Nguyên nhân của tội phạm

VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63  
Original Article  
Crime Causation  
Nguyen Khac Hai*  
VNU School of Law, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Received 02 September 2021  
Revised 18 September 2020; Accepted 22 September 2021  
Abstract: Criminological theories in general based on numerous highly specialized studies focus  
on environmental surroundings, biological, and sociocultural and psychological factors in crime  
causation. The diversity of types of crime as well as the multi-dimensional impact of different  
factors have shown that neither approach alone, nor special emphases within either approach, is  
capable of offering a comprehensive explanation for all types of crime. However, results of  
criminological studying contribute to the popular recommendations for crime reduce, improvement  
of criminal justice system as well as enhancementsocial institutions. This study opens fundamental  
and comprehensive recognition on crime explanation in society.  
Keywords: Crime causation, crime explanation, crime prevention.  
*
________  
*Corresponding author.  
E-mail address:[email protected]  
54  
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63  
55  
Nguyên nhân của tội phạm  
Nguyễn Khắc Hải*  
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 02 tháng 9 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 18 tháng 9 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 22 tháng 9 năm 2021  
Tóm tắt: Các học thuyết tội phạm học dựa trên nhiều nghiên cứu chuyên sâu tập trung vào các yếu  
tố môi trường sống, sinh học, văn hóa xã hội và tâm lí để lí giải về nguyên nhân tội phạm. Sự đa  
dạng của các loại tội phạm cũng như sự sự tác động đa chiều của các yếu tố khác nhau đã cho thấy  
không có cách tiếp cận đơn lẻ hay đặc biệt nhấn mạnh nào có thể giải thích toàn diện cho tất cả các  
loại tội phạm. Tuy nhiên, mỗi kết quả nghiên cứu tội phạm học đều có giá trị nhất định cho các  
khuyến nghị về giảm thiểu tội phạm, cải thiện hệ thống tư pháp hình sự cũng như tăng cường các  
thiết chế xã hội. Nghiên cứu này mở ra hướng tiếp cận cơ bản và tổng quát về giải thích hiện tượng  
tội phạm trong xã hội.  
Từ khóa: Nguyên nhân của tội phạm, lí giải về tội phạm, phòng ngừa tội phạm.  
1. Khái niệm nguyên nhân của tội phạm*  
làm gia tăng tội phạm không nếu như cả triệu  
người xem có thể không ai phạm tội nhưng ai đó  
phạm tội lại có thể không xem phim. Phải chăng  
chúng ta nên đánh giá được cách thức đón nhận  
bộ phim của khán giả chứ không chỉ nhìn vào nội  
dung bộ phim!  
Đi sâu và phát triển tiếp vấn đề có thể tiếp tục  
đưa ra những câu hỏi như liệu yếu tố di truyền  
có ảnh hưởng đến việc thực hiện tội phạm hay  
không? Nếu có thì người xử sự trái pháp luật có  
lỗi không? Nếu như không kế thừa yếu tố bẩm  
sinh thì những yếu tố nào của môi trường bên  
ngoài đưa con người đến xử sự phạm tội? Liệu  
tội phạm có phải vĩnh cửu? Có thể phòng  
ngừa được tội phạm và cải tạo được người  
phạm tội không?  
Nguyên nhân của tội phạm là vấn đề trung  
tâm của tội phạm học. Đây là vấn đề nhận được  
sự quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu  
pháp lí mà còn của các nhà nghiên cứu thuộc các  
lĩnh vực khác như triết học, chính trị học, dân tộc  
học, xã hội học, tâm lý học, y học. Khi xem xét  
về nguyên nhân của tội phạm, một loạt câu hỏi  
có mối liên hệ với nhau được đặt ra cần giải  
quyết như tại sao con người thực hiện tội phạm,  
nhân thân người phạm tội và môi trường xung  
quanh có vai trò thế nào. Nếu việc thực hiện tội  
phạm phụ thuộc vào nhân thân người phạm tội  
thì tại sao con người lại thực hiện tội phạm ở  
những điều kiện khác nhau như độ tuổi, nền giáo  
dục và môi trường nuôi dưỡng, tính khí, lối sống.  
Ngược lại, nếu việc thực hiện tội phạm không  
phụ thuộc vào nhân thân mà phụ thuộc hoàn  
cảnh, môi trường thì tại sao con người lớn lên  
trong một gia đình, một hoàn cảnh lại có thể có  
những xử sự khác nhau. Một bộ phim liệu có thể  
Mối quan hệ nhân quả là quan hệ tồn tại  
khách quan, phụ thuộc vào hai hay nhiều hiện  
tượng, trong đó một trong số chúng (nguyên  
nhân) sinh ra cái kia (kết quả). Mối quan hệ nhân  
quả - không phải là sự tưởng tượng của của  
________  
*Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]m  
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63  
56  
chúng ta mà là quy luật tồn tại hiện thực của tự  
nhiên và xã hội.  
chứng được mức độ ảnh hưởng của những yếu tố  
quan trọng đến việc phát sinh tội phạm. Thêm  
vào đó, những yếu tố này cần phải tác động qua  
lại biện chứng với nhau và với các yếu tố khác  
theo một cơ chế nào để phát sinh tội phạm. Do  
đó chúng ta cần cơ chế của hành vi phạm tội để  
biết sự vận hành, tác động qua lại lẫn nhau theo  
cách thức nào thì tội phạm sẽ phát sinh được ở  
mức độ cá nhân (tâm lí). Những yếu tố có tầm  
ảnh hưởng lớn đến việc phát sinh tội phạm có thể  
kể đến là những các yếu tố sinh học (quá trình  
hủy hoại não, tổn thương não, rối loạn động kinh,  
rối loạn nội tiết,...), các yếu tố tâm lí, các yếu tố  
xã hội (quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, lợi ích  
chính trị, đạo đức xã hội,...).  
Nguyên nhân của tội phạm còn một dạng đặc  
biệt nữa là hình thức tự phát sinh của tội phạm,  
tức là bản thân nó tạo ra các hành vi chống đối  
xã hội mới thông qua một quá trình tự phát sinh  
tội phạm. Bốn hình thức điển hình của các hình  
thức biểu hiện của quá trình tự xác định này sẽ  
được phân tích dưới đây [1].  
Hình thức tự phát sinh tội phạm thứ nhất là  
việc thực hiện tội phạm thành công và không bị  
phát hiện thường làm phát sinh ra tội phạm khác.  
Ví dụ trộm cắp lần đầu không bị phát hiện thì dễ  
dẫn đến việc trộm cắp lần tiếp theo, hoặc vận  
chuyển ma túy thành công thì sẽ rất có thể  
chuyển sang buôn bán ma túy. Việc thực hiện tội  
phạm khác sau thực hiện thành công một tội  
phạm hoặc lặp lại việc phạm tội đó nhiều lần.  
Hình thức tự phát sinh tội phạm thứ hai là tội  
phạm được thực hiện phát sinh do nhu cầu (che  
dấu..) hay sự kích thích bởi tội phạm khác. Ví dụ  
làm giấy tờ giả để tiêu thụ xe do trộm cắp, giết  
người sau khi hiếp dâm để che dấu tội phạm.  
Nhiều trường hợp việc tiêu thụ đồ ăn cắp như  
gương ô tô hay xe máy tràn lan sẽ kích thích trộm  
cắp. Như vậy tình trạng tội phạm này làm phát  
sinh tội phạm khác sẽ tạo ra bối cảnh tội phạm  
tiềm ẩn.  
Trong đời sống xã hội, những mối quan hệ  
nhân quả chứa đựng những đặc thù nhất định. Xã  
hội - đó là hệ thống thay đổi về mặt lịch sử và  
bởi vậy sự giải thích về nguyên nhân, đúng đối  
với quãng thời gian này, nhưng lại sai với quãng  
thời gian khác. Hơn thế nữa, trong xã hội thông  
qua mối quan hệ nhân quả chuyển hóa không  
phải thành năng lượng hay vật chất, như trong tự  
nhiên không sự sống, mà chủ yếu là thành thông  
tin. Những mối quan hệ nhân quả ở đây luôn luôn  
thông qua nhận thức của con người, cho nên tiếp  
cận chúng rất phức tạp, đôi khi bị sai lệch hoặc  
chuyển đổi. Cũng cần lưu ý rằng trong hoạt động  
và đời sống xã hội có mối quan hệ qua lại mạnh  
mẽ, ví dụ tác động của hậu quả đối với nguyên  
nhân của chính nó. Tất cả những đặc thù của mối  
quan hệ nhân quả trong xã hội và tất nhiên là làm  
trầm trọng vấn đề.  
Mỗi yếu tố môi trường, xã hội hóa, thể chất,  
và tâm lí đóng góp một cách độc lập để định hình  
và chỉ đạo các mẫu hành vi nói chung và mẫu  
hành vi phạm tội nói riêng. Thiếu hụt trong các  
lĩnh vực phát triển con người này làm tăng nguy  
cơ phạm tội. Những người có nguy cơ phạm tội  
có thể chống lại hành vi phản xã hội nếu những  
đặc điểm và điều kiện này được củng cố.  
Nguyên nhân của tội phạm là tổng thể những  
hiện tượng tiêu cực của đời sống xã hội kết hợp  
với những yếu tố tâm lí, những yếu tố sinh học  
và những tình huống theo cơ chế biện chứng nhất  
định làm phát sinh ra tội phạm, hỗ trợ, thúc đẩy  
hay kìm hãm sự tồn tại và phát triển của nó.  
Những mâu thuẫn xã hội luôn tồn tại và như  
vậy thì tội phạm sẽ song hành cùng với xã hội  
loài người. Nhưng đấu tranh phòng, chống tội  
phạm là có thể và cần thiết, cũng như chúng ta  
chống lại bệnh tật, nhận thức được nguồn gốc  
xuất hiện khách quan và không thể loại trừ được  
hoàn toàn.  
Sự giải thích về nguyên nhân của tội phạm  
càng về sau này càng phát triển cùng với sự ra  
đời của các học thuyết dẫn đến mở rộng danh  
sách các yếu tố phát sinh nguyên nhân của tội  
phạm. Tuy nhiên cần phải có phân loại lại những  
yếu tố “chính” và những yếu tố “phụ” và minh  
Hình thức tự phát sinh tội phạm thứ ba là  
những loại tội phạm có tổ chức. Tính có tổ chức  
của những loại tội phạm này sẽ dẫn đến quá trình  
tự làm phát sinh ra nhiều tội phạm khác nhau.  
Trong xã hội hiện đại khi mà các công cụ pháp  
luật đã trở nên sắc bén trong phòng, chống tội  
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63  
57  
phạm và nhiều loại tội phạm xuyên quốc gia đòi  
hỏi phải có sự tổ chức chặt chẽ, chuyên nghiệp  
thì mới thực hiện hiệu quả và xuyên thủng được  
hệ thống phòng thủ của các quốc gia thì việc thực  
hiện thành công một tội phạm “chính” cần có  
thêm một hoặc một số tội phạm “phụ” cần được  
thực hiện. Ví dụ để thực hiện được buôn lậu ô tô  
qua biên giới thì nhóm tội phạm có tổ chức phải  
làm giấy tờ giả, hối lộ các viên chức hải quan.  
Thậm chí ngay cả việc thành lập ra các nhóm tội  
phạm có tổ chức đã là tội phạm theo pháp luật  
của rất nhiều quốc gia.  
Hình thức tự phát sinh tội phạm thứ tư thể  
hiện qua tâm lí của cộng đồng xã hội. Hiện tượng  
tâm lí này phần nào bị tác động bởi truyền thông  
khi mà những hành vi phạm tội xuất hiện đầy rẫy  
trên các phương tiện thông tin đại chúng hàng  
ngày khiến cho tội phạm trở nên quen thuộc với  
người dân, sự phản ứng của họ với tội phạm trở  
nên thiếu quyết liệt. Ngoài ra nếu như với một tỉ  
lệ tội phạm cao mà nhiều trường hợp không bị  
xử lí, trừng phạt hoặc xử lí qua loa không nghiêm  
khắc sẽ dẫn đến một trạng thái tâm lí coi thường  
pháp luật, thiếu niềm tin vào hệ thống tư pháp.  
Những hành vi của người dân trong bối cảnh này  
sẽ dễ dẫn đến phạm tội. Chính bối cảnh phạm tội  
tràn lan tự làm phát sinh thêm ngày càng nhiều  
tội phạm.  
nguyên nhân được quy định bởi các hiện tượng  
khác của tự nhiên và xã hội.  
Các tình huống góp phần vào việc đạt được  
kết quả phạm tội có thể được hình thành từ trước  
và từ hoạt động của những người khác nhau.  
Nhiều tội phạm, đặc biệt là những tội liên quan  
đến phá hoại và làm hủy hoại tài sản, chỉ có thể  
được thực hiện trong một số điều kiện vật chất  
nhất định. Ví dụ như sửa chữa hàn lại biển quảng  
cáo bị hỏng của quán hát karaoke trong khi quán  
đang có đông người hát. Tia lửa bắn vào làm  
cháy quán và chết nhiều người do quán không  
xây theo đúng thiết kế về lối thoát hiểm và  
phương án phòng cháy chữa cháy. Như vậy rõ  
ràng là trong hoàn cảnh khác nếu như quán  
karaoke được xây dựng theo đúng thiết kế và  
tuân thủ các yêu cầu phòng, chữa cháy thì đã  
không xảy ra sự cố như vậy. Thay đổi điều kiện  
vật chất là một trong những phương pháp kỹ  
thuật có thể sử dụng để ngăn ngừa tội phạm.  
Trong trường hợp này, các biện pháp xã hội, kỹ  
thuật, pháp lí và các giải pháp khác, được thực  
hiện để thay đổi các điều kiện vật chất, hoặc ít  
nhất là để giảm thiểu tác động tiêu cực của  
chúng.  
Các đặc tính pháp lí của hành động của những  
người góp phần vào việc đạt kết quả của tội  
phạm có thể khác nhau. Trong một số trường  
hợp, những người đồng phạm tạo ra các điều  
kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm.  
Khi có đủ điều kiện cần thiết thì có thể tạo ra  
kết quả phạm tội. Rõ ràng, một tình huống như  
vậy từ góc độ tội phạm học là rất không thuận lợi  
và đòi hỏi sự can thiệp ngay lập tức. Sự có mặt  
của các điều kiện đầy đủ có nghĩa là tội phạm có  
thể không bị cản trở và có thể được thực hiện bất  
cứ lúc nào. Với tình hình như vậy, chỉ có thể  
ngăn chặn được tội phạm bằng cách loại trừ ngay  
lập tức một số điều kiện đủ (hoặc bắt giữ một  
người có ý định phạm tội).  
Điều kiện của tội phạm và mối quan hệ biện  
chứng với nguyên nhân  
Trong phạm vi nguyên nhân của tội phạm, có  
những hiện tượng của đời sống xã hội tạo ra tội  
phạm, có những hiện tượng chỉ hỗ trợ sự tồn tại  
của nó, gây ra sự gia tăng hoặc suy giảm của nó.  
Như vậy ngoài các nguyên nhân của tội phạm,  
cũng có khái niệm về các điều kiện góp phần tạo  
ra tội phạm, bao gồm các yếu tố tự nhiên, xã hội  
hoặc kỹ thuật. Bản thân, những điều kiện này  
không tạo ra tội phạm, nhưng giúp cho việc thực  
hiện thuận lợi. Đồng thời, điều kiện và nguyên  
nhân đôi khi có thể thay đổi vị trí; hiện tượng  
tương tự (ví dụ như quản lí kém) có thể gây ra  
một số trường hợp, trong khi ở một số khác nó  
chỉ có thể đóng vai trò thúc đẩy, tác động.  
Nguyên nhân của tội phạm và các điều kiện hỗ  
trợ hợp lại thành thuật ngữ chung là tính quyết  
định của tội phạm. Sự phụ thuộc khách quan của  
Tuy nhiên, khó khăn nằm ở thực tế là các điều  
kiện tiêu cực có thể hoán đổi cho nhau. Ví dụ,  
nếu một công việc kiểm toán yếu góp phần vào  
việc trộm cắp trong nhà máy, những khiếm  
khuyết này sẽ được loại bỏ, điều kiện cho việc  
trộm cắp có thể được tái lặp do cách lựa chọn  
không đúng nhân sự bảo vệ. Do đó, trên thực tế  
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63  
58  
trong công tác phòng ngừa, cần chú ý không chỉ  
đến loại bỏ các điều kiện hiện tại, mà còn để loại  
bỏ những thiếu sót khác mà sau này có thể được  
sử dụng bởi những người có ý định phạm tội.  
Nếu không, ngay cả khi công tác phòng ngừa tích  
cực và liên tục được thực hiện trong một khuôn  
khổ hẹp sẽ không theo kịp với các hình thức thay  
đổi của hoạt động phạm tội.  
Trong một số nghiên cứu cho rằng có thể  
được nhìn thấy một sự phân biệt rõ ràng và phổ  
quát của các yếu tố nguyên nhân của tội phạm và  
các yếu tố với tư cách là điều kiện góp phần vào  
nó. Điều này giả định sự hiểu biết về các nguyên  
nhân và các điều kiện hoàn toàn có thể xác định  
được với tư cách là một hiện tượng. Ví dụ mô tả  
nguyên nhân phạm tội của trẻ vị thành niên (một  
tác động tiêu cực trong gia đình, trong khu vực  
sống, với sự kích động, cổ vũ một phần của  
người phạm tội thành niên) và điều kiện (bị bỏ  
bê như việc thiếu kiểm soát thích hợp của gia  
đình, những thiếu sót của công tác giáo dục v.v).  
Trên thực tế, việc đánh giá các hiện tượng nhất  
định như nguyên nhân và các điều kiện khác là  
chỉ là tương đối. Một hiện tượng cụ thể trong một  
số tương tác có thể đóng vai trò của một nguyên  
nhân, ở những người khác - điều kiện.  
Có những hoàn cảnh rất tiêu cực, bất lợi  
nhưng cũng khó để kết luận đó là nguyên nhân  
của tội phạm bởi những hoàn cảnh này khi tác  
động với các loại nhân thân khác nhau có thể dẫn  
đến những kết quả ngược nhau. Tuy nhiên, có  
thể chỉ ra những hoàn cảnh mà trong đó nhiều  
người có xu hướng phạm tội thường xuyên hơn.  
Những hoàn cảnh như vậy gọi là hoàn cảnh tiềm  
ẩn nguy cơ phạm tội, nghĩa là chúng mang theo  
trong mình khả năng phạm tội. Hạn chế các hoàn  
cảnh tiềm ẩn nguy cơ phạm tội là những trường  
hợp gây khó khăn cho tội phạm, kích thích hành  
vi hợp pháp. Tuy nhiên, việc đánh giá các hoàn  
cảnh nào là hoàn cảnh tiềm ẩn nguy cơ phạm tội  
hoặc chống nguy cơ tiềm ẩn luôn luôn là tương  
đối. Ví dụ thất nghiệp được coi là hoàn cảnh  
thường gắn với tội phạm hơn có việc làm vì vậy  
việc làm đầy đủ dường như là yếu tố chống tội  
phạm. Nhưng nếu nó kết hợp với yếu tố thực tế  
là nhân viên cẩu thả không đánh giá cao vị trí của  
mình và trong điều kiện thiếu hụt nhân viên và  
quản trị doanh nghiệp kém hiệu quả, sẽ có thể  
dẫn đến thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm  
trọng hay tham ô hoặc tội phạm vô ý, tội phạm  
kinh tế. Lí do là nó tương tác với các điều kiện.  
Không có hành vi phạm tội thì cũng không có  
nguyên nhân của nó. Có những trường hợp đang  
trong hoàn cảnh khuyến khích vi phạm pháp luật  
nhưng việc thực hiện là gần như không thể, ví dụ  
như tìm cách giết thẩm phán đã tuyên án mình  
để trả thù nhưng lại đang trong trại giam. Nói  
cách khác, cho dù yếu tố cá nhân - tình huống  
hay tính chất của một người - tiêu cực như thế  
nào, thì nó vẫn chưa được đánh giá là nguyên  
nhân của hành vi phạm tội. Chỉ có một khả năng  
chính thức của một tội phạm, đó là, trong đó, với  
xác suất bằng nhau, nó có thể xảy ra, hoặc nó có  
thể không xảy ra.  
2. Phân loại nguyên nhân của tội phạm  
Những yếu tố làm phát sinh những tội phạm  
khác nhau trong cuộc sống rất nhiều. Khi nghiên  
cứu nguồn gốc, xuất xứ của những hiện tượng  
xã hội, trong đó có tội phạm, chúng ta thực sự  
động chạm tới rất nhiều nguyên nhân (và rất  
nhiều kết quả). Chính vì vậy mà tất cả những  
nguyên nhân cần phải được phân loại theo  
một hệ thống nhất định.  
Căn cứ theo cái chung và cái riêng thì nguyên  
nhân của tội phạm có thể được phân ra thành:  
i) Những nguyên nhân của tội phạm với tính  
chất là hiện tượng xã hội nói chung  
ii) Những nguyên nhân của từng nhóm tội  
phạm có cùng tính chất (tội phạm vụ lợi, tội  
phạm tình dục, tội phạm vũ lực...)  
iii) Những nguyên nhân của một tội phạm cụ  
thể (tội cướp tài sản, tội hiếp dâm, tội cố ý gây  
thương tích...)  
Theo bản chất của sự xuất hiện thì có thể phân  
nguyên nhân của tội phạm thành:  
i) Khách quan (những mâu thuẫn trong trong  
đời sống xã hội, trong các mối quan hệ kinh tế và  
xã hội)  
ii) Chủ quan (trên cơ sở những yếu tố tâm lí  
xã hội, những yếu tố nhận thức pháp luật, mục  
đích, động cơ, chuẩn mực giá trị)  
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63  
59  
Căn cứ theo nhóm các yếu tố có cùng tính  
chất thì có thể phân nguyên nhân của tội phạm  
thành ba nhóm là:  
thuẫn chính là giữa đặc trưng xã hội của sự sản  
xuất và tư hữu kết quả lao động [2].  
i) Những yếu tố sinh học;  
ii) Những yếu tố tâm lí;  
3. Các yếu tố sinh học, tâm lí, xã hội trong lí  
giải nguyên nhân của tội phạm  
iii) Những yếu tố xã hội.  
Căn cứ vào mức độ (phạm vi) thì có thể phân  
nguyên nhân của tội phạm thành ba loại: a) mức  
độ cá nhân - tâm lí, b) mức độ cộng đồng - xã hội  
và c) mức độ đa cộng đồng - quy luật.  
3.1. Các yếu tố sinh học  
Các yếu tố sinh học có vai trò trong quá trình  
phát triển của toàn bộ hành vi của con người. Tuy  
nhiên, như tất cả các yếu tố liên quan trong việc  
xác định hành vi, chúng không vận động đơn lẻ  
mà mỗi yếu tố tương tác với rất nhiều yếu tố sinh  
học cũng như các yếu tố phi sinh học trong một  
chuỗi quan hệ nhân quả phức tạp. Các yếu tố sinh  
học tương tác với các yếu tố phi sinh học. Những  
kích thích xuất hiện được điều chỉnh và hồi đáp  
dựa trên một sự tương tác giữa các cá nhân với  
môi trường của mình. Do đó, mỗi người chúng  
ta nhận thức và phản ứng với thế giới theo một  
cách riêng biệt, mỗi người có một sự kết hợp  
khác nhau của các yếu tố quyết định đến hành vi  
của người đó.  
Tầm quan trọng của các yếu tố sinh học trong  
việc xác định hành vi khác nhau rất nhiều. Ví dụ  
trong hội chứng của bệnh Down, sự bất thường  
nhiễm sắc thể dẫn đến nhiều triệu chứng - hạn  
chế sự phát triển trí tuệ và cơ thể (vóc dáng), tim  
mạch dị dạng - đặc trưng cho các rối loạn. Xem  
xét một ví dụ thứ hai, trong đó một rối loạn nội  
tiết phần nào tạo ra hành vi của một người mười  
lăm tuổi phát triển một người máy để làm sạch  
nhà để xe. Do tuyến giáp thấp cấp, cậu bé phản  
ứng chậm. Là một cậu bé nhỏ nhắn, cậu ta nhận  
ra rằng cậu là một vận động viên kém năng lực,  
vì vậy cậu đã dành phần lớn thời gian đọc và tìm  
hiểu các thiết bị điện một mình. Trong ví dụ đầu  
tiên, sự biến đổi sinh học là một yếu tố quyết  
định quan trọng, nhưng trong ví dụ thứ hai thì  
các yếu tố sinh học có vai trò nhất định, nhưng  
không nhiều. Thậm chí cả trong ví dụ đầu tiên,  
các yếu tố khác đóng một vai trò quan trọng. Tùy  
thuộc vào kinh nghiệm học được của cá nhân với  
hội chứng bệnh Down, anh ta hoặc cô ta có thể  
dành cả đời trong một cơ sở giáo dục được chăm  
sóc bởi người khác hoặc sống một mình trong  
một căn hộ. Trong ví dụ thứ hai, các yếu tố quyết  
Mức độ cá nhân - mức độ tâm lí. Ở mức độ  
này chúng ta nghiên cứu những nguyên nhân tâm  
lí của việc thực hiện tội phạm bởi những con  
người cụ thể. Cụ thể hơn là chúng ta nghiên cứu  
về cơ chế của hành vi phạm tội. Từ việc phân  
tích cơ chế này sẽ làm sáng tỏ những nguyên  
nhân chung của xử sự phạm tội ở mức độ cá nhân  
chính là sự xã hội hóa không đầy đủ nhân thân,  
ví dụ như sự lĩnh hội chưa đầy đủ những chuẩn  
mực của đời sống xã hội, sự thích nghi kém với  
điều kiện xung quanh.  
Mức độ cộng đồng - xã hội. Mức độ này cho  
phép tiếp cận những thiếu sót trong việc xã hội  
hóa làm cho nhân thân không thích nghi được?  
Ở đây chúng ta nâng lên mức thứ hai, cao và trìu  
tượng hơn, đó là mức độ xã hội. Mức độ này xem  
xét những tệ nạn và những bất cập trong hệ thống  
xã hội, ví dụ như những hiện tượng xã hội, kinh  
tế, chính trị và đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo,...  
làm phát sinh tội phạm, liên hệ với nhau, chế ước  
(quy định) lẫn nhau. Những hiện tượng này tác  
động tới việc hình thành nhân thân người phạm  
tội trong tương lai, tác động tới sự hình thành  
động cơ của hành vi, cũng như việc hiện thực hóa  
những ý định đó.  
Mức độ đa cộng đồng - quy luật. Chúng ta sẽ  
trả lời được những câu hỏi về nguyên nhân của  
những hiện tượng tiêu cực trong các xã hội nói  
chung. Những nguyên nhân chung nhất của tội  
phạm tại bất kỳ xã hội nào cho thấy những mâu  
thuẫn xã hội tồn tại một cách khách quan. Hiển  
nhiên là những mâu thuẫn này không giống nhau  
(đồng nhất) tại các hình thái kinh tế xã hội khác  
nhau. Tại các nước xã hội chủ nghĩa: mâu thuẫn  
giữa những nhu cầu cuộc sống cụ thể của con  
người với khả năng, xuất phát từ hệ thống hành  
chính - mệnh lệnh. Tại các nước tư bản: mâu  
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63  
60  
định kỹ năng của cậu bé bao gồm ảnh hưởng của  
anh trai, người đã nghiên cứu kỹ thuật điện và sự  
hiện diện của các tạp chí điện tử, cũng như thiết  
bị cũ mà người anh để lại xung quanh. Tóm lại,  
yếu tố sinh học đóng một vai trò nhất định trong  
việc xác định tất cả các hành vi của con người.  
Các yếu tố này tương tác với nhau và với các yếu  
tố phi sinh học. Tầm quan trọng của chúng khác  
nhau ra sao tùy thuộc vào hành vi nào được đề  
cập đến.  
Vai trò của các yếu tố sinh học trong quá trình  
phát triển hành vi con người vẫn chưa được hiểu  
rõ. Do đó, kiến thức hạn chế của chúng ta về  
những yếu tố sinh học liên quan đến sự tiến triển  
của hành vi phạm tội của chúng ta không phải là  
đáng ngạc nhiên. Các yếu tố sinh học tương tác  
với nhau và với các yếu tố phi sinh học khác  
trong chuỗi nhân quả phức tạp để định hình hành  
vi. Nhiều khả năng nó là yếu tố quyết định có thể  
được xác định. Nhiều hành vi khác nhau được  
xác định là tội phạm; mỗi người có một sự kết  
hợp khác nhau của các yếu tố quyết định đến  
hành vi của người đó. Nghiên cứu các yếu tố sinh  
học có liên quan trong việc xác định những hành  
vi này mà không lưu ý tới giải thích các đặc trưng  
của xã hội trong đó có thể làm thay đổi tầm quan  
trọng của các yếu tố sinh học.  
Các trạng thái sinh học - tình trạng hoạt động  
của các yếu tố sinh học trong một thời điểm nhất  
định - và các yếu tố trong một số ít trường hợp  
trực tiếp liên quan được coi là các nguyên nhân  
của các hành vi được cho là tội phạm. Tuy nhiên,  
trong hầu hết các trường hợp, các yếu tố sinh học  
đóng vai trò gián tiếp trong việc xác định các  
hành vi như vậy, và chúng tương tác với rất nhiều  
yếu tố khác. Nghiên cứu theo chiều dọc của các  
nhóm thống kê không lựa chọn thời điểm sinh từ  
lúc nhỏ cho đến cuối tuổi trưởng thành đang bắt  
đầu cung cấp tài liệu vô giá về những con đường  
dẫn đến tội phạm. Các kết quả từ những nghiên  
cứu này là đáng tin cậy: các yếu tố được đo trước  
khi tội phạm bắt đầu; các yếu tố cả bên trong và  
bên ngoài đối tượng được kiểm tra cùng một lúc.  
Các điều tra đang cung cấp một sự hiểu biết về  
sự tương tác phức tạp của các yếu tố xác định  
hành vi phạm tội. Thông tin đó cần thiết cho sự  
phát triển các chương trình phòng chống tội  
phạm có chất lượng cao [3].  
3.2. Các yếu tố tâm lí  
Những yếu tố tâm lí trong các thuyết về tâm  
lí chủ yếu liên quan đến giải thích hành vi ở mức  
độ của cá nhân. Các thuyết về nhân cách (nhân  
thân) hoặc thuyết về học tập xã hội được tạo ra  
để giải thích hành vi của một cá nhân trong một  
tình huống cụ thể. Các nhà tâm lí học thường sử  
dụng mô hình này khi họ cố gắng hiểu, giải thích  
và dự đoán hành vi phạm tội, mặc dù có những  
tranh cãi đáng kể về cách sử dụng phương pháp  
này. Gần như tất cả các nghiên cứu có thể được  
mô tả như một phản ánh của một trong hai giả  
định giá trị. Thứ nhất là "giả định về sự thiếu hụt  
của người phạm tội", khẳng định rằng các thuyết  
và sự can thiệp được đặt nền tảng trên quan niệm  
rằng có một điều gì đó trái với tâm lí đối với  
người phạm tội. Thứ hai là "giả định về các đặc  
điểm phân biệt", cho thấy những người phạm tội  
khác với những người không phạm tội, đặc biệt  
là tình trạng như bốc đồng và gây hấn, thù hằn.  
Nghiên cứu dựa trên giả định này bao gồm  
nhiều nghiên cứu về các nhóm người phạm tội  
và những người không phạm tội dựa trên việc  
sử dụng một số trắc nghiệm đánh giá nhân  
cách nhằm tìm ra các đặc điểm phân biệt giữa  
hai nhóm.  
Nghiên cứu về các điểm thiếu hụt trong tâm  
lí của người phạm tội hay người có xu hướng  
phạm tội thì cũng cần chú ý cả những điểm tích  
cực của họ thì mới có cái nhìn tổng thể và chính  
xác về mô hình hành vi của nhóm người này.  
Hầu hết các nghiên cứu và can thiệp tập trung  
vào sự thiếu hụt thay vì những đặc điểm tích cực  
của cá nhân. Thêm vào đó, các nghiên cứu tâm lí  
trong lí giải nguyên nhân của tội phạm cần  
hướng cả tới tầm quan trọng tiềm ẩn của các yếu  
tố tình huống và môi trường ảnh hưởng đến hành  
vi cá nhân [4].  
Sự hiểu biết cá nhân cũng như kỷ luật không  
nhất quán hay sự giám sát yếu kém của cha mẹ  
có liên quan đến sự lệch lạc trong tương lai của  
một cá nhân. Trong một gia đình, hạnh phúc và  
mối quan hệ tốt giữa các thành viên là một yếu  
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63  
61  
tố tích cực có tác động làm giảm xử sự phạm tội.  
Ngược lại, ở những gia đình có mối quan hệ căng  
thẳng, đổ vỡ thì xuất hiện nguy cơ cao có hành  
vi phạm tội. Hành vi phạm tội cần được nhìn  
nhận là kết quả của một chuỗi các quá trình hình  
thành nhân nhân cách và các mô hình ứng xử.  
Động lực để thực hiện các hành vi phạm tội chủ  
yếu xuất phát từ mong muốn vật chất hoặc nhu  
cầu phấn khích. Nếu những ham muốn này  
không thể thỏa mãn theo cách được xã hội chấp  
nhận, thì hành động bất hợp pháp có thể là một  
lựa chọn. Động cơ phạm tội sẽ bị ảnh hưởng bởi  
các yếu tố tâm lí, bao gồm sự học hỏi trong quá  
khứ và niềm tin của cá nhân, hoặc có thể đã được  
tiếp nhận một cách vô thức về hành vi phạm tội.  
tộicó thể tác động đơn lẻ hoặc kết hợp với các  
yếu tố tình huống dẫn đến thực hiện hành vi  
phạm tội.  
3.3. Các yếu tố xã hội  
3.3.1. Cấu trúc xã hội và tội phạm  
Tội phạm là kết quả của vị trí cá nhân trong  
một cấu trúc xã hội. Cách tiếp cận này tập trung  
vào các điều kiện kinh tế và xã hội của đời sống,  
bao gồm sự thiếu thốn, sự khác nhau về cơ hội,  
phân biệt chủng tộc, tình trạng vô tổ chức xã hội,  
sự thất bại cá nhân, phương thức thay thế để  
thành công, những giá trị văn hóa nhóm xung đột  
với những giá trị được thừa nhận chung.  
Sẽ là không toàn diện nếu thiếu sự quan tâm  
đến một vấn đề trọng tâm - cá nhân con người  
với tư cách là đối tượng của sự tác động. Các yếu  
tố tâm lí và sự khác biệt cá nhân liên quan đến  
nhân thân là điều quan trọng hàng đầu trong mối  
quan hệ với cả nguyên nhân của tội phạm và sự  
kiểm soát của nó. Tội phạm học với sự tập trung  
vào những khác biệt cá nhân là yếu tố trung tâm  
trong nghiên cứu về hành vi phạm tội từ góc độ  
tâm lí.  
Sự phát triển của tâm lí học đã cho thấy các  
yếu tố tâm lí có vai trò quan trọng trong quá trình  
hình thành và phát triển hành vi của con người.  
Thông qua sự ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình  
phát triển nhân cách của mỗi cá nhân, các yếu tố  
tâm lí hình thành ở họ các đặc điểm, thuộc tính  
ổn định và bền vững giúp định hướng nhận thức,  
cảm xúc, hành vi trong từng tình huống cụ thể  
[5]. Nên nếu cá nhân phải phải đối diện với các  
yếu tố tâm lí tiêu cực, không thuận lợi thì họ sẽ  
tăng khả năng thực hiện các hành vi bất thường,  
bao gồm cả hành vi phạm tội [6].Sự tương tác  
giữa các yếu tố tâm lí (bản năng, nhận thức, hành  
vi,…) với các yếu tố xã hội (nghèo đói, thất  
nghiệp,…) và sinh học (di truyền, nội tiết tố,…)  
[7] là căn cứ quan trọng trong lí giải nguyên nhân  
tội phạm cũng như để đề xuất nhiều giải pháp  
phòng ngừa tội phạm. Các yếu tố tâm lí có ảnh  
hưởng trực tiếp đến sự hình thành nhân cách tiêu  
cực ở người phạm tội thông qua ba nhóm yếu tố  
là: a) các tiến trình tinh thần, b) hành vi và c)  
nhân cách. Nhân cách tiêu cực của người phạm  
Cách tiếp cận này giải thích tội phạm ở ba nội  
dung: a) nhấn mạnh yếu tố nhân khẩu học và địa  
lí của một nhóm người và chỉ ra sự thiếu tổ chức  
xã hội chính là nguyên nhân chính của hành vi  
phạm tội và nạn nhân hóa; b) chỉ ra sự thiếu hụt  
giữa mục tiêu thành công chung của xã hội và  
phương tiện để đạt được mục tiêu đó. Hậu quả  
kéo theo là những cá nhân không đạt được thành  
công bằng các cách hợp pháp sẽ tìm ra phương  
án khác thay thế, đó là dùng phương thức bất hợp  
pháp để có được sự thành công trong kinh tế và  
sự công nhận của xã hội; c) xem xét nguồn gốc  
của tội phạm trong mối liên hệ với sự xung đột  
giữa các nhóm xã hội khác nhau về việc hành vi  
nào có thể được chấp nhận là hành vi phù hợp  
được chấp nhận [8].  
3.3.2. Quá trình xã hội và tội phạm  
Tội phạm là kết quả của cả một quá trình xã  
hội đa dạng, đặc biệt là sự học hỏi và xã hội hóa  
không phù hợp. Cách tiếp cận này nhấn mạnh  
vào vai trò của các mối quan hệ giữa các cá nhân,  
sức mạnh của những ràng buộc xã hội, và các  
hậu quả của những phản ứng xã hội của cá nhân  
và của nhóm đối với hành vi lệch chuẩn khi họ  
tham gia phạm tội. Thuyết quá trình xã hội lí giải  
về nguyên nhân tội phạm rằng mỗi người có ý  
định vi phạm pháp luật và tích cách mang xu  
hướng phạm tội không phải là tính cách bẩm sinh  
của con người. Theo học thuyết quá trình xã hội,  
hành vi phạm tội được học theo trong sự tương  
tác với hành vi khác và quá trình xã hội hóa là  
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63  
62  
kết quả của nhóm thành viên được xem như là  
con đường sơ khai thông qua việc học tập. Giữa  
các nhóm đóng góp cho quá trình xã hội hóa  
quan trọng nhất là gia đình, những người đồng  
niên, các nhóm nghề nghiệp, và các nhóm cùng  
sở thích. Những nhóm đó làm cho các thành viên  
của mình thấm nhuần những giá trị và chuẩn mực  
và giao tiếp với những thứ là thế giới quan và các  
khuôn mẫu của hành vi.  
tế và chính trị. Một số bộ phận người đó sử dụng  
luật để kiểm soát những nhóm ít quyền lực và bất  
mãn trong xã hội, trong khi vẫn giữ sức mạnh vị  
thế của mình. Khi một vài nhóm đấu tranh giành  
quyền lực, xung đột xảy ra thúc đẩy tội phạm.  
Những học giả theo thuyết xung đột xã hội cũng  
quan ngại về vai trò của chính phủ và nhà nước  
trong việc tạo ra tội phạm, kể từ khi những hành  
vi được xem xét là chấp nhận được hay không  
chấp nhận được được quyết định bởi hình phạt  
nhà nước thiết kế để tạo nên ranh giới hành vi.  
Những học thuyết khác nhau tìm ra dưới những  
góc độ của phương diện xung đột xã hội về  
nguồn gốc nguyên nhân khác nhau của tội phạm.  
Tội phạm học cấp tiến đương thời cho rằng  
tội phạm bắt nguồn từ những điều kiện xã hội đã  
trao quyền cho một bộ phận giàu có và có vị thế  
chính trị nhưng lại tước đi lợi ích của nhóm  
người kém may mắn hơn. Tội phạm học cấp tiến  
dựa trên nền tảng học thuyết chính trị Mac-xit  
cho rằng sự bất bình đẳng trong địa vị xã hội và  
sức mạnh kinh tế là những thứ đóng góp vào sự  
biến động của tội phạm. Tội phạm học phê phán  
được phân biệt với tội phạm học cấp tiến bởi nó  
tập trung vào phê phán những mối quan hệ giữa  
các giai cấp trong xã hội, đó là một cái nhìn  
chung về sự tác động ngược trở lại hơn là  
phương pháp cấp tiến qua cái nhìn của nhà tội  
phạm học cấp tiến. Tội phạm học bình quyền  
nam nữ nhận thấy sự bất bình đẳng tồn tại trong  
xã hội trong sự phân biệt về giới. Tội phạm học  
hiện thực cánh tả chuyển sang hướng từ sự giải  
thích của các nhà chính trị thuộc hệ tư tưởng này  
về tội phạm và hướng tới việc tranh cãi cái gọi là  
tội phạm “thực sự”. Cuối cùng, các nhà tội phạm  
học theo chủ nghĩa hòa giải tán thành rằng việc  
giảm tội phạm là do việc hợp tác giữa sự nỗ lực  
của cơ quan tư pháp và công dân mà họ phục vụ.  
Họ cho rằng tác dụng kiểm soát tội phạm và công  
dân phải gắn với nhau làm giảm bớt các vấn đề  
xã hội bao gồm cả tội phạm.  
3.3.3. Xung đột xã hội và tội phạm  
Xung đột xã hội tạo ra tội phạm. Vậy xung  
đột xã hội là gì và vì sao có xung đột xã hội? Câu  
trả lời là xã hội được phân tầng bởi sự xung đột  
hơn là sự hợp nhất bởi sự đồng thuận. Thêm vào  
đó, xã hội được tạo bởi các nhóm dựa trên nền  
tảng của sức mạnh kinh tế và chính trị. Sức mạnh  
của những nhóm tạo nên luật và luật pháp phản  
chiếu, bảo vệ những lợi ích của chính họ. Như  
vậy tội phạm là hậu quả của xung đột giữa những  
nhóm người này trong xã hội.  
Thuyết xung đột mà nền tảng là học thuyết  
mácxít với ý tưởng chủ đạo được hiểu để lí giải  
về hiện tương tội phạm như sau: Tội phạm là một  
phần của cuộc đấu tranh giai cấp. Hệ thống tư  
bản nhấn mạnh vào cạnh tranh và sự giàu có là  
thứ tạo ra một môi trường kinh tế và xã hội mà  
trong đó tội phạm là điều không thể tránh khỏi.  
Thuyết xung đột xã hội nhấn mạnh vào kinh  
tế, xã hội, chính trị và địa điểm phạm tội được  
gắn với bối cảnh. Giống như thuyết tiến trình xã  
hội, phương diện xung đột xã hội tập trung vào  
sự tương tác giữa các nhóm nhưng quan điểm về  
sự tương tác này chỉ dựa trên sự xung đột.  
Những nhóm khác nhau đặt trong xã hội, xác  
định bởi chính trị, kinh tế hoặc địa vị xã hội và  
được nhìn nhận trong sự so sánh với các nhóm  
khác nhau để thúc là đẩy lợi ích riêng của họ một  
cách tốt nhất.  
Theo như thuyết xung đột xã hội, tội phạm và  
hành vi phạm tội chính là kết quả của cuộc tranh  
cãi này. Sự xung đột giữa các nhóm xã hội góp  
phần tạo nên tội phạm. Sự tạo ra và áp dụng luật  
hình sự là sự quyết định ai sẽ trở thành người tội  
phạm, những nhà tội phạm học xung đột xã hội  
thấy một số vai trò lớn hơn được lấp đầy bởi một  
số bộ phận của xã hội mà nắm giữ sức mạnh kinh  
4. Kết luận  
Việc nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm  
từ nhiều góc độ, đa khía cạnh, kết nối các lĩnh  
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63  
63  
vực tâm lí, xã hội, sinh học nhằm lý giải hiện  
tượng phức tạp này là hướng đi cần thiết trong  
bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập, tính phi truyền  
thống của an ninh, sự phát triển nhanh chóng của  
công nghệ, tính đa xung đột của các nhóm người.  
Kết quả của nghiên cứu giúp mở rộng các hiểu  
biết về nguyên nhân của tội phạm nhằm đa dạng  
hóa cũng như tăng cường tính hiệu quả các chiến  
lược phòng ngừa hiện tượng nguy hiểm này.  
Những chiến lược phòng ngừa tội phạm đã được  
nhiều quốc gia phát triển thành công như: i)  
chiến lược nuôi dưỡng (cố gắng ngăn chặn sự  
phát triển của tội phạm bằng cách cải thiện kinh  
nghiệm sống từ sớm và hướng vào sự phát triển  
của trẻ vị thành niên), ii) chiến lược bảo  
vệ/phòng tránh (cố gắng giảm bớt các cơ hội tội  
phạm bằng cách thay đổi các hoạt động thường  
lệ của mọi người, tăng cường sự giám hộ, hoặc  
làm mất khả năng phạm tội), iii) chiến lược ngăn  
chặn (nỗ lực loại bỏ động cơ phạm tội bằng việc  
tăng cường phát hiện và trừng phạt mạnh mẽ, kịp  
thời). Hệ thống chủ thể và thiết chế phòng ngừa  
cũng được phát triển để tối ưu hóa các chiến  
lược. Ngoài các chủ thể truyền thống như gia  
đình, nhà trường, hệ thống tư pháp hình sự thì  
còn thêm các thiết chế chăm sóc y tế tâm lí và  
tâm thần hay thị trường lao động. Mở rộng hiểu  
biết về nguyên nhân của tội phạm còn giúp xác  
định rõ hơn đối tượng của phòng ngừa tội phạm  
không chỉ là hành vi phạm tội mà còn cả những  
yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định phạm  
tội, sự sợ hãi tội phạm và sự hỗn loạn mất ổn  
định. Nguyên nhân của tội phạm cũng giúp xác  
định rõ các đặc điểm, nội dung của phòng ngừa  
tội phạm như nhận diện và đánh giá về khả năng  
phạm tội, bao hàm những nỗ lực của chính phủ  
cũng như các thành phần phi chính phủ, có thể  
xuất phát từ "sáng kiến của cá nhân hay nhóm cá  
nhân", can thiệp hiệu quả vào cơ chế của hành  
vi phạm, hướng tới không phải "mục đích" mà  
bởi "kết quả", không nên lấy trên hình phạt để  
làm tôn chỉ cho hoạt động phòng ngừa.  
Tài liệu tham khảo  
[1] В. Н Кудряцева., и ЭминоваВ. Е. Причины  
преступности в России: Криминологический  
анализ. - М.: Норма, 2006, 106-108.  
[2] Криминология: Учебник / Под ред. В Н  
Кудряцева и В Е Эминова - 3-у изд., перераб. и  
доп - М.: Юристь 2005, 126-127.  
[3] N. K. Hải, Các yếu tố sinh học trong lí giải về  
nguyên nhân của tội phạm, Tạp chí Khoa học: Luật  
học, số 4, 2019.  
[4] T. T. Việt, N. K. Hải, Giáo trình tội phạm học.  
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 2020.  
[5] D. P. Schultz, S. E. Schultz, Theories of  
Personality, tenth edition, Wadsworth, 2013.  
[6] C. R. Hollin, Psychology and Crime - An Introduction  
to Criminal Psychology, London, 1989.  
[7] S. N. Doan, N. Dich, G. W. Evans, Childhood  
cumulative risk and later allostatic load: Mediating  
role of substance abuse. Health Psychology 2014.  
[8] F. Schmalleger. Canadian Criminology Today:  
Theories and Applications. Rebecca Volk. Second  
Edition. Pearson Education Canada Inc, Toronto,  
Ontario. pp.221-223.  
A
a
pdf 10 trang Thùy Anh 16960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nguyên nhân của tội phạm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnguyen_nhan_cua_toi_pham.pdf