Nguyên nhân của tội phạm
VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63
Original Article
Crime Causation
Nguyen Khac Hai*
VNU School of Law, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam
Received 02 September 2021
Revised 18 September 2020; Accepted 22 September 2021
Abstract: Criminological theories in general based on numerous highly specialized studies focus
on environmental surroundings, biological, and sociocultural and psychological factors in crime
causation. The diversity of types of crime as well as the multi-dimensional impact of different
factors have shown that neither approach alone, nor special emphases within either approach, is
capable of offering a comprehensive explanation for all types of crime. However, results of
criminological studying contribute to the popular recommendations for crime reduce, improvement
of criminal justice system as well as enhancementsocial institutions. This study opens fundamental
and comprehensive recognition on crime explanation in society.
Keywords: Crime causation, crime explanation, crime prevention.
*
________
*Corresponding author.
E-mail address:[email protected]
54
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63
55
Nguyên nhân của tội phạm
Nguyễn Khắc Hải*
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 02 tháng 9 năm 2021
Chỉnh sửa ngày 18 tháng 9 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 22 tháng 9 năm 2021
Tóm tắt: Các học thuyết tội phạm học dựa trên nhiều nghiên cứu chuyên sâu tập trung vào các yếu
tố môi trường sống, sinh học, văn hóa xã hội và tâm lí để lí giải về nguyên nhân tội phạm. Sự đa
dạng của các loại tội phạm cũng như sự sự tác động đa chiều của các yếu tố khác nhau đã cho thấy
không có cách tiếp cận đơn lẻ hay đặc biệt nhấn mạnh nào có thể giải thích toàn diện cho tất cả các
loại tội phạm. Tuy nhiên, mỗi kết quả nghiên cứu tội phạm học đều có giá trị nhất định cho các
khuyến nghị về giảm thiểu tội phạm, cải thiện hệ thống tư pháp hình sự cũng như tăng cường các
thiết chế xã hội. Nghiên cứu này mở ra hướng tiếp cận cơ bản và tổng quát về giải thích hiện tượng
tội phạm trong xã hội.
Từ khóa: Nguyên nhân của tội phạm, lí giải về tội phạm, phòng ngừa tội phạm.
1. Khái niệm nguyên nhân của tội phạm*
làm gia tăng tội phạm không nếu như cả triệu
người xem có thể không ai phạm tội nhưng ai đó
phạm tội lại có thể không xem phim. Phải chăng
chúng ta nên đánh giá được cách thức đón nhận
bộ phim của khán giả chứ không chỉ nhìn vào nội
dung bộ phim!
Đi sâu và phát triển tiếp vấn đề có thể tiếp tục
đưa ra những câu hỏi như liệu yếu tố di truyền
có ảnh hưởng đến việc thực hiện tội phạm hay
không? Nếu có thì người xử sự trái pháp luật có
lỗi không? Nếu như không kế thừa yếu tố bẩm
sinh thì những yếu tố nào của môi trường bên
ngoài đưa con người đến xử sự phạm tội? Liệu
tội phạm có phải vĩnh cửu? Có thể phòng
ngừa được tội phạm và cải tạo được người
phạm tội không?
Nguyên nhân của tội phạm là vấn đề trung
tâm của tội phạm học. Đây là vấn đề nhận được
sự quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu
pháp lí mà còn của các nhà nghiên cứu thuộc các
lĩnh vực khác như triết học, chính trị học, dân tộc
học, xã hội học, tâm lý học, y học. Khi xem xét
về nguyên nhân của tội phạm, một loạt câu hỏi
có mối liên hệ với nhau được đặt ra cần giải
quyết như tại sao con người thực hiện tội phạm,
nhân thân người phạm tội và môi trường xung
quanh có vai trò thế nào. Nếu việc thực hiện tội
phạm phụ thuộc vào nhân thân người phạm tội
thì tại sao con người lại thực hiện tội phạm ở
những điều kiện khác nhau như độ tuổi, nền giáo
dục và môi trường nuôi dưỡng, tính khí, lối sống.
Ngược lại, nếu việc thực hiện tội phạm không
phụ thuộc vào nhân thân mà phụ thuộc hoàn
cảnh, môi trường thì tại sao con người lớn lên
trong một gia đình, một hoàn cảnh lại có thể có
những xử sự khác nhau. Một bộ phim liệu có thể
Mối quan hệ nhân quả là quan hệ tồn tại
khách quan, phụ thuộc vào hai hay nhiều hiện
tượng, trong đó một trong số chúng (nguyên
nhân) sinh ra cái kia (kết quả). Mối quan hệ nhân
quả - không phải là sự tưởng tượng của của
________
*Tác giả liên hệ.
Địa chỉ email: [email protected]m
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63
56
chúng ta mà là quy luật tồn tại hiện thực của tự
nhiên và xã hội.
chứng được mức độ ảnh hưởng của những yếu tố
quan trọng đến việc phát sinh tội phạm. Thêm
vào đó, những yếu tố này cần phải tác động qua
lại biện chứng với nhau và với các yếu tố khác
theo một cơ chế nào để phát sinh tội phạm. Do
đó chúng ta cần cơ chế của hành vi phạm tội để
biết sự vận hành, tác động qua lại lẫn nhau theo
cách thức nào thì tội phạm sẽ phát sinh được ở
mức độ cá nhân (tâm lí). Những yếu tố có tầm
ảnh hưởng lớn đến việc phát sinh tội phạm có thể
kể đến là những các yếu tố sinh học (quá trình
hủy hoại não, tổn thương não, rối loạn động kinh,
rối loạn nội tiết,...), các yếu tố tâm lí, các yếu tố
xã hội (quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, lợi ích
chính trị, đạo đức xã hội,...).
Nguyên nhân của tội phạm còn một dạng đặc
biệt nữa là hình thức tự phát sinh của tội phạm,
tức là bản thân nó tạo ra các hành vi chống đối
xã hội mới thông qua một quá trình tự phát sinh
tội phạm. Bốn hình thức điển hình của các hình
thức biểu hiện của quá trình tự xác định này sẽ
được phân tích dưới đây [1].
Hình thức tự phát sinh tội phạm thứ nhất là
việc thực hiện tội phạm thành công và không bị
phát hiện thường làm phát sinh ra tội phạm khác.
Ví dụ trộm cắp lần đầu không bị phát hiện thì dễ
dẫn đến việc trộm cắp lần tiếp theo, hoặc vận
chuyển ma túy thành công thì sẽ rất có thể
chuyển sang buôn bán ma túy. Việc thực hiện tội
phạm khác sau thực hiện thành công một tội
phạm hoặc lặp lại việc phạm tội đó nhiều lần.
Hình thức tự phát sinh tội phạm thứ hai là tội
phạm được thực hiện phát sinh do nhu cầu (che
dấu..) hay sự kích thích bởi tội phạm khác. Ví dụ
làm giấy tờ giả để tiêu thụ xe do trộm cắp, giết
người sau khi hiếp dâm để che dấu tội phạm.
Nhiều trường hợp việc tiêu thụ đồ ăn cắp như
gương ô tô hay xe máy tràn lan sẽ kích thích trộm
cắp. Như vậy tình trạng tội phạm này làm phát
sinh tội phạm khác sẽ tạo ra bối cảnh tội phạm
tiềm ẩn.
Trong đời sống xã hội, những mối quan hệ
nhân quả chứa đựng những đặc thù nhất định. Xã
hội - đó là hệ thống thay đổi về mặt lịch sử và
bởi vậy sự giải thích về nguyên nhân, đúng đối
với quãng thời gian này, nhưng lại sai với quãng
thời gian khác. Hơn thế nữa, trong xã hội thông
qua mối quan hệ nhân quả chuyển hóa không
phải thành năng lượng hay vật chất, như trong tự
nhiên không sự sống, mà chủ yếu là thành thông
tin. Những mối quan hệ nhân quả ở đây luôn luôn
thông qua nhận thức của con người, cho nên tiếp
cận chúng rất phức tạp, đôi khi bị sai lệch hoặc
chuyển đổi. Cũng cần lưu ý rằng trong hoạt động
và đời sống xã hội có mối quan hệ qua lại mạnh
mẽ, ví dụ tác động của hậu quả đối với nguyên
nhân của chính nó. Tất cả những đặc thù của mối
quan hệ nhân quả trong xã hội và tất nhiên là làm
trầm trọng vấn đề.
Mỗi yếu tố môi trường, xã hội hóa, thể chất,
và tâm lí đóng góp một cách độc lập để định hình
và chỉ đạo các mẫu hành vi nói chung và mẫu
hành vi phạm tội nói riêng. Thiếu hụt trong các
lĩnh vực phát triển con người này làm tăng nguy
cơ phạm tội. Những người có nguy cơ phạm tội
có thể chống lại hành vi phản xã hội nếu những
đặc điểm và điều kiện này được củng cố.
Nguyên nhân của tội phạm là tổng thể những
hiện tượng tiêu cực của đời sống xã hội kết hợp
với những yếu tố tâm lí, những yếu tố sinh học
và những tình huống theo cơ chế biện chứng nhất
định làm phát sinh ra tội phạm, hỗ trợ, thúc đẩy
hay kìm hãm sự tồn tại và phát triển của nó.
Những mâu thuẫn xã hội luôn tồn tại và như
vậy thì tội phạm sẽ song hành cùng với xã hội
loài người. Nhưng đấu tranh phòng, chống tội
phạm là có thể và cần thiết, cũng như chúng ta
chống lại bệnh tật, nhận thức được nguồn gốc
xuất hiện khách quan và không thể loại trừ được
hoàn toàn.
Sự giải thích về nguyên nhân của tội phạm
càng về sau này càng phát triển cùng với sự ra
đời của các học thuyết dẫn đến mở rộng danh
sách các yếu tố phát sinh nguyên nhân của tội
phạm. Tuy nhiên cần phải có phân loại lại những
yếu tố “chính” và những yếu tố “phụ” và minh
Hình thức tự phát sinh tội phạm thứ ba là
những loại tội phạm có tổ chức. Tính có tổ chức
của những loại tội phạm này sẽ dẫn đến quá trình
tự làm phát sinh ra nhiều tội phạm khác nhau.
Trong xã hội hiện đại khi mà các công cụ pháp
luật đã trở nên sắc bén trong phòng, chống tội
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63
57
phạm và nhiều loại tội phạm xuyên quốc gia đòi
hỏi phải có sự tổ chức chặt chẽ, chuyên nghiệp
thì mới thực hiện hiệu quả và xuyên thủng được
hệ thống phòng thủ của các quốc gia thì việc thực
hiện thành công một tội phạm “chính” cần có
thêm một hoặc một số tội phạm “phụ” cần được
thực hiện. Ví dụ để thực hiện được buôn lậu ô tô
qua biên giới thì nhóm tội phạm có tổ chức phải
làm giấy tờ giả, hối lộ các viên chức hải quan.
Thậm chí ngay cả việc thành lập ra các nhóm tội
phạm có tổ chức đã là tội phạm theo pháp luật
của rất nhiều quốc gia.
Hình thức tự phát sinh tội phạm thứ tư thể
hiện qua tâm lí của cộng đồng xã hội. Hiện tượng
tâm lí này phần nào bị tác động bởi truyền thông
khi mà những hành vi phạm tội xuất hiện đầy rẫy
trên các phương tiện thông tin đại chúng hàng
ngày khiến cho tội phạm trở nên quen thuộc với
người dân, sự phản ứng của họ với tội phạm trở
nên thiếu quyết liệt. Ngoài ra nếu như với một tỉ
lệ tội phạm cao mà nhiều trường hợp không bị
xử lí, trừng phạt hoặc xử lí qua loa không nghiêm
khắc sẽ dẫn đến một trạng thái tâm lí coi thường
pháp luật, thiếu niềm tin vào hệ thống tư pháp.
Những hành vi của người dân trong bối cảnh này
sẽ dễ dẫn đến phạm tội. Chính bối cảnh phạm tội
tràn lan tự làm phát sinh thêm ngày càng nhiều
tội phạm.
nguyên nhân được quy định bởi các hiện tượng
khác của tự nhiên và xã hội.
Các tình huống góp phần vào việc đạt được
kết quả phạm tội có thể được hình thành từ trước
và từ hoạt động của những người khác nhau.
Nhiều tội phạm, đặc biệt là những tội liên quan
đến phá hoại và làm hủy hoại tài sản, chỉ có thể
được thực hiện trong một số điều kiện vật chất
nhất định. Ví dụ như sửa chữa hàn lại biển quảng
cáo bị hỏng của quán hát karaoke trong khi quán
đang có đông người hát. Tia lửa bắn vào làm
cháy quán và chết nhiều người do quán không
xây theo đúng thiết kế về lối thoát hiểm và
phương án phòng cháy chữa cháy. Như vậy rõ
ràng là trong hoàn cảnh khác nếu như quán
karaoke được xây dựng theo đúng thiết kế và
tuân thủ các yêu cầu phòng, chữa cháy thì đã
không xảy ra sự cố như vậy. Thay đổi điều kiện
vật chất là một trong những phương pháp kỹ
thuật có thể sử dụng để ngăn ngừa tội phạm.
Trong trường hợp này, các biện pháp xã hội, kỹ
thuật, pháp lí và các giải pháp khác, được thực
hiện để thay đổi các điều kiện vật chất, hoặc ít
nhất là để giảm thiểu tác động tiêu cực của
chúng.
Các đặc tính pháp lí của hành động của những
người góp phần vào việc đạt kết quả của tội
phạm có thể khác nhau. Trong một số trường
hợp, những người đồng phạm tạo ra các điều
kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm.
Khi có đủ điều kiện cần thiết thì có thể tạo ra
kết quả phạm tội. Rõ ràng, một tình huống như
vậy từ góc độ tội phạm học là rất không thuận lợi
và đòi hỏi sự can thiệp ngay lập tức. Sự có mặt
của các điều kiện đầy đủ có nghĩa là tội phạm có
thể không bị cản trở và có thể được thực hiện bất
cứ lúc nào. Với tình hình như vậy, chỉ có thể
ngăn chặn được tội phạm bằng cách loại trừ ngay
lập tức một số điều kiện đủ (hoặc bắt giữ một
người có ý định phạm tội).
Điều kiện của tội phạm và mối quan hệ biện
chứng với nguyên nhân
Trong phạm vi nguyên nhân của tội phạm, có
những hiện tượng của đời sống xã hội tạo ra tội
phạm, có những hiện tượng chỉ hỗ trợ sự tồn tại
của nó, gây ra sự gia tăng hoặc suy giảm của nó.
Như vậy ngoài các nguyên nhân của tội phạm,
cũng có khái niệm về các điều kiện góp phần tạo
ra tội phạm, bao gồm các yếu tố tự nhiên, xã hội
hoặc kỹ thuật. Bản thân, những điều kiện này
không tạo ra tội phạm, nhưng giúp cho việc thực
hiện thuận lợi. Đồng thời, điều kiện và nguyên
nhân đôi khi có thể thay đổi vị trí; hiện tượng
tương tự (ví dụ như quản lí kém) có thể gây ra
một số trường hợp, trong khi ở một số khác nó
chỉ có thể đóng vai trò thúc đẩy, tác động.
Nguyên nhân của tội phạm và các điều kiện hỗ
trợ hợp lại thành thuật ngữ chung là tính quyết
định của tội phạm. Sự phụ thuộc khách quan của
Tuy nhiên, khó khăn nằm ở thực tế là các điều
kiện tiêu cực có thể hoán đổi cho nhau. Ví dụ,
nếu một công việc kiểm toán yếu góp phần vào
việc trộm cắp trong nhà máy, những khiếm
khuyết này sẽ được loại bỏ, điều kiện cho việc
trộm cắp có thể được tái lặp do cách lựa chọn
không đúng nhân sự bảo vệ. Do đó, trên thực tế
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63
58
trong công tác phòng ngừa, cần chú ý không chỉ
đến loại bỏ các điều kiện hiện tại, mà còn để loại
bỏ những thiếu sót khác mà sau này có thể được
sử dụng bởi những người có ý định phạm tội.
Nếu không, ngay cả khi công tác phòng ngừa tích
cực và liên tục được thực hiện trong một khuôn
khổ hẹp sẽ không theo kịp với các hình thức thay
đổi của hoạt động phạm tội.
Trong một số nghiên cứu cho rằng có thể
được nhìn thấy một sự phân biệt rõ ràng và phổ
quát của các yếu tố nguyên nhân của tội phạm và
các yếu tố với tư cách là điều kiện góp phần vào
nó. Điều này giả định sự hiểu biết về các nguyên
nhân và các điều kiện hoàn toàn có thể xác định
được với tư cách là một hiện tượng. Ví dụ mô tả
nguyên nhân phạm tội của trẻ vị thành niên (một
tác động tiêu cực trong gia đình, trong khu vực
sống, với sự kích động, cổ vũ một phần của
người phạm tội thành niên) và điều kiện (bị bỏ
bê như việc thiếu kiểm soát thích hợp của gia
đình, những thiếu sót của công tác giáo dục v.v).
Trên thực tế, việc đánh giá các hiện tượng nhất
định như nguyên nhân và các điều kiện khác là
chỉ là tương đối. Một hiện tượng cụ thể trong một
số tương tác có thể đóng vai trò của một nguyên
nhân, ở những người khác - điều kiện.
Có những hoàn cảnh rất tiêu cực, bất lợi
nhưng cũng khó để kết luận đó là nguyên nhân
của tội phạm bởi những hoàn cảnh này khi tác
động với các loại nhân thân khác nhau có thể dẫn
đến những kết quả ngược nhau. Tuy nhiên, có
thể chỉ ra những hoàn cảnh mà trong đó nhiều
người có xu hướng phạm tội thường xuyên hơn.
Những hoàn cảnh như vậy gọi là hoàn cảnh tiềm
ẩn nguy cơ phạm tội, nghĩa là chúng mang theo
trong mình khả năng phạm tội. Hạn chế các hoàn
cảnh tiềm ẩn nguy cơ phạm tội là những trường
hợp gây khó khăn cho tội phạm, kích thích hành
vi hợp pháp. Tuy nhiên, việc đánh giá các hoàn
cảnh nào là hoàn cảnh tiềm ẩn nguy cơ phạm tội
hoặc chống nguy cơ tiềm ẩn luôn luôn là tương
đối. Ví dụ thất nghiệp được coi là hoàn cảnh
thường gắn với tội phạm hơn có việc làm vì vậy
việc làm đầy đủ dường như là yếu tố chống tội
phạm. Nhưng nếu nó kết hợp với yếu tố thực tế
là nhân viên cẩu thả không đánh giá cao vị trí của
mình và trong điều kiện thiếu hụt nhân viên và
quản trị doanh nghiệp kém hiệu quả, sẽ có thể
dẫn đến thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm
trọng hay tham ô hoặc tội phạm vô ý, tội phạm
kinh tế. Lí do là nó tương tác với các điều kiện.
Không có hành vi phạm tội thì cũng không có
nguyên nhân của nó. Có những trường hợp đang
trong hoàn cảnh khuyến khích vi phạm pháp luật
nhưng việc thực hiện là gần như không thể, ví dụ
như tìm cách giết thẩm phán đã tuyên án mình
để trả thù nhưng lại đang trong trại giam. Nói
cách khác, cho dù yếu tố cá nhân - tình huống
hay tính chất của một người - tiêu cực như thế
nào, thì nó vẫn chưa được đánh giá là nguyên
nhân của hành vi phạm tội. Chỉ có một khả năng
chính thức của một tội phạm, đó là, trong đó, với
xác suất bằng nhau, nó có thể xảy ra, hoặc nó có
thể không xảy ra.
2. Phân loại nguyên nhân của tội phạm
Những yếu tố làm phát sinh những tội phạm
khác nhau trong cuộc sống rất nhiều. Khi nghiên
cứu nguồn gốc, xuất xứ của những hiện tượng
xã hội, trong đó có tội phạm, chúng ta thực sự
động chạm tới rất nhiều nguyên nhân (và rất
nhiều kết quả). Chính vì vậy mà tất cả những
nguyên nhân cần phải được phân loại theo
một hệ thống nhất định.
Căn cứ theo cái chung và cái riêng thì nguyên
nhân của tội phạm có thể được phân ra thành:
i) Những nguyên nhân của tội phạm với tính
chất là hiện tượng xã hội nói chung
ii) Những nguyên nhân của từng nhóm tội
phạm có cùng tính chất (tội phạm vụ lợi, tội
phạm tình dục, tội phạm vũ lực...)
iii) Những nguyên nhân của một tội phạm cụ
thể (tội cướp tài sản, tội hiếp dâm, tội cố ý gây
thương tích...)
Theo bản chất của sự xuất hiện thì có thể phân
nguyên nhân của tội phạm thành:
i) Khách quan (những mâu thuẫn trong trong
đời sống xã hội, trong các mối quan hệ kinh tế và
xã hội)
ii) Chủ quan (trên cơ sở những yếu tố tâm lí
xã hội, những yếu tố nhận thức pháp luật, mục
đích, động cơ, chuẩn mực giá trị)
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63
59
Căn cứ theo nhóm các yếu tố có cùng tính
chất thì có thể phân nguyên nhân của tội phạm
thành ba nhóm là:
thuẫn chính là giữa đặc trưng xã hội của sự sản
xuất và tư hữu kết quả lao động [2].
i) Những yếu tố sinh học;
ii) Những yếu tố tâm lí;
3. Các yếu tố sinh học, tâm lí, xã hội trong lí
giải nguyên nhân của tội phạm
iii) Những yếu tố xã hội.
Căn cứ vào mức độ (phạm vi) thì có thể phân
nguyên nhân của tội phạm thành ba loại: a) mức
độ cá nhân - tâm lí, b) mức độ cộng đồng - xã hội
và c) mức độ đa cộng đồng - quy luật.
3.1. Các yếu tố sinh học
Các yếu tố sinh học có vai trò trong quá trình
phát triển của toàn bộ hành vi của con người. Tuy
nhiên, như tất cả các yếu tố liên quan trong việc
xác định hành vi, chúng không vận động đơn lẻ
mà mỗi yếu tố tương tác với rất nhiều yếu tố sinh
học cũng như các yếu tố phi sinh học trong một
chuỗi quan hệ nhân quả phức tạp. Các yếu tố sinh
học tương tác với các yếu tố phi sinh học. Những
kích thích xuất hiện được điều chỉnh và hồi đáp
dựa trên một sự tương tác giữa các cá nhân với
môi trường của mình. Do đó, mỗi người chúng
ta nhận thức và phản ứng với thế giới theo một
cách riêng biệt, mỗi người có một sự kết hợp
khác nhau của các yếu tố quyết định đến hành vi
của người đó.
Tầm quan trọng của các yếu tố sinh học trong
việc xác định hành vi khác nhau rất nhiều. Ví dụ
trong hội chứng của bệnh Down, sự bất thường
nhiễm sắc thể dẫn đến nhiều triệu chứng - hạn
chế sự phát triển trí tuệ và cơ thể (vóc dáng), tim
mạch dị dạng - đặc trưng cho các rối loạn. Xem
xét một ví dụ thứ hai, trong đó một rối loạn nội
tiết phần nào tạo ra hành vi của một người mười
lăm tuổi phát triển một người máy để làm sạch
nhà để xe. Do tuyến giáp thấp cấp, cậu bé phản
ứng chậm. Là một cậu bé nhỏ nhắn, cậu ta nhận
ra rằng cậu là một vận động viên kém năng lực,
vì vậy cậu đã dành phần lớn thời gian đọc và tìm
hiểu các thiết bị điện một mình. Trong ví dụ đầu
tiên, sự biến đổi sinh học là một yếu tố quyết
định quan trọng, nhưng trong ví dụ thứ hai thì
các yếu tố sinh học có vai trò nhất định, nhưng
không nhiều. Thậm chí cả trong ví dụ đầu tiên,
các yếu tố khác đóng một vai trò quan trọng. Tùy
thuộc vào kinh nghiệm học được của cá nhân với
hội chứng bệnh Down, anh ta hoặc cô ta có thể
dành cả đời trong một cơ sở giáo dục được chăm
sóc bởi người khác hoặc sống một mình trong
một căn hộ. Trong ví dụ thứ hai, các yếu tố quyết
Mức độ cá nhân - mức độ tâm lí. Ở mức độ
này chúng ta nghiên cứu những nguyên nhân tâm
lí của việc thực hiện tội phạm bởi những con
người cụ thể. Cụ thể hơn là chúng ta nghiên cứu
về cơ chế của hành vi phạm tội. Từ việc phân
tích cơ chế này sẽ làm sáng tỏ những nguyên
nhân chung của xử sự phạm tội ở mức độ cá nhân
chính là sự xã hội hóa không đầy đủ nhân thân,
ví dụ như sự lĩnh hội chưa đầy đủ những chuẩn
mực của đời sống xã hội, sự thích nghi kém với
điều kiện xung quanh.
Mức độ cộng đồng - xã hội. Mức độ này cho
phép tiếp cận những thiếu sót trong việc xã hội
hóa làm cho nhân thân không thích nghi được?
Ở đây chúng ta nâng lên mức thứ hai, cao và trìu
tượng hơn, đó là mức độ xã hội. Mức độ này xem
xét những tệ nạn và những bất cập trong hệ thống
xã hội, ví dụ như những hiện tượng xã hội, kinh
tế, chính trị và đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo,...
làm phát sinh tội phạm, liên hệ với nhau, chế ước
(quy định) lẫn nhau. Những hiện tượng này tác
động tới việc hình thành nhân thân người phạm
tội trong tương lai, tác động tới sự hình thành
động cơ của hành vi, cũng như việc hiện thực hóa
những ý định đó.
Mức độ đa cộng đồng - quy luật. Chúng ta sẽ
trả lời được những câu hỏi về nguyên nhân của
những hiện tượng tiêu cực trong các xã hội nói
chung. Những nguyên nhân chung nhất của tội
phạm tại bất kỳ xã hội nào cho thấy những mâu
thuẫn xã hội tồn tại một cách khách quan. Hiển
nhiên là những mâu thuẫn này không giống nhau
(đồng nhất) tại các hình thái kinh tế xã hội khác
nhau. Tại các nước xã hội chủ nghĩa: mâu thuẫn
giữa những nhu cầu cuộc sống cụ thể của con
người với khả năng, xuất phát từ hệ thống hành
chính - mệnh lệnh. Tại các nước tư bản: mâu
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63
60
định kỹ năng của cậu bé bao gồm ảnh hưởng của
anh trai, người đã nghiên cứu kỹ thuật điện và sự
hiện diện của các tạp chí điện tử, cũng như thiết
bị cũ mà người anh để lại xung quanh. Tóm lại,
yếu tố sinh học đóng một vai trò nhất định trong
việc xác định tất cả các hành vi của con người.
Các yếu tố này tương tác với nhau và với các yếu
tố phi sinh học. Tầm quan trọng của chúng khác
nhau ra sao tùy thuộc vào hành vi nào được đề
cập đến.
Vai trò của các yếu tố sinh học trong quá trình
phát triển hành vi con người vẫn chưa được hiểu
rõ. Do đó, kiến thức hạn chế của chúng ta về
những yếu tố sinh học liên quan đến sự tiến triển
của hành vi phạm tội của chúng ta không phải là
đáng ngạc nhiên. Các yếu tố sinh học tương tác
với nhau và với các yếu tố phi sinh học khác
trong chuỗi nhân quả phức tạp để định hình hành
vi. Nhiều khả năng nó là yếu tố quyết định có thể
được xác định. Nhiều hành vi khác nhau được
xác định là tội phạm; mỗi người có một sự kết
hợp khác nhau của các yếu tố quyết định đến
hành vi của người đó. Nghiên cứu các yếu tố sinh
học có liên quan trong việc xác định những hành
vi này mà không lưu ý tới giải thích các đặc trưng
của xã hội trong đó có thể làm thay đổi tầm quan
trọng của các yếu tố sinh học.
Các trạng thái sinh học - tình trạng hoạt động
của các yếu tố sinh học trong một thời điểm nhất
định - và các yếu tố trong một số ít trường hợp
trực tiếp liên quan được coi là các nguyên nhân
của các hành vi được cho là tội phạm. Tuy nhiên,
trong hầu hết các trường hợp, các yếu tố sinh học
đóng vai trò gián tiếp trong việc xác định các
hành vi như vậy, và chúng tương tác với rất nhiều
yếu tố khác. Nghiên cứu theo chiều dọc của các
nhóm thống kê không lựa chọn thời điểm sinh từ
lúc nhỏ cho đến cuối tuổi trưởng thành đang bắt
đầu cung cấp tài liệu vô giá về những con đường
dẫn đến tội phạm. Các kết quả từ những nghiên
cứu này là đáng tin cậy: các yếu tố được đo trước
khi tội phạm bắt đầu; các yếu tố cả bên trong và
bên ngoài đối tượng được kiểm tra cùng một lúc.
Các điều tra đang cung cấp một sự hiểu biết về
sự tương tác phức tạp của các yếu tố xác định
hành vi phạm tội. Thông tin đó cần thiết cho sự
phát triển các chương trình phòng chống tội
phạm có chất lượng cao [3].
3.2. Các yếu tố tâm lí
Những yếu tố tâm lí trong các thuyết về tâm
lí chủ yếu liên quan đến giải thích hành vi ở mức
độ của cá nhân. Các thuyết về nhân cách (nhân
thân) hoặc thuyết về học tập xã hội được tạo ra
để giải thích hành vi của một cá nhân trong một
tình huống cụ thể. Các nhà tâm lí học thường sử
dụng mô hình này khi họ cố gắng hiểu, giải thích
và dự đoán hành vi phạm tội, mặc dù có những
tranh cãi đáng kể về cách sử dụng phương pháp
này. Gần như tất cả các nghiên cứu có thể được
mô tả như một phản ánh của một trong hai giả
định giá trị. Thứ nhất là "giả định về sự thiếu hụt
của người phạm tội", khẳng định rằng các thuyết
và sự can thiệp được đặt nền tảng trên quan niệm
rằng có một điều gì đó trái với tâm lí đối với
người phạm tội. Thứ hai là "giả định về các đặc
điểm phân biệt", cho thấy những người phạm tội
khác với những người không phạm tội, đặc biệt
là tình trạng như bốc đồng và gây hấn, thù hằn.
Nghiên cứu dựa trên giả định này bao gồm
nhiều nghiên cứu về các nhóm người phạm tội
và những người không phạm tội dựa trên việc
sử dụng một số trắc nghiệm đánh giá nhân
cách nhằm tìm ra các đặc điểm phân biệt giữa
hai nhóm.
Nghiên cứu về các điểm thiếu hụt trong tâm
lí của người phạm tội hay người có xu hướng
phạm tội thì cũng cần chú ý cả những điểm tích
cực của họ thì mới có cái nhìn tổng thể và chính
xác về mô hình hành vi của nhóm người này.
Hầu hết các nghiên cứu và can thiệp tập trung
vào sự thiếu hụt thay vì những đặc điểm tích cực
của cá nhân. Thêm vào đó, các nghiên cứu tâm lí
trong lí giải nguyên nhân của tội phạm cần
hướng cả tới tầm quan trọng tiềm ẩn của các yếu
tố tình huống và môi trường ảnh hưởng đến hành
vi cá nhân [4].
Sự hiểu biết cá nhân cũng như kỷ luật không
nhất quán hay sự giám sát yếu kém của cha mẹ
có liên quan đến sự lệch lạc trong tương lai của
một cá nhân. Trong một gia đình, hạnh phúc và
mối quan hệ tốt giữa các thành viên là một yếu
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63
61
tố tích cực có tác động làm giảm xử sự phạm tội.
Ngược lại, ở những gia đình có mối quan hệ căng
thẳng, đổ vỡ thì xuất hiện nguy cơ cao có hành
vi phạm tội. Hành vi phạm tội cần được nhìn
nhận là kết quả của một chuỗi các quá trình hình
thành nhân nhân cách và các mô hình ứng xử.
Động lực để thực hiện các hành vi phạm tội chủ
yếu xuất phát từ mong muốn vật chất hoặc nhu
cầu phấn khích. Nếu những ham muốn này
không thể thỏa mãn theo cách được xã hội chấp
nhận, thì hành động bất hợp pháp có thể là một
lựa chọn. Động cơ phạm tội sẽ bị ảnh hưởng bởi
các yếu tố tâm lí, bao gồm sự học hỏi trong quá
khứ và niềm tin của cá nhân, hoặc có thể đã được
tiếp nhận một cách vô thức về hành vi phạm tội.
tộicó thể tác động đơn lẻ hoặc kết hợp với các
yếu tố tình huống dẫn đến thực hiện hành vi
phạm tội.
3.3. Các yếu tố xã hội
3.3.1. Cấu trúc xã hội và tội phạm
Tội phạm là kết quả của vị trí cá nhân trong
một cấu trúc xã hội. Cách tiếp cận này tập trung
vào các điều kiện kinh tế và xã hội của đời sống,
bao gồm sự thiếu thốn, sự khác nhau về cơ hội,
phân biệt chủng tộc, tình trạng vô tổ chức xã hội,
sự thất bại cá nhân, phương thức thay thế để
thành công, những giá trị văn hóa nhóm xung đột
với những giá trị được thừa nhận chung.
Sẽ là không toàn diện nếu thiếu sự quan tâm
đến một vấn đề trọng tâm - cá nhân con người
với tư cách là đối tượng của sự tác động. Các yếu
tố tâm lí và sự khác biệt cá nhân liên quan đến
nhân thân là điều quan trọng hàng đầu trong mối
quan hệ với cả nguyên nhân của tội phạm và sự
kiểm soát của nó. Tội phạm học với sự tập trung
vào những khác biệt cá nhân là yếu tố trung tâm
trong nghiên cứu về hành vi phạm tội từ góc độ
tâm lí.
Sự phát triển của tâm lí học đã cho thấy các
yếu tố tâm lí có vai trò quan trọng trong quá trình
hình thành và phát triển hành vi của con người.
Thông qua sự ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình
phát triển nhân cách của mỗi cá nhân, các yếu tố
tâm lí hình thành ở họ các đặc điểm, thuộc tính
ổn định và bền vững giúp định hướng nhận thức,
cảm xúc, hành vi trong từng tình huống cụ thể
[5]. Nên nếu cá nhân phải phải đối diện với các
yếu tố tâm lí tiêu cực, không thuận lợi thì họ sẽ
tăng khả năng thực hiện các hành vi bất thường,
bao gồm cả hành vi phạm tội [6].Sự tương tác
giữa các yếu tố tâm lí (bản năng, nhận thức, hành
vi,…) với các yếu tố xã hội (nghèo đói, thất
nghiệp,…) và sinh học (di truyền, nội tiết tố,…)
[7] là căn cứ quan trọng trong lí giải nguyên nhân
tội phạm cũng như để đề xuất nhiều giải pháp
phòng ngừa tội phạm. Các yếu tố tâm lí có ảnh
hưởng trực tiếp đến sự hình thành nhân cách tiêu
cực ở người phạm tội thông qua ba nhóm yếu tố
là: a) các tiến trình tinh thần, b) hành vi và c)
nhân cách. Nhân cách tiêu cực của người phạm
Cách tiếp cận này giải thích tội phạm ở ba nội
dung: a) nhấn mạnh yếu tố nhân khẩu học và địa
lí của một nhóm người và chỉ ra sự thiếu tổ chức
xã hội chính là nguyên nhân chính của hành vi
phạm tội và nạn nhân hóa; b) chỉ ra sự thiếu hụt
giữa mục tiêu thành công chung của xã hội và
phương tiện để đạt được mục tiêu đó. Hậu quả
kéo theo là những cá nhân không đạt được thành
công bằng các cách hợp pháp sẽ tìm ra phương
án khác thay thế, đó là dùng phương thức bất hợp
pháp để có được sự thành công trong kinh tế và
sự công nhận của xã hội; c) xem xét nguồn gốc
của tội phạm trong mối liên hệ với sự xung đột
giữa các nhóm xã hội khác nhau về việc hành vi
nào có thể được chấp nhận là hành vi phù hợp
được chấp nhận [8].
3.3.2. Quá trình xã hội và tội phạm
Tội phạm là kết quả của cả một quá trình xã
hội đa dạng, đặc biệt là sự học hỏi và xã hội hóa
không phù hợp. Cách tiếp cận này nhấn mạnh
vào vai trò của các mối quan hệ giữa các cá nhân,
sức mạnh của những ràng buộc xã hội, và các
hậu quả của những phản ứng xã hội của cá nhân
và của nhóm đối với hành vi lệch chuẩn khi họ
tham gia phạm tội. Thuyết quá trình xã hội lí giải
về nguyên nhân tội phạm rằng mỗi người có ý
định vi phạm pháp luật và tích cách mang xu
hướng phạm tội không phải là tính cách bẩm sinh
của con người. Theo học thuyết quá trình xã hội,
hành vi phạm tội được học theo trong sự tương
tác với hành vi khác và quá trình xã hội hóa là
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63
62
kết quả của nhóm thành viên được xem như là
con đường sơ khai thông qua việc học tập. Giữa
các nhóm đóng góp cho quá trình xã hội hóa
quan trọng nhất là gia đình, những người đồng
niên, các nhóm nghề nghiệp, và các nhóm cùng
sở thích. Những nhóm đó làm cho các thành viên
của mình thấm nhuần những giá trị và chuẩn mực
và giao tiếp với những thứ là thế giới quan và các
khuôn mẫu của hành vi.
tế và chính trị. Một số bộ phận người đó sử dụng
luật để kiểm soát những nhóm ít quyền lực và bất
mãn trong xã hội, trong khi vẫn giữ sức mạnh vị
thế của mình. Khi một vài nhóm đấu tranh giành
quyền lực, xung đột xảy ra thúc đẩy tội phạm.
Những học giả theo thuyết xung đột xã hội cũng
quan ngại về vai trò của chính phủ và nhà nước
trong việc tạo ra tội phạm, kể từ khi những hành
vi được xem xét là chấp nhận được hay không
chấp nhận được được quyết định bởi hình phạt
nhà nước thiết kế để tạo nên ranh giới hành vi.
Những học thuyết khác nhau tìm ra dưới những
góc độ của phương diện xung đột xã hội về
nguồn gốc nguyên nhân khác nhau của tội phạm.
Tội phạm học cấp tiến đương thời cho rằng
tội phạm bắt nguồn từ những điều kiện xã hội đã
trao quyền cho một bộ phận giàu có và có vị thế
chính trị nhưng lại tước đi lợi ích của nhóm
người kém may mắn hơn. Tội phạm học cấp tiến
dựa trên nền tảng học thuyết chính trị Mac-xit
cho rằng sự bất bình đẳng trong địa vị xã hội và
sức mạnh kinh tế là những thứ đóng góp vào sự
biến động của tội phạm. Tội phạm học phê phán
được phân biệt với tội phạm học cấp tiến bởi nó
tập trung vào phê phán những mối quan hệ giữa
các giai cấp trong xã hội, đó là một cái nhìn
chung về sự tác động ngược trở lại hơn là
phương pháp cấp tiến qua cái nhìn của nhà tội
phạm học cấp tiến. Tội phạm học bình quyền
nam nữ nhận thấy sự bất bình đẳng tồn tại trong
xã hội trong sự phân biệt về giới. Tội phạm học
hiện thực cánh tả chuyển sang hướng từ sự giải
thích của các nhà chính trị thuộc hệ tư tưởng này
về tội phạm và hướng tới việc tranh cãi cái gọi là
tội phạm “thực sự”. Cuối cùng, các nhà tội phạm
học theo chủ nghĩa hòa giải tán thành rằng việc
giảm tội phạm là do việc hợp tác giữa sự nỗ lực
của cơ quan tư pháp và công dân mà họ phục vụ.
Họ cho rằng tác dụng kiểm soát tội phạm và công
dân phải gắn với nhau làm giảm bớt các vấn đề
xã hội bao gồm cả tội phạm.
3.3.3. Xung đột xã hội và tội phạm
Xung đột xã hội tạo ra tội phạm. Vậy xung
đột xã hội là gì và vì sao có xung đột xã hội? Câu
trả lời là xã hội được phân tầng bởi sự xung đột
hơn là sự hợp nhất bởi sự đồng thuận. Thêm vào
đó, xã hội được tạo bởi các nhóm dựa trên nền
tảng của sức mạnh kinh tế và chính trị. Sức mạnh
của những nhóm tạo nên luật và luật pháp phản
chiếu, bảo vệ những lợi ích của chính họ. Như
vậy tội phạm là hậu quả của xung đột giữa những
nhóm người này trong xã hội.
Thuyết xung đột mà nền tảng là học thuyết
mácxít với ý tưởng chủ đạo được hiểu để lí giải
về hiện tương tội phạm như sau: Tội phạm là một
phần của cuộc đấu tranh giai cấp. Hệ thống tư
bản nhấn mạnh vào cạnh tranh và sự giàu có là
thứ tạo ra một môi trường kinh tế và xã hội mà
trong đó tội phạm là điều không thể tránh khỏi.
Thuyết xung đột xã hội nhấn mạnh vào kinh
tế, xã hội, chính trị và địa điểm phạm tội được
gắn với bối cảnh. Giống như thuyết tiến trình xã
hội, phương diện xung đột xã hội tập trung vào
sự tương tác giữa các nhóm nhưng quan điểm về
sự tương tác này chỉ dựa trên sự xung đột.
Những nhóm khác nhau đặt trong xã hội, xác
định bởi chính trị, kinh tế hoặc địa vị xã hội và
được nhìn nhận trong sự so sánh với các nhóm
khác nhau để thúc là đẩy lợi ích riêng của họ một
cách tốt nhất.
Theo như thuyết xung đột xã hội, tội phạm và
hành vi phạm tội chính là kết quả của cuộc tranh
cãi này. Sự xung đột giữa các nhóm xã hội góp
phần tạo nên tội phạm. Sự tạo ra và áp dụng luật
hình sự là sự quyết định ai sẽ trở thành người tội
phạm, những nhà tội phạm học xung đột xã hội
thấy một số vai trò lớn hơn được lấp đầy bởi một
số bộ phận của xã hội mà nắm giữ sức mạnh kinh
4. Kết luận
Việc nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm
từ nhiều góc độ, đa khía cạnh, kết nối các lĩnh
N. K. Hai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 54-63
63
vực tâm lí, xã hội, sinh học nhằm lý giải hiện
tượng phức tạp này là hướng đi cần thiết trong
bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập, tính phi truyền
thống của an ninh, sự phát triển nhanh chóng của
công nghệ, tính đa xung đột của các nhóm người.
Kết quả của nghiên cứu giúp mở rộng các hiểu
biết về nguyên nhân của tội phạm nhằm đa dạng
hóa cũng như tăng cường tính hiệu quả các chiến
lược phòng ngừa hiện tượng nguy hiểm này.
Những chiến lược phòng ngừa tội phạm đã được
nhiều quốc gia phát triển thành công như: i)
chiến lược nuôi dưỡng (cố gắng ngăn chặn sự
phát triển của tội phạm bằng cách cải thiện kinh
nghiệm sống từ sớm và hướng vào sự phát triển
của trẻ vị thành niên), ii) chiến lược bảo
vệ/phòng tránh (cố gắng giảm bớt các cơ hội tội
phạm bằng cách thay đổi các hoạt động thường
lệ của mọi người, tăng cường sự giám hộ, hoặc
làm mất khả năng phạm tội), iii) chiến lược ngăn
chặn (nỗ lực loại bỏ động cơ phạm tội bằng việc
tăng cường phát hiện và trừng phạt mạnh mẽ, kịp
thời). Hệ thống chủ thể và thiết chế phòng ngừa
cũng được phát triển để tối ưu hóa các chiến
lược. Ngoài các chủ thể truyền thống như gia
đình, nhà trường, hệ thống tư pháp hình sự thì
còn thêm các thiết chế chăm sóc y tế tâm lí và
tâm thần hay thị trường lao động. Mở rộng hiểu
biết về nguyên nhân của tội phạm còn giúp xác
định rõ hơn đối tượng của phòng ngừa tội phạm
không chỉ là hành vi phạm tội mà còn cả những
yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định phạm
tội, sự sợ hãi tội phạm và sự hỗn loạn mất ổn
định. Nguyên nhân của tội phạm cũng giúp xác
định rõ các đặc điểm, nội dung của phòng ngừa
tội phạm như nhận diện và đánh giá về khả năng
phạm tội, bao hàm những nỗ lực của chính phủ
cũng như các thành phần phi chính phủ, có thể
xuất phát từ "sáng kiến của cá nhân hay nhóm cá
nhân", can thiệp hiệu quả vào cơ chế của hành
vi phạm, hướng tới không phải "mục đích" mà
bởi "kết quả", không nên lấy trên hình phạt để
làm tôn chỉ cho hoạt động phòng ngừa.
Tài liệu tham khảo
[1] В. Н Кудряцева., и ЭминоваВ. Е. Причины
преступности в России: Криминологический
анализ. - М.: Норма, 2006, 106-108.
[2] Криминология: Учебник / Под ред. В Н
Кудряцева и В Е Эминова - 3-у изд., перераб. и
доп - М.: Юристь 2005, 126-127.
[3] N. K. Hải, Các yếu tố sinh học trong lí giải về
nguyên nhân của tội phạm, Tạp chí Khoa học: Luật
học, số 4, 2019.
[4] T. T. Việt, N. K. Hải, Giáo trình tội phạm học.
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 2020.
[5] D. P. Schultz, S. E. Schultz, Theories of
Personality, tenth edition, Wadsworth, 2013.
[6] C. R. Hollin, Psychology and Crime - An Introduction
to Criminal Psychology, London, 1989.
[7] S. N. Doan, N. Dich, G. W. Evans, Childhood
cumulative risk and later allostatic load: Mediating
role of substance abuse. Health Psychology 2014.
[8] F. Schmalleger. Canadian Criminology Today:
Theories and Applications. Rebecca Volk. Second
Edition. Pearson Education Canada Inc, Toronto,
Ontario. pp.221-223.
A
a
Bạn đang xem tài liệu "Nguyên nhân của tội phạm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nguyen_nhan_cua_toi_pham.pdf

