Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 6 - Năm 2021

VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
Số 06 (430)  
Tháng 3/2021  
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC VỚI VIỆC XÓA BỎ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH Ở VIỆT NAM  
QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC TRONG ÂN GIẢM ÁN TỬ HÌNH VÀ ĐẶC XÁ  
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHÀO BÁN TRÁI PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP  
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
Số 06 (430)  
Tháng 3/2021  
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC VỚI VIỆC XÓA BỎ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH  
QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC TRONG ÂN GIẢM ÁN TỬ HÌNH VÀ ĐẶC XÁ  
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHÀO BÁN TRÁI PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP  
Ở
VIỆT NAM  
Mục lục Số 06/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Những thuận lợi và thách thức với việc xóa bỏ hình phạt tử  
hình ở Việt Nam  
3
PGS. TS. Vꢀ Công Giao – TS. Nguyꢁn Quang Đꢂc  
Quyền của Chủ tịch nước trong ân giảm án tử hình và đặc xá  
12  
16  
ThS. Lê Duy Tưꢃng  
ꢀp dụng các tiêu chuẩn kiểm dịch động - thực vật theo WTO  
và kiến nghị cho Việt Nam  
ThS. Lê Minh Nhꢄt – ThS. Lê Thꢅ Thanh Bꢆnh  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi  
phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức – bất cập  
và hướng giải quyết  
27  
PGS. TS. Trꢇn Thăng Long - Nguyꢁn Văn Nhân  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Xử phạt vi phạm hành chính đối với hoạt động chào bán trái  
phiếu của doanh nghiệp  
35  
42  
49  
TS. Phan Phương Nam  
Điều kiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng trong  
Luật Chứng khoán năm 2019  
TS. Nguyꢁn Vinh Hưng  
Quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của thành  
viên công ty TNHH hai thành viên trở lên theo Luật Doanh  
nghiệp năm 2020  
ThS. Nguyꢁn Thꢅ Phương Hꢈ  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Giới hạn trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp trong  
trường hợp tham vấn chuyên gia tại Việt Nam và một số  
nước trên thế giới  
53  
58  
Lê Ngꢉc Vân Nhi  
Ảnh bꢆa:  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
Hội đồng khoa học của UBTVQH tổng kết  
nhiệm kỳ 2016 - 2021  
Quyền tự do cư trú của công dân tại thành phố Hồ Chí Minh:  
Những bất cập và giải pháp hoàn thiện  
Ảnh: Anh Phương  
ThS. Trꢇn Văn Điꢊp  
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
Số 06 (430)  
Tháng 3/2021  
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC VỚI VIỆC XÓA BỎ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH  
QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC TRONG ÂN GIẢM ÁN TỬ HÌNH VÀ ĐẶC XÁ  
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHÀO BÁN TRÁI PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP  
Ở
VIỆT NAM  
Legis No 6/2021  
STATE AND LAW  
Advantages and Challenges with the Abolition of Death  
Penalty in Vietnam  
3
Prof. Dr. Vu Cong Giao - Dr. Nguyen Quang Duc  
Authority of the President in Parole and Special Amnesty to  
the Death Penalty  
12  
16  
LLM. Le Duy Tuong  
Application of the Flora and Fauna Quarantine Standards of  
WTO and Recommendations for Vietnam  
LLM. Le Minh Nhut - LLM. Le Thi Thanh Binh  
DISCUSSION OF BILLS  
Recognition of Land Use Right Transfer Contracts with  
Violation of the Provisions of Effective Conditions on Form:  
Shortcomings and Recommended Solutions  
27  
Prof. Dr. Tran Thang Long - Nguyen Van Nhan  
LEGAL PRACTICE  
Sanctioning to Administrative Violations of Corporate Bond  
Offering  
35  
42  
49  
Dr. Phan Phuong Nam  
Conditions for Initial Public Offering under the Law on  
Securities of 2019  
Dr. Nguyen Vinh Hung  
The Member's Right to Request the Company to Acquire the  
Contributed Capital in Limited Liability Company with Two or  
More Members under the Enterprise Law of 2020  
LLM. Nguyen Thi Phuong Ha  
FOREIGN EXPERIENCE  
Limitation of the Liability of the Business Manager under the  
case of Expert's Consultation in Vietnam and Foreign Countries  
53  
58  
Le Ngoc Van Nhi  
LOCAL GOVERNMENT ADMINISTRATION  
Freedom of Residence of Citizens in Ho Chi Minh City:  
Shortcomings and Recommended Solutions  
PRICE: 25.000VND  
LLM. Tran Van Diep  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC  
VỚI VIỆC XÓA BỎ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH Ở VIỆT NAM  
Vũ Công Giao*  
Nguyễn Quang Đức**  
*PGS.TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội  
**TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Giống như nhiều quốc gia khác, hình phạt tử hình đã được áp dụng từ lâu và hiện  
vẫn đang được quy định trong pháp luật và thi hành trên thực tế ở Việt Nam.  
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, dân trí ngày càng cao và  
xã hội ngày càng cởi mở hơn, Việt Nam trong tương lai vẫn sẽ theo xu hướng  
giảm hình phạt tử hình trong pháp luật và giảm việc áp dụng hình phạt này trong  
thực tế. Mặc dù vậy, đây sẽ không phải là một sự thay đổi nhanh chóng trong  
thời gian ngắn, do vẫn còn nhiều lý do để duy trì hình phạt này. Trong phạm vi  
bài viết này, các tác giả trình bày, phân tích những yếu tố tác động tích cực cũng  
như tiêu cực đến việc xóa bỏ hình phạt tử hình ở Việt Nam và đồng thời đề xuất  
những gợi mở nhằm thúc đẩy việc hạn chế, tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình ở  
nước ta trong tương lai.  
Từ khóa: Hình phạt tử hình, tội  
phạm, quyền sống, Việt Nam.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 23/02/2021  
: 07/3/2021  
: 10/3/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Like many other countries, the death penalty has been used for a long time and is  
still being regulated in law and practice in Vietnam. In the context of increasingly  
deep and wide international integration, increasing people’s standings and open  
society, Vietnam in the future will still follow the reduction trend of the death  
penalty in law and reducing the application of the death penalty in practice. This  
will not be a rapid change in the short term, though, as there are still plenty of  
reasons to maintain this penalty. Within the scope of this article, the authors provide  
an introduction and an analysis of the factors that both positively and negatively  
impact the abolition of the death penalty in Vietnam and also propose suggestions  
to speed up the deadline and proceed to abolish the death penalty in our country  
in the future.  
Keywords: Death penalty, crime,  
right to life, Vietnam.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 23 Feb. 2021  
: 07 Mar. 2021  
: 10 Mar. 2021  
Approved  
1. Khái quát lịch sử hình phạt tử hình ở  
Việt Nam  
nhất định, do vào thời Lý Phật giáo là quốc  
giáo của Việt Nam.  
Trong trường hợp Bộ Hình thư đã có quy  
định hình phạt tử hình, điều đó có nghĩa là  
hình phạt tử hình đã được thiết lập trong  
luật thành văn của Việt Nam kể từ thời Lý2.  
Tiếp sau thời Lý là triều đại nhà Trần. Thời  
Trần, hệ thống văn bản pháp luật bao gồm  
bộ “Quốc Triều Thông chế”3 và bộ “Hoàng  
Pháp luật thành văn của Việt Nam có  
thể xem là bắt đầu với Bộ Hình thư thời Lý  
(1042)1. Bộ luật này hiện đã thất truyền; bởi  
vậy, có ý kiến cho rằng nó bao gồm các quy  
định về hình phạt tử hình, trong khi ý kiến  
khác cho rằng, thời kỳ này hình phạt tử hình  
không được áp dụng, ít nhất ở một giai đoạn  
1 Được cho là gồm ba quyển, do vua Lý Thái Tông cho biên soạn vào năm 1042.  
2 Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Những điều cần biết về hình phạt tử hình (sách chuyên khảo),  
Nxb. Lao động Xã hội, Hà Nội, tr. 212-213.  
3 Do vua Trần Thái Tông cho biên soạn vào năm 1230, gồm 20 quyển.  
Số 06(430) - T3/2021  
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Triều Đại điển”4. Cả hai bộ luật này đều có  
quy định hình phạt tử hình. Thời (Hậu) Lê có  
một bộ luật nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam  
mà còn trên thế giới, đó là bộ “Quốc Triều  
Hình luật” (còn gọi là “Bộ luật Hồng Đức”)  
năm 14835. Mặc dù chứa đựng nhiều quy  
định mang tính nhân đạo sâu sắc, song Bộ  
luật Hồng Đức cũng bao gồm các quy định  
về hình phạt tử hình. Thời Nguyễn, bộ luật  
nổi tiếng là “Hoàng Việt Luật lệ” (còn gọi là  
“Bộ luật Gia Long”) năm 18156. Đây có thể  
coi là bộ luật cuối cùng của chế độ phong  
kiến ở Việt Nam và tương tự như các bộ luật  
ở các triều đại trước, nó cũng bao gồm các  
quy định về hình phạt tử hình.  
một người để răn đe trăm người), hoặc “dùng  
hình kỳ vu vô hình” (quy định hình phạt để  
không cần dùng đến hình phạt)8.  
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945,  
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được  
thành lập. Những văn bản pháp luật đầu tiên  
xác lập nền tảng cho nền tư pháp của Nhà  
nước Việt Nam mới là loạt Sắc lệnh số 33  
ngày 13/9/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh9.  
Trong đó, Sắc lệnh số 33C quy định các Tòa  
án quân sự có quyền tuyên án và thi hành án  
những người có những hành động phương hại  
đến nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ  
Cộng hòa (trừ những phạm nhân là binh sĩ thì  
xử theo quân luật) với các loại hình phạt khác  
nhau, trong đó cao nhất là hình phạt tử hình.  
Nhìn chung, các bộ luật thời phong kiến  
kể trên đều theo hệ thống ngũ hình: xuy (hình  
phạt đánh bằng roi), trượng (hình phạt đánh  
bằng gậy), đồ (hình phạt bắt lao động khổ  
sai), lưu (hình phạt bắt đi đày), tử (hình phạt  
tử hình). Hệ thống những tội phạm có thể bị  
kết án tử hình ở các triều đại khác nhau có sự  
khác nhau, song nhìn chung, số tội phạm có  
thể bị áp dụng hình phạt này là lớn; trong đó,  
có một số loại tội phạm mà bộ luật nào cũng  
quy định hình phạt tử hình như tội giết người,  
tội phản nghịch, tội nhận hối lộ, tội tham ô,  
v.v... Nhiều biện pháp thi hành án tử hình  
có tính chất tàn bạo hoặc báo thù tàn khốc  
như “chu di tam tộc”, “tùng xẻo”7, “phanh  
thây”, “băm xác”, “đáo mã”, v.v... theo các  
phương châm “dục phạt bất nhi bách” (phạt  
Tiếp theo những văn bản pháp luật trên,  
trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985,  
vấn đề hình phạt tử hình còn được quy định  
trong nhiều văn bản pháp luật khác của Nhà  
nước, bao gồm các sắc lệnh, luật, pháp lệnh,  
thông tư10. Nghiên cứu các văn bản này, có  
thể rút ra một số nhận xét sau:  
Thứ nhất, thời kỳ này, do các hoàn cảnh  
của đất nước nên công tác lập pháp, lập quy  
chưa có điều kiện phát triển và hoàn thiện, vì  
thế chưa có văn bản nào quy định riêng về  
hình phạt tử hình cũng như về hệ thống hình  
phạt nói chung. Hình phạt tử hình được đề  
cập rải rác trong nhiều văn bản pháp luật ban  
hành vào những năm khác nhau.  
4 Do vua Trần Dụ Tông cho biên soạn vào năm 1341.  
5
Do vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức, cho biên soạn vào năm 1483, gồm sáu Quyển, 13 Chương,  
722 Điều.  
6 Do vua Gia Long cho biên soạn vào năm 1815, gồm 22 Quyển, 398 Điều.  
7 Còn được gọi là “Lăng trì”.  
8 Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), tlđd, tr. 214.  
9 Bao gồm Sắc lệnh số 33A cho phép Ty liêm phóng bắt những người nguy hiểm cho nền dân chủ cộng hòa  
Việt Nam để đưa đi an trí; Sắc lệnh số 33B định thể lệ cho Ty Liêm phóng và Sở cảnh sát theo mỗi khi bắt  
người nào; Sắc lệnh số 33C thiết lập các Tòa án quân sự; Sắc lệnh số 33Đ định thể lệ phóng thích các tội nhân  
bị kết án trước ngày 19/8/1945.  
10 Xem chi tiết trong: Phạm Văn Lợi (chủ biên), Một số vấn đề về hình phạt tử hình và thi hành án tử hình,  
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2006, tr. 36‐38.  
4
Số 06(430) - T3/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Thứ hai, hình phạt tử hình ở thời kỳ này  
chịu ảnh hưởng bởi tình trạng chiến tranh  
nên nặng về mục đích trừng trị, được gắn  
với nhiều tội phạm về an ninh quốc gia11  
và chưa phân biệt rõ ràng với việc xử phạt  
hành chính.  
được sửa đổi vào năm 2009, trong đó bỏ  
hình phạt tử hình với tám (08) điều13.  
Việc sửa đổi nêu trên bắt nguồn từ chủ  
trương hạn chế hình phạt tử hình theo tinh  
thần của Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày  
02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số  
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong  
thời gian tới (Nghị quyết số 08/NQ-TW).  
Theo đó, Nghị quyết số 49/NQ-TW đã khẳng  
định việc “hạn chế áp dụng hình phạt tử hình  
theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít  
loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Chủ  
trương này đã được thực hiện từ năm 2009  
khi sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1999 và tiếp  
tục được thực hiện khi xây dựng và ban hành  
BLHS năm 2015.  
Thứ ba, về thủ tục, ở thời kỳ này đã áp  
dụng thủ tục xem xét lại bản án tử hình.  
Theo Luật (không số) ngày 14/7/1960 về tổ  
chức Tòa án nhân dân, các bản án tử hình  
phải được Hội đồng toàn thể thẩm phán của  
Tòa án nhân dân tối cao duyệt lại trước khi  
thi hành, trong đó phải có 2/3 tổng số thẩm  
phán của Tòa án nhân dân tối cao tham dự và  
quá nửa số thẩm phán tham dự tán thành thì  
Nghị quyết mới có giá trị12.  
Bộ luật Hình sự (BLHS) đầu tiên được  
ban hành ở Việt Nam vào năm 1985, sau đó  
được sửa đổi, bổ sung một số điều các năm  
1989, 1991, 1992, 1997. Trong phần các tội  
phạm của BLHS năm 1985, hình phạt tử  
hình được quy định với 29 điều trong tổng  
số 195 điều luật về tội phạm. Tuy nhiên, qua  
4 lần sửa đổi, đến năm 1997, số điều luật  
quy định hình phạt tử hình trong BLHS năm  
1985 đã tăng lên thành 44 điều trong tổng số  
216 điều. Sự gia tăng này phản ánh đường  
lối phòng, chống tội phạm theo hướng ngày  
càng nghiêm khắc hơn trong giai đoạn 1985  
- 1997 ở Việt Nam.  
BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ  
sung một số điều năm 2017 tiếp tục bỏ án  
tử hình ở tám (08) tội danh khác, đồng thời  
quy định người dưới 18 tuổi khi phạm tội,  
phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36  
tháng tuổi, người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm  
tội hoặc khi xét xử không bị áp dụng hình  
phạt tử hình. Tổng cộng, số lượng tội phạm  
áp dụng hình phạt tử hình trong BLHS năm  
2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều  
năm 2017 là 18/314 tội danh.  
2. Những yếu tố thuận lợi với việc xóa bỏ  
hình phạt tử hình ở Việt Nam  
2.1. Xu hướng xóa bỏ hình phạt tử hình  
trên thế giới  
BLHS năm 1999 được Quốc hội thông  
qua ngày 21/12/1999 để thay thế cho BLHS  
năm 1985, gồm 24 chương với nhiều điều,  
trong đó có 29 điều có khung hình phạt cao  
nhất là tử hình. Tuy nhiên, Bộ luật này đã  
Trong 50 năm qua, xu hướng xóa bỏ hình  
phạt tử hình đã tăng đáng kể. Khi Tuyên ngôn  
toàn cầu về quyền con người được thông qua  
11 Chẳng hạn các tội như: tội gián điệp; tội bạo loạn; tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; tội hoạt động phỉ; tội theo  
địch hoặc vì mục đích phản cách mạng mà trốn ra nước ngoài; tội giết người, đánh người gây thương tích, bắt  
giữ người, dọa giết người vì mục đích phản cách mạng; tội phá hoại; tội chống lại hoặc phá hoại việc thực hiện  
các chính sách và pháp luật của Nhà nước, v.v...  
12 Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), tlđd, tr. 217-218.  
13 Bao gồm: Tội hiếp dâm (Điều 111); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139); Tội buôn lậu (Điều 153); Tội  
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180); Tội tổ chức, sử dụng trái  
phép chất ma túy (Điều 197); Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy (Điều 221); Tội đưa hối lộ (Điều 289); Tội hủy  
hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 334).  
Số 06(430) - T3/2021  
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
vào năm 1948, chỉ có 8 quốc gia đã bãi bỏ  
hình phạt tử hình, và khi Công ước quốc tế về  
các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) được  
Đại Hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) thông  
qua vào năm 1966, số quốc gia như vậy mới  
chỉ là 26 nước. Tuy nhiên, trong chưa đầy 50  
năm qua, số quốc gia bãi bỏ hình phạt tử hình  
đã đi từ thiểu số tới đa số áp đảo14. Theo Tổ  
chức Ân xá quốc tế, ở thời điểm kết thúc năm  
2018 có 106 quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử  
hình với mọi tội phạm, 8 quốc gia đã xóa bỏ  
hình phạt tử hình với những tội phạm thông  
thường, 28 quốc gia tuy chưa xóa bỏ hình  
phạt tử hình trong pháp luật nhưng thực tế  
không áp dụng. Như vậy, tổng số quốc gia  
xóa bỏ hình phạt tử hình trong pháp luật và  
trong thực tế là 142 nước, chỉ còn 56 nước  
vẫn đang duy trì hình phạt tử hình và áp dụng  
hình phạt đó trong thực tế15.  
nhân dân tối cao, dẫn đến việc giảm số lượng  
các tội danh chịu án tử hình từ năm 2011.  
Mặc dù Trung Quốc không công bố số liệu  
về việc áp dụng án tử hình, song qua nhiều  
nguồn thống kê hợp pháp cho thấy, số lượng  
những người bị xử tử hình đã giảm ít nhất  
một nửa kể từ năm 2007. Quan điểm ủng  
hộ việc xóa bỏ hình phạt tử hình cũng ngày  
càng phổ biến ở Trung Quốc. Ví dụ, giáo  
sư Zhao Bingzhi của Đại học Sư phạm Bắc  
Kinh khẳng định: “Việc xóa bỏ án tử hình  
là một xu hướng tất yếu cũng như một dấu  
hiệu cho thấy lối tư duy khoáng đạt của các  
quốc gia văn minh (the broad-mindedness of  
civilized countries) […] Xóa bỏ án tử hình  
giờ đây là một yêu cầu quốc tế bắt buộc”17.  
Hiện nay, việc xóa bỏ hình phạt tử hình  
và khuyến khích bãi bỏ hình phạt tử hình đã  
trở thành một phong trào mang tính toàn cầu.  
Các tổ chức quốc tế như LHQ đã có nhiều  
sáng kiến ủng hộ xu hướng này18. Một số  
quốc gia khác cũng đã đưa vấn đề tạm ngừng  
áp dụng và bãi bỏ hình phạt tử hình vào trong  
chính sách đối ngoại của mình, như Úc đã  
thông qua chiến lược và kế hoạch hành động  
để tiến hành các chiến dịch về tạm ngừng áp  
dụng và bãi bỏ hình phạt tử hình19; Bộ Ngoại  
giao Thụy Sĩ đã thông qua Kế hoạch hành  
động về bãi bỏ tử hình trên phạm vi toàn cầu  
giai đoạn 2017 - 201920, trong khi đó Chính  
Ở châu Á, quốc gia được cho là thi hành  
án tử hình nhiều nhất là Trung Quốc cũng  
đã thay đổi. Năm 2007, đoàn đại biểu Trung  
Quốc tại Hội đồng Nhân quyền LHQ đã  
tuyên bố: “Phạm vi áp dụng án tử hình sẽ  
sớm được cân nhắc lại […] với mục tiêu  
là xóa bỏ hình phạt này”16. Cùng năm đó,  
Trung Quốc đã tiến hành xem xét lại tất cả  
các bản án tử hình được thi hành ngay lập  
tức bởi Tòa án nhân dân cấp tỉnh (được trao  
quyền trong thời gian diễn ra các chiến dịch  
“thanh trừng” từ những năm 1980) và Tòa án  
14 Penal Reform International (2011), International trends toward abolition Death Penalty Information Pack, Link: http://  
15 Amnesty, Abolitionist and retentionist countries as of july 2018, https://www.amnesty.org/download/Docu-  
ments/ACT5066652017ENGLISH.pdf.  
16 Dẫn lại: Roger Hood, “Xóa bỏ hình phạt tử hình - một yêu cầu cấp thiết về nhân quyền”, tlđd, tr. 21.  
17 Dẫn lại: Roger Hood, “Xóa bỏ hình phạt tử hình - một yêu cầu cấp thiết về nhân quyền”, tlđd, tr. 21.  
18 Cao ủy Quyền con người của Liên hợp quốc, Xóa bỏ án tử hình - những bài học từ kinh nghiệm quốc gia,  
truy cập lần cuối ngày 25/01/2021.  
19 Nguyễn Thị Thanh Hải, Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Minh Khuê (2019), tlđd, tr. 6.  
20 Xem: Bộ Ngoại giao Thụy Sĩ, Kế hoạch hành động FDFA bãi bỏ toàn cầu án tử hình, 2017–2019, https://  
aktionsplan-todesstrafe-2017-19_EN.pdf, truy cập lần cuối ngày 25/01/2021.  
6
Số 06(430) - T3/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
phủ Anh cũng có chiến lược bãi bỏ tử hình  
trong giai đoạn 2011- 201521.  
là một bước quan trọng trong nỗ lực quốc tế  
tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình.  
Những vận động nêu trên dựa trên quy  
định về việc hạn chế và giới hạn áp dụng hình  
phạt tử hình theo luật quốc tế. Cụ thể, Điều  
6(2) Công ước quốc tế về các Quyền dân sự,  
chính trị (ICCPR) quy định: “Ở những nước  
mà hình phạt tử hình chưa được xóa bỏ thì chỉ  
được phép áp dụng đối với những tội phạm  
nghiêm trọng nhất, phù hợp với luật pháp  
hiện hành tại thời điểm tội phạm được thực  
hiện và không trái với những quy định của  
Công ước này…”. Ngoài ra, còn có các hạn  
chế và giới hạn về hình phạt tử hình được quy  
định tại một loạt các hiệp định và văn kiện  
quốc tế khác, như Công ước về Quyền trẻ em  
(CRC) và Các quy định bảo đảm nhằm bảo  
vệ quyền của những người đối mặt với án tử  
hình (thông qua theo Nghị quyết số 1984/50  
của ECOSOC của LHQ vào năm 1984).  
Trong bối cảnh quốc tế kể trên, Việt Nam  
giữ lập trường “trung lập”22 nhưng tiến dần  
đến việc xóa bỏ án tử hình, thể hiện qua việc  
tại phiên Kiểm định định kỳ phổ quát về nhân  
quyền năm 2019, đại diện của Việt Nam cho  
biết: “Việt Nam còn duy trì án tử hình nhưng  
chỉ áp dụng đối với các tội đặc biệt nghiêm  
trọng” và Việt Nam “cũng đang xem xét gia  
nhập nghị định thư bổ sung Công ước về  
Quyền dân sự, chính trị để tiến tới xem xét  
bãi bỏ án tử hình”23.  
2.2. Vận động của các cơ quan nhân  
quyền Liên hợp quốc và Liên minh châu Âu  
Năm 2005, Ủy ban Nhân quyền của LHQ  
đã yêu cầu các quốc gia còn duy trì hình  
phạt tử hình “bãi bỏ hoàn toàn hình phạt tử  
hình và, trong thời điểm hiện tại, thực hiện  
việc hoãn thi hành”24. Tháng 12/2007, Đại  
hội đồng LHQ đã thông qua một nghị quyết  
mang tính bước ngoặt, trong đó kêu gọi các  
quốc gia hoãn áp dụng hình phạt tử hình và  
tái khẳng định cam kết của LHQ đối với việc  
bãi bỏ hình phạt tử hình. Nghị quyết được  
thông qua với 104 quốc gia ủng hộ, 54 quốc  
gia chống và 29 quốc gia bỏ phiếu trắng.  
Trong năm 2008 và 2010, Đại hội đồng LHQ  
thông qua các nghị quyết lần thứ hai và thứ  
ba tái khẳng định việc kêu gọi hoãn áp dụng  
hình phạt tử hình. Các nghị quyết này phản  
ánh xu hướng ở cấp độ quốc tế, được xem  
Châu Âu hiện đóng vai trò dẫn đầu toàn  
cầu về nỗ lực xóa bỏ hình phạt tử hình25. Liên  
minh châu Âu (EU) rất tích cực vận động xóa  
bỏ hình phạt tử hình thông qua các mối quan  
hệ song phương và đa phương với tất cả các  
các quốc gia mà còn đang duy trì hình phạt  
này. Điều này bắt nguồn từ việc Tòa án nhân  
quyền châu Âu (ECtHR) xem hình phạt tử  
hình là sự vi phạm quyền con người. Cụ thể,  
trong Phán quyết năm 2010 về vụ Al-Saadoon  
và Mufdhi kiện Vương quốc Anh, ECtHR đã  
dựa trên Điều 2 Công ước châu Âu về Quyền  
con người (quyền được sống) để lý giải nghĩa  
21 Xem: Bộ Ngoại giaoAnh, Chiến lược HMG xóa bỏ án tử hình giai đoạn 2010-2015, https://assets.publishing.  
service.gov.uk/government/uploads/system/uploads/attachment_data/file/35448/death-penalty-strategy-  
oct-11-15.pdf, truy cập lần cuối ngày 25/01/2021.  
22 Trong các kỳ họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc, Việt Nam không phản đối, song đã bỏ phiếu trắng đối với  
cả 4 nghị quyết được đưa ra từ năm 2007 đến năm 2012 (mà được sự ủng hộ của đa số các quốc gia), trong đó  
kêu gọi đình chỉ tạm thời (moratorium) việc áp dụng và thi hành án tử hình trên toàn thế giới.  
23 Báo cáo Quốc gia về thực hiện quyền con người tại phiên kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân quyền trước  
Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, tlđd.  
24 Penal Reform International (2011), tlđd, truy cập lần cuối ngày 22/01/2021.  
25 Hội đồng Nghị viện của Tổ chức An ninh và Hợp tác ở châu Âu (OSCE) thông qua nghị quyết vào năm 2009  
kêu gọi các quốc gia thành viên còn duy trì hình phạt tử hình ra tuyên bố hoãn ngay lập tức thi hành án tử hình.  
Số 06(430) - T3/2021  
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
vụ không được trục xuất hoặc dẫn độ người  
phạm tội về quốc gia mà họ đang phải đối  
mặt với án tử hình. Bản hướng dẫn của EU  
về hình phạt tử hình (thông qua vào 1998) là  
công cụ cho EU trong cuộc chiến chống lại  
hình phạt tử hình và đặt ra các tiêu chuẩn tối  
thiểu trong việc áp dụng hình phạt tử hình26.  
hình phạt tử hình, trong đó bao gồm29: 1) Hình  
phạt tử hình không có tác dụng bảo vệ một  
cách hiệu quả giá trị tính mạng của con người;  
2) Tất cả các hệ thống tư pháp hình sự đều tồn  
tại những vấn đề và khả năng sai sót, không  
có hệ thống nào có thể tự cho là hoàn thiện, vì  
vậy, nguy cơ người vô tội bị kết án tử hình và  
bị tước bỏ tính mạng là sai lầm không thể lấy  
lại được; 3) Tính chất tàn bạo của hình phạt tử  
hình là không thể chấp nhận; 4) Việc áp dụng  
hình phạt tử hình có nguy cơ bất công và phân  
biệt đối xử trong tố tụng hình sự; 5) Do tính  
chất tàn khốc của hình phạt tử hình nên việc  
áp dụng hình phạt này là trái với những giá  
trị đạo đức, đặc biệt là làm tổn hại lòng nhân  
đạo và sự khoan dung - những giá trị đạo đức  
cơ bản mà tất cả các xã hội đều cần phải vun  
đắp nên; 6) Tử hình trái với nguyên tắc khoan  
dung - nhân đạo trong hoạt động tư pháp; 7)  
Vấn đề hiệu quả phòng ngừa của hình phạt tử  
hình cần phải bàn xét lại vì không có chứng  
cứ nào cho thấy hiệu quả vượt trội của hình  
phạt tử hình trong việc ngăn ngừa tội phạm  
(thậm chí trong một số trường hợp việc áp  
dụng hình phạt tử hình còn làm cho tình hình  
tội phạm trở nên nghiêm trọng hơn; 8) Tính  
vô nghĩa và luẩn quẩn của hình phạt tử hình  
(Ví dụ: Một người bị kết án tử hình về tội giết  
người không những không giúp lấy lại được  
tính mạng của nạn nhân mà còn gây thêm cái  
chết cho một người nữa); 9) Chi phí cho việc  
thi hành hình phạt tử hình trong thực tế là rất  
tốn kém; 10) Hình phạt tử hình có nguy cơ  
vi phạm các chuẩn mực chung của pháp luật  
quốc tế về quyền con người và 11) Hình phạt  
tử hình trái với tinh thần nhân đạo - khoan  
dung của tôn giáo.  
Đối với trường hợp của Việt Nam, từ  
nhiều năm nay, EU đã vận động Việt Nam  
tạm hoãn áp dụng án tử hình, coi đây là một  
bước đầu tiên hướng tới việc bãi bỏ. Vận  
động mạnh mẽ nhất là qua Hiệp định thương  
mại EVFTA, EU cho rằng, Việt Nam muốn  
có một quan hệ bình đẳng với EU thì cần tôn  
trọng những tôn chỉ của EU, trong đó bao  
gồm việc không áp dụng án tử hình27.  
2.3. Sự ủng hộ của giới học thuật và của  
xã hội  
Mặc dù mới có ít nghiên cứu về vấn đề  
này, song giới học thuật ở Việt Nam nhìn  
chung ủng hộ chủ trương giảm và xóa bỏ  
hình phạt tử hình. Nhiều nhà nghiên cứu đề  
nghị giảm và loại bỏ hình phạt tử hình xuất  
phát từ quan điểm cho rằng28: 1) Tử hình là  
hình phạt trái với nguyên tắc nhân đạo trong  
luật hình sự; 2) Bãi bỏ hình phạt tử hình sẽ  
góp phần đưa giá trị nhân đạo và nguyên tắc  
nhân đạo vào cuộc sống; 3) Trong điều kiện  
toàn cầu hóa hiện nay, nhiều giá trị nhân đạo,  
trong đó bao gồm xóa bỏ hình phạt tử hình,  
đã mang tính toàn cầu bắt buộc chung và 4)  
Các quốc gia đang duy trì hay tái áp dụng  
hình phạt tử hình đều cố gắng giảm đến mức  
tối đa hình phạt này.  
Bên cạnh đó, các học giả Việt Nam cũng  
nêu ra những lý do khác để đề nghị loại bỏ  
26 Penal Reform International (2011), tlđd, truy cập lần cuối ngày 22/01/2021.  
27  
Quốc Phương, Tuyên bố của EU về vụ xử Đồng Tâm nói lên điều gì?, https://www.bbc.com/vietnamese/  
vietnam-54238069, truy cập lần cuối ngày 31/01/2021.  
28  
Xem: Báo cáo của Hồ Sỹ Sơn trong Tập tài liệu tại Hội thảo khoa học với chủ đề “Vấn đề giới hạn hình  
phạt tử hình trong một số tội phạm tại Việt Nam”. Dẫn lại: Lê Văn Cảm, Nguyễn Thị Lan (2014), tlđd, tr. 3.  
29 Xem: Hội luật gia Việt Nam (2008), Hình phạt tử hình trong luật quốc tế (Sách tham khảo), Nxb. Hồng Đức,  
Hà Nội, tr. 37 - 41.  
8
Số 06(430) - T3/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Tháng 12/2018, trong một cuộc hội thảo  
tham vấn về chủ đề “Khả năng của Việt Nam  
gia nhập Nghị định thư tùy chọn thứ hai về  
bãi bỏ hình phạt tử hình theo Công ước về  
Quyền dân sự, chính trị” đã được tổ chức tại  
thành phố Đà Nẵng,30 đa số người tham gia  
hội thảo cho rằng, việc duy trì hình phạt tử  
hình là biện pháp mạnh mẽ nhất và hiệu quả  
nhất để phòng, chống một số loại tội phạm  
nghiêm trọng (ví dụ: tội xâm phạm an ninh  
quốc gia, tội phạm mang tính bạo lực, tội  
phạm ma túy), song cũng đồng tình với sự  
cần thiết nghiên cứu các biện pháp thay thế  
hình phạt tử hình và hạn chế dần việc sử dụng  
hình phạt này31.  
chung những tác giả ủng hộ việc tiếp tục duy  
trì hình phạt tử hình ở Việt Nam dựa trên quan  
điểm cho rằng, hình phạt này có tác dụng răn  
đe vượt trội, vì thế việc duy trì nó là cần thiết  
do tình hình tội phạm đang diễn ra phức tạp32.  
Đây cũng là quan điểm chính thức của đoàn  
Việt Nam nêu ra với LHQ33.  
Bên cạnh đó, một số tác giả còn cho rằng,  
việc duy trì hình phạt tử hình: 1) Sẽ bảo đảm  
nguyên tắc công bằng trong luật hình sự; 2)  
Góp phần nâng cao phẩm giá của con người;  
đảm bảo chất lượng cuộc sống và đảm bảo  
an toàn xã hội; 3) Không trái với nguyên  
tắc nhân đạo, không trái với luật quốc tế và  
không vi phạm nhân quyền; 4) Hiện nay, việc  
xóa bỏ hình phạt tử hình chưa phải là xu thế  
chung của toàn thế giới;34 5) Hình phạt tử  
hình góp phần đem lại công lý cho nạn nhân  
của tội phạm; 6) Hành quyết phạm nhân bị  
tử hình sẽ đỡ tốn kém hơn việc giam giữ họ;  
7) Tử hình sẽ “nhân đạo” hơn vì “việc giam  
cầm cả đời hoặc trong thời gian dài trong nhà  
tù còn gây đau khổ hơn” cho người bị kết án;  
8) Xóa bỏ hình phạt tử hình là trái với đạo  
lý tôn giáo và 9) Công luận trong nước của  
hầu hết các quốc gia vẫn ủng hộ việc áp dụng  
hình phạt tử hình35.  
3. Những yếu tố gây trở ngại với việc xóa  
bỏ hình phạt tử hình ở Việt Nam  
3.1. Hiểu biết thiếu chính xác về tác  
dụng của hình phạt tử hình  
Bên cạnh những quan điểm ủng hộ việc  
xóa bỏ, ở Việt Nam đồng thời có quan điểm  
muốn duy trì hình phạt tử hình mà phần lớn  
dựa trên những hiểu biết thiếu chính xác về  
tác dụng của hình phạt này.  
Phân tích các xuất bản phẩm trong sách  
báo pháp lý hình sự ở Việt Nam (trong hai  
thập niên đầu của thế kỷ 21) cho thấy, nói  
30 Hội thảo tổ chức ngày 17/12/2018 tại thành phố Đà Nẵng trong khuôn khổ Chương trình Tăng cường pháp  
luật và tư pháp tại Việt Nam (EU JULE).  
31 Nguyễn Thị Thanh Hải, Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Minh Khuê (2019), tlđd, tr. 34-35.  
32 Xem thêm: Trịnh Quốc Toản (2012), “Chế định hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam và một số kiến  
nghị hoàn thiện”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN - chuyên san Luật học, Tập 30, Số 1, tr.30-41. Trong bài báo  
này, tác giả cho rằng ở Việt Nam hình phạt tử hình vẫn là cần thiết và cần phải có nhằm trừng trị những người  
phạm tội đặc biệt nghiêm trọng để giữ nghiêm kỷ cương phép nước, bảo đảm cho an ninh và trật tự an toàn  
xã hội, tức là loại hình phạt này vẫn có tác dụng tốt trong việc ngăn ngừa tội phạm và bảo vệ hữu hiệu lợi ích  
công cộng (tr. 36).  
33 Báo cáo Quốc gia của Việt Nam về Thực hiện quyền con người tại phiên kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân  
quyền trước Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, tlđd, nêu ra các lý do về văn hóa, con người của việc duy trì  
án tử hình, và khẳng định “đây là biện pháp cần thiết để ngăn ngừa những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.  
34 Võ Khánh Vinh, Nguyễn Mạnh Kháng, Phạm Văn Tỉnh (2008), Vấn đề giới hạn hình phạt tử hình trong một  
số tội phạm tại Việt Nam, Hội thảo khoa học do Viện Nhà nước và Pháp luật (Viện KHXH Việt Nam) phối hợp  
với Viện Konrad-Adenauar-Stiftung tổ chức, ngày 23 - 24/12/2008 tại Hà Nội; Phạm Văn Beo (2010), Hình  
phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam (Sách tham khảo), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 210.  
35 Hội Luật gia Việt Nam (2008), tlđd, tr. 22-35.  
Số 06(430) - T3/2021  
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Về phía công chúng và những người  
làm việc thực tiễn, kết quả phỏng vấn cho  
thấy36, hầu hết các ý kiến được hỏi cũng  
cho rằng, hiện nay chưa phải là thời điểm  
thích hợp để bãi bỏ hoàn toàn hình phạt tử  
hình ở Việt Nam do tình hình tội phạm vẫn  
còn diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia  
tăng cả về số lượng lẫn tính chất, mức độ  
nguy hiểm. Nhiều người có quan điểm rằng,  
hình phạt tử hình với tính cách là biện pháp  
phòng ngừa và là con đường để nâng cao  
ý thức cộng đồng về hậu quả nặng nề của  
việc phạm tội. Hiện tại chưa có hình phạt  
thay thế nào với tính cách là một biện pháp  
thật hữu hiệu, đủ sức răn đe, phòng ngừa  
tội phạm để thay thế hình phạt tử hình. Tuy  
nhiên, các ý kiến cũng nhất trí rằng, hình  
phạt tử hình tước đi quyền sống - quyền  
quan trọng nhất của con người. Do vậy, cần  
từng bước thu hẹp phạm vi áp dụng hình  
phạt tử hình và tiến tới xóa bỏ hình phạt này  
trong tương lai.  
hỏi và cách thức tổ chức các cuộc thăm dò ý  
kiến dư luận về hình phạt tử hình chưa hợp  
lý (thường bỏ qua những tác động tiêu cực  
của hình phạt này)37.  
3.2. Tâm lý báo thù  
Hình phạt tử hình ngay từ khi xuất hiện  
đã mang trong mình tính chất trả thù đối với  
người phạm tội, trước khi nó được “gán” cho  
các mục đích ngăn chặn, răn đe tội phạm,  
phòng ngừa riêng, phòng ngừa chung, …  
Lúc đầu đó là sự trả thù giữa các cá nhân,  
còn khi xã hội phát triển thì sự trả thù đó  
được thông qua nhà nước với vai trò thiết  
lập lại trật tự, công bằng xã hội. Hình phạt tử  
hình đồng thời mang ý nghĩa an ủi nỗi đau,  
vuốt ve lòng hận thù của người bị hại hoặc  
thân nhân người bị hại (mặc dù đây không  
phải là suy nghĩ của tất cả những người bị  
hại hoặc thân nhân người bị hại). Những lập  
luận như vậy về hình phạt tử hình từ lâu đã  
được các xã hội xem là hợp tình, hợp lý, vì  
thế hình phạt này tồn tại như một lẽ đương  
nhiên. Nói cách khác, việc duy trì hình phạt  
tử hình có nguồn gốc từ nhận thức, văn hóa  
của con người, vì thế, chỉ khi nào nhận thức  
về nó thay đổi thì hình phạt này mới bị loại  
bỏ một cách triệt để.  
Từ những phân tích ở trên, có thể thấy  
tâm lý ủng hộ việc duy trì hình phạt tử hình  
còn khá phổ biến ở Việt Nam. Điều này  
tương tự như ở nhiều quốc gia khác. Ngay  
cả ở những nước mà đã bãi bỏ hình phạt tử  
hình thì tại thời điểm bãi bỏ và sau khi bãi  
bỏ, qua thăm dò dư luận cho thấy tỷ lệ dân  
chúng ủng hộ việc duy trì hình phạt này vẫn  
cao hơn tỷ lệ phản đối.  
Văn hóa được hình thành do sự tác động  
của nhiều thành tố; trong đó, tồn tại xã hội  
giữ vai trò quyết định đến trình độ của nền  
văn hóa, thể hiện tính nhân văn, nhân đạo,  
xóa bỏ lòng hận thù ở mỗi con người. Nền  
văn hoá của Việt Nam hàm chứa nhiều giá  
trị nhân văn, nhân đạo cao cả; tuy nhiên,  
cũng như nhiều nền văn hóa khác, nó vẫn  
có chỗ cho tâm lý báo thù. Giống như nhiều  
dân tộc khác, người Việt Nam thường biện  
minh cho việc áp dụng án tử hình trên cơ sở  
Song cũng cần thấy rằng, kết quả thăm  
dò dư luận không phải lúc nào cũng phản  
ánh đúng thực chất của vấn đề, thậm chí  
còn làm trầm trọng thêm định kiến hay  
nhận thức thiếu chính xác của xã hội về vấn  
đề. Một số công trình nghiên cứu đã cho  
thấy, kết quả nêu trên ở các quốc gia, cũng  
như ở Việt Nam, có thể là do nội dung câu  
36 Nguyễn Thị Thanh Hải, Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Minh Khuê (2019), tlđd, tr. 43.  
37 Tham khảo: Penal Reform International (2011), tlđd, truy cập lần cuối ngày 22/01/2021.  
10  
Số 06(430) - T3/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
“chủ nghĩa trừng phạt” (retributivism), thể  
hiện qua quan điểm “lấy mạng đền mạng”  
(a life for a life), mà đã ăn sâu cả vào văn  
học dân gian của Việt Nam. Dấu ấn của  
tâm lý báo thù trong văn hóa hiện nay vẫn  
còn thể hiện qua nhận thức của người dân  
Việt Nam về hình phạt tử hình. Theo Dự án  
“Khảo sát tác động ngăn ngừa của một số  
hình phạt trong BLHS Việt Nam năm 1999”  
được tiến hành bởi nhóm chuyên gia Khoa  
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy,  
đa phần người dân coi việc có hình phạt tử  
hình trong cơ cấu của hệ thống hình phạt  
là một lẽ đương nhiên mà thiếu nó là sự  
trống vắng, sự không công bằng của pháp  
luật. Với 04 câu hỏi: (1) Xóa bỏ hình phạt  
tử hình trong hệ thống hình phạt; (2) Duy  
trì hình phạt tử hình; (3) Hạn chế áp dụng  
hình phạt tử hình; (4) ý kiến khác thì tỷ lệ  
tương ứng trong tổng số những người tham  
gia trả lời là: 37,82% (222 người); 5,96%  
(35 người); 51,96% (305 người); 4,26%  
(25 người), nếu cộng tỷ lệ câu hỏi (2) + (3)  
của những người đồng tình với việc duy trì  
hình phạt tử hình là 57,92 sẽ cao hơn tỷ lệ  
37,82% của những người ủng hộ quan điểm  
loại bỏ hình phạt này38.  
Mặc dù Việt Nam hiện nay vẫn thuộc về  
những quốc gia duy trì hình phạt tử hình  
trong pháp luật, nhưng số lượng tội danh có  
thể bị kết án tử hình trong BLHS đã giảm liên  
tục kể từ năm 1999. Điều đó cho thấy, Việt  
Nam đang đi theo xu hướng chung của thế  
giới là giảm bớt hình phạt này. Tuy nhiên, ở  
Việt Nam, số lượng tội danh bị kết án tử hình  
trong BLHS còn nhiều và số người bị kết án  
tử hình và bị hành quyết (thống kê qua các  
nguồn hợp pháp và công khai) còn cao so với  
nhiều nước trên thế giới.  
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày  
càng sâu rộng, dân trí ngày càng cao và xã  
hội ngày càng cởi mở hơn, trong tương lai,  
Việt Nam vẫn sẽ theo xu hướng giảm hình  
phạt tử hình trong pháp luật và giảm việc áp  
dụng hình phạt này trong thực tế. Mặc dù vậy,  
đây sẽ không phải là một sự thay đổi nhanh  
chóng trong thời gian ngắn, do vẫn còn nhiều  
động lực về duy trì hình phạt này.  
Việc giảm và xóa bỏ hình phạt tử hình  
ở Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào những  
nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện để chứng  
minh rằng hình phạt tử hình không có tác  
dụng ngăn ngừa vượt trội với tội phạm như  
định kiến hiện nay của nhiều nhà lập pháp và  
của phần lớn công chúng. Thêm vào đó, để có  
tác động chính sách cao hơn, các nghiên cứu  
về vấn đề này ở Việt Nam cũng cần chứng  
minh được những tác động tiêu cực của hình  
phạt tử hình đối với xã hội, đặc biệt trong  
những vấn đề mà các nhà lập pháp và công  
chúng từ trước tới nay ít quan tâm, chẳng hạn  
như việc làm gia tăng tỷ lệ phạm tội của trẻ  
em có cha mẹ bị kết án tử hình, hay việc làm  
gia tăng tính chất bạo lực, thiếu khoan dung  
4. Kết luận  
Giống như ở nhiều quốc gia khác, hình  
phạt tử hình là vấn đề gây nhiều tranh cãi ở  
Việt Nam. Việc duy trì hay xóa bỏ hình phạt  
này chịu sự tác động của nhiều yếu tố, cả  
trong và ngoài nước, trong đó ở trong nước  
thì yếu tố nhận thức và tâm lý có ý nghĩa  
quan trọng, còn ở ngoài nước là sự vận động  
của LHQ, EU và các tổ chức quốc tế khác về  
nhân quyền có tác động to lớn.  
trong xã hội  
38 Dự án “Khảo sát tác động ngăn ngừa của một số hình phạt trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999” của  
Trung tâm Tội phạm học thuộc Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011. Dẫn lại: Nguyễn Ngọc Chí  
(2012), “Một số suy nghĩ về hình phạt tử hình trong Luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà  
Nội - chuyên san Luật học, tập 28, tr. 42-48, tr. 46.  
Số 06(430) - T3/2021  
11  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC  
TRONG ÂN GIẢM ÁN TỬ HÌNH VÀ ĐẶC XÁ  
Lê Duy Tường  
ThS. Vụ Pháp luật, Văn phòng Chủ tịch nước.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Chủ tịch nước, ân giảm  
án tử hình, đặc xá.  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày làm rõ vai trò, thẩm quyền  
của Chủ tịch nước trong ân giảm án tử hình và đặc xá theo quy định của  
Hiến pháp năm 2013 và pháp luật hiện hành nhằm góp phần tạo nhận  
thức thống nhất về ân giảm án tử hình và đặc xá.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 20/01/2021  
: 18/02/2021  
: 23/02/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Keywords: President, death  
penalty remission, amnesty.  
This article provides clarification of the role and authority of the Presi-  
dent in the death penalty parole and special amnesty in accordance with  
the Constitution of 2013 and the current law, on that basis, the unified  
understanding of the death penalty remission pictures and amnesty.  
History:  
Received  
Edited  
: 20 Jan. 2021  
: 18 Feb. 2021  
: 23 Feb. 2021  
Approved  
1. Quyền của Chủ tịch nước trong ân giảm  
án tử hình và đặc xá  
phạt tử hình như sau: 1. Sau khi bản án tử  
hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải  
được gửi ngay lên Chánh án Tòa án nhân  
dân (TAND) tối cao và bản án phải được  
gửi ngay lên Viện trưởng Viện kiểm sát  
nhân dân (VKSND) tối cao. Trong thời hạn  
hai tháng, kể từ ngày nhận được bản án và  
hồ sơ vụ án, Chánh án TAND tối cao, Viện  
trưởng VKSND tối cao phải quyết định  
kháng nghị hoặc quyết định không kháng  
nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Trong  
thời hạn bảy ngày, kể từ ngày bản án có hiệu  
lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn  
xin ân giảm lên Chủ tịch nước; 2. Bản án tử  
hình được thi hành, nếu Chánh án TAND tối  
cao và Viện trưởng VKSND tối cao không  
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc  
tái thẩm. Trong trường hợp bản án tử hình  
bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm  
hoặc tái thẩm mà Hội đồng giám đốc thẩm,  
Hội đồng tái thẩm TAND tối cao quyết định  
Ân giảm án tử hình là thẩm quyền của  
Chủ tịch nước giảm hình phạt tử hình theo  
bản án đã có hiệu lực pháp luật xuống tù  
chung thân theo quy định của pháp luật,  
thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước  
ta đối với những người phạm tội đặc biệt  
nghiêm trọng, mở ra cho những người này  
khả năng ăn năn hối cải, cải tạo, giáo dục  
trở thành người có ích cho xã hội. Theo quy  
định của Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS)  
năm 2015, trong thời hạn 7 ngày kể từ khi  
bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết  
án tử hình được gửi đơn xin ân giảm án tử  
hình lên Chủ tịch nước. Nếu được ân giảm  
thì hình phạt tử hình được giảm xuống tù  
chung thân. Nếu đơn xin ân giảm bị bác thì  
bản án tử hình được thi hành.  
Điều 258 Bộ luật TTHS năm 2015 quy  
định trường hợp được ân giảm đối với hình  
12  
Số 06(430) - T3/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên  
bản án tử hình, thì TAND tối cao phải thông  
báo ngay cho người bị kết án biết để họ làm  
đơn xin ân giảm án tử hình. Trong trường  
hợp người bị kết án xin ân giảm hình phạt  
tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau  
khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm.  
được giảm xuống tù có thời hạn, đồng thời  
khuyến khích họ ăn năn hối cải, tích cực  
học tập, lao động cải tạo để được hưởng sự  
khoan hồng của Nhà nước, trở thành người  
có ích cho xã hội. Xét về bản chất, đặc xá là  
biện pháp khoan hồng của Nhà nước miễn  
toàn bộ hoặc một phần hình phạt  
Khoản 3 Điều 88 Hiến pháp năm 2013  
quy định rõ, Chủ tịch nước quyết định đặc  
xá… Việc Chủ tịch nước quyết định đặc xá  
có tác động xã hội to lớn, là động lực để  
người bị kết án phạt tù nỗ lực học tập, rèn  
luyện, lao động, phấn đấu cải tạo tốt hơn;  
đồng thời, tạo sự đồng thuận, ủng hộ từ gia  
đình người bị kết án cũng như mọi tầng lớp  
nhân dân.  
Trong trường hợp người bị kết án tử hình  
được ân giảm, theo quy định của Điều 35 Bộ  
luật Hình sự (BLHS) năm 2015 đã được sửa  
đổi, bổ sung một số điều năm 2017 (BLHS  
năm 2015), hình phạt tử hình chuyển thành tù  
chung thân. Bên cạnh đó, BLHS năm 2015 bổ  
sung trường hợp giảm mức hình phạt đã tuyên:  
“Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm  
hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp  
quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 3 Điều  
40 của Bộ luật này thì thời gian đã chấp hành  
hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm  
và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải  
bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt  
là 30 năm” (khoản 6 Điều 63). Như vậy, có  
thể thấy rằng, mặc dù BLHS năm 2015 cho  
phép người bị kết án tử hình được ân giảm  
tiếp tục được xét giảm, nhưng điều kiện để xét  
giảm án của những người này chặt chẽ hơn  
so với người bị kết án tù chung thân khác, đó  
là: thời gian đã chấp hành hình phạt để được  
xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm  
nhiều lần thì vẫn phải bảo đảm thời hạn thực  
tế chấp hành hình phạt là 30 năm.  
2. Thực trạng ân giảm án tử hình và đặc xá  
Việc đặc xá, tha tù trước thời hạn được  
xem xét thận trọng, khách quan, dân chủ,  
đúng quy định. Kết quả thực hiện các đợt  
đặc xá trong thời gian qua được nhân dân  
trong nước đồng tình, dư luận thế giới hoan  
nghênh và đánh giá cao về tính nhân đạo,  
chính sách khoan hồng, tính công khai và  
minh bạch trong chủ trương cũng như trong  
quá trình thực hiện. Nhìn chung, công tác  
đặc xá đã có tác dụng giáo dục, góp phần bảo  
đảm trật tự an toàn xã hội. Thực hiện chính  
sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà  
nước ta, trong giai đoạn 2016 -2021, căn cứ  
Luật Đặc xá, nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh  
02/9/2016, Chủ tịch nước quyết định đặc xá  
tha tù trước thời hạn cho 4.384 phạm nhân,  
trong đó: 4.180 phạm nhân đang chấp hành  
án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam1.  
Quy định trên đây thể hiện sâu sắc tính nhân  
đạo, dân chủ, ưu tiên của Đảng và Nhà nước ta;  
chú ý đến những đặc điểm, sinh lý của người  
chưa thành niên và phụ nữ có thai, phụ nữ đang  
nuôi con nhỏ, ảnh hưởng của những đặc điểm  
đó đến khả năng nhận thức và điều khiển hành  
vi của họ thời điểm phạm tội.  
Công tác xét đơn xin ân giảm án tử hình  
là vấn đề liên quan đến sinh mệnh của con  
người và tính nghiêm minh của pháp luật; vì  
vậy, việc xét đơn xin ân giảm án tử hình được  
thực hiện hết sức thận trọng. Đối với những  
vụ án phức tạp, dư luận xã hội quan tâm  
Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của  
Nhà nước đối với người phạm tội bị kết  
án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã  
1 Báo cáo số 01/BC-CTN, ngày 12/3/2021 của Chủ tịch nước về tổng kết công tác nhiệm kỳ 2016 - 2021 của  
Chủ tịch nước, tr. 7.  
Số 06(430) - T3/2021  
13  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
thì ngoài việc xem xét, cân nhắc ý kiến của  
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện  
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ  
tịch nước còn yêu cầu Văn phòng Chủ tịch  
nước cử tổ công tác về địa phương nơi xảy ra  
vụ án hoặc nơi đăng ký thường trú của người  
phạm tội, phối hợp nắm thêm dư luận xã hội  
và ý kiến của cấp ủy Đảng, chính quyền,  
đoàn thể tại địa phương để báo cáo Chủ tịch  
nước xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng trước khi  
quyết định. Nhiệm kỳ vừa qua, việc thực  
hiện thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi  
thi hành, xét đơn xin ân giảm án tử hình và  
thi hành án tử hình theo quy định của pháp  
luật còn gặp khó khăn do số lượng người bị  
kết án tử hình tăng nhanh. Trong nhiệm kỳ  
2016 - 2021, Chủ tịch nước đã quyết định  
bác đơn xin ân giảm của 295 bị án; quyết  
định ân giảm án tử hình xuống tù chung thân  
cho 94 bị án, gửi trả 23 hồ sơ về Tòa án nhân  
dân tối cao để xem xét, giải quyết theo thẩm  
quyền vì người phạm tội không viết đơn xin  
ân giảm án tử hình mà chỉ viết đơn kêu oan,  
đơn xin thi hành án2.  
bản án kết án tử hình có hiệu lực pháp luật,  
TAND tối cao và VKSND tối cao phải xem  
xét có kháng nghị hay không. Thời hạn xem  
xét quyết định việc kháng nghị là 2 tháng.  
Đồng thời, cũng trong thời hạn 7 ngày  
kể từ ngày bản án kết án tử hình có hiệu lực  
pháp luật, người bị kết án có quyền gửi đơn  
xin ân giảm án tử hình lên Chủ tịch nước.  
Như vậy, thủ tục xem xét để kháng nghị  
giám đốc thẩm đối với bản án tử hình và thủ  
tục xét ân giảm bản án tử hình là hai thủ tục  
độc lập, cùng được xác định trong thời hạn  
tính từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp  
luật, không phải là hai thủ tục tiếp nối nhau.  
Mặt khác, việc xem xét, quyết định kháng  
nghị của chủ thể có thẩm quyền là một hoạt  
động tố tụng, với đối tượng xem xét là bản  
án đã có hiệu lực pháp luật, dựa trên những  
căn cứ pháp lý được quy định cụ thể trong  
Bộ luật TTHS. Trong khi đó, việc xem xét  
cho ân giảm án tử hình của Chủ tịch nước là  
thủ tục hành chính, trên tinh thần nhân đạo,  
khoan hồng, với đối tượng xem xét là người  
đã bị kết án (tử hình). Hai thủ tục này khác  
nhau hoàn toàn về tính chất và đối tượng,  
do đó không có tính loại trừ nhau. Vì vậy,  
thủ tục xét ân giảm án tử hình không phải  
là thủ tục cuối cùng trước khi đưa người  
bị kết án ra thi hành nên không thể loại trừ  
hoàn toàn các hoạt động tố tụng, ví như việc  
kháng nghị giám đốc thẩm.  
3. Một số vấn đề đặt ra  
Mặc dù ân giảm án tử hình và đặc xá thể  
hiện rất rõ vai trò, thẩm quyền của Chủ tịch  
nước, nhưng trong thực tiễn tố tụng trong  
thời gian vừa qua, còn có sự nhận thức chưa  
thống nhất về các thủ tục này, đặc biệt là ân  
giảm án tử hình, cụ thể:  
Theo quy định của Bộ luật THHS và  
Luật Thi hành án hình sự, thủ tục xét ân  
giảm đối với người bị kết án tử hình là một  
thủ tục nằm trong giai đoạn thi hành án. Tuy  
nhiên, không phải trong giai đoạn thi hành  
án thì mọi hoạt động tố tụng đối với vụ án  
đó sẽ bị triệt tiêu, bởi lẽ:  
Thứ hai, về cơ sở lý luận, trong giai đoạn  
thi hành án, cụ thể là thi hành bản án tử hình,  
một số hoạt động tố tụng vẫn có thể được  
thực hiện. Ví dụ, Hội đồng thi hành án tử  
hình có thể ra quyết định tạm hoãn thi hành  
án nếu ngay trước khi thi hành án, người bị  
kết án tử hình khai báo những tình tiết mới  
về tội phạm, hoặc người bị kết án tử hình  
thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều  
40 BLHS năm 2015. Trong các trường hợp  
Thứ nhất, về căn cứ pháp lý, theo Điều  
367 Bộ luật TTHS về thủ tục xem xét bản  
án tử hình trước khi thi hành thì sau khi  
2 Báo cáo số 01/BC-CTN, ngày 12/3/2021 của Chủ tịch nước về tổng kết công tác nhiệm kỳ 2016 - 2021 của  
Chủ tịch nước, tr. 7.  
14  
Số 06(430) - T3/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
đó, một số quyết định tố tụng mới sẽ được  
ban hành như quyết định kháng nghị giám  
đốc thẩm, tái thẩm, quyết định chuyển bản  
án tử hình thành hình phạt tù chung thân…  
Như vậy, có thể thấy rằng, quyết định bác  
đơn xin ân giảm hình phạt tử hình của Chủ  
tịch nước không triệt tiêu các hoạt động tố  
tụng khác của chủ thể tiến hành tố tụng, nếu  
căn cứ của các hoạt động đó mới xuất hiện  
hoặc vẫn tồn tại trong vụ án.  
kiện nào là sự kiện trọng đại của đất nước.  
Tác giả cho rằng, để xác định sự kiện trọng  
đại của đất nước, cần quy định cụ thể tiêu  
chí xác định sự kiện trọng đại làm cơ sở  
cho Chủ tịch nước quyết định đặc xá. Điều  
này góp phần bảo đảm tính công khai, minh  
bạch và thống nhất khi áp dụng chế định  
đặc xá đối với người bị kết án phạt tù có  
thời hạn, tù chung thân, đồng thời tạo thuận  
lợi cho các cơ quan chuyên môn trong quá  
trình triển khai áp dụng.  
Thứ ba, về căn cứ thực tế, trong vụ án  
Hồ Duy Hải, mặc dù Chủ tịch nước đã từng  
bác đơn xin ân giảm đối với người bị kết án  
nhưng tại nhiều thời điểm sau đó, Chủ tịch  
nước cũng có ý kiến tạm dừng việc thi hành  
tử hình hoặc yêu cầu Chánh án TAND tối  
cao, Viện trưởng VKSND tối cao xem xét,  
làm rõ và quyết định theo thẩm quyền nhằm  
đảm bảo việc kết án tử hình là đúng quy  
định của pháp luật. Như vậy, thực tế giải  
quyết vụ án cho thấy, Chủ tịch nước cũng  
đã có ý kiến để Viện trưởng VKSND tối cao  
xem xét lại vụ án theo thẩm quyền.  
Hai là, theo quy định của Điều 66 BLHS  
năm 2015, người được tha tù trước thời hạn  
có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ  
trong thời gian thử thách. Nếu trong thời  
gian thử thách họ vi phạm nghĩa vụ từ 2 lần  
trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính  
2 lần trở lên thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết  
định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối  
với người đó và buộc họ phải chấp hành  
phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành;  
trường hợp phạm tội mới trong thời gian  
thử thách, Tòa án buộc người đó chấp hành  
hình phạt của bản án mới và tổng hợp với  
phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản  
án trước. Quy định này vừa thể hiện tính  
nghiêm minh của luật pháp, vừa có tính răn  
đe đối với người bị phạm tội. Tuy nhiên,  
người được đặc xá lại không phải chịu thời  
gian thử thách như người được tha tù trước  
thời hạn có điều kiện. Chính điều này đã  
làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật  
và phần nào tạo nên sự không đồng thuận  
của một bộ phận quần chúng nhân dân. Vì  
vậy, tác giả cho rằng, cần sửa đổi BLHS  
năm 2015 theo hướng bổ sung quy định về  
thời gian thử thách đối với người được đặc  
xá và các nghĩa vụ của người được đặc xá  
trong thời gian thử thách, chế tài xử lý trong  
trường hợp họ vi phạm nghĩa vụ tương ứng  
như quy định đối với người được tha tù  
Về đặc xá, Luật Đặc xá năm 2018 bao  
gồm 6 chương, 39 điều với nhiều điểm mới  
sửa đổi, bổ sung so với Luật Đặc xá năm  
2007 về nguyên tắc, thời điểm, trình tự, thủ  
tục, thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện đặc  
xá; điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người  
được đề nghị đặc xá; quyền và nghĩa vụ của  
người được đặc xá. Tuy nhiên, để góp phần  
nâng cao hiệu quả thực hiện quyền đại xá  
của Chủ tịch nước, tác giả cho rằng, cần  
tiếp tục hoàn thiện một số quy định về các  
vấn đề sau đây:  
Một là, quy định về “những sự kiện  
trọng đại của đất nước” để áp dụng đặc xá  
chưa rõ. Theo quy định của Luật Đặc xá,  
Chủ tịch nước sẽ xem xét quyết định việc  
đặc xá nhân sự kiện trọng đại, nhân ngày lễ  
lớn của đất nước và trong trường hợp đặc  
biệt. Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản  
nào hướng dẫn về việc xác định những sự  
trước thời hạn có điều kiện  
Số 06(430) - T3/2021  
15  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
ÁP DỤNG CÁC TIÊU CHUẨN KIỂM DỊCH ĐỘNG - THỰC VẬT  
THEO WTO VÀ KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM  
Lê Minh Nhựt*  
Lê Thị Thanh Bình**  
*ThS. Giảng viên Đại học Luật TP.HCM  
**ThS. Giảng viên Đại học Tài chính - Kế toán  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng vào thị trường quốc tế trong đó  
có thị trường nhập khẩu động - thực vật. Điều này tạo ra nhiều thuận  
lợi nhưng cũng không ít khó khăn cho Việt Nam; đặc biệt Việt Nam  
phải đối mặt với lượng động - thực vật nhập khẩu không đảm bảo chất  
lượng, có nguy cơ lây lan dịch, bệnh. Trong phạm vi bài viết này, các  
tác giả trình bày, phân tích các quy định của Tổ chức Thương mại thế  
giới (WTO) và thực tiễn áp dụng cũng như tranh chấp xoay quanh việc  
các quốc gia đặt ra các tiêu chuẩn kiểm soát động - thực vật nhập khẩu,  
và kiến nghị các biện pháp nhằm giúp Việt Nam xây dựng và áp dụng  
các tiêu chuẩn quốc gia cao hơn nhưng phù hợp với quy định của WTO.  
Từ khóa: SPS, kiểm dịch động  
vật, kiểm dịch thực vật, WTO.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 18/12/2020  
: 08/01/2021  
: 12/01/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Vietnam is been in deep and wide integration into the international  
market, including the import market for flora and fauna. This has been  
providing with several advantages but also giving many difficulties for  
Vietnam, especially while Vietnam has to face with the quantity of un-  
derqualified imported flora and fauna which are at risk of spreading epi-  
demics and diseases. Under this article, the authors provide discussions  
and analysis of the rules of the World Trade Organization (WTO) and its  
application practices as well as disputes over countries setting standards  
to control imported flora and fauna. Since then, the authors also propose  
measures for Vietnam to develop and apply national standards that are  
higher than international standards and appropriate with the WTO rules.  
Keywords: SPS, animal  
quarantine, phytosanitary, WTO  
Article History:  
Received  
Edited  
: 18 Dec. 2020  
: 08 Jan. 2021  
: 12 Jan. 2021  
Approved  
1. Đặt vấn đề  
số quốc gia nhất định, đặt điều kiện, tiêu  
chuẩn cao để hạn chế hàng hóa nước ngoài  
Hiện nay, nhu cầu nhập khẩu thực phẩm  
vào thị trường Việt Nam có xu hướng ngày  
càng tăng. Tuy nhiên, thực trạng này cũng  
kéo theo nguy cơ từ động - thực vật được  
nhập khẩu. Đứng trước vấn đề này, chính  
phủ các nước đã và đang phải rà soát, thậm  
chí ban hành các quy định hạn chế thương  
mại như cấm nhập khẩu thực phẩm từ một  
thâm nhập vào thị trường nội địa… Vậy các  
biện pháp này có phù hợp với quy định của  
WTO không hay khi nào thì quốc gia thành  
viên WTO có thể áp dụng các biện pháp hạn  
chế nhập khẩu động - thực vật.  
Trong khuôn khổ của WTO tồn tại Hiệp  
định về việc áp dụng các biện pháp kiểm  
16  
Số 06(430) - T3/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
dịch động thực vật (Hiệp định SPS)1 nhằm  
đảm bảo an toàn thực phẩm với người tiêu  
dùng, ngăn chặn sự lây lan dịch, bệnh ở  
động - thực vật, đồng thời Hiệp định SPS  
cũng hướng đến hạn chế khả năng lạm dụng  
các biện pháp kiểm dịch động thực vật của  
quốc gia thành viên nhằm mục đích bảo hộ  
thương mại. Với vai trò là một thành viên,  
Việt Nam cam kết tuân thủ các yêu cầu của  
Hiệp định SPS khi gia nhập WTO mà không  
yêu cầu bất kỳ thời gian chuyển tiếp nào2.  
Hiệp định SPS cho phép mỗi thành viên  
được quyền tự chủ ban hành các quy định  
về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm  
nhập khẩu nhưng Việt Nam có thể phải đối  
mặt với khả năng phản đối của quốc gia  
thành viên khác đối với các biện pháp kiểm  
soát động - thực vật nhập khẩu trên cơ sở  
không tuân thủ các quy định của WTO. Do  
đó, việc nghiên cứu tiêu chuẩn, khuyến nghị  
quốc tế và xây dựng, áp dụng các tiêu chuẩn  
kiểm dịch động - thực vật phù hợp với quy  
định của WTO (đặc biệt là Hiệp định SPS)  
là rất quan trọng.  
tiêu chuẩn về tính cần thiết để bảo vệ sức  
khỏe con người và động, thực vật.  
Các tiêu chuẩn quốc tế cần được tuân  
thủ theo Hiệp định SPS được quy định tại  
Điều 3, phụ lục A của Hiệp định SPS. Các  
tiêu chuẩn, hướng dẫn và khuyến nghị quốc  
tế được chia thành các lĩnh vực sau: Trong  
lĩnh vực an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn quốc  
tế được quy định là các tiêu chuẩn, khuyến  
nghị và hướng dẫn do Ủy ban An toàn thực  
phẩm (CODEX) xây dựng trong lĩnh vực  
phụ gia thực phẩm, thuốc thú y, dư lượng  
thuốc trừ sâu, tạp chất, phương pháp phân  
tích và lấy mẫu, các mã số và hướng dẫn về  
thực hành vệ sinh.  
Trong lĩnh vực sức khỏe động vật, tiêu  
chuẩn quốc tế là các tiêu chuẩn, hướng  
dẫn và khuyến nghị do Văn phòng Kiểm  
dịch động vật quốc tế (OIE) xây dựng nên.  
Trong lĩnh vực thực vật, tiêu chuẩn quốc  
tế được quy định là các tiêu chuẩn, hướng  
dẫn và khuyến nghị được xây dựng bởi Ban  
Thư ký Công ước Bảo vệ thực vật quốc tế  
hợp tác cùng các tổ chức khu vực hoạt động  
trong khuôn khổ Công ước Bảo vệ thực vật  
quốc tế (IPPC). Như vậy, có thể thấy, các  
tiêu chuẩn quốc tế chính là các tiêu chuẩn  
do các tổ chức quốc tế CODEX, OIE và  
IPPC ban hành.  
Điều 3.2 Hiệp định SPS: “Các biện pháp  
vệ sinh động - thực vật tuân thủ các tiêu  
chuẩn, hướng dẫn và khuyến nghị quốc tế  
sẽ được cho là cần thiết để bảo vệ cuộc  
sống hoặc sức khỏe con người, động vật,  
thực vật và được coi là phù hợp với các điều  
khoản liên quan của Hiệp định này và của  
GATT 1994”. Theo quy định của điều luật  
này, chỉ cần quốc gia thành viên “tuân thủ”  
theo tiêu chuẩn quốc tế thì được xem như  
đã phù hợp với quy định của WTO, đáp ứng  
1
Hiện nay, việc áp dụng các tiêu chuẩn  
quốc tế để xây dựng và ban hành tiêu  
chuẩn quốc gia về kiểm dịch động, thực  
vật còn gây tranh cãi đối với trường hợp  
quốc gia thành viên WTO áp dụng tiêu  
chuẩn quốc gia cao hơn tiêu chuẩn quốc  
tế nêu trên.  
truy cập ngày 02/3/2020.  
2 WTO document, WT/ACC/VNM/48, 27/10/2006, đoạn 327. Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên  
cập ngày 26/7/2020.  
Số 06(430) - T3/2021  
17  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
2. Áp dụng tiêu chuẩn, khuyến nghị cao  
hơn tiêu chuẩn, khuyến nghị quốc tế  
như là chất tăng trưởng và tạo ra dư lượng  
không gây hại cho sức khỏe của con người3.  
Đối với hai loại Hormones hỗn hợp là  
zeranol và trenbolone, theo báo cáo JECFA  
1998 (CODEX dựa trên báo cáo này),  
hai loại Hormones này có thể có tác dụng  
gây hại cho cơ thể con người nên CODEX  
đã thiết lập tiêu chuẩn cho chúng4. Riêng  
đối với MGA, CODEX chưa có quy định  
về tiêu chuẩn đối với Hormones này. Tuy  
nhiên, EC quy định tiêu chuẩn đối với tất  
cả 5 loại Hormones Codex đã có quy định  
ở trên là không, nghĩa là không cho phép sự  
có mặt của dư lượng này trong tất cả các sản  
phẩm từ thịt (No residue level). Như vậy,  
liệu quy định của EC có được xem xét là  
phù hợp với Điều 3.1 Hiệp định SPS.  
Điều 3.1 Hiệp định SPS quy định về  
trường hợp “dựa trên” tiêu chuẩn quốc tế -  
mức độ bảo vệ tương đương với tiêu chuẩn  
quốc tế. Tương tự, Điều 3.2 Hiệp định  
SPS quy định về trường hợp “tuân thủ” -  
sử dụng chính các tiêu chuẩn quốc tế làm  
tiêu chuẩn quốc gia và Điều 3.3 quy định  
trường hợp áp dụng tiêu chuẩn cao hơn tiêu  
chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, việc xây dựng và  
áp dụng tiêu chuẩn quốc gia về kiểm dịch  
động, thực vật “dựa trên”, “tuân thủ” tiêu  
chuẩn quốc tế lại không được giải thích rõ  
ràng ngay trong Hiệp định SPS. Điều này  
dẫn đến, khi các quốc gia thành viên WTO  
áp dụng tiêu chuẩn quốc gia về kiểm dịch  
động, thực vật cao hơn tiêu chuẩn quốc tế  
thì tranh chấp xảy ra.  
Trong Vụ việc trên, giải thích về Điều 3.1  
Hiệp định SPS, Ban Hội thẩm (Panel) cho  
rằng một biện pháp được xem là “dựa trên”  
một tiêu chuẩn quốc tế nghĩa là phải có cùng  
mức độ bảo vệ với tiêu chuẩn quốc tế (in  
conformity with international standards),  
không nhất thiết phải giống hệt tiêu chuẩn  
quốc tế. Đối với 5 loại Hormones được đề  
cập, mức độ bảo vệ chính là dư lượng thuốc  
được cho phép dung nạp vào cơ thể con  
người và có mặt trong một thực phẩm cụ thể  
(ADI) và mức dư lượng thuốc còn tồn đọng  
lại trong sản phẩm thịt sau khi đã giết mổ  
(MRL)5. Ban Hội thẩm giải thích rằng, tuy  
Điều 3.1 Hiệp định SPS không định nghĩa  
rõ ràng từ “dựa trên” nhưng có thể hiểu mức  
độ bảo vệ của Điều 3.1 giống với mức độ  
quy định tại Điều 3.2 (“tuân thủ”- giống hệt  
tiêu chuẩn quốc tế). Do đó, nếu tiêu chuẩn  
của một quốc gia thành viên phản ánh mức  
Trong Vụ EC- Hormones, nguyên đơn là  
Canada kiện bị đơn là EC vì việc ra chỉ thị  
số 81/602/EEC cấm sử dụng các sản phẩm  
từ động vật có chứa các loại Hormones  
như: Trenbolone, Zeranol, Melengestrone  
Acetate (MGA), Oestradiol-17, Progesterol,  
Testosterone.TạiCanada, cácloạihormones  
này đều được sử dụng trong chăn nuôi, trừ  
MGA. Do đó, lệnh cấm của EC ảnh hưởng  
nghiêm trọng tới việc xuất khẩu thịt lợn  
sang nước này.  
Đối với các loại Hormones trong vụ  
tranh chấp này, CODEX cho rằng đối với  
3 loại Hormones tự nhiên là Oestradiol-17,  
Progesterol, Testosterone, việc thiết lập tiêu  
chuẩn ADI (Acceptable daily intake) và  
MRL (Maximum Residue Limit) là không  
cần thiết vì việc sử dụng những chất này  
3 WT/DS 48/ Panel/R, Đoạn 2.21  
4 WT/DS 48/ Panel/R, Đoạn 2.25  
5 WT/DS 48/ R/CAN, Đoạn 8.75  
18  
Số 06(430) - T3/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
độ bảo vệ khác với tiêu chuẩn quốc tế,  
không thể xem xét quốc gia ấy “dựa trên”  
tiêu chuẩn quốc tế theo Điều 3.16. Như vậy,  
có thể thấy Ban Hội thẩm khẳng định “dựa  
trên” nghĩa là đạt được cùng mức độ bảo  
vệ với tiêu chuẩn quốc tế7. Ban Hội thẩm  
sau đó kết luận EC đã không “dựa trên” tiêu  
chuẩn quốc tế theo Điều 3.1 vì đã áp dụng  
một mức độ bảo vệ khác so với tiêu chuẩn  
của CODEX.  
IPPC đưa ra mang tính tham khảo, Điều 3.1  
hướng đến tạo mặt bằng chung cho các tiêu  
chuẩn vệ sinh, kiểm dịch do các thành viên  
ban hành, nhưng không bắt buộc áp dụng  
tiêu chuẩn có mức bảo vệ giống hệt tiêu  
chuẩn quốc tế mà chỉ cần có mức độ bảo  
vệ tương đương, và trong vụ kiện này, cần  
phải đưa ra sự so sánh giữa tiêu chuẩn quốc  
tế và quy định của EC về 5 Hormones trong  
vụ tranh chấp. Cơ quan Phúc thẩm kết luận  
rằng, để áp dụng Điều 3.1, một thành viên  
có thể thiết lập tiêu chuẩn dựa trên một số  
yếu tố của tiêu chuẩn quốc tế mà không nhất  
thiết phải áp dụng tiêu chuẩn có mức bảo vệ  
bằng tiêu chuẩn quốc tế9 như kết luận của  
Ban Hội thẩm.  
Cơ quan phúc thẩm (Appellate Body -  
AB) trong vụ kiện này giải thích rằng, một  
tiêu chuẩn “dựa trên” khi nó được thiết lập,  
xây dựng trên nền tảng của một tiêu chuẩn  
khác và Cơ quan phúc thẩm không đồng ý  
với sự giải thích của Ban Hội thẩm rằng,  
Điều 3.1 và Điều 3.2 Hiệp định SPS được  
giải thích như nhau, nghĩa là phải có cùng  
mức độ bảo vệ như tiêu chuẩn quốc tế. Cơ  
quan phúc thẩm cho rằng, nếu giải thích như  
cách của Ban Hội thẩm, Hiệp định SPS sẽ  
xem việc tuân theo tất cả tiêu chuẩn, hướng  
dẫn và khuyến nghị quốc tế là ràng buộc đối  
với các thành viên, điều này không phải mục  
đích của quy định về hài hòa hóa (cơ quan  
phúc thẩm trích mục đích nêu tại Điều 3.1:  
“Để hài hòa các biện pháp vệ sinh động -  
thực vật trên cơ sở chung nhất có thể được”,  
và lời mở đầu của hiệp định “Mong muốn  
tiếp tục sử dụng các biện pháp vệ sinh động -  
thực vật hài hòa giữa các thành viên trên  
cơ sở các tiêu chuẩn, hướng dẫn và khuyến  
nghị quốc tế do các tổ chức quốc tế có liên  
quan xây dựng”8). Cơ quan phúc thẩm chỉ  
ra rằng, những tiêu chuẩn do CODEX, OIE,  
Như vậy, có thể thấy rằng, Điều 3.1 Hiệp  
định SPS không bắt buộc các thành viên áp  
dụng tiêu chuẩn quốc tế (giống hoàn toàn)  
mà có thể sử dụng tiêu chuẩn của quốc gia  
mình hoặc tiêu chuẩn khác có mức độ bảo  
vệ tương đương với tiêu chuẩn quốc tế.  
Quy định này của Hiệp định SPS là một  
quy định khá mở, hướng tới mục tiêu hài  
hòa hóa các tiêu chuẩn vệ sinh động thực  
vật nhưng không tạo áp lực quá lớn cho các  
thành viên khi áp dụng vì mỗi quốc gia có  
một điều kiện, hoàn cảnh khác nhau và có  
thể áp dụng những tiêu chuẩn khác trước  
khi tham gia vào WTO. Do đó, với mục tiêu  
hài hòa mà không tuyệt đối áp dụng các tiêu  
chuẩn vệ sinh động thực vật, WTO đã cho  
ra đời quy định về việc thành viên có thể  
“dựa trên” các tiêu chuẩn quốc tế để ban  
hành tiêu chuẩn cho quốc gia mình.  
6 WT/DS 48/ R/CAN, Đoạn 8.75  
7 WT/DS 48/ R/CAN, Đoạn 8.73  
8 WT/DS 26/ AB/R, Đoạn 165. Xem toàn văn phán quyết tại: https://docs.wto.org/dol2fe/Pages/FE_Search/  
FE_S_S006.aspx?DataSource=Cat&query=@Symbol=WT/DS26/AB/R&Language=English&Contex-  
t=ScriptedSearches&languageUIChanged=true, truy cập ngày 18/8/2020.  
9 WT/DS 26/ AB/R, Đoạn 171.  
Số 06(430) - T3/2021  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 66 trang Thùy Anh 14840 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 6 - Năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftap_chi_nghien_cuu_lap_phap_so_6_nam_2021.pdf