Pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LAW ON USE OF ECONOMIC TOOLS IN ENVIRONMENTAL
PROTECTION MEETS SUSTAINABLE DEVELOPMENT
REQUIREMENTS
Đào Mộng Điệp1, Trịnh Tuấn Anh2
Tóm tắt – Bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững được
xem là mục tiêu rất quan trọng của Nhà nước và toàn xã hội. Bằng những biện
pháp và cách thức khác nhau, Nhà nước đã và đang sử dụng nhằm ngăn chặn các
trường hợp suy thoái, ô nhiễm về môi trường, trong đó sử dụng công cụ kinh tế
thông qua hành lang pháp lí được xem là biện pháp quan trọng để bảo vệ môi
trường. Bài viết phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về sử dụng
công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường. Trên cơ sở đó, bài viết kiến nghị một số
giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ
môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
Từ khóa: bảo vệ môi trường, công cụ kinh tế, phát triển bền vững.
1.
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG CÔNG CỤ KINH TẾ
TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1. Thuế bảo vệ môi trường
Thuế là một khoản đóng góp dưới hình thức tiền tệ mà các cá nhân công dân
phải nộp về cho Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định để trang trải cho các
chi tiêu vì lợi ích chung và lí do duy nhất mà các công dân phải nộp thuế vì họ là
thành viên của một cộng đồng có tổ chức [1]. Trong lĩnh vực môi trường, xuất
phát từ nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” (PPP – The Polluter Pays
Principle) với nguyên lí ‘những người khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên,
những người có hành vi xả thải vào môi trường cũng như những người có hành vi
khác gây tác động xấu tới môi trường đều phải trả tiền’ [2]. Do đó, Nhà nước ban
hành sắc luật thuế bảo vệ môi trường (BVTM) là điều tất yếu, phù hợp với yêu
cầu thực tiễn. Với tư cách là một loại thuế do Nhà nước ban hành, đánh vào các
sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường,
thuế BVMT là công cụ kinh tế (CCKT) hiệu quả và phổ biến được áp dụng để
1 Trường Đại học Luật, Đại học Huế
409
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
quản lí và BVMT. Đây được biện pháp kinh tế lâu đời nhất trong quản lí và
BVMT.
Dưới góc độ luật thực định, Khoản 1, Điều 2 Luật Thuế BVMT năm 2010
quy định: ‘Thuế BVMT là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa khi sử
dụng gây tác động xấu đến môi trường’ [3]. Đồng thời, Khoản 1, Điều 5 Luật
Thuế BVMT năm 2010 quy định: ‘Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, nhập
khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật Thuế
BVTM năm 2010 thì phải nộp thuế’ [3].
Mục tiêu của thuế BVMT là tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước
(NSNN) lấy từ những người sản xuất, kinh doanh những sản phẩm mà việc sản
xuất và tiêu dùng chúng tiềm ẩn nguy cơ gây tác động xấu tới môi trường để bù
đắp các chi phí xã hội [4]. Trên cơ sở tác động trực tiếp vào lợi ích kinh tế của
người gây ô nhiễm theo nguyên tắc PPP, việc sử dụng CCKT này sẽ làm thay đổi
hành vi của người gây ô nhiễm môi trường theo hướng phòng, chống, khắc phục ô
nhiễm môi trường, suy thoái, sự cố môi trường, về thực hiện cam kết BVMT. Có
thể thấy, thuế BVMT có vai trò quan trọng, đặc biệt tình trạng ô nhiễm, suy thoái
môi trường đang ngày càng trở thành vấn đề cấp bách cần giải quyết của tất cả các
quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển
Các chính sách thuế BVMT kể từ thời điểm sắc thuế có hiệu lực thi hành
trên thực tiễn (từ ngày 01/01/2012) đã hướng đến mục tiêu BVMT như quy định
mức thuế suất khá cao. Vì thế, người tiêu dùng (NTD) sẽ có xu hướng chuyển
sang tiêu dùng những sản phẩm khác có cùng công dụng, chức năng nhưng có giá
rẻ hơn do không bị đánh thuế và cũng chính vì thế mà các doanh nghiệp tiêu thụ
được ít sản phẩm hơn. Đồng thời, khuyến khích NTD và doanh nghiệp sử dụng
các năng lượng có lợi cho môi trường. Tuy nhiên, thực tiễn thực thi loại CCKT
này đã có nhiều vấn đề đặt ra, cụ thể:
Thứ nhất, đối tượng chịu thuế. Cụ thể, tại Điều 3 Luật Thuế BVMT năm
2010 quy định 08 nhóm sản phẩm hàng hóa thuộc diện chịu thuế là chưa đầy đủ
[3]. Trên thực tế, nhiều sản phẩm, hàng hóa mà việc sử dụng có khả năng gây ô
nhiễm môi trường nhưng lại chưa được đưa vào diện điều chỉnh của Luật Thuế
BVMT năm 2010. Ví dụ, các chất tẩy rửa trong công nghiệp, chất kích thích tăng
trưởng, khí than, khí thiên nhiên… mà khi đưa vào sử dụng có mức độ gây ô
nhiễm trên diện rộng, tác động xấu đến môi trường sinh thái và sức khỏe con
người.
Thứ hai, mức thuế suất đối với một số sản phẩm, hàng hóa là đối tượng chịu
thuế. Mức thuế BVMT thể hiện mức độ điều tiết của Nhà nước đối với những
hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường. Luật Thuế BVMT năm
2010 quy định biểu khung thuế BVMT với mức thuế “tuyệt đối”. Tuy nhiên,
khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa áp dụng cho một loại hàng hóa là
tương đối lớn nhất [Biên độ khung thuế suất quy định là quá rộng] đối với hầu hết
410
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
các nhóm hàng, mặt hàng, dẫn tới khả năng việc áp dụng sẽ không thống nhất đối
với các doanh nghiệp cùng sản xuất một mặt hàng nhưng tại các địa phương
khác nhau.
1.2. Phí bảo vệ môi trường
Phí bảo vệ môi trường là một CCKT hữu hiệu được sử dụng phổ biến ở trên
thế giới nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường và tạo nguồn thu cho NSNN dành
cho hoạt động BVMT. Theo cách tiếp cận của cơ quan thống kê châu Âu, BVMT
được hiểu là loại phí có căn cứ tính phí dựa trên các chất gây hại cho môi trường.
Theo đó, phí BVMT là loại phí được xếp vào loại phí BVMT nếu căn cứ tính phí
là một đơn vị vật chất (hoặc đại diện cho nó) của một vật gì đó đã được chứng
minh sẽ gây ra một tác động có hại đặc biệt đến môi trường [5].
Dưới góc độ luật thực định, Luật BVMT năm 2014 và các văn bản quy
phạm pháp luật khác có liên quan không đưa ra khái niệm phí BVMT nhưng với
những mục tiêu và cơ sở tính phí BVMT được xác định rõ ràng trong Luật BVMT
năm 2014, kết hợp với khái niệm phí được quy định trong Luật Phí và Lệ phí năm
2015 [6], phí BVMT có thể được định nghĩa như sau: Phí BVMT là khoản tiền mà
tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường hoặc làm phát sinh tác động xấu đối với
môi trường phải nộp nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp dịch vụ cho hoạt động BVMT.
Với tư cách là CCKT, phí BVMT là khoản thu được sử dụng để bù đắp một
phần các chi phí cho công tác BVMT, giải quyết một phần các vấn đề môi trường
do những người đóng phí gây ra. Theo đó, mức phí BVMT phải được tính toán
đảm bảo bù đắp chi phí do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bỏ ra để thực hiện
công việc, cung cấp dịch vụ phục vụ người nộp phí BVMT.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, với tư cách là CCKT, phí BVMT có tác dụng
điều chỉnh hành vi của người gây ô nhiễm theo hướng có lợi cho môi trường. Với
lí do phải chi trả chi phí môi trường nên buộc doanh nghiệp phải chủ động cân
nhắc một cách linh hoạt các phương án tối ưu trong hoạt động sản xuất và tiêu
dùng để vừa thực hiện được biện pháp có lợi hơn cho môi trường nhưng đồng thời
có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tăng lợi nhuận. Đây được gọi là nguyên
tắc lợi đôi đường “win-win”, được hình thành nhờ việc áp dụng tốt CCKT trong
BVMT [7]. Đồng thời, phí BVMT tạo nguồn thu cho NSNN trong hoạt động
BVMT.
So với các nước trên thế giới, công cụ phí BVMT ở Việt Nam được áp dụng
khá muộn. Hiện nay, phí BVMT của Việt Nam về cơ bản có hai loại là phí nước
thải và phí rác thải (gọi tắt là “chất thải”).
Trong quá trình thực hiện, pháp luật về phí BVMT đã được sửa đổi, bổ sung
cho phù hợp với thực tiễn đời sống. Nhìn chung, các quy định về phí BVMT đã
mang lại những hiệu quả nhất định trong việc BVMT, điều chỉnh hành vi chủ thể
411
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
xả thải theo hướng có lợi cho môi trường và tạo được nguồn tài chính đáng kể cho
ngân sách Trung ương và địa phương trong BVMT. Tuy nhiên, pháp luật về phí
BVMT cũng dần bộc lộ những hạn chế và bất cập, làm giảm hiệu lực và hiệu quả
của phí BVMT đối với khả năng giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Cụ thể:
Thứ nhất, mức thu phí BVTM hiện nay còn khá thấp, điều này chưa thực sự
bù đắp được các chi phí do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bỏ ra để thực hiện
công việc, cung cấp dịch vụ phục vụ người nộp phí BVMT. Bên cạnh đó, mức thu
phí theo quy định hiện hành không đủ liều lượng để buộc các doanh nghiệp phải
cải tạo hệ thống xử lí chất thải. Điều này sẽ không phát huy được hiệu quả thực thi
của pháp luật,
Thứ hai, đối tượng chịu phí BVMT chưa đầy đủ. Ví dụ, pháp luật không
quy định đối tượng chịu phí là các cửa hàng thức ăn nhanh, siêu thị; khu công
nghệ cao; hệ thống xử lí nước thải tập trung khu đô thị..., do đó dẫn đến khó khăn,
vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện của cơ quan chức năng. Điển hình,
hiện nay cả nước có ba khu công nghệ cao ở Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và
Đà Nẵng. Tuy nhiên, Nghị định số 154/2016/NĐ-CP về phí BVMT đối với nước
thải [8] không có quy định về đối tượng chịu phí là khu công nghệ cao đã gây
lúng túng cho các địa phương trong việc xác định khu công nghệ cao thuộc đối
tượng chịu phí nước thải công nghiệp hay nước thải sinh hoạt.
1.3. Quỹ bảo vệ môi trường
Quỹ bảo vệ môi trường (Quỹ BVMT) là loại CCKT được sử dụng khá phổ
biến hiện nay cho mục đích BVMT. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học, Quỹ
BVMT có thể được hiểu là một thể chế hoặc một cơ chế được thiết kế để nhận
kinh phí từ nhiều nguồn khác nhau và từ đó phân phối các nguồn này để hỗ trợ
quá trình thực hiện các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường
[9].
Về phương diện pháp lí, Quỹ BVMT là một tổ chức tài chính được lập ra để
hỗ trợ cho việc sử dụng và bảo tồn nguồn tài nguyên một cách bền vững. Do đó,
Quỹ BVMT hoạt động thông thường dưới hình thức cung cấp hỗ trợ tài chính với
các điều khoản ưu đãi, các khoản trợ cấp không hoàn lại, các khoản vay vốn dài
hạn với lãi suất thấp hơn lãi suất hiện hành trên thị trường.
Ở Việt Nam, Quỹ BVMT được chia làm ba loại: (i) Quỹ BVMT quốc gia;
(ii) Quỹ BVMT địa phương và; (iii) Quỹ BVMT ngành [3]. Các quỹ này đã được
sử dụng hiệu quả, hỗ trợ cho công tác BVMT. Đến nay, nước ta có 41 tổ chức
Quỹ BVMT, trong đó, có 01 Quỹ BVMT Trung ương (Quỹ BVMT Việt Nam), 39
Quỹ BVMT địa phương và 01 Quỹ BVMT ngành Than [9]. Kể từ thời điểm được
thành lập cho đến nay, các Quỹ BVMT đạt được một số kết quả như: góp phần
đưa nguồn vốn của Nhà nước để thực hiện dự án môi trường hiệu quả, thực hiện
các chiến lược, mục tiêu BVMT; bước đầu huy động được một phần nguồn tài lực
từ trong và ngoài nước cho các hoạt động BVMT. Ngoài ra, các hoạt động của các
412
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
Quỹ góp phần vào việc giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao nhận thức con
người về vấn đề môi trường [10].
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai hoạt động của các
Quỹ BVMT còn bộc lộ những hạn chế:
Thứ nhất, nguồn vốn của Quỹ BVMT ở Trung ương và các địa phương hiện
nay rất hạn chế. Theo quy định của Luật BVMT năm 2014, vốn hoạt động của
Quỹ BVMT được hình thành từ các nguồn: NSNN; phí BVMT; các khoản bồi
thường cho Nhà nước về thiệt hại môi trường; các khoản hỗ trợ, đóng góp, ủy thác
đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước [3]. Tuy nhiên, hiện nay, nguồn
vốn của Quỹ BVMT hầu như chỉ phụ thuộc vào NSNN. Nguồn vốn này thường là
ổn định, ít khi được tăng, bổ sung. Trong khi đó, các nguồn vốn có thể bổ sung
thường xuyên cho Quỹ như phí BVMT, các khoản bồi thường thiệt hại về môi
trường lại chưa có cơ chế chuyển vốn.
Thứ hai, khó khăn trong việc thực hiện cơ chế ưu đãi của Quỹ BVMT Việt
Nam là để đầu tư cho môi trường. Theo quy định của pháp luật, thủ tục cho vay
của Quỹ BVMT Việt Nam không khác so với hình thức cho vay thương mại. Quỹ
BVMT Việt Nam mới chỉ được phép cho vay ưu đãi về lãi suất, còn các điều kiện
cho vay vẫn phải tuân thủ đúng như các yêu cầu cho vay thương mại. Trong khi
đó, hầu hết các đối tượng có nhu cầu vay vốn đầu tư cho môi trường không có đủ
điều kiện để đáp ứng các nhu cầu trên.
2. KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG
CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÁP ỨNG YÊU
CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
2.1. Thuế bảo vệ mội trường
Thứ nhất, các quy định về đối tượng chịu thuế BVMT phải bao hàm mọi sản
phẩm, hàng hóa gây tác động tiêu cực đến môi trường. Về điều này, Luật Thuế
BVMT năm 2010 đã không làm được. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế (Cộng
hòa Liên bang Đức, Bỉ) cho thấy, pháp luật thuế BVMT đã quy định các đối
tượng chịu thuế mà Luật thuế BVMT năm 2010 không đề cập như sản phẩm phân
bón hóa học, chất tẩy rửa, chất kích thích tăng trưởng, khí than, khí thiên nhiên
[11].
Do đó, để bảo đảm tính bao quát, công bằng của quy định về đối tượng chịu
thuế, cần phải rà soát lại danh mục hàng hóa, khảo sát thêm thực tiễn, bổ sung các
đối tượng chịu thuế dựa trên nguyên tắc đã là sản phẩm gây tác động tiêu cực đến
môi trường thì phải thuộc diện chịu thuế [12]. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định
của Luật Thuế BVMT, tránh tình trạng phải sửa đổi, bổ sung, đồng thời Luật Thuế
BVMT cho phép Chính phủ quy định chi tiết về đối tượng chịu thuế bằng văn bản
dưới luật, Chính phủ cần sửa đổi Nghị định 67/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và
413
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế BVMT rà soát, bổ sung và quy
định chi tiết các đối tượng chịu thuế.
Thứ hai, như đã đề cập, biên độ khung thuế suất quy định là quá rộng đối
với hầu hết các nhóm hàng, mặt hàng. Bên cạnh đó, các tiêu chí để xây dựng
khung thuế suất đối với một số đối tượng chịu thuế như trong Luật Thuế BVMT
năm 2010 là chưa đủ căn cứ thực tiễn nên tính thuyết phục chưa cao [13]. Việc
xác định khung thuế suất đối với một số mặt hàng như xăng, dầu,...; dựa trên mức
phí BVMT là chưa hợp lí vì hai CCKT này là khác nhau.
Để khắc phục điều này, theo tác giả, Nghị định 67/2011/NĐ-CP và Thông
tư số 152/2011/TT-BTC (sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 106/2018/TT-BTC)
hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP [14] cần quy định cụ thể và chi
tiết theo hướng chia nhỏ các nhóm hàng ra, có khung thuế suất riêng đối với từng
mặt hàng. Đối với hàng hóa chịu sự biến động lớn về giá (xăng, dầu…), có thể
quy định biên độ rộng, còn đối với những mặt hàng khác cần thu hẹp biên độ lại.
2.2. Phí bảo vệ môi trường
Thứ nhất, xây dựng mức thu phí tương xứng với mức độ gây ô nhiễm và tốc
độ lạm phát. Kinh nghiệm thế giới cho thấy trong những năm đầu áp dụng phí
BVMT, mức thu phí có thể quy định ở mức thấp, sau đó tăng dần ở những năm
tiếp theo. Nhờ áp dụng nguyên tắc này mà một số quốc gia đã rất thành công
trong việc thu phí ô nhiễm như Đức, Trung Quốc [15]. Điển hình ở Trung Quốc,
quy định tính phí ô nhiễm môi trường với tất cả các đơn vị ô nhiễm, cả đơn vị trên
và dưới tiêu chuẩn cho phép. Các tiêu chuẩn được quy định phù hợp với từng
ngành công nghiệp. Mức phí sẽ thay đổi tùy theo loại chất gây ô nhiễm. Pháp luật
Trung Quốc cho phép các địa phương có thể đưa ra các tiêu chuẩn chặt chẽ hơn
tiêu chuẩn quốc gia và có thể đưa ra mức phí cao hơn mức phí chung của quốc gia
[7].
Thứ hai, bổ sung quy định đối tượng chịu phí BVMT:
(i) Xác định rõ ràng đối tượng chịu phí đối với nước thải tại các siêu thị có
hoạt động chế biến thực phẩm, thức ăn nhanh, sản xuất bánh, các cửa hàng thức
ăn nhanh. Cụ thể, trường hợp các siêu thị, trung tâm thương mại là các cơ sở kinh
doanh không có hoạt động chế biến thực phẩm, thức ăn nhanh sẽ thuộc đối tượng
chịu phí nước thải sinh hoạt. Trường hợp các cơ sở này có hoạt động chế biến
thực phẩm, thức ăn nhanh mà hoạt động chế biến thực phẩm, thức ăn nhanh là
hoạt động chính thì các cơ sở này sẽ thuộc đối tượng chịu phí nước thải công
nghiệp;
(ii) Bổ sung hệ thống xử lí nước thải tập trung khu đô thị là đối tượng chịu
phí BVMT đối với nước thải công nghiệp
(iii) Bổ sung khu công nghệ cao là đối tượng chịu phí BVMT đối với nước
thải công nghiệp
414
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
2.3. Quỹ bảo vệ môi trường
Thứ nhất, bổ sung nguồn vốn cho Quỹ BVMT bằng cách thu hút vốn ODA,
WB và các tổ chức quốc tế khác đầu tư cho môi trường tại Việt Nam.
Thứ hai, hoàn thiện các quy chế, quy trình nghiệp vụ theo hướng thông
thoáng, gọn nhẹ để các đơn vị có nhu cầu có thể tiếp cận được nguồn vốn. Cụ thể:
- Tích cực tiếp cận các đơn vị có nhu cầu và giải quyết cho vay đối với các
chủ đầu tư về môi trường đáp ứng được các điều kiện theo quy định của Nhà
nước;
- Nghiên cứu đề xuất mở rộng đối tượng cho vay ưu đãi, chú ý tới nhóm đối
tượng nhà thầu triển khai dự án BVMT;
- Nghiên cứu xem xét đề xuất bổ sung hoàn thiện các quy định hoạt động
nghiệp vụ, cơ chế ưu đãi cho phù hợp với thực tế. Thực hiện đa dạng hóa các hình
thức hỗ trợ tài chính như Quyết định của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành (cho
vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, tài trợ không hoàn lại).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Michel Bouvier. General Introduction of Tax Law and the Theory of Taxation.
LGDJ, Lextenso editions; 2012.
[2] Võ Trung Tín. Về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền – kinh nghiệm
nước ngoài và những vấn đề pháp lí đặt ra đối với Việt Nam. Tạp chí Khoa
học Pháp lý. 2014;Số 06 (85).
[3] Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Thuế bảo vệ môi
trường. 2010.
[4] Nguyễn Ngọc Anh Đào. Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ
môi trường ở Việt Nam hiện nay [Luận án tiến sĩ]. Học viện Khoa học Xã
hội. 2013
[5]Elzbieta Broniewicz. Environmental Protection Expenditure in European
union [Accessed 15th October 2020].
[6] Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Phí và Lệ phí.
2015.
[7] Lê Thị Thu Hằng. Pháp luật về phí bảo vệ môi trường từ thực tiễn thành phố
Đà Nẵng [Luận án tiến sĩ]. Học viện Khoa học Xã hội. 2018.
[8] Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam. Nghị định về phí bảo vệ môi trường đối
với nước thải. Nghị định số 154/2016/NĐ-CP. 2016.
415
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
[9] Nguyễn Văn Luân. Hiệu quả kinh tế và môi trường của Quỹ Bảo vệ môi
trường Việt Nam. Tạp chí Công thương điện tử. 2020. Truy cập từ:
[10] Nguyễn Nam Phương. Những vướng mắc trong việc sử dụng Quỹ Bảo vệ môi
trường Việt Nam trong quản lí môi trường và giải pháp khắc phục. Viện
Khoa học Pháp lí. Bộ Tư pháp; 2005.
[11] Vương Thị Thu Hiền, Phạm Xuân Thắng. Thuế bảo vệ môi trường: Kinh
nghiệm quốc tế và những khuyến nghị với Việt Nam. Tạp chí Tài chính.
2017;Số 666.
[12] Võ Trung Tín. Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền theo pháp luật
môi trường Việt Nam [Luận án tiến sĩ]. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí
Minh. 2019.
[13] Võ Trung Tín, Nguyễn Lâm Trâm Anh. Thuế bảo vệ môi trường – hình thức
thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền trong pháp luật môi
trường Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. 2014;số 16 (272).
[14] Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam. Nghị định của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường.
Nghị định số 67/2011/NĐ-CP. 2011.
[15] Lê Hà Thanh và Đinh Đức Trường. Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải:
Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam. Tạp chí Những Vấn đề Kinh
tế & Chính trị Thế giới. 2013;Số 4(204);tr.25-36.
416
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phap_luat_ve_su_dung_cong_cu_kinh_te_trong_bao_ve_moi_truong.pdf

