Những điểm mới và một số kiến nghị nâng cao chất lượng áp dụng các quy định của bộ luật hình sự 2015 về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người
NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015 VỀ CÁC TỘI
XÂM PHẠM NHÂN PHẨM, DANH DỰ CON NGƯỜI
PHAN THỊ THU LÊ*
Thực tiễn cho thấy các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người đang diễn ra
nghiêm trọng với diễn biến ngày càng phức tạp, gây mất ổn định trật tự xã hội. Tuy Bộ
luật hình sự (BLHS) năm 2015, sửa đổi năm 2017 (gọi tắt là BLHS năm 2015) đã được sửa
đổi một cách khá toàn diện, khắc phục được các hạn chế và bất cập trong BLHS năm 1999
nhưng một số quy định vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện để phòng chống loại tội phạm
nguy hiểm này.
Từ khóa: Điểm mới, giải pháp, các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự.
Ngày nhận bài: 22/06/2020; Biên tập xong: 13/8/2020; Duyệt đăng: 09/4/2021
It has been a complicated increasing in the offences against individuals’ reputation
that causes social instability. Although the 2015 Penal Code has been comprehensively
revised to overcome limitations in the former one, it still remains some regulations that
need to be improved to combat and prevent from those dangerous crimes.
Keywords: Improvements, solutions, offences against reputation.
uyền con người ꢀ nước ta luôn là vấn
Đối với các tội xâm phạm nhân phẩm,
đề được Đảng và Nhà nước quan tâm danh dự của con người, nghiên cứu BLHS
hàng đầu. Bảo vệ quyền con người là năm 2015 so với BLHS năm 1999 cho thấy, Bộ
Q
trách nhiệm của Nhà nước và mọi tổ chức, cá luật này có nhiều điểm mới về nội dung cũng
nhân trong xã hội. Theo quy định tại Điều 20 như kỹ thuật lập pháp hình sự. Cụ thể là:
Hiến pháp năm 2013, “mọi người có quyền bất
khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ
về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm, không bị tra
tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình
thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe,
xúc phạm danh dự, nhân phẩm”.
- Thứ nhất, tại các điều 142, 144, 145, 146
BLHS năm 2015, một số thuật ngữ được thay
đổi cho phù hợp với tên gọi và quy định trong
một số luật chuyên ngành như thuật ngữ “trẻ
em” được đổi thành “người dưới 16 tuổi”.
- Thứ hai, một số điều luật trước đây quy
định gồm nhiều tội danh thì nay được tách ra
thành các tội phạm độc lập và được quy định
ꢀ các điều luật độc lập nhằm đảm bảo nguyên
tắc phân hóa trách nhiệm hình sự (TNHS)
cũng như thể hiện sự rõ ràng trong kỹ thuật lập
pháp. Có thể kể đến như: Tội mua bán người
dưới 16 tuổi (Điều 151), Tội đánh tráo người
dưới 01 tuổi (Điều 152) và Tội chiếm đoạt
người dưới 16 tuổi (Điều 153). Ngoài ra, BLHS
năm 2015 bổ sung thêm hai tội mới là Tội mua
bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người
(Điều 154) và Tội sử dụng người dưới 16 tuổi
vào mục đích khiêu dâm (Điều 147).
Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự
của con người là những hành vi nguy hiểm
cho xã hội, không chỉ xâm hại đến sự phát
triển bình thường, lành mạnh của con người
mà còn làm tổn thương thể chất, tinh thần
người bị hại cũng như gia đình của họ, ảnh
hưꢀng xấu đến xã hội, gây phẫn nộ, bức xúc
trong dư luận. Thực tiễn cho thấy, các tội xâm
phạm nhân phẩm, danh dự của con người
đang diễn ra nghiêm trọng và diễn biến ngày
càng phức tạp gây mất ổn định trật tự xã hội
và đang là một trong những vấn đề nhức nhối
được xã hội đặc biệt quan tâm.
1. Những điểm mới của Bộ luật hình sự
năm 2015 về các tội xâm phạm nhân phẩm,
danh dự của con người
* Tiến sĩ, Khoa Pháp luật hình sự và Kiểm sát hình
sự, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
12 Khoa học Kiểm sát
Số 02 - 2021
PHAN THỊ THU LÊ
- Thứ ba, hành vi khách quan của một số mua bán người bao gồm: Hành vi chuyển
tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền,
người trong BLHS năm 2015 có sự sửa đổi
phù hợp với thực tiễn tình hình tội phạm và
yêu cầu bảo vệ quyền con người, yêu cầu
phòng chống tội phạm.
+ Đối với hành vi khách quan của các
tội phạm tình dục, ngoài hành vi“giao cấu”,
BLHS năm 2015 bổ sung thêm hành vi “thực
hiện hành vi quan hệ tình dục khác” trong các tội
tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; chuyển giao
hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục,
cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của
nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác
để thực hiện các hành vi nêu trên. Bên cạnh
đó, các điều luật cũng bổ sung thêm dấu hiệu
thủ đoạn phạm tội “dùng vũ lực, đe dọa dùng
hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, vũ lực, lừa gạt hoặc bằng thủ đoạn khác”
tội cưỡng dâm, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 trong cấu thành tội phạm.
tuổi đến dưới 16 tuổi, tội giao cấu hoặc thực
hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người
từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi. Như vậy, người
phạm tội không chỉ thực hiện hành vi giao
cấu với nạn nhân theo cách hiểu truyền thống
hiện nay là “hành vi xâm nhập của bộ phận sinh
dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, với bất kỳ mức
độ xâm nhập nào”1 mà còn trong cả trường
hợp, những người cùng giới tính hay khác
giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ
phận khác trên cơ thể. Ví dụ: Sử dụng ngón
tay, ngón chân, lưỡi..., dụng cụ tình dục xâm
nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu
môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm
nhập nào, bao gồm một trong các hành vi đưa
bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng,
hậu môn của người khác. Dùng bộ phận khác
trên cơ thể như ngón tay, ngón chân, lưỡi...,
dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh
dục nữ, hậu môn của người khác2 bằng một
trong các thủ đoạn phạm tội đã được quy
định thì với quy định mới này chúng ta có cꢀ
sꢀ pháp lý để truy cứu TNHS người phạm tội
về một trong các tội phạm tình dục theo đúng
tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi.
+ Điều 153 BLHS năm 2015 mô tả cụ thể
hơn hành vi khách quan của Tội chiếm đoạt
người dưới 16 tuổi. Theo đó, hành vi chiếm
đoạt người dưới 16 tuổi được hiểu là hành
vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ
đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người
khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi.
- Thứ tư, BLHS năm 2015 bổ sung hai tội
mới là Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào
mục đích khiêu dâm (Điều 147) và Tội mua
bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người
(Điều 154). Theo đó, hành vi khách quan của
Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích
khiêu dâm được xác định là hành vi lôi kéo,
dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn
khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc
trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức.
Hành vi khách quan của Tội mua bán, chiếm
đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người được xác
định là hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc
bộ phận cơ thể người khác.
- Thứ năm, do quy định mới của BLHS
năm 2015 nên nhận thức và thực tiễn đối với
chủ thể của một số tội xâm phạm tình dục là
tội hiếp dâm, hiếp dâm người dưới 16 tuổi,
cưỡng dâm và cưỡng dâm người từ đủ 13
tuổi đến dưới 16 tuổi đã có sự thay đổi. Thực
tiễn xét xử ꢀ Việt Nam trước khi BLHS năm
2015 có hiệu lực thi hành coi chủ thể của các
tội phạm trên là chủ thể đặc biệt, người thực
hành chỉ có thể là nam giới và nữ giới chỉ có
thể là đồng phạm với vai trò là người tổ chức,
người xúi giục hoặc người giúp sức. Việc bổ
sung dấu hiệu “hành vi quan hệ tình dục khác”
trong các điều luật này đã góp phần thay đổi
nhận thức về chủ thể của các tội này: đó là bất
+ Về Tội mua bán người (Điều 150) và
Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151),
để phù hợp với Công ước quốc tế về tội buôn
bán người, BLHS năm 2015 đã sửa đổi theo
hướng mô tả cụ thể các dạng hành vi của tội
1ꢁ
Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP
ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao áp dụng một số quy định tại các điều 141,
142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật hình sự và việc
xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi
2ꢁ Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP kỳ ai, không phân biệt giới tính. Tuy nhiên,
Số 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 13
NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ...
chúng tôi cho rằng để có nhận thức chung và 142 quy định về Tội hiếp dâm người dưới 16
thống nhất, các cơ quan có thẩm quyền cần tuổi với khung hình phạt là “phạt tù 20 năm,
hướng dẫn cụ thể hơn về chủ thể của các loại tù chung thân hoặc tử hình”. Với quy định mới
tội phạm này. Ngoài ra, theo BLHS năm 2015, này, nhà làm luật đã phân hóa TNHS đối với
chủ thể của Tội giao cấu hoặc thực hiện hành các trường hợp giao cấu hoặc thực hiện hành
vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 vi quan hệ tình dục khác đối với người dưới
13 tuổi thành hai mức là người dưới 10 tuổi và
người từ đủ 10 tuổi đến dưới 13 tuổi.
tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145) và Tội dâm
ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146) được
thay đổi từ “Người đã thành niên” thành quy
định cụ thể hơn là “Người đủ 18 tuổi trꢀ lên”.
- Thứ sáu, quy định về các tình tiết định
khung tăng nặng cũng có những sửa đổi,
bổ sung:
+ Về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi,
nhà làm luật đã sửa đổi một số tình tiết định
khung tăng nặng trong Điều 146 BLHS năm
2015. Cụ thể, các tình tiết “gây hậu quả nghiêm
trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc
biệt nghiêm trọng” đã bị xóa bỏ, thay vào đó
là những tình tiết khác như “gây rối loạn tâm
thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%”,
“gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân
46% trở lên”, “làm nạn nhân tự sát”. Việc sửa
đổi này là hoàn toàn phù hợp, có thể định tính
được, tạo điều kiện giúp cho các cơ quan áp
dụng pháp luật được chính xác.
+ BLHS năm 2015 bổ sung thêm tình tiết
“sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông,
phương tiện điện tử để phạm tội” vào khoản 2
Điều 155 quy định về Tội làm nhục người
khác. Quy định này là phù hợp bꢀi việc công
nghệ thông tin phát triển đã khiến các mạng
máy tính, mạng viễn thông và các phương
tiện điện tử trꢀ thành công cụ hữu hiệu trong
việc phát tán thông tin, có thể gây ra những
tổn thương, xúc phạm nhân phẩm, danh dự
của nạn nhân.
2. Một số kiến nghị nâng cao chất lượng
áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự
năm 2015 về các tội xâm phạm nhân phẩm,
danh dự con người
Mặc dù BLHS năm 2015 đã được sửa
đổi một cách khá toàn diện, khắc phục được
những hạn chế và bất cập trong BLHS năm
1999, trong đó có các sửa đổi liên quan đến
các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của
con người. Tuy nhiên, theo chúng tôi, BLHS
năm 2015 vẫn còn một số quy định cần tiếp
+ Tình tiết “phạm tội nhiều lần” và “đối với
nhiều người” quy định tại các điều luật đều
được sửa đổi theo hướng quy định cụ thể và
rõ ràng hơn. Theo đó, hai tình tiết này hầu
như được sửa đổi thành “phạm tội 02 lần trở
lên” và “đối với 02 người trở lên” (trừ Điều 150
và Điều 151 BLHS năm 2015). Việc quy định
rõ theo hướng mới này sẽ đảm bảo các quy
định của BLHS được hiểu cụ thể, thống nhất
hơn. Tuy nhiên, riêng trong Tội cưỡng dâm
(Điều 143), nhà làm luật quy định hai tình tiết
này với tên gọi “cưỡng dâm 02 lần trở lên” và
“cưỡng dâm 02 người trở lên”. Nên chăng hai
tình tiết này trong Tội cưỡng dâm nên sửa lại
cho thống nhất với các điều luật khác. Không
chỉ sửa đổi lại thuật ngữ cho hai tình tiết này
mà trong BLHS năm 2015, nhà làm luật đã
đảm bảo tính thống nhất và tính tương thích
khi đưa hai tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” và
“đối với 02 người trở lên” cùng về khoản 2 của
tất cả các điều luật.
+ BLHS năm 2015 bổ sung thêm tình tiết
“gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân
từ 11% đến 45%” và tình tiết “gây rối loạn tâm
thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên” vào
các cấu thành tội phạm tăng nặng của các
điều luật. Đây là tình tiết mới lần đầu được
đưa vào quy định của BLHS. Đối với hai tình
tiết này đòi hỏi hậu quả bắt buộc là làm cho
nạn nhân bị tâm thần hoặc có những biểu
hiện hành vi không ổn định, diễn biến tâm lý tục được hoàn thiện để tạo hành lang pháp lý
bất thường với tỷ lệ nhất định từ 11% trꢀ lên vững chắc trong phòng chống loại tội phạm
và việc xác định tỷ lệ % phải do cơ quan giám nguy hiểm này. Đó là:
định pháp y kết luận.
- Về dấu hiệu trái ý muốn: Theo quy định
+ BLHS năm 2015 bổ sung tình tiết “phạm của BLHS hiện hành, một dấu hiệu định tội
tội đối với người dưới 10 tuổi” vào khoản 3 Điều trong các tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em là
14 Khoa học Kiểm sát
Số 02 - 2021
PHAN THỊ THU LÊ
dấu hiệu “trái với ý muốn của nạn nhân”. Về dụng thủ đoạn nào khác. Nhiều trường hợp
vấn đề này, tác giả hoàn toàn đồng ý với ý
kiến của PGS.TS. Trần Văn Độ - Nguyên Phó
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là nên thay
dấu hiệu “trái với ý muốn của nạn nhân” bằng
dấu hiệu “không có sự đồng ý của nạn nhân” thì
sẽ phù hợp hơn3. Bꢀi lẽ, việc chứng minh này
có thể sẽ làm ảnh hưꢀng, tổn thương đến tâm
lý nạn nhân cũng như chứng minh “không có
sự đồng ý của nạn nhân” đơn giản hơn chứng
minh “trái với ý muốn của nạn nhân”. Việc xác
định yếu tố trái ý muốn nạn nhân là khá phức
tạp, bao gồm cả hành vi khách quan và ý chí
chủ quan; còn xác định yếu tố không đồng ý
thì đơn giản hơn, chỉ cần xác định các biểu
hiện khách quan như nói không, xô đẩy, bỏ
chạy... là đủ. Sự thay đổi này sẽ khiến người
là nạn nhân của các vụ việc hiếp dâm tránh bị
tổn thương thêm lần nữa trong quá trình điều
tra, truy tố, xét xử; nhất là đối với người dưới
18 tuổi.
- Về vấn đề tuổi của nạn nhân trong tội
giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác với trẻ
em (Điều 145 BLHS năm 2015). Theo đó, nạn
nhân của tội phạm này là người từ đủ 13 tuổi
đến dưới 16 tuổi. Mặc dù hành vi giao cấu
hoặc quan hệ tình dục khác là thuận tình, tức
là có sự đồng ý của nạn nhân, nhưng hành
vi này vẫn bị coi là tội phạm nhằm bảo vệ sự
phát triển toàn diện của trẻ em khi các em còn
chưa phát triển đầy đủ về tâm sinh lý để quyết
định hành vi tình dục của mình. Tuy nhiên,
qua nghiên cứu một số bản án về tội phạm
này và tham vấn ý kiến của một số chuyên gia,
các nhà nghiên cứu cũng như những người
làm thực tiễn, chúng tôi nhận thấy hầu hết
các trường hợp người phạm tội là người yêu
hoặc có trường hợp là người chồng sau này
của nạn nhân. Xuất phát từ tình yêu nên cả hai
do thiếu hiểu biết, không ý thức được hành vi
của mình là phạm tội nhưng vì gia đình tố cáo
nên nạn nhân đã phải nhìn người yêu vướng
vào tù tội và chờ đợi trong nhiều năm để
được kết hôn khi người yêu mãn hạn tù. Thiết
nghĩ, hình phạt áp dụng trong những trường
hợp này không phát huy được hết tính hướng
thiện, không bảo vệ tối đa được quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân, thậm chí đôi khi
còn làm xáo trộn cuộc sống và đe dọa hạnh
phúc của gia đình họ. Do vậy, chúng tôi cho
rằng BLHS nên xem xét lại độ tuổi của đối
tượng tác động trong tội giao cấu với trẻ em
để phù hợp hơn với thực tiễn xã hội cũng như
phù hợp hơn với chính sách hướng thiện của
luật hình sự Việt Nam.
- Theo quy định tại Nghị quyết 06/2019
của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao, hành vi dâm ô chỉ bao gồm các tiếp xúc
cơ học thân thể mà chưa bao gồm các tiếp xúc
nhìn (như buộc nạn nhân xem khoả thân hoặc
buộc nạn nhân khoả thân để xem, cho xem
phim khiêu dâm…) hoặc tiếp xúc nghe (buộc
nghe những lời tục tĩu, nghe những truyện
khiêu dâm…). Hướng dẫn này chưa đảm bảo
việc bảo vệ lợi ích tốt nhất cho các em.
Ngoài ra, cũng đã đến lúc cần tội phạm
hoá các hành vi tấn công tình dục, quấy rối
tình dục hiện đang xảy ra khá phổ biến ꢀ nước
ta. Chỉ tội phạm hoá thì mới có căn cứ khꢀi tố
vụ án và sử dụng các biện pháp tố tụng luật
định để xác định hành vi, thực hiện việc truy
tố, bảo vệ quyền con người và đấu tranh có
hiệu quả các hành vi này…
Đồng thời, để đảm bảo áp dụng có hiệu
quả các quy định của pháp luật hình sự về
đã cùng nhau thực hiện hành vi quan hệ tình các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của
dục mà hoàn toàn không có sự ép buộc hay sử
con người, cần chú trọng đến hoạt động
hướng dẫn áp dụng pháp luật. Một số các
quy định mới trong BLHS năm 2015 chưa
thật rõ ràng có thể dẫn tới những cách hiểu
khác nhau. Do đó, chúng tôi cho rằng các cơ
quan có thẩm quyền cần sớm tiến hành xây
dựng các văn bản hướng dẫn, giải thích rõ
hơn những quy định này; nghiên cứu xây
dựng các án lệ cần thiết./.
3ꢁ
Phát biểu của PGS.TS. Trần Văn Độ tại Hội thảo
“Nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên
đối với các tội phạm xâm phạm sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm phụ nữ và trẻ em” do Trường Đại học
Kiểm sát Hà Nội phối hợp với Cơ quan Hợp tác Quốc
tế Nhật Bản (JICA) và Văn phòng Liên hiệp quốc về
chống Ma túy và Tội phạm (UNODC) tại Việt Nam
tổ chức tháng 8/2019 tại Hà Nội
Số 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 15
Bạn đang xem tài liệu "Những điểm mới và một số kiến nghị nâng cao chất lượng áp dụng các quy định của bộ luật hình sự 2015 về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nhung_diem_moi_va_mot_so_kien_nghi_nang_cao_chat_luong_ap_du.pdf

