻ em gái hoặc con gái ít được thừa kế ngang  
bằng với con trai là thách thức lớn ở các cộng đồng dân tộc thiểu số và vùng nông  
thôn do những tục lệ và quan niệm là con trai lo hương khói còn con gái đi lấy chồng  
là thuộc về nhà khác hoặc được hưởng tài sản của gia đình kia cho chồng của họ. Tuy  
nhiên quyền có tài sản và được phân chia, hay đứng tên trên các giấy tờ sở hữu lại  
thuộc về người chồng. Phụ nữ thường bị gạt ra khỏi việc được hưởng thừa kế và phân  
chia tài sản từ chính cha mẹ ruột của mình. Điều này cho thấy, trên thực tế, vẫn xảy  
ra các bất bỉnh đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực tài sản và thừa kế.  
5. Khuyến nghị về biện pháp đảm bảo quyền sở hữu đất đai của phụ nữ ở  
Việt nam  
Từ một số chuẩn mực về quyền tiếp cận đất đai và tài sản của phụ nữ trong  
pháp luật quốc tế về quyền con người quy định trong một số công ước, kinh nghiệm  
255  
của một số nước trong các cải cách pháp luật về quyền đất đai của phụ nữ là nền tảng  
để đánh giá thực trạng và quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam. Có thể thấy,  
luật pháp vẫn chưa hoàn thiện để đảm bảo quyền của phụ nữ về sở hữu đất đai. Trên  
thực tiễn, còn nhiều tồn tại do các vấn đề rào cản về tập tục, văn hoá, năng lực của  
phụ nữ về pháp luật. Với những phân tích đó, baì viết đưa ra một số khuyến nghị có  
tính định hướng giải pháp để hoàn thiện pháp luật và đưa pháp luật vào thực tiễn.  
Thứ nhất, các thủ tục để đăng ký tên trên giấy CNQSDĐ cũng cần đảm bảo dễ  
dàng, dễ hiểu và tên của cả vợ và chồng và bắt buộc phải có tên của cả hai vợ và  
chồng và đảm bảo giấy CN được chuyển tới cho cả người vợ hoặc cả hai. Đăng ký  
quyền sử dụng đất theo chính sách mới và hỗ trợ lập hồ sơ di chúc của cả hai vợ  
chồng đứng tên và lập hồ sơ di chúc có sự chứng thực của các cơ quan hữu quan.  
Thứ hai, cần công nhận quyền đất đai và tài sản của phụ nữ cả trong các tình  
huống không có hôn nhân chính thức. Phụ nữ có quyền sở hữu và thừa kế kể cả khi  
không có con. Các goá phụ có quyền sở hữ tài sản được thừa kế từ người chồng quá  
cố kể cả khi họ tái hôn. Nhiều mâu thuẫn phát sinh về vând xđề thừa hưởng với phụ  
nữ trong hôn nhân không chính thức và có con ngoài giá thú. Do các thủ tục pháp lý  
còn không rõ ràng và pháp luật còn khó khăn, chưa rõ ràng. Do vậy, pháp luật cần  
ghi nhận và làm rõ hơn câc quy định về thừa kế và phân chia tài sản đảm bảo bình  
đẳng. Phụ nữ và nam giới cần được có quyền có tài sản riêng trong hôn nhân, do vậy  
luật hôn nhân gia đình cũng cần làm rõ lính vực này.  
Thứ ba, Nhà nước và địa phương cần có nhiều nỗ lực hơn trong việc phổ biến  
các thông tin và thủ tục để đăng ký về đất và tài sản thừa hưởng. Cụ thể, phụ nữ cần  
có nhận thức tốt hơn về luật pháp về đất đai và tài sản. Cộng đồng và địa phương cần  
thay đổi thái độ về phụ nữ và con gái quyền được thừa kế bình đẳng, quyền sở hữu  
của phụ nữ về đất đai và các nguồn lực khác. Do vậy cần phổ biến và thay đổi nhận  
thức của cộng đồng, kể các các cơ quan công về việc phụ nữ được đăng ký tên trên  
QSDĐ và thủ tục cần làm hiệu quả.  
Thứ tư, cần đảm bảo phụ nữ tiếp cận được Hệ thống hỗ trợ pháp lý và tư pháp  
ở địa phương trong trường hợp phụ nữ đòi quyền được bảo vệ và yêu cầu công lý.  
Phụ nữ cần được phổ biến và hiểu về các quy định trong pháp luật.  
256  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Committee on the Elimination of Discrimination against Women  
Communication No. 48/2013  
2. Liên hợp quốc, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế xã hội văn hoá, (1966)  
3. Liên hợp quốc, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (1948).  
4. Liên hợp quốc, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ  
nữ (1979).  
5. FAO (2007) “Gender and Law: Women’s Rights in Agriculture.” FAO  
Legislative Study No. 76, revised edition. Rome:  
6. FAO (2018) Realizing Women’s Rights to Land in the Law: A Guide for  
Reporting on SDG Indicator 5.a.2. Rome: FAO. 2018  
7. FAO (2020a) “Gender and Land Rights Database.” Rome  
8. FAO. 2020c. “Philippines: Land Legislation.” Gender and Land Rights  
Database. Rome:  
9. FAO. (2011) Lastarria-Cornhiel, Susana, Julia Behrman, Ruth Meinzen-Dick,  
and Agnes Quisumbing. 2011. “Gender Equity and Land: Toward Secure and  
Effective Access for Rural Women,” Food and Agriculture Organization  
Background Paper, Rome, Italy.  
10. Food and Agricultural Organisation (FAO) (2012) Voluntary Guidelines on  
the Responsible Governance of Tenure of Land, Fisheries and Forests in the  
Context of National Food Security. Rome: FAO. Available online at:  
for small-scale farming: Foresight Project on Global Food and Farming  
Futures. London: UK Government Office for Science.  
11. FAO, IFAD and ILC. 2004. “Rural Women’s Access to Land and Property in  
Selected Countries.” Progress Towards Achieving  
12. the Aims of the Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination  
Against Women. FAO: Rome. 70 pages.  
13. ICRW (International Center for Research on Women). 2016. “Land Access  
for Women: Vietnam.” Pilot Programme  
14. IOM (International Organization for Migration). 2016a. Legislative Provisions  
Regulating Women’s Access and Ownership of Land and Property in Nepal  
15. John Gillespie, “Exploring the Limits of the udicialization of Urban Land  
Disputes in Vietnam,” Law and Society Review (2011).  
16. Knox, A., N. Duvvury and N. Milici. 2007. “Connecting Rights to Reality: A  
Progressive Framework of Core Legal Protections for Women’s Property  
Rights.” Washington, D.C.: ICRW (International Centre for Research on  
Women)  
17. Hatcher, J., L. Meggiolaro, and C.I.S. Ferrer. 2005. Cultivating Women’s  
Rights for Access to Land: Country Analysis and Recommendations for  
Afghanistan, Bangladesh, Burkina Faso, Ethiopia, Ghana, Guatemala,  
257  
Malawi, Mozambique, Uganda, Viet Nam. Rome: Action Aid International.  
80 pages  
18. Menon, N., Y. Rodgers, and A. Kennedy. 2014. “Land Reform and Welfare in  
Vietnam:  
Why  
Gender  
of  
Land-Rights  
Holder  
Matters.”  
14.pdf.  
19. Menon, N., Y. Rodgers, and H. Nguyen. 2013. “Women’s Land Rights and  
Children’s Human Capital in Vietnam.” World Development Volume 54,  
February 2014, Pages 18–31  
20. Nidhiya Menon, Brandeis University, Yana Rodgers, Rutgers University,  
Alexis Kennedy, Rutgers University (2013) Land Reform and Welfare in  
Vietnam: Why Gender of the Land-Rights Holder Matte  
21. OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development). 2010.  
Atlas of Gender and Development: How Social Norms Affect Gender Equality  
in Non-OECD Countries. Paris: OECD.  
22. OHCHR 2020a. “Submitting Information to the Working Group on  
Discrimination against Women in Law and Practice.” Working Group on  
Discrimination against Women and Girls.  
23. Pitt, Mark, Shahidur Khandker, and Jennifer Cartwright. 2006. “Empowering  
Women with  
24. Micro Finance: Evidence from Bangladesh,” Economic Development and  
Cultural  
25. Change 54 (4): 791-831.  
26. Ravallion, Martin, and Dominique van de Walle. 2008. Land in Transition:  
Reform and Poverty in Rural Vietnam. Washington, DC and New York, NY:  
World Bank and Palgrave Macmillan  
27. Socialist Republic of Vietnam. 2014. Vietnam Marriage and Family Law  
2014.  
28. Tanner, C. and M. Bichhieri. 2014. “When the Law Is Not Enough: Paralegals  
and Natural Resource Governance in Mozambique.” Rome: FAO Legal Office  
29. Tempra, O. 2018. Women and Land in the Muslim World: Pathways to  
Increase Access to Land for the Realization of Development, Peace, and  
Human Rights. Nairobi: UNHabitat.  
30. The Philippines. 1992. Women in Development and Nation Building Act.  
Republic Act No. 7192, 12 February.  
31. Transparency International. 2018. “The Impact of Land Corruption on  
Women: Insights from Africa.” 27 March.  
32. 2015. “The Uganda National Land Policy Implementation Plan 2015/16-  
2018/19.”  
33. 2006b. Land Tenure, Housing Rights and Gender in Mexico. Law, Land  
Tenure and Gender Review Series: Latin America. Nairobi: UN-Habitat.  
34. UN,. 2012a. Women and the Right to Adequate Housing. New York and  
Geneva: United Nations.  
258  
35. UN. 2012a. Women and the Right to Adequate Housing. New York and  
Geneva: United Nations.  
36. UN 2015. Land and Human Rights: Standards and Applications. New York  
and Geneva: United Nations.  
37. UN CEDAW (United Nations Committee on the Elimination of  
Discrimination against Women). 1994.“General Recommendation No. 21 on  
Equality in Marriage and Family Relations.”  
38. UN CESCR (United Nations Committee on Economic, Social and Cultural  
Rights). 1991. “General Comment No. 4: The Right to Adequate Housing.”  
E/1992/23  
39. 2016a. “General Recommendation No. 34 on the Rights of Rural Women.”  
CEDAW/C/GC/34.  
40. UN Commission on Human Rights (United Nations Commission on Human  
Rights). 2005. Resolution 2005/25 on Women’s Equal Ownership, Access to  
and Control over Land and the Equal Rights to Own Property and to Adequate  
Housing. E/CN.4/RES/2005/25.  
41. 2018b. “Report of the Special Rapporteur on Adequate Housing as a  
Component of the Right to an Adequate Standard of Living, and on the Right  
to Non Discrimination in this Context: Note by the Secretary General.”  
A/73/310/Rev.1.  
42. UN human rights committee. 1990. “CCPR General Comment No. 19: Article  
23 (The Family) Protection of the Family, the Right to Marriage and Equality  
of Spouses.” ______. UN human rights committee. 2000. “CCPR General  
Comment No. 28: Article 3 (The Equality of Rights between Men and  
Women).” CCPR/C/21/Rev.1/Add.10.  
43. UN human rights council. 2013b. “Report of the Working Group on the Issue  
of Discrimination against Women in Law and in Practice.” A/HRC/23/50.  
44. UNDP, (2013) Women Access to Land in contemporary Vietnam  
45. 2020. “Improving Accountability and Access to Remedy for Victims of  
Business-Related  
46. UNHCR. Human Rights Abuse through Non-State-based Grievance  
Mechanisms: Report of the United Nations High Commissioner for Human  
Rights.” A/HRC/44/32.  
47. UN women. 2019. “Women’s Land Rights and Tenure Security in the Context  
of  
the  
SDGs.”.  
are/initiatives/landrights-and-sdgs  
48. The International Center for Research on Women (ICRW), ISDS (2015)  
Women, Land and law in Vietnam  
49. Viet Nam. 2013. The Women’s Access to Land in Contemporary Viet Nam.  
Hanoi: UNDP  
50. 2020b. Women, Business and the Law 2020. Washington, D.C.: World Bank  
259  
51. World Bank (2012) World Development Report 2012: Gender Equality and  
Development. Washington DC: World Bank.  
52. World Bank. 2002. “Promising Approaches to Engendering Development:  
Land Use Rights and Gender Equality in Vietnam,” available at  
53. Whitehead, Ann, and Dzodzi Tsikata. 2003. “Policy Discourses on Women’s  
Land Rights in  
54. Sub-Saharan Africa: The Implications of the Re-turn to the Customary,”  
Journal of  
55. Agrarian Change 3(1 and 2): 67-112  
56. Networks on women’s land rights  
sdgs  
pt.pdf  
260  
pdf 17 trang Thùy Anh 10740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quyền về đất đai của phụ nữ trong luật nhân quyền quốc tế và pháp luật Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquyen_ve_dat_dai_cua_phu_nu_trong_luat_nhan_quyen_quoc_te_va.pdf