Quyền về đất đai của phụ nữ trong luật nhân quyền quốc tế và pháp luật Việt Nam
Quyền về đất đai của phụ nữ trong luật nhân quyền quốc tế
và pháp luật Việt Nam
TS Ngô Minh Hương
Khoa Luật – Đại Học Quốc Gia Hà Nội
1. Giới thiệu
Quyền tiếp cận, sử dụng và kiểm soát đất đai là quyền cơ bản được ghi trong
Tuyên ngôn Nhân quyền phổ quát (UDHR) và Công ước Xóa bỏ Mọi Hình thức Phân
biệt Đối xử với Phụ nữ (CEDAW). Tiếp cận và kiểm soát đất đai cho phép mọi người
xây dựng nơi ở và / hoặc duy trì sinh kế cho bản thân và gia đình của họ. Quyền sở
hữu cá nhân đối với nhà và đất có thể làm tăng quyền lực của cá nhân trong gia đình,
cộng đồng và trong xã hội. Tuy nhiên, khả năng sở hữu và sử dụng đất phụ thuộc vào
cả bối cảnh pháp lý và xã hội. Mặc dù cả nam giới và phụ nữ đều có thể bị từ chối đất
đai và các quyền tài sản khác, nhưng phụ nữ thường bị gạt ra ngoài lề bởi luật pháp
và xã hội có định kiến giới.
Bài viết này làm rõ các nội hàm của quyền đất đai của phụ nữ trong luật nhân
quyền quốc tế và những kinh nghiệm pháp luật của một số nước. bài viết cũng đặt ra
những thách thức và giải pháp để đảm bảo quyền ở Việt Nam. Bài viết gồm bốn phần
chính: (i) quy định về quyền đất đai của phụ nữ trong các công ước quốc tế về quyền
con người; (ii) quy định về quyền đất đai của phụ nữ trong pháp luật Việt Nam và sự
tương thích; (iii) Thách thức và các biện pháp khuyến nghị cho Việt nam nhằm đảm
quyền đất đai của phụ nữ.
Bài viết phân tích về quyền đất đai của phụ nữ ở Việt nam và những hạn chế
trong việc thực thi đảm bảo quyền này cũng như các hậu quả của việc từ chối quyền
này hoặc khi phụ nữ không thể tiếp cận được quyền. Quyền tiếp cận sở hữu đất đai
của phụ nữ được quy định trong pháp luật quốc tế và quốc gia từ đó có những khuyến
nghị giải pháp đỗi với Việt Nam trên phương diện xây dựng pháp luật.
2. Quyền sở hữu đất đai của phụ nữ theo pháp luật quyền con người quốc tế
Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người ghi nhận các quyền và tự do cơ bản
mang tính phổ biến, do vậy, tất cả mọi người kể cả phụ nữ cũng là chủ thể của quyền.
244
Tuyên ngôn cũng ghi nhận không có sự phân biệt đối xử dựa trên các cơ sở nhu dân
tộc, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, giới tính hoặc tình trạng khác.
“Nghị quyết số 2000/13 của Ủy ban Nhân Quyền quy định về sở hữu bình
đẳng của phụ nữ, tiếp cận và kiểm soát đất đai và quyền bình đẳng về sở hữu tài sản
và nhà ở thoả đáng được thông qua vào năm 2000, thừa nhận rằng luật pháp, chính
sách, phong tục và truyền thống ngăn cản phụ nữ sở hữu và thừa kế đất đai, tài sản
và nhà ở là phân biệt đối xử. Tại Hội nghị Thế giới lần thứ tư về Phụ nữ vào tháng 9
năm 1995, Tuyên bố và Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh đã được thông qua nhằm
mục đích thúc đẩy các mục tiêu bình đẳng, phát triển và hòa bình cho tất cả phụ nữ,
cũng như thúc đẩy quyền của họ. Điều 35 của Tuyên bố Bắc Kinh yêu cầu các quốc
gia đảm bảo quyền tiếp cận đất đai bình đẳng cho cả nam giới và phụ nữ, trao quyền
cho phụ nữ và trẻ em gái.
Công ước CEDAW Điều 14 (2) (g) quy định rằng các quốc gia thành viên của
Công ước phải đảm bảo rằng phụ nữ ở nông thôn được hưởng lợi từ phát triển nông
thôn bằng cách đảm bảo cơ hội tiếp cận cảu phụ nữ với khoản vay và tín dụng nông
nghiệp, và đối xử bình đẳng về đất đai trong việc thực hiện các cải cách nông nghiệp
và dự án tái định cư đất đai '. Điều 16 (h) cũng bảo vệ phụ nữ trong tất cả các vấn đề
liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình, và yêu cầu các Quốc gia thực hiện mọi
biện pháp cần thiết để xóa bỏ sự phân biệt đối xử chống lại họ bằng cách tạo ra các
quyền như nhau cho cả nam và nữ đối với 'quyền sở hữu, mua , quản lý, điều hành,
sử dụng và định đoạt tài sản. Điều 2 và 3 của Công ước xoá bỏ mọi sự phân biệt đối
xử với phụ nữ (CEDAW) quy định rõ về trách nhiệm của nhà nước cần quy định
nguyên tắc bình đẳng nam nữ trong hiến pháp, pháp luật quốc gia và đảm bảo thực
hiện các nguyên tắc này trên thực tế, Quốc gia cần có các biện pháp ngăn chặn các
hình thức phân biệt đối xử chông lại phụ nữ bằng mọi biện pháp, kể cả chế tài hình
sự. Thêm nữa, quốc gia cũng cần thiết lập các cơ chế pháp lý để phụ nữ được bảo vệ
các quyền bình đẳng của họ. Điều 15 CEDAW Khoản 2 cũng cụ thể hơn về quyền
bình đẳng của phụ nữ trong việc ký kết hợp đồng, quản lý tài sản và phải đối xử bình
đẳng với phụ nữ trong tất cả những giai đoạn tố tụng trước toà án và các cơ quan xét
xử. Điều 16 quy định quốc gia thành viên cần có các biện pháp thích hợp để xoá bỏ
sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong tất cả các vấn đề liên quan đến hôn nhân
245
và quan hệ gia đình kể cả bình đẳng đối với việc sở hữu, thừa kế, kiểm soát, quản lý,
hưởng thụ và sử dụng tài sản. Bình luận chung số 21 của CEDAW (đoạn 25) giải
thích thêm quốc gia cần đảm bảo quyền sở hữu, quản lý, hưởng thụ và sử dụng tài
sản cho phụ nữ vì đây là trọng tâm để bảo đảm quyền của phụ nữ được độc lập về
mặt tài chính. Ở nhiều nước, quyền này cũng là hết sức quan trọng đối với khả năng
kiếm sống, được có đầy đủ nơi ăn, chốn ở và dinh dưỡng cho bản thân và gia đình
của người phụ nữ. Phụ nữ có quyền được hưởng phần đất phân chia trên cơ sở bình
đẳng với nam giới, bất kể tình trạng hôn nhân ra sao.
Khuyến nghị chung số 34 (2016) của CEDAW về quyền của phụ nữ nông thôn
và quyền đất đai và tài nguyên thiên nhiên (điều 14, đoạn 2 (g), đọc cùng với điều
13). Phụ nữ nông thôn thường bị hạn chế đối với quyền sở hữu đất đai và tài nguyên
thiên nhiên thậm chí phụ nữ phải chịu sự phân biệt đối xử vì vốn đất đai do nam giới
kiểm soát phần lớn. do vậy CEDAW khuyến nghị các quốc gia thành viên phải đảm
bảo rằng luật pháp đảm bảo quyền của phụ nữ nông thôn đối với đất, nước và các tài
nguyên thiên nhiên khác trên cơ sở bình đẳng với nam giới, bất kể tình trạng dân sự
và hôn nhân của họ ((đoạn 59). Quốc gia phải đảm bảo rằng việc thu hồi đất, bao gồm
cả hợp đồng thuê đất, không vi phạm quyền của phụ nữ nông thôn hoặc dẫn đến việc
buộc phải di dời và bảo vệ phụ nữ nông thôn khỏi những tác động tiêu cực của việc
thu hồi đất của các công ty xuyên quốc gia, các dự án phát triển, các ngành công
nghiệp khai thác.
Phụ nữ nông thôn cần được trao quyền để tham gia một cách có ý nghĩa vào
các quyết định về quản lý đất đai và phát triển lãnh thổ (Điều 7, 8 và 14 của CEDAW;
c.f. ILC, 2011). Phụ nữ nông thôn thường không được trao quyền để yêu cầu và bảo
vệ các quyền về đất đai của họ. Họ thường thiếu kiến thức về quyền của mình. Phụ
nữ nông thôn thường ít biết đọc biết viết vì ít được tiếp cận với giáo dục; và thiếu
năng lực, tài liệu và cơ hội tham gia vào quản lý đất đai dẫn đến nhiều khả năng bất
bình đẳng trong tiếp cận và được bảo vệ quyền sở hữu đất đai.
Luật pháp bước đầu là quan trọng, nhưng chưa đủ. CEDAW yêu cầu các quốc
gia thành viên đảm bảo bình đẳng bằng pháp luật và trên thực tế (Điều 2, 3, 4 và 5).
Có những quan ngại rằng kể cả khi đã có pháp luật tiến bộ, vẫn còn những bất bình
246
đẳng tồn tại, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và vùng sâu vùng xa, hoặc giữa các
nhóm dân tộc thiểu số và bản địa.
Để phụ nữ có thể có các quyết định về cách thức sử dụng, kiểm soát hoặc sở
hữu đất đai, phụ nữ cần được tham gia bình đẳng trong việc ra quyết định cùng với
nam giới ở tất cả các cấp từ hộ gia đình và cộng đồng đến các cơ quan quản lý đất đai.
Phân biệt đối xử cũng được thể hiện ở việc phụ nữ thiêu các cơ hội tiếp cận
các khoản vốn vay và tín dụng, vì các rào cản về sở hữu các giấy tờ có thể thế chấp,
hoặc yêu cầu phải có người giám hộ, bảo lãnh như chồng hay các anh em trai là những
người đang sở hữu các tài sản. Phân biệt đối xử dựa trên tình trạng sở hữu tài sản đối
với phụ nữ là khi tài sản được hiểu bao gồm cả sở hữu về đất đai, hợp đồng thuê đất,
tài sản cá nhân, sở hữu trí tuệ và các thu nhập khác. 1 Luật pháp, chính sách cần đảm
bảo phụ nữ tiếp cận bình đẳng và độc lập đối với các khoản vay và tín dụng, để phụ
nữ có thể sở hữu đất đai, tài sản và các nguồn lực sản xuất khác bất kể tình trạng hôn
nhân và không có yêu cầu của nam giới (chồng, cha, anh , v.v.) với tư cách là người
đồng ký tên hoặc người bảo lãnh.
Tình trạng hôn nhân và gia đình có thể khác nhau khi cá nhân ở tình trạng đã
kết hôn hoặc chưa kết hôn, kết hôn theo luật pháp hoặc đang sống với mối quan hệ
trên thực tế nhưng không được pháp luật công nhận là hôn nhân, ly hôn hoặc góa bụa,
sống ở một gia đình hoặc nhóm họ hàng. Phân biệt đối xử trên cơ sở kết hôn nhân
hay tình trạng gia đình có thể xảy ra đối với phụ nữ bởi việc sở hữu hay công nhận
quyền sở hữu đất đai chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của vợ hoặc chồng hoặc sự
đồng tình hoặc bảo đảm của họ hàng. Do vậy, để xoá bỏ phân biệt đối xử này, các
quốc gia phải thay đổis pháp luật về phân biệt đối xử và tình trạng sở hữu của phụ nữ
dựa trên tình trạng hôn nhân nhằm khả năng tiếp cận các nguồn lực kinh tế của phụ
nữ. Đặc biệt, các Quốc gia cần đảm bảo quyền sở hữu bình đẳng cho phụ nữ và nam
1 https://undocs.org/E/C.12/GC/20 GENERAL COMMENT No. 20 Non-discrimination in
economic, social and cultural rights (art. 2, para. 2, of the International Covenant on
Economic, Social and Cultural Rights) . See CESCR general comments Nos. 15 and 4
respectively.
247
giới, bao gồm quyền thừa kế và thừa kế, được hiểu theo Khuyến nghị chung 21 về
Bình đẳng trong Quan hệ Hôn nhân và Gia đình.
Luật pháp, chính sách và quy định của nhiều quốc gia còn cần phải đồng bộ
hướng tới việc đảm bảo quyền sở hữu đất đai của phụ nữ. Tuy nhiên nhiều luật pháp
còn thiếu nhạy cảm về bình đẳng. Hơn nữa còn tồn tại nhiều dạng phân biệt đối xử
đặc biệt dựa trên tình trạng của phụ nữ, năng lực pháp lý, quy định về thừa kế và tình
tràng tài sản, hôn nhân và bình đẳng trong hôn nhân. Các luật này có thể trở thành
hạn chế và rào cản để phụ nữ có quyền sở hữu đất đai. Do vậy luật pháp trong lĩnh
vực hôn nhân gia đình, ly hôn, khoá phụ, thừa kế cần hướng tới việc phụ nữ được
quyền tự quyết định tiếp cận, sở hữu, mua, nắm giữ và quản lý, sử dụng tài sản đất
đai mới có thể đảm bảo quyền đất đai của phụ nữ.
Tuy nhiên ở nhiều xã hội với các văn hoá tập tục, việc tiếp cận đất đai hoặc
đòi quyền sở hữu còn có thể gây ra các rủi ro về xã hội cho phụ nữ, các biện pháp
quy định về pháp lý về sở hữu chung của gia đình trong đó có cả vợ và chồng kể cả
việc mua, tặng, giao dịch, quyết định về sử dụng tài sản đất đai đó cũng có thể là
phương thức đảm bảo pháp lý về quyền đất đai cho phụ nữ.
Một nghiên cứu chỉ ra rằng phụ nữ có thể tiếp cận quyền sở hữu đất đai có thể
làm tăng vị thế của phụ nữ, đặc biệt là đối với các goá phụ hoặc phụ nữ ly hôn
(Whitehead and Tsikata 2003). Khả năng được tiếp cận các nguồn tín dụng và tạo thu
nhập cũng là biện pháp làm tăng sự tự chủ, tăng vai trò trong gia đình trong việc ra
quyết định, đi lại, và năng lực thương thuyết trước nam giới. (Pitt et al. 2006). Phụ
nữ tham gia các hoạt động tạo sinh kế và thu nhập cũng làm tăng năng lực đàm phán.
Các kinh nghiệm tăng quyền và bình đẳng giới của phụ nữ trong tiếp cân quyền
đất đai ở một số nước đang phát triển chứng mình hiệu quả luật pháp. Đây cũng là
một số kinh nghiệm tốt về việc làm luật về quyền đất đai của phụ nữ.
Ở Ru-an-da, cùng với việc sửa đổi hiến pháp năm 2003, và luật Thừa kế năm
1999. Sau đó là luật đất đai năm 2005, phụ nữ đã được quyền sở hữu đất đai, tuy
nhiên vẫn còn có hạn chế là chỉ thường áp dụng với các phụ nữ có hôn nhân hợp pháp
chính thức. Luật Thừa kế năm 1999 trao quyền thừa kế bình đẳng cho con trai và con
gái, đồng thời bảo vệ quyền tài sản của những phụ nữ đã kết hôn hợp pháp, yêu cầu
phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng đối với bất kỳ việc mua bán đất nào. Quy định
248
này đã củng cố việc đảm bảo quyền sở hữu cho phụ nữ đã kết hôn và giảm bớt sự
phân biệt trên cơ sở giới về thừa kế . Luật Đất đai 2005 yêu cầu phụ nữ / trẻ em gái
phải được thuận tình bằng văn bản hoặc từ chối bằng văn bản đối với bất kỳ giao dịch
tài sản hôn nhân hoặc tài sản gia đình. Cả vợ và chồng có nghĩa vụ cùng nhau đi nhận
giấy chứng nhận đất.
Ở Nepal, chính phủ có chính sách giảm thuế cho phụ nữ khi họ đi đăng ký
quyền sở hữu đất, cũng như giảm phí cho việc đăng ký sở hữu đất bằng tên chung của
cả vợ và chồng đã dẫn đến việc tăng tỷ lệ đăng ký chứng nhận sở hữu đất của phụ nữ
và của hộ gia đình.
Ở Bang-la-desh, luật và chính sách bắt buộc đảm bảo dứoi sở hữu chung của
cả vợ và chông. Việc hôn nhân cũng bắt buộc phải có đăng ký nhằm đảm bảo phụ nữ
có quyền đòi tài sản và đầu tư của chồng trong trường hợp họ trở thành goá bụa.
Ở Ấn độ, Luật đạo Hindu đảm bảo việc bảo vệ quyền có tài sản thừa kế, kể cả
đất đai bình đẳng giữa nam và nữ.
Ở Cam-pu-chia, việc sửa đổi Luật đất đai và Luật Lâm nghiệp cũng như Luật
về khu vực bảo tồn đã đảm bảo hiệu quả quyền đất đai của người nghèo và ngừoi dân
tộc thiểu số, đặc biệt là phụ nữ.
Ở Nigeria, Hiến pháp năm 1999 đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ
trong các lính vực và không phân biệt đối xử trên cơ sở giới, sắc tộc và điều 43 khẳng
định mọi người đều có quyền sở hữu tài sản. Tuy nhiên luật đất đai 1978 của Nigeria
vẫn quy định đất đai thuộc sở hữu và quản lý của nhà nước. Một số quyền về sở hữu
tài sản đất đai chưa được nội luật hoá theo như hiến định. 2
Kenya quy định phụ nữ có quyền sở hữu đất đai trong Hiến pháp năm 2010,
đồng thời trong luật chống phân biệt đối xử trên cơ sở giới, tập quán. Luật đăng ký
đất đai năm 2012 quy định chưng nhận sở hữu phải đứng tên cả vợi và chồng để đảm
bảo phụ nữ không bị mất tài sản khi chấm dứt hôn nhân. Đạo luật Tài sản Hôn nhân
năm 2013 công nhận rằng phụ nữ đã kết hôn có quyền giống như nam giới đã kết
2 Taiwo A. (2016), “The Nigerian Land Law” (2nd Ed, Princeton and Associates
Publishing Co. Ltd.). Women and Land Tenure Security: The Nigerian Experience Remi
Adeyemo1, *, Michael Kirk2 , Olaitan Olusegun. International Journal of Agricultural
Economics 2019; 4(2): 41-47 doi: 10.11648/j.ijae.20190402.11
249
hôn. 3Luật đăng ký đất đai năm 2021 cũng xác nhận việc sử dụng chung tài sản của
4
cả vợ và chồng với mục tiêu bảo vệ quyền sở hữu đất đai của phụ nữ.
3. Khung pháp lý ở Việt Nam về quyền đất đai của phụ nữ
Ở Việt Nam, kể từ khi “Đổi mới” năm 1986, Việt Nam đã thực hiện quá trình
chuyển đổi mạnh mẽ từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường.
Năm 1988, chính phủ bắt đầu chuyển đổi hệ thống kinh tế tập thể dựa trên hợp tác xã
nông nghiệp với chính sách mới cho phép các hộ nông dân thuê đất từ mười đến mười
lăm năm. Để cải thiện cơ cấu khuyến khích đối với các hộ nông dân. Chính phủ đã
thông qua Luật Đất đai mới vào năm 1993 trong đó kéo dài thời gian thuê lên 20 năm
đối với đất trồng cây hàng năm và 50 năm đối với đất trồng cây lâu năm. Ngoài ra,
luật cho phép nông dân mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp quyền
sử dụng đất của họ. Luật Đất đai năm 1993 cũng tạo ra cần đẩy về thị trường bất
động sản khi cho phép các giao dịch về đất đai và quyền sử dụng đất lần đầu tiên ở
Việt Nam (Ravallion, M. And D. Van de Walle. 2008) 5. Mặc dù không có phân biệt
về giới trong luật, nhưng Luật Đất đai năm 1993 dường như đem lại lợi ích cho nam
giới nhiều hơn với tỷ lệ nam đứng tên trên GCNQSD trong khi chỉ có 10-12% phụ
nữ có tên trên GCNQSD.6
Việc thay đổi luật được thực hiện thông qua việc cấp cho các hộ nông dân sử
dụng đất thông qua Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (LUC). Tuy nhiên, đã tồn
tại nhiều vấn đề về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, là do sự chậm trễ
3 Đọc: https://www.ilo.org/dyn/natlex/docs/ELECTRONIC/97351/115471/F-
540095358/KEN97351.pdf
4 Đọc: http://www.parliament.go.ke/sites/default/files/2017-05/LandAct2012.pdf
5 Ravallion, M. And D. Van de Walle. 2008. Land in Transition: Reform and Poverty in
Rural Vietnam. The International Bank for Reconstruction and Development. The World
Bank.
6 Committee on the Elimination of Discrimination Against Women (CEDAW). 2005.
Consideration of Reports Submitted by States Parties Under Article 18 of the Convention
on the Elimination of All Forms of Discrimination Against Women: Vietnam, Combined
Fifth and Sixth Periodic Reports of States Parties, CEDAW/C/VNM/5-6, CEDAW, New
York, NY.
250
của các cơ quan quản lý trong việc xây dựng hướng dẫn cấp GCNQSDĐ. Thuế suất
thuế sử dụng đất đã đặt ban đầu quá cao, các hồ sơ về đất đai trước đây không chính
xác hoặc mất, tạo ra một số lượng lớn các tranh chấp và đơn yêu cầu giải quyết và
các khoản nợ cần được xóa trước khi có thể ban hành GCNQSDĐ.
Việc cấp quyền sử dụng đất cũng cho thấy là không đồng đều vì chủ yếu đất
đai chủ yếu do nam giới nắm giữ. Về nguyên tắc, các cải cách pháp luật đã không tạo
ra phân biệt đối xử trong việc cấp quyền vì Luật Đất đai quy định “cá nhân” và “người
sử dụng”. Tuy nhiên, quá trình thực thi luật đã có sự chênh lệch về giới trong cấp
quyền sử dụng đất. Ví dụ, trong những năm đầu tiên, các GCNQSDĐ chỉ có một tên
mà chủ hộ điền vào. Do có nhiều hộ gia đình có cả vợ và chồng mà do người chồng
làm chủ hộ hơn là người vợ, nên kết quả là số phụ nữ có tên trong GCNQSDĐ ít hơn.
Điều này đã được thay đổi bằng nghị định năm 2001 của chính phủ quy định rằng tên
của cả vợ và chồng phải được ghi trên GCNQSDĐ nếu đất thuộc sở hữu chung. Một
nghiên cứu cũng cho rằng quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp cũng đem laị lợi ích
nhiều hơn cho nam giới vì trên GCNQSDĐ trước đây chỉ có một chỗ để điền tên, nên
thường là nam giới có tên trên giấy chứng nhận đó (Ravallion and van de Walle,
2008). Nghiên cứu cũng chỉ ra lợi thế về đứng tên trên GCNQSDĐ là nghiêng về nam
giới vì ở địa phương, nam giới thươgnf đứng tên chủ hộ, phụ nữ đứng tên chủ hộ là
ít hoặc bị phân biệt.
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận cụ thể tại Chương
II: Quyền con người, quyền và tự do cơ bản của công dân. Theo đó, mọi người đều
bình đẳng trước pháp luật và không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị,
dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn, hôn nhân theo
nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn
nhau, Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ
em. Đặc biệt, Điều 26 Hiến pháp nhấn mạnh: Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi
mặt; Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước, xã
hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình
trong xã hội; nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới
Luật Bình đẳng giới 2006 cũng quy định bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị
trí, vai trò ngang nhau trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, được tạo
điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của
251
gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó và không bị phân
biệt đối xử về giới Nhà nước ngăn chặn mọi hình thức phân biệt đối xử, xóa bỏ những
tập tục, tập quán, văn hóa, khuôn mẫu có tính chất phân biệt đối xử,
Quyền tiếp cận đất đai, cụ thể là của phụ nữ được ghi nhận như quyền và lợi
ích hợp pháp trong pháp luật. Pháp luật về đất đai đã sửa đổi để thể hiện sự bình đẳng
của phụ nữ và nam giới, bao gồm các quy định quyền của phụ nữ được đứng tên cùng
chồng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp.
Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn với đất cũng giúp cho phụ nữ có sự tự tin,
chủ động trong gia đình, sản xuất, kinh doanh. Luật đất đai 2003 đã đưa yếu tố bình
đẳng giới vào. Đồng thời bình đẳng giới cũng được thể hiện trong các quy phạm pháp
luật dân sự, hôn nhân, gia đình, kinh doanh, đầu tư.
Tuy nhiên, đất đai được quy định là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nhà nước
quản lý, theo hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất (Điều 54
của Hiến pháp 2013). Đất đai được quy định sở hữu toàn dân và nhà nước làm chủ đại
diện sở hữu (khoản 1 điều 5, luật đất đai năm 2003). Còn một số tồn tại trong pháp luật
về đất đai, khi quy định nhà thuộc sở hữu tư, đất thuộc sở hữu tập thể, thuộc sử quản
lý của nhà nước, thì nhà nước có quyền quyết định về sở hữu của đất đai. Điều này có
thể xảy ra xung đột với quyền sử dụng của người dân khi người dân muốn thay đổi
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà gắn với đất của họ. Luật đất đai 2003 khoản 2
điều 27 và điều 95 Luật đất đai 2013 cũng quy định về nghĩa vụ của người sử dụng đất
đăng khi quyền sử dụng đất, làm đầy đủ thủ tục khi chuyển nhượng chuyển đổi, cho
thuê lại thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, bảo lãnh, thế chấp, góp vốn v,v,.
Luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2014 và Bộ Luật dân sự Việt Nam năm
2005 đã quy định cho con trong giá thú và con ngoài giá thú đều được hưởng di sản
thừa kế. Các chính sách được xác định và thực hiện rõ ràng đã giúp tăng khả năng
tiếp cận đất đai của phụ nữ khi yêu cầu cả hai vợ chồng phải có tên trong giấy chủ
quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, trong nhiều tình huống khi việc phân chia tài sản trong
gia đình là ý muốn của cha mẹ có thể muốn chia nhiều hơn cho con trai, thì pháp luật
không được áp dụng.
252
4. Thực trạng và thách thức về quyền sở hữu đất đai của phụ nữ ở Việt Nam
Có nhiều nghiên cứu về thực trạng tiếp cận quyền đất đai của phụ nữ đã được
thực hiện cho thấy đa số nam giới vẫn đang nắm giữ hoặc đứng tên trên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Nghiên cứu của UNDP (2013) cho thấy 60% nam giới trong
khi chỉ có 20% phụ nữ được đúng tên trên GCNQSDD. Tuy nhiên tỷ lệ giấy chứng
nhận có tên chung của cả vợ và chồng tăng từ 14% từ năm 2004 lên 18% năm 2008
(theo số liệu điều tra dân số VHLSS 2004, 2008). Báo cáo cũng chỉ ra từ những phỏng
vấn sâu với phụ nữ là họ cảm thấy có quyền quyết định hơn cả trong gia đình, xã hội,
lĩnh vực kinh tế khi có tên trên GCNQSDĐ.
Quyền sử dụng và phân chia tài sản trong gia đình là yếu tố quan trọng trong
việc đảm bảo quyền tài sản và quyền đất đai của phụ nữ. Một nghiên cứu của ngân
hàng thế giới (WB, 2013) trên cũng thực hiện điều tra khảo sát về ý kiến cho rằng cả
vợ và chồng cần có tên trên giấy chứng nhận cho thấy 74.6% số người được hỏi chung,
chỉ có 49% người được hỏi trong cồng đồng mẫu hệ, 88.8% người dân thành thị so với
chỉ có 69.2% người dân nông thôn cho rằng cả vợ và chồng cần có tên trên giấy chứng
nhận. Điều này cho thấy có sự khác biệt về nhận thức về sự bình đẳng giữa vợ và chồng
trong quyền sử dụng đất là khác nhau giữa văn hoá và các khu vực sống.
Thái độ về việc phân chia tài sản trong gia đình trong trường hợp ly hôn cũng
khác nhau giữa các dân tộc, giữa nông thôn và thành thị. Trong cộng đồng phụ hệ,
74,7% người được hỏi đồng ý, trong cộng đồng mẫu hệ chỉ có 35.3% đồng ý. Hầu
hết người được hỏi của cộng đồng phụ hệ và bình thường đồng ý tài sản cần được
phân chia đồng đều trong đó chỉ có 40% từ cộng đồng mẫu hệ là đồng ý. Chỉ rất ít
những người sống ở thành thị cũng đồng ý rằng con trai được quyền chia tài sản nhiều
hơn con gái hoặc con gái sẽ bị gạt ra không được nhận tài sản thừa kế trong khi hơn
50% người được hỏi ở cộng đồng phụ hệ cho rằng con trai được thừa kế phân chia tài
sản gia đình nhiều hơn do con trai có trách nhiệm hương khói cho ông bà tổ tiên hoặc
tập quán cho rằng con gái là con người ta, khi đi lấy chồng thì thuộc về gia đình khác.
Nghiên cứu cũng cho thấy ở trình độ học vấn cao hơn thì có thể có tỷ lệ quyền
sử dụng và tài sản đứng tên chung cao hơn và cả vợ và chông đều chia sẻ quyền quyết
định trên tài sản của gia đình. Tuy nhiên nghiên cữu cũng chỉ ra rằng, nam giới có xu
hướng tìm hiểu về pháp luật và quy định về đất đai, tài sản nhiều hơn phụ nữ và do
vậy họ có thể biết cách đòi quyền sở hữu tốt hơn. Nhận thức và tiếp cận công lý trong
253
quyền đất đai của phụ nữ cũng thấp hơn. Nghiên cứu chỉ ra rẳng, mặc dù đảm bảo
quyền sở hữu cho phụ nữ có thể đem lại lợi ích lơn, bao gồm cả tình trạng và vị thế
kinh tế, xã hội, tình trạng sức khoẻ của phụ nữ và trẻ em. Nhưng đòi hỏi sự hiểu biết
của phụ nữ về pháp luật và các thủ tục cách thức tiếp cận tư pháp ở cả cấp địa phương
để có thể đòi hỏi công lý cho quyền sở hữu trong trường hợp bị tranh chấp (Menon,
N., Y. Rodgers, and A. Kennedy, 2014) .
Phụ nữ phải đối mặt với các rào cản liên quan đến phong tục truyền thống và
thái độ tiêu cực đối với việc tiếp cận đất đai của phụ nữ. Thiếu kiến thức về các quy
trình để được cấp GCNQSDĐ và đăng ký sang tên trong GCNQSDĐ cũng là những
rào cản quan trọng đối với phụ nữ.
Một nghiên cứu khác cho thấy, ít có sự thống nhất về phân chia tài sản trong
hôn nhân, và phụ nữ goá bụa hoặc phụ nữ không có con trở nên dễ bị tổn thương hơn
trong vẫn đề đảm bảo quyền sở hữu đất và nhà khi người chồng qua đời. Nghiên cứu
cũng khảo sát và cho tháy chỉ có 50% người được hỏi là không đồng ý với việc phụ
nữ và nam giới có thể sở hữu riêng tài sản trong hôn nhân. 7
Một số thách thức chính ngăn cản phụ nữ tiếp cận đầy đủ các quyền về đất đai
của họ là (i) pháp luật và thủ tục quy định; (ii) tập quán dòng họ; (iii) ban hòa giải;
(iv) thực hành di chúc; (v) tiếp cận các dịch vụ pháp lý và (v) thái độ giới ở địa
phương, vốn đặc quyền cho quyền lực nam giới ở các nhóm dân tộc (WB, 2012)
Về khía cạnh quyền được sở hữu riêng tài sản khi kết hôn hoặc phụ nữ có
quyền sở hữu riêng do được thừa hưởng và quyền sở hữu riêng nếu không có con
cũng còn nhiều vấn đề luật chưa rõ ràng. Những năm vừa qua, mặt dù tập quán làm
chúc thư thừa kế có người làm chứng gia tăng, những vẫn còn tồn tại nhiều việc phân
chia tài sản bằng miệng, hoặc đưa tên con trai vào giấy tờ nhà đất để xác nhận quyền
sở hữu, đặc biệt là ở nông thôn và cộng đồng dân tộc thiểu số. Tập quán này đã cản
trở quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ. Tập quán về quan hệ họ hàng trong cộng đồng
phụ hệ đã hạn chế sự tiếp cận quyền đất đai của phụ nữ và con gái khá nặng nề vì họ
thương giành lợi ích, đặc lợi nhiều hơn cho con trai, hoặc nam giới.
7 USAID, ICRW, ISDS (2015) Women, Land and Law in Vietnam.
254
Khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ pháp lý để đòi quyền đất đát là một trong
các trở ngại lớn của phụ nữ. Ngoài việc phụ nữ ít hiểu về pháp luật, ít có thông tin về
các thủ tục pháp lý hơn nam giới, tư pháp, phụ nữ thường e ngại khi phải đến tiếp xúc
với các cơ quan công quyền hoặc toà án. Nhiều phụ nữ dân tộc cũng gặp trở ngại về
ngôn ngữ mà khôgn có sự trợ giúp thì khó có thể gửi thư hoặc trao đổi trước toà.
Ở nhiều địa phương ở Việt Nam, hiện nay nhóm hoà giải tại cộng đồng với vai
trò là phổ biến kiến thức cho người dân và duy trì hoà giải trong cộng đồng, gia đình
nếu có xung đột, mâu thuẫn. Ban hoà giải ít tham gia vào các công việc tư pháp, bảo
vệ quyền đất đai, mà chỉ thuần tuý là hoà giải nhằm xoa dịu, hài hoà quan hệ, lợi ích
giữa các bên. Rất nhiều vụ việc phụ nữ muốn đòi quyền được bảo vệ, nhưng ở địa
phương, họ chỉ biết đi tới các hôi Phụ nữ để nhờ giúp, Tuy nhiên các hội này không
đủ nguồn lực, hiểu biết và chuyên môn để bảo vệ qua các tư vấn tưu pháp nên phụ nữ
bị thiệt thòi khó có thể nhờ cậy.
Về thừa kế hay sở hữu tài sản được phân chia trong gia đình, phụ nữ không có
hôn thú chính thức, mặt dù có con chung vẫn đang bị thiệt thòi và dễ bị tổn thương,
vì pháp luật về tài sản chỉ áp dụng cho các hôn nhân hợp pháp. Nhiều mâu thuẫn và
các vụ kiện đã xảy ra về phân chia tài sản đối với phụ nữ và con của họ, khi họ làm
vợ thứ, không được pháp luật công nhận.
Về vấn đề thừa hưởng di chúc, trẻ em gái hoặc con gái ít được thừa kế ngang
bằng với con trai là thách thức lớn ở các cộng đồng dân tộc thiểu số và vùng nông
thôn do những tục lệ và quan niệm là con trai lo hương khói còn con gái đi lấy chồng
là thuộc về nhà khác hoặc được hưởng tài sản của gia đình kia cho chồng của họ. Tuy
nhiên quyền có tài sản và được phân chia, hay đứng tên trên các giấy tờ sở hữu lại
thuộc về người chồng. Phụ nữ thường bị gạt ra khỏi việc được hưởng thừa kế và phân
chia tài sản từ chính cha mẹ ruột của mình. Điều này cho thấy, trên thực tế, vẫn xảy
ra các bất bỉnh đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực tài sản và thừa kế.
5. Khuyến nghị về biện pháp đảm bảo quyền sở hữu đất đai của phụ nữ ở
Việt nam
Từ một số chuẩn mực về quyền tiếp cận đất đai và tài sản của phụ nữ trong
pháp luật quốc tế về quyền con người quy định trong một số công ước, kinh nghiệm
255
của một số nước trong các cải cách pháp luật về quyền đất đai của phụ nữ là nền tảng
để đánh giá thực trạng và quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam. Có thể thấy,
luật pháp vẫn chưa hoàn thiện để đảm bảo quyền của phụ nữ về sở hữu đất đai. Trên
thực tiễn, còn nhiều tồn tại do các vấn đề rào cản về tập tục, văn hoá, năng lực của
phụ nữ về pháp luật. Với những phân tích đó, baì viết đưa ra một số khuyến nghị có
tính định hướng giải pháp để hoàn thiện pháp luật và đưa pháp luật vào thực tiễn.
Thứ nhất, các thủ tục để đăng ký tên trên giấy CNQSDĐ cũng cần đảm bảo dễ
dàng, dễ hiểu và tên của cả vợ và chồng và bắt buộc phải có tên của cả hai vợ và
chồng và đảm bảo giấy CN được chuyển tới cho cả người vợ hoặc cả hai. Đăng ký
quyền sử dụng đất theo chính sách mới và hỗ trợ lập hồ sơ di chúc của cả hai vợ
chồng đứng tên và lập hồ sơ di chúc có sự chứng thực của các cơ quan hữu quan.
Thứ hai, cần công nhận quyền đất đai và tài sản của phụ nữ cả trong các tình
huống không có hôn nhân chính thức. Phụ nữ có quyền sở hữu và thừa kế kể cả khi
không có con. Các goá phụ có quyền sở hữ tài sản được thừa kế từ người chồng quá
cố kể cả khi họ tái hôn. Nhiều mâu thuẫn phát sinh về vând xđề thừa hưởng với phụ
nữ trong hôn nhân không chính thức và có con ngoài giá thú. Do các thủ tục pháp lý
còn không rõ ràng và pháp luật còn khó khăn, chưa rõ ràng. Do vậy, pháp luật cần
ghi nhận và làm rõ hơn câc quy định về thừa kế và phân chia tài sản đảm bảo bình
đẳng. Phụ nữ và nam giới cần được có quyền có tài sản riêng trong hôn nhân, do vậy
luật hôn nhân gia đình cũng cần làm rõ lính vực này.
Thứ ba, Nhà nước và địa phương cần có nhiều nỗ lực hơn trong việc phổ biến
các thông tin và thủ tục để đăng ký về đất và tài sản thừa hưởng. Cụ thể, phụ nữ cần
có nhận thức tốt hơn về luật pháp về đất đai và tài sản. Cộng đồng và địa phương cần
thay đổi thái độ về phụ nữ và con gái quyền được thừa kế bình đẳng, quyền sở hữu
của phụ nữ về đất đai và các nguồn lực khác. Do vậy cần phổ biến và thay đổi nhận
thức của cộng đồng, kể các các cơ quan công về việc phụ nữ được đăng ký tên trên
QSDĐ và thủ tục cần làm hiệu quả.
Thứ tư, cần đảm bảo phụ nữ tiếp cận được Hệ thống hỗ trợ pháp lý và tư pháp
ở địa phương trong trường hợp phụ nữ đòi quyền được bảo vệ và yêu cầu công lý.
Phụ nữ cần được phổ biến và hiểu về các quy định trong pháp luật.
256
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Committee on the Elimination of Discrimination against Women
Communication No. 48/2013
2. Liên hợp quốc, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế xã hội văn hoá, (1966)
3. Liên hợp quốc, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (1948).
4. Liên hợp quốc, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ
nữ (1979).
5. FAO (2007) “Gender and Law: Women’s Rights in Agriculture.” FAO
Legislative Study No. 76, revised edition. Rome:
6. FAO (2018) Realizing Women’s Rights to Land in the Law: A Guide for
Reporting on SDG Indicator 5.a.2. Rome: FAO. 2018
7. FAO (2020a) “Gender and Land Rights Database.” Rome
8. FAO. 2020c. “Philippines: Land Legislation.” Gender and Land Rights
Database. Rome:
9. FAO. (2011) Lastarria-Cornhiel, Susana, Julia Behrman, Ruth Meinzen-Dick,
and Agnes Quisumbing. 2011. “Gender Equity and Land: Toward Secure and
Effective Access for Rural Women,” Food and Agriculture Organization
Background Paper, Rome, Italy.
10. Food and Agricultural Organisation (FAO) (2012) Voluntary Guidelines on
the Responsible Governance of Tenure of Land, Fisheries and Forests in the
Context of National Food Security. Rome: FAO. Available online at:
for small-scale farming: Foresight Project on Global Food and Farming
Futures. London: UK Government Office for Science.
11. FAO, IFAD and ILC. 2004. “Rural Women’s Access to Land and Property in
Selected Countries.” Progress Towards Achieving
12. the Aims of the Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination
Against Women. FAO: Rome. 70 pages.
13. ICRW (International Center for Research on Women). 2016. “Land Access
for Women: Vietnam.” Pilot Programme
14. IOM (International Organization for Migration). 2016a. Legislative Provisions
Regulating Women’s Access and Ownership of Land and Property in Nepal
15. John Gillespie, “Exploring the Limits of the udicialization of Urban Land
Disputes in Vietnam,” Law and Society Review (2011).
16. Knox, A., N. Duvvury and N. Milici. 2007. “Connecting Rights to Reality: A
Progressive Framework of Core Legal Protections for Women’s Property
Rights.” Washington, D.C.: ICRW (International Centre for Research on
Women)
17. Hatcher, J., L. Meggiolaro, and C.I.S. Ferrer. 2005. Cultivating Women’s
Rights for Access to Land: Country Analysis and Recommendations for
Afghanistan, Bangladesh, Burkina Faso, Ethiopia, Ghana, Guatemala,
257
Malawi, Mozambique, Uganda, Viet Nam. Rome: Action Aid International.
80 pages
18. Menon, N., Y. Rodgers, and A. Kennedy. 2014. “Land Reform and Welfare in
Vietnam:
Why
Gender
of
Land-Rights
Holder
Matters.”
14.pdf.
19. Menon, N., Y. Rodgers, and H. Nguyen. 2013. “Women’s Land Rights and
Children’s Human Capital in Vietnam.” World Development Volume 54,
February 2014, Pages 18–31
20. Nidhiya Menon, Brandeis University, Yana Rodgers, Rutgers University,
Alexis Kennedy, Rutgers University (2013) Land Reform and Welfare in
Vietnam: Why Gender of the Land-Rights Holder Matte
21. OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development). 2010.
Atlas of Gender and Development: How Social Norms Affect Gender Equality
in Non-OECD Countries. Paris: OECD.
22. OHCHR 2020a. “Submitting Information to the Working Group on
Discrimination against Women in Law and Practice.” Working Group on
Discrimination against Women and Girls.
23. Pitt, Mark, Shahidur Khandker, and Jennifer Cartwright. 2006. “Empowering
Women with
24. Micro Finance: Evidence from Bangladesh,” Economic Development and
Cultural
25. Change 54 (4): 791-831.
26. Ravallion, Martin, and Dominique van de Walle. 2008. Land in Transition:
Reform and Poverty in Rural Vietnam. Washington, DC and New York, NY:
World Bank and Palgrave Macmillan
27. Socialist Republic of Vietnam. 2014. Vietnam Marriage and Family Law
2014.
28. Tanner, C. and M. Bichhieri. 2014. “When the Law Is Not Enough: Paralegals
and Natural Resource Governance in Mozambique.” Rome: FAO Legal Office
29. Tempra, O. 2018. Women and Land in the Muslim World: Pathways to
Increase Access to Land for the Realization of Development, Peace, and
Human Rights. Nairobi: UNHabitat.
30. The Philippines. 1992. Women in Development and Nation Building Act.
Republic Act No. 7192, 12 February.
31. Transparency International. 2018. “The Impact of Land Corruption on
Women: Insights from Africa.” 27 March.
32. 2015. “The Uganda National Land Policy Implementation Plan 2015/16-
2018/19.”
33. 2006b. Land Tenure, Housing Rights and Gender in Mexico. Law, Land
Tenure and Gender Review Series: Latin America. Nairobi: UN-Habitat.
34. UN,. 2012a. Women and the Right to Adequate Housing. New York and
Geneva: United Nations.
258
35. UN. 2012a. Women and the Right to Adequate Housing. New York and
Geneva: United Nations.
36. UN 2015. Land and Human Rights: Standards and Applications. New York
and Geneva: United Nations.
37. UN CEDAW (United Nations Committee on the Elimination of
Discrimination against Women). 1994.“General Recommendation No. 21 on
Equality in Marriage and Family Relations.”
38. UN CESCR (United Nations Committee on Economic, Social and Cultural
Rights). 1991. “General Comment No. 4: The Right to Adequate Housing.”
E/1992/23
39. 2016a. “General Recommendation No. 34 on the Rights of Rural Women.”
CEDAW/C/GC/34.
40. UN Commission on Human Rights (United Nations Commission on Human
Rights). 2005. Resolution 2005/25 on Women’s Equal Ownership, Access to
and Control over Land and the Equal Rights to Own Property and to Adequate
Housing. E/CN.4/RES/2005/25.
41. 2018b. “Report of the Special Rapporteur on Adequate Housing as a
Component of the Right to an Adequate Standard of Living, and on the Right
to Non Discrimination in this Context: Note by the Secretary General.”
A/73/310/Rev.1.
42. UN human rights committee. 1990. “CCPR General Comment No. 19: Article
23 (The Family) Protection of the Family, the Right to Marriage and Equality
of Spouses.” ______. UN human rights committee. 2000. “CCPR General
Comment No. 28: Article 3 (The Equality of Rights between Men and
Women).” CCPR/C/21/Rev.1/Add.10.
43. UN human rights council. 2013b. “Report of the Working Group on the Issue
of Discrimination against Women in Law and in Practice.” A/HRC/23/50.
44. UNDP, (2013) Women Access to Land in contemporary Vietnam
45. 2020. “Improving Accountability and Access to Remedy for Victims of
Business-Related
46. UNHCR. Human Rights Abuse through Non-State-based Grievance
Mechanisms: Report of the United Nations High Commissioner for Human
Rights.” A/HRC/44/32.
47. UN women. 2019. “Women’s Land Rights and Tenure Security in the Context
of
the
SDGs.”.
are/initiatives/landrights-and-sdgs
48. The International Center for Research on Women (ICRW), ISDS (2015)
Women, Land and law in Vietnam
49. Viet Nam. 2013. The Women’s Access to Land in Contemporary Viet Nam.
Hanoi: UNDP
50. 2020b. Women, Business and the Law 2020. Washington, D.C.: World Bank
259
51. World Bank (2012) World Development Report 2012: Gender Equality and
Development. Washington DC: World Bank.
52. World Bank. 2002. “Promising Approaches to Engendering Development:
Land Use Rights and Gender Equality in Vietnam,” available at
53. Whitehead, Ann, and Dzodzi Tsikata. 2003. “Policy Discourses on Women’s
Land Rights in
54. Sub-Saharan Africa: The Implications of the Re-turn to the Customary,”
Journal of
55. Agrarian Change 3(1 and 2): 67-112
56. Networks on women’s land rights
sdgs
pt.pdf
260
Bạn đang xem tài liệu "Quyền về đất đai của phụ nữ trong luật nhân quyền quốc tế và pháp luật Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quyen_ve_dat_dai_cua_phu_nu_trong_luat_nhan_quyen_quoc_te_va.pdf

