Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 6 - Năm 2021
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Số 06 (430)
Tháng 3/2021
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC VỚI VIỆC XÓA BỎ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH Ở VIỆT NAM
QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC TRONG ÂN GIẢM ÁN TỬ HÌNH VÀ ĐẶC XÁ
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHÀO BÁN TRÁI PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Số 06 (430)
Tháng 3/2021
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC VỚI VIỆC XÓA BỎ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH
QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC TRONG ÂN GIẢM ÁN TỬ HÌNH VÀ ĐẶC XÁ
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHÀO BÁN TRÁI PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP
Ở
VIỆT NAM
Mục lục Số 06/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Những thuận lợi và thách thức với việc xóa bỏ hình phạt tử
hình ở Việt Nam
3
PGS. TS. Vꢀ Công Giao – TS. Nguyꢁn Quang Đꢂc
Quyền của Chủ tịch nước trong ân giảm án tử hình và đặc xá
12
16
ThS. Lê Duy Tưꢃng
ꢀp dụng các tiêu chuẩn kiểm dịch động - thực vật theo WTO
và kiến nghị cho Việt Nam
ThS. Lê Minh Nhꢄt – ThS. Lê Thꢅ Thanh Bꢆnh
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi
phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức – bất cập
và hướng giải quyết
27
PGS. TS. Trꢇn Thăng Long - Nguyꢁn Văn Nhân
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Xử phạt vi phạm hành chính đối với hoạt động chào bán trái
phiếu của doanh nghiệp
35
42
49
TS. Phan Phương Nam
Điều kiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng trong
Luật Chứng khoán năm 2019
TS. Nguyꢁn Vinh Hưng
Quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của thành
viên công ty TNHH hai thành viên trở lên theo Luật Doanh
nghiệp năm 2020
ThS. Nguyꢁn Thꢅ Phương Hꢈ
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Giới hạn trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp trong
trường hợp tham vấn chuyên gia tại Việt Nam và một số
nước trên thế giới
53
58
Lê Ngꢉc Vân Nhi
Ảnh bꢆa:
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Hội đồng khoa học của UBTVQH tổng kết
nhiệm kỳ 2016 - 2021
Quyền tự do cư trú của công dân tại thành phố Hồ Chí Minh:
Những bất cập và giải pháp hoàn thiện
Ảnh: Anh Phương
ThS. Trꢇn Văn Điꢊp
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Số 06 (430)
Tháng 3/2021
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC VỚI VIỆC XÓA BỎ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH
QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC TRONG ÂN GIẢM ÁN TỬ HÌNH VÀ ĐẶC XÁ
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHÀO BÁN TRÁI PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP
Ở
VIỆT NAM
Legis No 6/2021
STATE AND LAW
Advantages and Challenges with the Abolition of Death
Penalty in Vietnam
3
Prof. Dr. Vu Cong Giao - Dr. Nguyen Quang Duc
Authority of the President in Parole and Special Amnesty to
the Death Penalty
12
16
LLM. Le Duy Tuong
Application of the Flora and Fauna Quarantine Standards of
WTO and Recommendations for Vietnam
LLM. Le Minh Nhut - LLM. Le Thi Thanh Binh
DISCUSSION OF BILLS
Recognition of Land Use Right Transfer Contracts with
Violation of the Provisions of Effective Conditions on Form:
Shortcomings and Recommended Solutions
27
Prof. Dr. Tran Thang Long - Nguyen Van Nhan
LEGAL PRACTICE
Sanctioning to Administrative Violations of Corporate Bond
Offering
35
42
49
Dr. Phan Phuong Nam
Conditions for Initial Public Offering under the Law on
Securities of 2019
Dr. Nguyen Vinh Hung
The Member's Right to Request the Company to Acquire the
Contributed Capital in Limited Liability Company with Two or
More Members under the Enterprise Law of 2020
LLM. Nguyen Thi Phuong Ha
FOREIGN EXPERIENCE
Limitation of the Liability of the Business Manager under the
case of Expert's Consultation in Vietnam and Foreign Countries
53
58
Le Ngoc Van Nhi
LOCAL GOVERNMENT ADMINISTRATION
Freedom of Residence of Citizens in Ho Chi Minh City:
Shortcomings and Recommended Solutions
PRICE: 25.000VND
LLM. Tran Van Diep
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC
VỚI VIỆC XÓA BỎ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH Ở VIỆT NAM
Vũ Công Giao*
Nguyễn Quang Đức**
*PGS.TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
**TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Giống như nhiều quốc gia khác, hình phạt tử hình đã được áp dụng từ lâu và hiện
vẫn đang được quy định trong pháp luật và thi hành trên thực tế ở Việt Nam.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, dân trí ngày càng cao và
xã hội ngày càng cởi mở hơn, Việt Nam trong tương lai vẫn sẽ theo xu hướng
giảm hình phạt tử hình trong pháp luật và giảm việc áp dụng hình phạt này trong
thực tế. Mặc dù vậy, đây sẽ không phải là một sự thay đổi nhanh chóng trong
thời gian ngắn, do vẫn còn nhiều lý do để duy trì hình phạt này. Trong phạm vi
bài viết này, các tác giả trình bày, phân tích những yếu tố tác động tích cực cũng
như tiêu cực đến việc xóa bỏ hình phạt tử hình ở Việt Nam và đồng thời đề xuất
những gợi mở nhằm thúc đẩy việc hạn chế, tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình ở
nước ta trong tương lai.
Từ khóa: Hình phạt tử hình, tội
phạm, quyền sống, Việt Nam.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 23/02/2021
: 07/3/2021
: 10/3/2021
Article Infomation:
Abstract:
Like many other countries, the death penalty has been used for a long time and is
still being regulated in law and practice in Vietnam. In the context of increasingly
deep and wide international integration, increasing people’s standings and open
society, Vietnam in the future will still follow the reduction trend of the death
penalty in law and reducing the application of the death penalty in practice. This
will not be a rapid change in the short term, though, as there are still plenty of
reasons to maintain this penalty. Within the scope of this article, the authors provide
an introduction and an analysis of the factors that both positively and negatively
impact the abolition of the death penalty in Vietnam and also propose suggestions
to speed up the deadline and proceed to abolish the death penalty in our country
in the future.
Keywords: Death penalty, crime,
right to life, Vietnam.
Article History:
Received
Edited
: 23 Feb. 2021
: 07 Mar. 2021
: 10 Mar. 2021
Approved
1. Khái quát lịch sử hình phạt tử hình ở
Việt Nam
nhất định, do vào thời Lý Phật giáo là quốc
giáo của Việt Nam.
Trong trường hợp Bộ Hình thư đã có quy
định hình phạt tử hình, điều đó có nghĩa là
hình phạt tử hình đã được thiết lập trong
luật thành văn của Việt Nam kể từ thời Lý2.
Tiếp sau thời Lý là triều đại nhà Trần. Thời
Trần, hệ thống văn bản pháp luật bao gồm
bộ “Quốc Triều Thông chế”3 và bộ “Hoàng
Pháp luật thành văn của Việt Nam có
thể xem là bắt đầu với Bộ Hình thư thời Lý
(1042)1. Bộ luật này hiện đã thất truyền; bởi
vậy, có ý kiến cho rằng nó bao gồm các quy
định về hình phạt tử hình, trong khi ý kiến
khác cho rằng, thời kỳ này hình phạt tử hình
không được áp dụng, ít nhất ở một giai đoạn
1 Được cho là gồm ba quyển, do vua Lý Thái Tông cho biên soạn vào năm 1042.
2 Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Những điều cần biết về hình phạt tử hình (sách chuyên khảo),
Nxb. Lao động Xã hội, Hà Nội, tr. 212-213.
3 Do vua Trần Thái Tông cho biên soạn vào năm 1230, gồm 20 quyển.
Số 06(430) - T3/2021
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Triều Đại điển”4. Cả hai bộ luật này đều có
quy định hình phạt tử hình. Thời (Hậu) Lê có
một bộ luật nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam
mà còn trên thế giới, đó là bộ “Quốc Triều
Hình luật” (còn gọi là “Bộ luật Hồng Đức”)
năm 14835. Mặc dù chứa đựng nhiều quy
định mang tính nhân đạo sâu sắc, song Bộ
luật Hồng Đức cũng bao gồm các quy định
về hình phạt tử hình. Thời Nguyễn, bộ luật
nổi tiếng là “Hoàng Việt Luật lệ” (còn gọi là
“Bộ luật Gia Long”) năm 18156. Đây có thể
coi là bộ luật cuối cùng của chế độ phong
kiến ở Việt Nam và tương tự như các bộ luật
ở các triều đại trước, nó cũng bao gồm các
quy định về hình phạt tử hình.
một người để răn đe trăm người), hoặc “dùng
hình kỳ vu vô hình” (quy định hình phạt để
không cần dùng đến hình phạt)8.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945,
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được
thành lập. Những văn bản pháp luật đầu tiên
xác lập nền tảng cho nền tư pháp của Nhà
nước Việt Nam mới là loạt Sắc lệnh số 33
ngày 13/9/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh9.
Trong đó, Sắc lệnh số 33C quy định các Tòa
án quân sự có quyền tuyên án và thi hành án
những người có những hành động phương hại
đến nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa (trừ những phạm nhân là binh sĩ thì
xử theo quân luật) với các loại hình phạt khác
nhau, trong đó cao nhất là hình phạt tử hình.
Nhìn chung, các bộ luật thời phong kiến
kể trên đều theo hệ thống ngũ hình: xuy (hình
phạt đánh bằng roi), trượng (hình phạt đánh
bằng gậy), đồ (hình phạt bắt lao động khổ
sai), lưu (hình phạt bắt đi đày), tử (hình phạt
tử hình). Hệ thống những tội phạm có thể bị
kết án tử hình ở các triều đại khác nhau có sự
khác nhau, song nhìn chung, số tội phạm có
thể bị áp dụng hình phạt này là lớn; trong đó,
có một số loại tội phạm mà bộ luật nào cũng
quy định hình phạt tử hình như tội giết người,
tội phản nghịch, tội nhận hối lộ, tội tham ô,
v.v... Nhiều biện pháp thi hành án tử hình
có tính chất tàn bạo hoặc báo thù tàn khốc
như “chu di tam tộc”, “tùng xẻo”7, “phanh
thây”, “băm xác”, “đáo mã”, v.v... theo các
phương châm “dục phạt bất nhi bách” (phạt
Tiếp theo những văn bản pháp luật trên,
trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985,
vấn đề hình phạt tử hình còn được quy định
trong nhiều văn bản pháp luật khác của Nhà
nước, bao gồm các sắc lệnh, luật, pháp lệnh,
thông tư10. Nghiên cứu các văn bản này, có
thể rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, thời kỳ này, do các hoàn cảnh
của đất nước nên công tác lập pháp, lập quy
chưa có điều kiện phát triển và hoàn thiện, vì
thế chưa có văn bản nào quy định riêng về
hình phạt tử hình cũng như về hệ thống hình
phạt nói chung. Hình phạt tử hình được đề
cập rải rác trong nhiều văn bản pháp luật ban
hành vào những năm khác nhau.
4 Do vua Trần Dụ Tông cho biên soạn vào năm 1341.
5
Do vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức, cho biên soạn vào năm 1483, gồm sáu Quyển, 13 Chương,
722 Điều.
6 Do vua Gia Long cho biên soạn vào năm 1815, gồm 22 Quyển, 398 Điều.
7 Còn được gọi là “Lăng trì”.
8 Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), tlđd, tr. 214.
9 Bao gồm Sắc lệnh số 33A cho phép Ty liêm phóng bắt những người nguy hiểm cho nền dân chủ cộng hòa
Việt Nam để đưa đi an trí; Sắc lệnh số 33B định thể lệ cho Ty Liêm phóng và Sở cảnh sát theo mỗi khi bắt
người nào; Sắc lệnh số 33C thiết lập các Tòa án quân sự; Sắc lệnh số 33Đ định thể lệ phóng thích các tội nhân
bị kết án trước ngày 19/8/1945.
10 Xem chi tiết trong: Phạm Văn Lợi (chủ biên), Một số vấn đề về hình phạt tử hình và thi hành án tử hình,
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2006, tr. 36‐38.
4
Số 06(430) - T3/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Thứ hai, hình phạt tử hình ở thời kỳ này
chịu ảnh hưởng bởi tình trạng chiến tranh
nên nặng về mục đích trừng trị, được gắn
với nhiều tội phạm về an ninh quốc gia11
và chưa phân biệt rõ ràng với việc xử phạt
hành chính.
được sửa đổi vào năm 2009, trong đó bỏ
hình phạt tử hình với tám (08) điều13.
Việc sửa đổi nêu trên bắt nguồn từ chủ
trương hạn chế hình phạt tử hình theo tinh
thần của Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong
thời gian tới (Nghị quyết số 08/NQ-TW).
Theo đó, Nghị quyết số 49/NQ-TW đã khẳng
định việc “hạn chế áp dụng hình phạt tử hình
theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít
loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Chủ
trương này đã được thực hiện từ năm 2009
khi sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1999 và tiếp
tục được thực hiện khi xây dựng và ban hành
BLHS năm 2015.
Thứ ba, về thủ tục, ở thời kỳ này đã áp
dụng thủ tục xem xét lại bản án tử hình.
Theo Luật (không số) ngày 14/7/1960 về tổ
chức Tòa án nhân dân, các bản án tử hình
phải được Hội đồng toàn thể thẩm phán của
Tòa án nhân dân tối cao duyệt lại trước khi
thi hành, trong đó phải có 2/3 tổng số thẩm
phán của Tòa án nhân dân tối cao tham dự và
quá nửa số thẩm phán tham dự tán thành thì
Nghị quyết mới có giá trị12.
Bộ luật Hình sự (BLHS) đầu tiên được
ban hành ở Việt Nam vào năm 1985, sau đó
được sửa đổi, bổ sung một số điều các năm
1989, 1991, 1992, 1997. Trong phần các tội
phạm của BLHS năm 1985, hình phạt tử
hình được quy định với 29 điều trong tổng
số 195 điều luật về tội phạm. Tuy nhiên, qua
4 lần sửa đổi, đến năm 1997, số điều luật
quy định hình phạt tử hình trong BLHS năm
1985 đã tăng lên thành 44 điều trong tổng số
216 điều. Sự gia tăng này phản ánh đường
lối phòng, chống tội phạm theo hướng ngày
càng nghiêm khắc hơn trong giai đoạn 1985
- 1997 ở Việt Nam.
BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều năm 2017 tiếp tục bỏ án
tử hình ở tám (08) tội danh khác, đồng thời
quy định người dưới 18 tuổi khi phạm tội,
phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36
tháng tuổi, người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm
tội hoặc khi xét xử không bị áp dụng hình
phạt tử hình. Tổng cộng, số lượng tội phạm
áp dụng hình phạt tử hình trong BLHS năm
2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
năm 2017 là 18/314 tội danh.
2. Những yếu tố thuận lợi với việc xóa bỏ
hình phạt tử hình ở Việt Nam
2.1. Xu hướng xóa bỏ hình phạt tử hình
trên thế giới
BLHS năm 1999 được Quốc hội thông
qua ngày 21/12/1999 để thay thế cho BLHS
năm 1985, gồm 24 chương với nhiều điều,
trong đó có 29 điều có khung hình phạt cao
nhất là tử hình. Tuy nhiên, Bộ luật này đã
Trong 50 năm qua, xu hướng xóa bỏ hình
phạt tử hình đã tăng đáng kể. Khi Tuyên ngôn
toàn cầu về quyền con người được thông qua
11 Chẳng hạn các tội như: tội gián điệp; tội bạo loạn; tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; tội hoạt động phỉ; tội theo
địch hoặc vì mục đích phản cách mạng mà trốn ra nước ngoài; tội giết người, đánh người gây thương tích, bắt
giữ người, dọa giết người vì mục đích phản cách mạng; tội phá hoại; tội chống lại hoặc phá hoại việc thực hiện
các chính sách và pháp luật của Nhà nước, v.v...
12 Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), tlđd, tr. 217-218.
13 Bao gồm: Tội hiếp dâm (Điều 111); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139); Tội buôn lậu (Điều 153); Tội
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180); Tội tổ chức, sử dụng trái
phép chất ma túy (Điều 197); Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy (Điều 221); Tội đưa hối lộ (Điều 289); Tội hủy
hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 334).
Số 06(430) - T3/2021
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
vào năm 1948, chỉ có 8 quốc gia đã bãi bỏ
hình phạt tử hình, và khi Công ước quốc tế về
các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) được
Đại Hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) thông
qua vào năm 1966, số quốc gia như vậy mới
chỉ là 26 nước. Tuy nhiên, trong chưa đầy 50
năm qua, số quốc gia bãi bỏ hình phạt tử hình
đã đi từ thiểu số tới đa số áp đảo14. Theo Tổ
chức Ân xá quốc tế, ở thời điểm kết thúc năm
2018 có 106 quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử
hình với mọi tội phạm, 8 quốc gia đã xóa bỏ
hình phạt tử hình với những tội phạm thông
thường, 28 quốc gia tuy chưa xóa bỏ hình
phạt tử hình trong pháp luật nhưng thực tế
không áp dụng. Như vậy, tổng số quốc gia
xóa bỏ hình phạt tử hình trong pháp luật và
trong thực tế là 142 nước, chỉ còn 56 nước
vẫn đang duy trì hình phạt tử hình và áp dụng
hình phạt đó trong thực tế15.
nhân dân tối cao, dẫn đến việc giảm số lượng
các tội danh chịu án tử hình từ năm 2011.
Mặc dù Trung Quốc không công bố số liệu
về việc áp dụng án tử hình, song qua nhiều
nguồn thống kê hợp pháp cho thấy, số lượng
những người bị xử tử hình đã giảm ít nhất
một nửa kể từ năm 2007. Quan điểm ủng
hộ việc xóa bỏ hình phạt tử hình cũng ngày
càng phổ biến ở Trung Quốc. Ví dụ, giáo
sư Zhao Bingzhi của Đại học Sư phạm Bắc
Kinh khẳng định: “Việc xóa bỏ án tử hình
là một xu hướng tất yếu cũng như một dấu
hiệu cho thấy lối tư duy khoáng đạt của các
quốc gia văn minh (the broad-mindedness of
civilized countries) […] Xóa bỏ án tử hình
giờ đây là một yêu cầu quốc tế bắt buộc”17.
Hiện nay, việc xóa bỏ hình phạt tử hình
và khuyến khích bãi bỏ hình phạt tử hình đã
trở thành một phong trào mang tính toàn cầu.
Các tổ chức quốc tế như LHQ đã có nhiều
sáng kiến ủng hộ xu hướng này18. Một số
quốc gia khác cũng đã đưa vấn đề tạm ngừng
áp dụng và bãi bỏ hình phạt tử hình vào trong
chính sách đối ngoại của mình, như Úc đã
thông qua chiến lược và kế hoạch hành động
để tiến hành các chiến dịch về tạm ngừng áp
dụng và bãi bỏ hình phạt tử hình19; Bộ Ngoại
giao Thụy Sĩ đã thông qua Kế hoạch hành
động về bãi bỏ tử hình trên phạm vi toàn cầu
giai đoạn 2017 - 201920, trong khi đó Chính
Ở châu Á, quốc gia được cho là thi hành
án tử hình nhiều nhất là Trung Quốc cũng
đã thay đổi. Năm 2007, đoàn đại biểu Trung
Quốc tại Hội đồng Nhân quyền LHQ đã
tuyên bố: “Phạm vi áp dụng án tử hình sẽ
sớm được cân nhắc lại […] với mục tiêu
là xóa bỏ hình phạt này”16. Cùng năm đó,
Trung Quốc đã tiến hành xem xét lại tất cả
các bản án tử hình được thi hành ngay lập
tức bởi Tòa án nhân dân cấp tỉnh (được trao
quyền trong thời gian diễn ra các chiến dịch
“thanh trừng” từ những năm 1980) và Tòa án
14 Penal Reform International (2011), International trends toward abolition Death Penalty Information Pack, Link: http://
15 Amnesty, Abolitionist and retentionist countries as of july 2018, https://www.amnesty.org/download/Docu-
ments/ACT5066652017ENGLISH.pdf.
16 Dẫn lại: Roger Hood, “Xóa bỏ hình phạt tử hình - một yêu cầu cấp thiết về nhân quyền”, tlđd, tr. 21.
17 Dẫn lại: Roger Hood, “Xóa bỏ hình phạt tử hình - một yêu cầu cấp thiết về nhân quyền”, tlđd, tr. 21.
18 Cao ủy Quyền con người của Liên hợp quốc, Xóa bỏ án tử hình - những bài học từ kinh nghiệm quốc gia,
truy cập lần cuối ngày 25/01/2021.
19 Nguyễn Thị Thanh Hải, Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Minh Khuê (2019), tlđd, tr. 6.
20 Xem: Bộ Ngoại giao Thụy Sĩ, Kế hoạch hành động FDFA bãi bỏ toàn cầu án tử hình, 2017–2019, https://
aktionsplan-todesstrafe-2017-19_EN.pdf, truy cập lần cuối ngày 25/01/2021.
6
Số 06(430) - T3/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
phủ Anh cũng có chiến lược bãi bỏ tử hình
trong giai đoạn 2011- 201521.
là một bước quan trọng trong nỗ lực quốc tế
tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình.
Những vận động nêu trên dựa trên quy
định về việc hạn chế và giới hạn áp dụng hình
phạt tử hình theo luật quốc tế. Cụ thể, Điều
6(2) Công ước quốc tế về các Quyền dân sự,
chính trị (ICCPR) quy định: “Ở những nước
mà hình phạt tử hình chưa được xóa bỏ thì chỉ
được phép áp dụng đối với những tội phạm
nghiêm trọng nhất, phù hợp với luật pháp
hiện hành tại thời điểm tội phạm được thực
hiện và không trái với những quy định của
Công ước này…”. Ngoài ra, còn có các hạn
chế và giới hạn về hình phạt tử hình được quy
định tại một loạt các hiệp định và văn kiện
quốc tế khác, như Công ước về Quyền trẻ em
(CRC) và Các quy định bảo đảm nhằm bảo
vệ quyền của những người đối mặt với án tử
hình (thông qua theo Nghị quyết số 1984/50
của ECOSOC của LHQ vào năm 1984).
Trong bối cảnh quốc tế kể trên, Việt Nam
giữ lập trường “trung lập”22 nhưng tiến dần
đến việc xóa bỏ án tử hình, thể hiện qua việc
tại phiên Kiểm định định kỳ phổ quát về nhân
quyền năm 2019, đại diện của Việt Nam cho
biết: “Việt Nam còn duy trì án tử hình nhưng
chỉ áp dụng đối với các tội đặc biệt nghiêm
trọng” và Việt Nam “cũng đang xem xét gia
nhập nghị định thư bổ sung Công ước về
Quyền dân sự, chính trị để tiến tới xem xét
bãi bỏ án tử hình”23.
2.2. Vận động của các cơ quan nhân
quyền Liên hợp quốc và Liên minh châu Âu
Năm 2005, Ủy ban Nhân quyền của LHQ
đã yêu cầu các quốc gia còn duy trì hình
phạt tử hình “bãi bỏ hoàn toàn hình phạt tử
hình và, trong thời điểm hiện tại, thực hiện
việc hoãn thi hành”24. Tháng 12/2007, Đại
hội đồng LHQ đã thông qua một nghị quyết
mang tính bước ngoặt, trong đó kêu gọi các
quốc gia hoãn áp dụng hình phạt tử hình và
tái khẳng định cam kết của LHQ đối với việc
bãi bỏ hình phạt tử hình. Nghị quyết được
thông qua với 104 quốc gia ủng hộ, 54 quốc
gia chống và 29 quốc gia bỏ phiếu trắng.
Trong năm 2008 và 2010, Đại hội đồng LHQ
thông qua các nghị quyết lần thứ hai và thứ
ba tái khẳng định việc kêu gọi hoãn áp dụng
hình phạt tử hình. Các nghị quyết này phản
ánh xu hướng ở cấp độ quốc tế, được xem
Châu Âu hiện đóng vai trò dẫn đầu toàn
cầu về nỗ lực xóa bỏ hình phạt tử hình25. Liên
minh châu Âu (EU) rất tích cực vận động xóa
bỏ hình phạt tử hình thông qua các mối quan
hệ song phương và đa phương với tất cả các
các quốc gia mà còn đang duy trì hình phạt
này. Điều này bắt nguồn từ việc Tòa án nhân
quyền châu Âu (ECtHR) xem hình phạt tử
hình là sự vi phạm quyền con người. Cụ thể,
trong Phán quyết năm 2010 về vụ Al-Saadoon
và Mufdhi kiện Vương quốc Anh, ECtHR đã
dựa trên Điều 2 Công ước châu Âu về Quyền
con người (quyền được sống) để lý giải nghĩa
21 Xem: Bộ Ngoại giaoAnh, Chiến lược HMG xóa bỏ án tử hình giai đoạn 2010-2015, https://assets.publishing.
service.gov.uk/government/uploads/system/uploads/attachment_data/file/35448/death-penalty-strategy-
oct-11-15.pdf, truy cập lần cuối ngày 25/01/2021.
22 Trong các kỳ họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc, Việt Nam không phản đối, song đã bỏ phiếu trắng đối với
cả 4 nghị quyết được đưa ra từ năm 2007 đến năm 2012 (mà được sự ủng hộ của đa số các quốc gia), trong đó
kêu gọi đình chỉ tạm thời (moratorium) việc áp dụng và thi hành án tử hình trên toàn thế giới.
23 Báo cáo Quốc gia về thực hiện quyền con người tại phiên kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân quyền trước
Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, tlđd.
24 Penal Reform International (2011), tlđd, truy cập lần cuối ngày 22/01/2021.
25 Hội đồng Nghị viện của Tổ chức An ninh và Hợp tác ở châu Âu (OSCE) thông qua nghị quyết vào năm 2009
kêu gọi các quốc gia thành viên còn duy trì hình phạt tử hình ra tuyên bố hoãn ngay lập tức thi hành án tử hình.
Số 06(430) - T3/2021
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
vụ không được trục xuất hoặc dẫn độ người
phạm tội về quốc gia mà họ đang phải đối
mặt với án tử hình. Bản hướng dẫn của EU
về hình phạt tử hình (thông qua vào 1998) là
công cụ cho EU trong cuộc chiến chống lại
hình phạt tử hình và đặt ra các tiêu chuẩn tối
thiểu trong việc áp dụng hình phạt tử hình26.
hình phạt tử hình, trong đó bao gồm29: 1) Hình
phạt tử hình không có tác dụng bảo vệ một
cách hiệu quả giá trị tính mạng của con người;
2) Tất cả các hệ thống tư pháp hình sự đều tồn
tại những vấn đề và khả năng sai sót, không
có hệ thống nào có thể tự cho là hoàn thiện, vì
vậy, nguy cơ người vô tội bị kết án tử hình và
bị tước bỏ tính mạng là sai lầm không thể lấy
lại được; 3) Tính chất tàn bạo của hình phạt tử
hình là không thể chấp nhận; 4) Việc áp dụng
hình phạt tử hình có nguy cơ bất công và phân
biệt đối xử trong tố tụng hình sự; 5) Do tính
chất tàn khốc của hình phạt tử hình nên việc
áp dụng hình phạt này là trái với những giá
trị đạo đức, đặc biệt là làm tổn hại lòng nhân
đạo và sự khoan dung - những giá trị đạo đức
cơ bản mà tất cả các xã hội đều cần phải vun
đắp nên; 6) Tử hình trái với nguyên tắc khoan
dung - nhân đạo trong hoạt động tư pháp; 7)
Vấn đề hiệu quả phòng ngừa của hình phạt tử
hình cần phải bàn xét lại vì không có chứng
cứ nào cho thấy hiệu quả vượt trội của hình
phạt tử hình trong việc ngăn ngừa tội phạm
(thậm chí trong một số trường hợp việc áp
dụng hình phạt tử hình còn làm cho tình hình
tội phạm trở nên nghiêm trọng hơn; 8) Tính
vô nghĩa và luẩn quẩn của hình phạt tử hình
(Ví dụ: Một người bị kết án tử hình về tội giết
người không những không giúp lấy lại được
tính mạng của nạn nhân mà còn gây thêm cái
chết cho một người nữa); 9) Chi phí cho việc
thi hành hình phạt tử hình trong thực tế là rất
tốn kém; 10) Hình phạt tử hình có nguy cơ
vi phạm các chuẩn mực chung của pháp luật
quốc tế về quyền con người và 11) Hình phạt
tử hình trái với tinh thần nhân đạo - khoan
dung của tôn giáo.
Đối với trường hợp của Việt Nam, từ
nhiều năm nay, EU đã vận động Việt Nam
tạm hoãn áp dụng án tử hình, coi đây là một
bước đầu tiên hướng tới việc bãi bỏ. Vận
động mạnh mẽ nhất là qua Hiệp định thương
mại EVFTA, EU cho rằng, Việt Nam muốn
có một quan hệ bình đẳng với EU thì cần tôn
trọng những tôn chỉ của EU, trong đó bao
gồm việc không áp dụng án tử hình27.
2.3. Sự ủng hộ của giới học thuật và của
xã hội
Mặc dù mới có ít nghiên cứu về vấn đề
này, song giới học thuật ở Việt Nam nhìn
chung ủng hộ chủ trương giảm và xóa bỏ
hình phạt tử hình. Nhiều nhà nghiên cứu đề
nghị giảm và loại bỏ hình phạt tử hình xuất
phát từ quan điểm cho rằng28: 1) Tử hình là
hình phạt trái với nguyên tắc nhân đạo trong
luật hình sự; 2) Bãi bỏ hình phạt tử hình sẽ
góp phần đưa giá trị nhân đạo và nguyên tắc
nhân đạo vào cuộc sống; 3) Trong điều kiện
toàn cầu hóa hiện nay, nhiều giá trị nhân đạo,
trong đó bao gồm xóa bỏ hình phạt tử hình,
đã mang tính toàn cầu bắt buộc chung và 4)
Các quốc gia đang duy trì hay tái áp dụng
hình phạt tử hình đều cố gắng giảm đến mức
tối đa hình phạt này.
Bên cạnh đó, các học giả Việt Nam cũng
nêu ra những lý do khác để đề nghị loại bỏ
26 Penal Reform International (2011), tlđd, truy cập lần cuối ngày 22/01/2021.
27
vietnam-54238069, truy cập lần cuối ngày 31/01/2021.
28
Xem: Báo cáo của Hồ Sỹ Sơn trong Tập tài liệu tại Hội thảo khoa học với chủ đề “Vấn đề giới hạn hình
phạt tử hình trong một số tội phạm tại Việt Nam”. Dẫn lại: Lê Văn Cảm, Nguyễn Thị Lan (2014), tlđd, tr. 3.
29 Xem: Hội luật gia Việt Nam (2008), Hình phạt tử hình trong luật quốc tế (Sách tham khảo), Nxb. Hồng Đức,
Hà Nội, tr. 37 - 41.
8
Số 06(430) - T3/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Tháng 12/2018, trong một cuộc hội thảo
tham vấn về chủ đề “Khả năng của Việt Nam
gia nhập Nghị định thư tùy chọn thứ hai về
bãi bỏ hình phạt tử hình theo Công ước về
Quyền dân sự, chính trị” đã được tổ chức tại
thành phố Đà Nẵng,30 đa số người tham gia
hội thảo cho rằng, việc duy trì hình phạt tử
hình là biện pháp mạnh mẽ nhất và hiệu quả
nhất để phòng, chống một số loại tội phạm
nghiêm trọng (ví dụ: tội xâm phạm an ninh
quốc gia, tội phạm mang tính bạo lực, tội
phạm ma túy), song cũng đồng tình với sự
cần thiết nghiên cứu các biện pháp thay thế
hình phạt tử hình và hạn chế dần việc sử dụng
hình phạt này31.
chung những tác giả ủng hộ việc tiếp tục duy
trì hình phạt tử hình ở Việt Nam dựa trên quan
điểm cho rằng, hình phạt này có tác dụng răn
đe vượt trội, vì thế việc duy trì nó là cần thiết
do tình hình tội phạm đang diễn ra phức tạp32.
Đây cũng là quan điểm chính thức của đoàn
Việt Nam nêu ra với LHQ33.
Bên cạnh đó, một số tác giả còn cho rằng,
việc duy trì hình phạt tử hình: 1) Sẽ bảo đảm
nguyên tắc công bằng trong luật hình sự; 2)
Góp phần nâng cao phẩm giá của con người;
đảm bảo chất lượng cuộc sống và đảm bảo
an toàn xã hội; 3) Không trái với nguyên
tắc nhân đạo, không trái với luật quốc tế và
không vi phạm nhân quyền; 4) Hiện nay, việc
xóa bỏ hình phạt tử hình chưa phải là xu thế
chung của toàn thế giới;34 5) Hình phạt tử
hình góp phần đem lại công lý cho nạn nhân
của tội phạm; 6) Hành quyết phạm nhân bị
tử hình sẽ đỡ tốn kém hơn việc giam giữ họ;
7) Tử hình sẽ “nhân đạo” hơn vì “việc giam
cầm cả đời hoặc trong thời gian dài trong nhà
tù còn gây đau khổ hơn” cho người bị kết án;
8) Xóa bỏ hình phạt tử hình là trái với đạo
lý tôn giáo và 9) Công luận trong nước của
hầu hết các quốc gia vẫn ủng hộ việc áp dụng
hình phạt tử hình35.
3. Những yếu tố gây trở ngại với việc xóa
bỏ hình phạt tử hình ở Việt Nam
3.1. Hiểu biết thiếu chính xác về tác
dụng của hình phạt tử hình
Bên cạnh những quan điểm ủng hộ việc
xóa bỏ, ở Việt Nam đồng thời có quan điểm
muốn duy trì hình phạt tử hình mà phần lớn
dựa trên những hiểu biết thiếu chính xác về
tác dụng của hình phạt này.
Phân tích các xuất bản phẩm trong sách
báo pháp lý hình sự ở Việt Nam (trong hai
thập niên đầu của thế kỷ 21) cho thấy, nói
30 Hội thảo tổ chức ngày 17/12/2018 tại thành phố Đà Nẵng trong khuôn khổ Chương trình Tăng cường pháp
luật và tư pháp tại Việt Nam (EU JULE).
31 Nguyễn Thị Thanh Hải, Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Minh Khuê (2019), tlđd, tr. 34-35.
32 Xem thêm: Trịnh Quốc Toản (2012), “Chế định hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam và một số kiến
nghị hoàn thiện”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN - chuyên san Luật học, Tập 30, Số 1, tr.30-41. Trong bài báo
này, tác giả cho rằng ở Việt Nam hình phạt tử hình vẫn là cần thiết và cần phải có nhằm trừng trị những người
phạm tội đặc biệt nghiêm trọng để giữ nghiêm kỷ cương phép nước, bảo đảm cho an ninh và trật tự an toàn
xã hội, tức là loại hình phạt này vẫn có tác dụng tốt trong việc ngăn ngừa tội phạm và bảo vệ hữu hiệu lợi ích
công cộng (tr. 36).
33 Báo cáo Quốc gia của Việt Nam về Thực hiện quyền con người tại phiên kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân
quyền trước Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, tlđd, nêu ra các lý do về văn hóa, con người của việc duy trì
án tử hình, và khẳng định “đây là biện pháp cần thiết để ngăn ngừa những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.
34 Võ Khánh Vinh, Nguyễn Mạnh Kháng, Phạm Văn Tỉnh (2008), Vấn đề giới hạn hình phạt tử hình trong một
số tội phạm tại Việt Nam, Hội thảo khoa học do Viện Nhà nước và Pháp luật (Viện KHXH Việt Nam) phối hợp
với Viện Konrad-Adenauar-Stiftung tổ chức, ngày 23 - 24/12/2008 tại Hà Nội; Phạm Văn Beo (2010), Hình
phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam (Sách tham khảo), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 210.
35 Hội Luật gia Việt Nam (2008), tlđd, tr. 22-35.
Số 06(430) - T3/2021
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Về phía công chúng và những người
làm việc thực tiễn, kết quả phỏng vấn cho
thấy36, hầu hết các ý kiến được hỏi cũng
cho rằng, hiện nay chưa phải là thời điểm
thích hợp để bãi bỏ hoàn toàn hình phạt tử
hình ở Việt Nam do tình hình tội phạm vẫn
còn diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia
tăng cả về số lượng lẫn tính chất, mức độ
nguy hiểm. Nhiều người có quan điểm rằng,
hình phạt tử hình với tính cách là biện pháp
phòng ngừa và là con đường để nâng cao
ý thức cộng đồng về hậu quả nặng nề của
việc phạm tội. Hiện tại chưa có hình phạt
thay thế nào với tính cách là một biện pháp
thật hữu hiệu, đủ sức răn đe, phòng ngừa
tội phạm để thay thế hình phạt tử hình. Tuy
nhiên, các ý kiến cũng nhất trí rằng, hình
phạt tử hình tước đi quyền sống - quyền
quan trọng nhất của con người. Do vậy, cần
từng bước thu hẹp phạm vi áp dụng hình
phạt tử hình và tiến tới xóa bỏ hình phạt này
trong tương lai.
hỏi và cách thức tổ chức các cuộc thăm dò ý
kiến dư luận về hình phạt tử hình chưa hợp
lý (thường bỏ qua những tác động tiêu cực
của hình phạt này)37.
3.2. Tâm lý báo thù
Hình phạt tử hình ngay từ khi xuất hiện
đã mang trong mình tính chất trả thù đối với
người phạm tội, trước khi nó được “gán” cho
các mục đích ngăn chặn, răn đe tội phạm,
phòng ngừa riêng, phòng ngừa chung, …
Lúc đầu đó là sự trả thù giữa các cá nhân,
còn khi xã hội phát triển thì sự trả thù đó
được thông qua nhà nước với vai trò thiết
lập lại trật tự, công bằng xã hội. Hình phạt tử
hình đồng thời mang ý nghĩa an ủi nỗi đau,
vuốt ve lòng hận thù của người bị hại hoặc
thân nhân người bị hại (mặc dù đây không
phải là suy nghĩ của tất cả những người bị
hại hoặc thân nhân người bị hại). Những lập
luận như vậy về hình phạt tử hình từ lâu đã
được các xã hội xem là hợp tình, hợp lý, vì
thế hình phạt này tồn tại như một lẽ đương
nhiên. Nói cách khác, việc duy trì hình phạt
tử hình có nguồn gốc từ nhận thức, văn hóa
của con người, vì thế, chỉ khi nào nhận thức
về nó thay đổi thì hình phạt này mới bị loại
bỏ một cách triệt để.
Từ những phân tích ở trên, có thể thấy
tâm lý ủng hộ việc duy trì hình phạt tử hình
còn khá phổ biến ở Việt Nam. Điều này
tương tự như ở nhiều quốc gia khác. Ngay
cả ở những nước mà đã bãi bỏ hình phạt tử
hình thì tại thời điểm bãi bỏ và sau khi bãi
bỏ, qua thăm dò dư luận cho thấy tỷ lệ dân
chúng ủng hộ việc duy trì hình phạt này vẫn
cao hơn tỷ lệ phản đối.
Văn hóa được hình thành do sự tác động
của nhiều thành tố; trong đó, tồn tại xã hội
giữ vai trò quyết định đến trình độ của nền
văn hóa, thể hiện tính nhân văn, nhân đạo,
xóa bỏ lòng hận thù ở mỗi con người. Nền
văn hoá của Việt Nam hàm chứa nhiều giá
trị nhân văn, nhân đạo cao cả; tuy nhiên,
cũng như nhiều nền văn hóa khác, nó vẫn
có chỗ cho tâm lý báo thù. Giống như nhiều
dân tộc khác, người Việt Nam thường biện
minh cho việc áp dụng án tử hình trên cơ sở
Song cũng cần thấy rằng, kết quả thăm
dò dư luận không phải lúc nào cũng phản
ánh đúng thực chất của vấn đề, thậm chí
còn làm trầm trọng thêm định kiến hay
nhận thức thiếu chính xác của xã hội về vấn
đề. Một số công trình nghiên cứu đã cho
thấy, kết quả nêu trên ở các quốc gia, cũng
như ở Việt Nam, có thể là do nội dung câu
36 Nguyễn Thị Thanh Hải, Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Minh Khuê (2019), tlđd, tr. 43.
37 Tham khảo: Penal Reform International (2011), tlđd, truy cập lần cuối ngày 22/01/2021.
10
Số 06(430) - T3/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
“chủ nghĩa trừng phạt” (retributivism), thể
hiện qua quan điểm “lấy mạng đền mạng”
(a life for a life), mà đã ăn sâu cả vào văn
học dân gian của Việt Nam. Dấu ấn của
tâm lý báo thù trong văn hóa hiện nay vẫn
còn thể hiện qua nhận thức của người dân
Việt Nam về hình phạt tử hình. Theo Dự án
“Khảo sát tác động ngăn ngừa của một số
hình phạt trong BLHS Việt Nam năm 1999”
được tiến hành bởi nhóm chuyên gia Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy,
đa phần người dân coi việc có hình phạt tử
hình trong cơ cấu của hệ thống hình phạt
là một lẽ đương nhiên mà thiếu nó là sự
trống vắng, sự không công bằng của pháp
luật. Với 04 câu hỏi: (1) Xóa bỏ hình phạt
tử hình trong hệ thống hình phạt; (2) Duy
trì hình phạt tử hình; (3) Hạn chế áp dụng
hình phạt tử hình; (4) ý kiến khác thì tỷ lệ
tương ứng trong tổng số những người tham
gia trả lời là: 37,82% (222 người); 5,96%
(35 người); 51,96% (305 người); 4,26%
(25 người), nếu cộng tỷ lệ câu hỏi (2) + (3)
của những người đồng tình với việc duy trì
hình phạt tử hình là 57,92 sẽ cao hơn tỷ lệ
37,82% của những người ủng hộ quan điểm
loại bỏ hình phạt này38.
Mặc dù Việt Nam hiện nay vẫn thuộc về
những quốc gia duy trì hình phạt tử hình
trong pháp luật, nhưng số lượng tội danh có
thể bị kết án tử hình trong BLHS đã giảm liên
tục kể từ năm 1999. Điều đó cho thấy, Việt
Nam đang đi theo xu hướng chung của thế
giới là giảm bớt hình phạt này. Tuy nhiên, ở
Việt Nam, số lượng tội danh bị kết án tử hình
trong BLHS còn nhiều và số người bị kết án
tử hình và bị hành quyết (thống kê qua các
nguồn hợp pháp và công khai) còn cao so với
nhiều nước trên thế giới.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng, dân trí ngày càng cao và xã
hội ngày càng cởi mở hơn, trong tương lai,
Việt Nam vẫn sẽ theo xu hướng giảm hình
phạt tử hình trong pháp luật và giảm việc áp
dụng hình phạt này trong thực tế. Mặc dù vậy,
đây sẽ không phải là một sự thay đổi nhanh
chóng trong thời gian ngắn, do vẫn còn nhiều
động lực về duy trì hình phạt này.
Việc giảm và xóa bỏ hình phạt tử hình
ở Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào những
nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện để chứng
minh rằng hình phạt tử hình không có tác
dụng ngăn ngừa vượt trội với tội phạm như
định kiến hiện nay của nhiều nhà lập pháp và
của phần lớn công chúng. Thêm vào đó, để có
tác động chính sách cao hơn, các nghiên cứu
về vấn đề này ở Việt Nam cũng cần chứng
minh được những tác động tiêu cực của hình
phạt tử hình đối với xã hội, đặc biệt trong
những vấn đề mà các nhà lập pháp và công
chúng từ trước tới nay ít quan tâm, chẳng hạn
như việc làm gia tăng tỷ lệ phạm tội của trẻ
em có cha mẹ bị kết án tử hình, hay việc làm
gia tăng tính chất bạo lực, thiếu khoan dung
4. Kết luận
Giống như ở nhiều quốc gia khác, hình
phạt tử hình là vấn đề gây nhiều tranh cãi ở
Việt Nam. Việc duy trì hay xóa bỏ hình phạt
này chịu sự tác động của nhiều yếu tố, cả
trong và ngoài nước, trong đó ở trong nước
thì yếu tố nhận thức và tâm lý có ý nghĩa
quan trọng, còn ở ngoài nước là sự vận động
của LHQ, EU và các tổ chức quốc tế khác về
nhân quyền có tác động to lớn.
trong xã hội
38 Dự án “Khảo sát tác động ngăn ngừa của một số hình phạt trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999” của
Trung tâm Tội phạm học thuộc Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011. Dẫn lại: Nguyễn Ngọc Chí
(2012), “Một số suy nghĩ về hình phạt tử hình trong Luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà
Nội - chuyên san Luật học, tập 28, tr. 42-48, tr. 46.
Số 06(430) - T3/2021
11
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC
TRONG ÂN GIẢM ÁN TỬ HÌNH VÀ ĐẶC XÁ
Lê Duy Tường
ThS. Vụ Pháp luật, Văn phòng Chủ tịch nước.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Chủ tịch nước, ân giảm
án tử hình, đặc xá.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày làm rõ vai trò, thẩm quyền
của Chủ tịch nước trong ân giảm án tử hình và đặc xá theo quy định của
Hiến pháp năm 2013 và pháp luật hiện hành nhằm góp phần tạo nhận
thức thống nhất về ân giảm án tử hình và đặc xá.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 20/01/2021
: 18/02/2021
: 23/02/2021
Article Infomation:
Abstract:
Keywords: President, death
penalty remission, amnesty.
This article provides clarification of the role and authority of the Presi-
dent in the death penalty parole and special amnesty in accordance with
the Constitution of 2013 and the current law, on that basis, the unified
understanding of the death penalty remission pictures and amnesty.
History:
Received
Edited
: 20 Jan. 2021
: 18 Feb. 2021
: 23 Feb. 2021
Approved
1. Quyền của Chủ tịch nước trong ân giảm
án tử hình và đặc xá
phạt tử hình như sau: 1. Sau khi bản án tử
hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải
được gửi ngay lên Chánh án Tòa án nhân
dân (TAND) tối cao và bản án phải được
gửi ngay lên Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân (VKSND) tối cao. Trong thời hạn
hai tháng, kể từ ngày nhận được bản án và
hồ sơ vụ án, Chánh án TAND tối cao, Viện
trưởng VKSND tối cao phải quyết định
kháng nghị hoặc quyết định không kháng
nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Trong
thời hạn bảy ngày, kể từ ngày bản án có hiệu
lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn
xin ân giảm lên Chủ tịch nước; 2. Bản án tử
hình được thi hành, nếu Chánh án TAND tối
cao và Viện trưởng VKSND tối cao không
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc
tái thẩm. Trong trường hợp bản án tử hình
bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
hoặc tái thẩm mà Hội đồng giám đốc thẩm,
Hội đồng tái thẩm TAND tối cao quyết định
Ân giảm án tử hình là thẩm quyền của
Chủ tịch nước giảm hình phạt tử hình theo
bản án đã có hiệu lực pháp luật xuống tù
chung thân theo quy định của pháp luật,
thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước
ta đối với những người phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng, mở ra cho những người này
khả năng ăn năn hối cải, cải tạo, giáo dục
trở thành người có ích cho xã hội. Theo quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS)
năm 2015, trong thời hạn 7 ngày kể từ khi
bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết
án tử hình được gửi đơn xin ân giảm án tử
hình lên Chủ tịch nước. Nếu được ân giảm
thì hình phạt tử hình được giảm xuống tù
chung thân. Nếu đơn xin ân giảm bị bác thì
bản án tử hình được thi hành.
Điều 258 Bộ luật TTHS năm 2015 quy
định trường hợp được ân giảm đối với hình
12
Số 06(430) - T3/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên
bản án tử hình, thì TAND tối cao phải thông
báo ngay cho người bị kết án biết để họ làm
đơn xin ân giảm án tử hình. Trong trường
hợp người bị kết án xin ân giảm hình phạt
tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau
khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm.
được giảm xuống tù có thời hạn, đồng thời
khuyến khích họ ăn năn hối cải, tích cực
học tập, lao động cải tạo để được hưởng sự
khoan hồng của Nhà nước, trở thành người
có ích cho xã hội. Xét về bản chất, đặc xá là
biện pháp khoan hồng của Nhà nước miễn
toàn bộ hoặc một phần hình phạt
Khoản 3 Điều 88 Hiến pháp năm 2013
quy định rõ, Chủ tịch nước quyết định đặc
xá… Việc Chủ tịch nước quyết định đặc xá
có tác động xã hội to lớn, là động lực để
người bị kết án phạt tù nỗ lực học tập, rèn
luyện, lao động, phấn đấu cải tạo tốt hơn;
đồng thời, tạo sự đồng thuận, ủng hộ từ gia
đình người bị kết án cũng như mọi tầng lớp
nhân dân.
Trong trường hợp người bị kết án tử hình
được ân giảm, theo quy định của Điều 35 Bộ
luật Hình sự (BLHS) năm 2015 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều năm 2017 (BLHS
năm 2015), hình phạt tử hình chuyển thành tù
chung thân. Bên cạnh đó, BLHS năm 2015 bổ
sung trường hợp giảm mức hình phạt đã tuyên:
“Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm
hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp
quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 3 Điều
40 của Bộ luật này thì thời gian đã chấp hành
hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm
và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải
bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt
là 30 năm” (khoản 6 Điều 63). Như vậy, có
thể thấy rằng, mặc dù BLHS năm 2015 cho
phép người bị kết án tử hình được ân giảm
tiếp tục được xét giảm, nhưng điều kiện để xét
giảm án của những người này chặt chẽ hơn
so với người bị kết án tù chung thân khác, đó
là: thời gian đã chấp hành hình phạt để được
xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm
nhiều lần thì vẫn phải bảo đảm thời hạn thực
tế chấp hành hình phạt là 30 năm.
2. Thực trạng ân giảm án tử hình và đặc xá
Việc đặc xá, tha tù trước thời hạn được
xem xét thận trọng, khách quan, dân chủ,
đúng quy định. Kết quả thực hiện các đợt
đặc xá trong thời gian qua được nhân dân
trong nước đồng tình, dư luận thế giới hoan
nghênh và đánh giá cao về tính nhân đạo,
chính sách khoan hồng, tính công khai và
minh bạch trong chủ trương cũng như trong
quá trình thực hiện. Nhìn chung, công tác
đặc xá đã có tác dụng giáo dục, góp phần bảo
đảm trật tự an toàn xã hội. Thực hiện chính
sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà
nước ta, trong giai đoạn 2016 -2021, căn cứ
Luật Đặc xá, nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh
02/9/2016, Chủ tịch nước quyết định đặc xá
tha tù trước thời hạn cho 4.384 phạm nhân,
trong đó: 4.180 phạm nhân đang chấp hành
án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam1.
Quy định trên đây thể hiện sâu sắc tính nhân
đạo, dân chủ, ưu tiên của Đảng và Nhà nước ta;
chú ý đến những đặc điểm, sinh lý của người
chưa thành niên và phụ nữ có thai, phụ nữ đang
nuôi con nhỏ, ảnh hưởng của những đặc điểm
đó đến khả năng nhận thức và điều khiển hành
vi của họ thời điểm phạm tội.
Công tác xét đơn xin ân giảm án tử hình
là vấn đề liên quan đến sinh mệnh của con
người và tính nghiêm minh của pháp luật; vì
vậy, việc xét đơn xin ân giảm án tử hình được
thực hiện hết sức thận trọng. Đối với những
vụ án phức tạp, dư luận xã hội quan tâm
Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của
Nhà nước đối với người phạm tội bị kết
án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã
1 Báo cáo số 01/BC-CTN, ngày 12/3/2021 của Chủ tịch nước về tổng kết công tác nhiệm kỳ 2016 - 2021 của
Chủ tịch nước, tr. 7.
Số 06(430) - T3/2021
13
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
thì ngoài việc xem xét, cân nhắc ý kiến của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ
tịch nước còn yêu cầu Văn phòng Chủ tịch
nước cử tổ công tác về địa phương nơi xảy ra
vụ án hoặc nơi đăng ký thường trú của người
phạm tội, phối hợp nắm thêm dư luận xã hội
và ý kiến của cấp ủy Đảng, chính quyền,
đoàn thể tại địa phương để báo cáo Chủ tịch
nước xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng trước khi
quyết định. Nhiệm kỳ vừa qua, việc thực
hiện thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi
thi hành, xét đơn xin ân giảm án tử hình và
thi hành án tử hình theo quy định của pháp
luật còn gặp khó khăn do số lượng người bị
kết án tử hình tăng nhanh. Trong nhiệm kỳ
2016 - 2021, Chủ tịch nước đã quyết định
bác đơn xin ân giảm của 295 bị án; quyết
định ân giảm án tử hình xuống tù chung thân
cho 94 bị án, gửi trả 23 hồ sơ về Tòa án nhân
dân tối cao để xem xét, giải quyết theo thẩm
quyền vì người phạm tội không viết đơn xin
ân giảm án tử hình mà chỉ viết đơn kêu oan,
đơn xin thi hành án2.
bản án kết án tử hình có hiệu lực pháp luật,
TAND tối cao và VKSND tối cao phải xem
xét có kháng nghị hay không. Thời hạn xem
xét quyết định việc kháng nghị là 2 tháng.
Đồng thời, cũng trong thời hạn 7 ngày
kể từ ngày bản án kết án tử hình có hiệu lực
pháp luật, người bị kết án có quyền gửi đơn
xin ân giảm án tử hình lên Chủ tịch nước.
Như vậy, thủ tục xem xét để kháng nghị
giám đốc thẩm đối với bản án tử hình và thủ
tục xét ân giảm bản án tử hình là hai thủ tục
độc lập, cùng được xác định trong thời hạn
tính từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp
luật, không phải là hai thủ tục tiếp nối nhau.
Mặt khác, việc xem xét, quyết định kháng
nghị của chủ thể có thẩm quyền là một hoạt
động tố tụng, với đối tượng xem xét là bản
án đã có hiệu lực pháp luật, dựa trên những
căn cứ pháp lý được quy định cụ thể trong
Bộ luật TTHS. Trong khi đó, việc xem xét
cho ân giảm án tử hình của Chủ tịch nước là
thủ tục hành chính, trên tinh thần nhân đạo,
khoan hồng, với đối tượng xem xét là người
đã bị kết án (tử hình). Hai thủ tục này khác
nhau hoàn toàn về tính chất và đối tượng,
do đó không có tính loại trừ nhau. Vì vậy,
thủ tục xét ân giảm án tử hình không phải
là thủ tục cuối cùng trước khi đưa người
bị kết án ra thi hành nên không thể loại trừ
hoàn toàn các hoạt động tố tụng, ví như việc
kháng nghị giám đốc thẩm.
3. Một số vấn đề đặt ra
Mặc dù ân giảm án tử hình và đặc xá thể
hiện rất rõ vai trò, thẩm quyền của Chủ tịch
nước, nhưng trong thực tiễn tố tụng trong
thời gian vừa qua, còn có sự nhận thức chưa
thống nhất về các thủ tục này, đặc biệt là ân
giảm án tử hình, cụ thể:
Theo quy định của Bộ luật THHS và
Luật Thi hành án hình sự, thủ tục xét ân
giảm đối với người bị kết án tử hình là một
thủ tục nằm trong giai đoạn thi hành án. Tuy
nhiên, không phải trong giai đoạn thi hành
án thì mọi hoạt động tố tụng đối với vụ án
đó sẽ bị triệt tiêu, bởi lẽ:
Thứ hai, về cơ sở lý luận, trong giai đoạn
thi hành án, cụ thể là thi hành bản án tử hình,
một số hoạt động tố tụng vẫn có thể được
thực hiện. Ví dụ, Hội đồng thi hành án tử
hình có thể ra quyết định tạm hoãn thi hành
án nếu ngay trước khi thi hành án, người bị
kết án tử hình khai báo những tình tiết mới
về tội phạm, hoặc người bị kết án tử hình
thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều
40 BLHS năm 2015. Trong các trường hợp
Thứ nhất, về căn cứ pháp lý, theo Điều
367 Bộ luật TTHS về thủ tục xem xét bản
án tử hình trước khi thi hành thì sau khi
2 Báo cáo số 01/BC-CTN, ngày 12/3/2021 của Chủ tịch nước về tổng kết công tác nhiệm kỳ 2016 - 2021 của
Chủ tịch nước, tr. 7.
14
Số 06(430) - T3/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
đó, một số quyết định tố tụng mới sẽ được
ban hành như quyết định kháng nghị giám
đốc thẩm, tái thẩm, quyết định chuyển bản
án tử hình thành hình phạt tù chung thân…
Như vậy, có thể thấy rằng, quyết định bác
đơn xin ân giảm hình phạt tử hình của Chủ
tịch nước không triệt tiêu các hoạt động tố
tụng khác của chủ thể tiến hành tố tụng, nếu
căn cứ của các hoạt động đó mới xuất hiện
hoặc vẫn tồn tại trong vụ án.
kiện nào là sự kiện trọng đại của đất nước.
Tác giả cho rằng, để xác định sự kiện trọng
đại của đất nước, cần quy định cụ thể tiêu
chí xác định sự kiện trọng đại làm cơ sở
cho Chủ tịch nước quyết định đặc xá. Điều
này góp phần bảo đảm tính công khai, minh
bạch và thống nhất khi áp dụng chế định
đặc xá đối với người bị kết án phạt tù có
thời hạn, tù chung thân, đồng thời tạo thuận
lợi cho các cơ quan chuyên môn trong quá
trình triển khai áp dụng.
Thứ ba, về căn cứ thực tế, trong vụ án
Hồ Duy Hải, mặc dù Chủ tịch nước đã từng
bác đơn xin ân giảm đối với người bị kết án
nhưng tại nhiều thời điểm sau đó, Chủ tịch
nước cũng có ý kiến tạm dừng việc thi hành
tử hình hoặc yêu cầu Chánh án TAND tối
cao, Viện trưởng VKSND tối cao xem xét,
làm rõ và quyết định theo thẩm quyền nhằm
đảm bảo việc kết án tử hình là đúng quy
định của pháp luật. Như vậy, thực tế giải
quyết vụ án cho thấy, Chủ tịch nước cũng
đã có ý kiến để Viện trưởng VKSND tối cao
xem xét lại vụ án theo thẩm quyền.
Hai là, theo quy định của Điều 66 BLHS
năm 2015, người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ
trong thời gian thử thách. Nếu trong thời
gian thử thách họ vi phạm nghĩa vụ từ 2 lần
trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính
2 lần trở lên thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết
định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối
với người đó và buộc họ phải chấp hành
phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành;
trường hợp phạm tội mới trong thời gian
thử thách, Tòa án buộc người đó chấp hành
hình phạt của bản án mới và tổng hợp với
phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản
án trước. Quy định này vừa thể hiện tính
nghiêm minh của luật pháp, vừa có tính răn
đe đối với người bị phạm tội. Tuy nhiên,
người được đặc xá lại không phải chịu thời
gian thử thách như người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện. Chính điều này đã
làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật
và phần nào tạo nên sự không đồng thuận
của một bộ phận quần chúng nhân dân. Vì
vậy, tác giả cho rằng, cần sửa đổi BLHS
năm 2015 theo hướng bổ sung quy định về
thời gian thử thách đối với người được đặc
xá và các nghĩa vụ của người được đặc xá
trong thời gian thử thách, chế tài xử lý trong
trường hợp họ vi phạm nghĩa vụ tương ứng
như quy định đối với người được tha tù
Về đặc xá, Luật Đặc xá năm 2018 bao
gồm 6 chương, 39 điều với nhiều điểm mới
sửa đổi, bổ sung so với Luật Đặc xá năm
2007 về nguyên tắc, thời điểm, trình tự, thủ
tục, thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện đặc
xá; điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người
được đề nghị đặc xá; quyền và nghĩa vụ của
người được đặc xá. Tuy nhiên, để góp phần
nâng cao hiệu quả thực hiện quyền đại xá
của Chủ tịch nước, tác giả cho rằng, cần
tiếp tục hoàn thiện một số quy định về các
vấn đề sau đây:
Một là, quy định về “những sự kiện
trọng đại của đất nước” để áp dụng đặc xá
chưa rõ. Theo quy định của Luật Đặc xá,
Chủ tịch nước sẽ xem xét quyết định việc
đặc xá nhân sự kiện trọng đại, nhân ngày lễ
lớn của đất nước và trong trường hợp đặc
biệt. Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản
nào hướng dẫn về việc xác định những sự
trước thời hạn có điều kiện
Số 06(430) - T3/2021
15
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
ÁP DỤNG CÁC TIÊU CHUẨN KIỂM DỊCH ĐỘNG - THỰC VẬT
THEO WTO VÀ KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
Lê Minh Nhựt*
Lê Thị Thanh Bình**
*ThS. Giảng viên Đại học Luật TP.HCM
**ThS. Giảng viên Đại học Tài chính - Kế toán
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng vào thị trường quốc tế trong đó
có thị trường nhập khẩu động - thực vật. Điều này tạo ra nhiều thuận
lợi nhưng cũng không ít khó khăn cho Việt Nam; đặc biệt Việt Nam
phải đối mặt với lượng động - thực vật nhập khẩu không đảm bảo chất
lượng, có nguy cơ lây lan dịch, bệnh. Trong phạm vi bài viết này, các
tác giả trình bày, phân tích các quy định của Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO) và thực tiễn áp dụng cũng như tranh chấp xoay quanh việc
các quốc gia đặt ra các tiêu chuẩn kiểm soát động - thực vật nhập khẩu,
và kiến nghị các biện pháp nhằm giúp Việt Nam xây dựng và áp dụng
các tiêu chuẩn quốc gia cao hơn nhưng phù hợp với quy định của WTO.
Từ khóa: SPS, kiểm dịch động
vật, kiểm dịch thực vật, WTO.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 18/12/2020
: 08/01/2021
: 12/01/2021
Article Infomation:
Abstract:
Vietnam is been in deep and wide integration into the international
market, including the import market for flora and fauna. This has been
providing with several advantages but also giving many difficulties for
Vietnam, especially while Vietnam has to face with the quantity of un-
derqualified imported flora and fauna which are at risk of spreading epi-
demics and diseases. Under this article, the authors provide discussions
and analysis of the rules of the World Trade Organization (WTO) and its
application practices as well as disputes over countries setting standards
to control imported flora and fauna. Since then, the authors also propose
measures for Vietnam to develop and apply national standards that are
higher than international standards and appropriate with the WTO rules.
Keywords: SPS, animal
quarantine, phytosanitary, WTO
Article History:
Received
Edited
: 18 Dec. 2020
: 08 Jan. 2021
: 12 Jan. 2021
Approved
1. Đặt vấn đề
số quốc gia nhất định, đặt điều kiện, tiêu
chuẩn cao để hạn chế hàng hóa nước ngoài
Hiện nay, nhu cầu nhập khẩu thực phẩm
vào thị trường Việt Nam có xu hướng ngày
càng tăng. Tuy nhiên, thực trạng này cũng
kéo theo nguy cơ từ động - thực vật được
nhập khẩu. Đứng trước vấn đề này, chính
phủ các nước đã và đang phải rà soát, thậm
chí ban hành các quy định hạn chế thương
mại như cấm nhập khẩu thực phẩm từ một
thâm nhập vào thị trường nội địa… Vậy các
biện pháp này có phù hợp với quy định của
WTO không hay khi nào thì quốc gia thành
viên WTO có thể áp dụng các biện pháp hạn
chế nhập khẩu động - thực vật.
Trong khuôn khổ của WTO tồn tại Hiệp
định về việc áp dụng các biện pháp kiểm
16
Số 06(430) - T3/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
dịch động thực vật (Hiệp định SPS)1 nhằm
đảm bảo an toàn thực phẩm với người tiêu
dùng, ngăn chặn sự lây lan dịch, bệnh ở
động - thực vật, đồng thời Hiệp định SPS
cũng hướng đến hạn chế khả năng lạm dụng
các biện pháp kiểm dịch động thực vật của
quốc gia thành viên nhằm mục đích bảo hộ
thương mại. Với vai trò là một thành viên,
Việt Nam cam kết tuân thủ các yêu cầu của
Hiệp định SPS khi gia nhập WTO mà không
yêu cầu bất kỳ thời gian chuyển tiếp nào2.
Hiệp định SPS cho phép mỗi thành viên
được quyền tự chủ ban hành các quy định
về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm
nhập khẩu nhưng Việt Nam có thể phải đối
mặt với khả năng phản đối của quốc gia
thành viên khác đối với các biện pháp kiểm
soát động - thực vật nhập khẩu trên cơ sở
không tuân thủ các quy định của WTO. Do
đó, việc nghiên cứu tiêu chuẩn, khuyến nghị
quốc tế và xây dựng, áp dụng các tiêu chuẩn
kiểm dịch động - thực vật phù hợp với quy
định của WTO (đặc biệt là Hiệp định SPS)
là rất quan trọng.
tiêu chuẩn về tính cần thiết để bảo vệ sức
khỏe con người và động, thực vật.
Các tiêu chuẩn quốc tế cần được tuân
thủ theo Hiệp định SPS được quy định tại
Điều 3, phụ lục A của Hiệp định SPS. Các
tiêu chuẩn, hướng dẫn và khuyến nghị quốc
tế được chia thành các lĩnh vực sau: Trong
lĩnh vực an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn quốc
tế được quy định là các tiêu chuẩn, khuyến
nghị và hướng dẫn do Ủy ban An toàn thực
phẩm (CODEX) xây dựng trong lĩnh vực
phụ gia thực phẩm, thuốc thú y, dư lượng
thuốc trừ sâu, tạp chất, phương pháp phân
tích và lấy mẫu, các mã số và hướng dẫn về
thực hành vệ sinh.
Trong lĩnh vực sức khỏe động vật, tiêu
chuẩn quốc tế là các tiêu chuẩn, hướng
dẫn và khuyến nghị do Văn phòng Kiểm
dịch động vật quốc tế (OIE) xây dựng nên.
Trong lĩnh vực thực vật, tiêu chuẩn quốc
tế được quy định là các tiêu chuẩn, hướng
dẫn và khuyến nghị được xây dựng bởi Ban
Thư ký Công ước Bảo vệ thực vật quốc tế
hợp tác cùng các tổ chức khu vực hoạt động
trong khuôn khổ Công ước Bảo vệ thực vật
quốc tế (IPPC). Như vậy, có thể thấy, các
tiêu chuẩn quốc tế chính là các tiêu chuẩn
do các tổ chức quốc tế CODEX, OIE và
IPPC ban hành.
Điều 3.2 Hiệp định SPS: “Các biện pháp
vệ sinh động - thực vật tuân thủ các tiêu
chuẩn, hướng dẫn và khuyến nghị quốc tế
sẽ được cho là cần thiết để bảo vệ cuộc
sống hoặc sức khỏe con người, động vật,
thực vật và được coi là phù hợp với các điều
khoản liên quan của Hiệp định này và của
GATT 1994”. Theo quy định của điều luật
này, chỉ cần quốc gia thành viên “tuân thủ”
theo tiêu chuẩn quốc tế thì được xem như
đã phù hợp với quy định của WTO, đáp ứng
1
Hiện nay, việc áp dụng các tiêu chuẩn
quốc tế để xây dựng và ban hành tiêu
chuẩn quốc gia về kiểm dịch động, thực
vật còn gây tranh cãi đối với trường hợp
quốc gia thành viên WTO áp dụng tiêu
chuẩn quốc gia cao hơn tiêu chuẩn quốc
tế nêu trên.
truy cập ngày 02/3/2020.
2 WTO document, WT/ACC/VNM/48, 27/10/2006, đoạn 327. Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên
150 của WTO vào ngày 11/01/2007, http://www.wto.org/english/thewto_e/countries_e/vietnam_e.htm, truy
cập ngày 26/7/2020.
Số 06(430) - T3/2021
17
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
2. Áp dụng tiêu chuẩn, khuyến nghị cao
hơn tiêu chuẩn, khuyến nghị quốc tế
như là chất tăng trưởng và tạo ra dư lượng
không gây hại cho sức khỏe của con người3.
Đối với hai loại Hormones hỗn hợp là
zeranol và trenbolone, theo báo cáo JECFA
1998 (CODEX dựa trên báo cáo này),
hai loại Hormones này có thể có tác dụng
gây hại cho cơ thể con người nên CODEX
đã thiết lập tiêu chuẩn cho chúng4. Riêng
đối với MGA, CODEX chưa có quy định
về tiêu chuẩn đối với Hormones này. Tuy
nhiên, EC quy định tiêu chuẩn đối với tất
cả 5 loại Hormones Codex đã có quy định
ở trên là không, nghĩa là không cho phép sự
có mặt của dư lượng này trong tất cả các sản
phẩm từ thịt (No residue level). Như vậy,
liệu quy định của EC có được xem xét là
phù hợp với Điều 3.1 Hiệp định SPS.
Điều 3.1 Hiệp định SPS quy định về
trường hợp “dựa trên” tiêu chuẩn quốc tế -
mức độ bảo vệ tương đương với tiêu chuẩn
quốc tế. Tương tự, Điều 3.2 Hiệp định
SPS quy định về trường hợp “tuân thủ” -
sử dụng chính các tiêu chuẩn quốc tế làm
tiêu chuẩn quốc gia và Điều 3.3 quy định
trường hợp áp dụng tiêu chuẩn cao hơn tiêu
chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, việc xây dựng và
áp dụng tiêu chuẩn quốc gia về kiểm dịch
động, thực vật “dựa trên”, “tuân thủ” tiêu
chuẩn quốc tế lại không được giải thích rõ
ràng ngay trong Hiệp định SPS. Điều này
dẫn đến, khi các quốc gia thành viên WTO
áp dụng tiêu chuẩn quốc gia về kiểm dịch
động, thực vật cao hơn tiêu chuẩn quốc tế
thì tranh chấp xảy ra.
Trong Vụ việc trên, giải thích về Điều 3.1
Hiệp định SPS, Ban Hội thẩm (Panel) cho
rằng một biện pháp được xem là “dựa trên”
một tiêu chuẩn quốc tế nghĩa là phải có cùng
mức độ bảo vệ với tiêu chuẩn quốc tế (in
conformity with international standards),
không nhất thiết phải giống hệt tiêu chuẩn
quốc tế. Đối với 5 loại Hormones được đề
cập, mức độ bảo vệ chính là dư lượng thuốc
được cho phép dung nạp vào cơ thể con
người và có mặt trong một thực phẩm cụ thể
(ADI) và mức dư lượng thuốc còn tồn đọng
lại trong sản phẩm thịt sau khi đã giết mổ
(MRL)5. Ban Hội thẩm giải thích rằng, tuy
Điều 3.1 Hiệp định SPS không định nghĩa
rõ ràng từ “dựa trên” nhưng có thể hiểu mức
độ bảo vệ của Điều 3.1 giống với mức độ
quy định tại Điều 3.2 (“tuân thủ”- giống hệt
tiêu chuẩn quốc tế). Do đó, nếu tiêu chuẩn
của một quốc gia thành viên phản ánh mức
Trong Vụ EC- Hormones, nguyên đơn là
Canada kiện bị đơn là EC vì việc ra chỉ thị
số 81/602/EEC cấm sử dụng các sản phẩm
từ động vật có chứa các loại Hormones
như: Trenbolone, Zeranol, Melengestrone
Acetate (MGA), Oestradiol-17, Progesterol,
Testosterone.TạiCanada, cácloạihormones
này đều được sử dụng trong chăn nuôi, trừ
MGA. Do đó, lệnh cấm của EC ảnh hưởng
nghiêm trọng tới việc xuất khẩu thịt lợn
sang nước này.
Đối với các loại Hormones trong vụ
tranh chấp này, CODEX cho rằng đối với
3 loại Hormones tự nhiên là Oestradiol-17,
Progesterol, Testosterone, việc thiết lập tiêu
chuẩn ADI (Acceptable daily intake) và
MRL (Maximum Residue Limit) là không
cần thiết vì việc sử dụng những chất này
3 WT/DS 48/ Panel/R, Đoạn 2.21
4 WT/DS 48/ Panel/R, Đoạn 2.25
5 WT/DS 48/ R/CAN, Đoạn 8.75
18
Số 06(430) - T3/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
độ bảo vệ khác với tiêu chuẩn quốc tế,
không thể xem xét quốc gia ấy “dựa trên”
tiêu chuẩn quốc tế theo Điều 3.16. Như vậy,
có thể thấy Ban Hội thẩm khẳng định “dựa
trên” nghĩa là đạt được cùng mức độ bảo
vệ với tiêu chuẩn quốc tế7. Ban Hội thẩm
sau đó kết luận EC đã không “dựa trên” tiêu
chuẩn quốc tế theo Điều 3.1 vì đã áp dụng
một mức độ bảo vệ khác so với tiêu chuẩn
của CODEX.
IPPC đưa ra mang tính tham khảo, Điều 3.1
hướng đến tạo mặt bằng chung cho các tiêu
chuẩn vệ sinh, kiểm dịch do các thành viên
ban hành, nhưng không bắt buộc áp dụng
tiêu chuẩn có mức bảo vệ giống hệt tiêu
chuẩn quốc tế mà chỉ cần có mức độ bảo
vệ tương đương, và trong vụ kiện này, cần
phải đưa ra sự so sánh giữa tiêu chuẩn quốc
tế và quy định của EC về 5 Hormones trong
vụ tranh chấp. Cơ quan Phúc thẩm kết luận
rằng, để áp dụng Điều 3.1, một thành viên
có thể thiết lập tiêu chuẩn dựa trên một số
yếu tố của tiêu chuẩn quốc tế mà không nhất
thiết phải áp dụng tiêu chuẩn có mức bảo vệ
bằng tiêu chuẩn quốc tế9 như kết luận của
Ban Hội thẩm.
Cơ quan phúc thẩm (Appellate Body -
AB) trong vụ kiện này giải thích rằng, một
tiêu chuẩn “dựa trên” khi nó được thiết lập,
xây dựng trên nền tảng của một tiêu chuẩn
khác và Cơ quan phúc thẩm không đồng ý
với sự giải thích của Ban Hội thẩm rằng,
Điều 3.1 và Điều 3.2 Hiệp định SPS được
giải thích như nhau, nghĩa là phải có cùng
mức độ bảo vệ như tiêu chuẩn quốc tế. Cơ
quan phúc thẩm cho rằng, nếu giải thích như
cách của Ban Hội thẩm, Hiệp định SPS sẽ
xem việc tuân theo tất cả tiêu chuẩn, hướng
dẫn và khuyến nghị quốc tế là ràng buộc đối
với các thành viên, điều này không phải mục
đích của quy định về hài hòa hóa (cơ quan
phúc thẩm trích mục đích nêu tại Điều 3.1:
“Để hài hòa các biện pháp vệ sinh động -
thực vật trên cơ sở chung nhất có thể được”,
và lời mở đầu của hiệp định “Mong muốn
tiếp tục sử dụng các biện pháp vệ sinh động -
thực vật hài hòa giữa các thành viên trên
cơ sở các tiêu chuẩn, hướng dẫn và khuyến
nghị quốc tế do các tổ chức quốc tế có liên
quan xây dựng”8). Cơ quan phúc thẩm chỉ
ra rằng, những tiêu chuẩn do CODEX, OIE,
Như vậy, có thể thấy rằng, Điều 3.1 Hiệp
định SPS không bắt buộc các thành viên áp
dụng tiêu chuẩn quốc tế (giống hoàn toàn)
mà có thể sử dụng tiêu chuẩn của quốc gia
mình hoặc tiêu chuẩn khác có mức độ bảo
vệ tương đương với tiêu chuẩn quốc tế.
Quy định này của Hiệp định SPS là một
quy định khá mở, hướng tới mục tiêu hài
hòa hóa các tiêu chuẩn vệ sinh động thực
vật nhưng không tạo áp lực quá lớn cho các
thành viên khi áp dụng vì mỗi quốc gia có
một điều kiện, hoàn cảnh khác nhau và có
thể áp dụng những tiêu chuẩn khác trước
khi tham gia vào WTO. Do đó, với mục tiêu
hài hòa mà không tuyệt đối áp dụng các tiêu
chuẩn vệ sinh động thực vật, WTO đã cho
ra đời quy định về việc thành viên có thể
“dựa trên” các tiêu chuẩn quốc tế để ban
hành tiêu chuẩn cho quốc gia mình.
6 WT/DS 48/ R/CAN, Đoạn 8.75
7 WT/DS 48/ R/CAN, Đoạn 8.73
8 WT/DS 26/ AB/R, Đoạn 165. Xem toàn văn phán quyết tại: https://docs.wto.org/dol2fe/Pages/FE_Search/
FE_S_S006.aspx?DataSource=Cat&query=@Symbol=WT/DS26/AB/R&Language=English&Contex-
t=ScriptedSearches&languageUIChanged=true, truy cập ngày 18/8/2020.
9 WT/DS 26/ AB/R, Đoạn 171.
Số 06(430) - T3/2021
19
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 6 - Năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tap_chi_nghien_cuu_lap_phap_so_6_nam_2021.pdf

