Kiểm soát xã hội đối với quyền lực của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay

Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
KIỂM SOÁT XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUYỀN LỰC  
CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HIỆN NAY  
SOCIAL CONTROL ON THE POWER OF VIETNAM'S  
CURRENT POLITICAL SYSTEM  
PGS.TS. Đỗ Minh Khôi1  
Tóm tắt – Thiết kế và vận hành quyền lực nói chung và quyền lực nhà nước  
cũng như kiểm soát sự lạm dụng quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước ở Việt  
Nam hiện nay đã được Đảng rất quan tâm, đặc biệt là từ sau thời kì Đổi mới. Trong  
bối cảnh đó, bài viết này khảo sát cơ chế kiểm soát quyền lực xã hội đối với các  
chủ thể trong hệ thống chính trị; đánh giá vai trò kiểm soát quyền lực của các tổ  
chức chính trị, chính trị – xã hội ở Việt Nam hiện nay và gợi ý khái quát về định  
hướng chính sách cho thiết kế và vận hành hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.  
Từ khóa: quyền lực, kiểm soát xã hội, kiểm soát quyền lực.  
1. KHÁI QUÁT VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC  
1.1. Quyền lực và nhu cầu kiểm soát quyền lực  
Quyền lực là một chủ đề quan trọng bậc nhất của lĩnh vực chính trị, bởi lẽ  
‘chính trị là liên quan đến việc phân bố quyền lực, thực hiện quyền lực và ảnh hưởng  
của quyền lực’ [1]. Tuy nhiên, có rất nhiều cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau về  
quyền lực.  
Về mặt thuật ngữ, trong tiếng Latin cổ, “Potere” có nghĩa là khả năng, khả  
năng ảnh hưởng, khả năng thực hiện một hoạt động [2]. Dưới góc độ mối quan hệ,  
quyền lực là khả năng thực hiện một công việc hay khả năng khiến người khác phải  
làm những điều mà họ không được tự do lựa chọn [3] hoặc quyền lực là mối quan  
hệ giữa hai nhân tố xã hội hay hai thực thể (nhóm và cá nhân). Theo đó, một bên  
có khả năng ảnh hưởng đến người khác và một bên chịu tác động của quyền lực  
không được tự do lựa chọn cách thức xử sự hoặc quyền lực là việc tác động đến  
việc ra quyết định [4].  
Có quan điểm phân chia cơ chế vận hành của quyền lực thành hai loại chính:  
cơ chế tương tác và cơ chế kiến tạo. Cơ chế tương tác giữa các chủ thể được chia  
1 Trường Đại học Luật TP.HCM; Email: [email protected]u.vn  
383  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
thành hai tiểu loại: quyền lực cưỡng chế và quyền lực thể chế. Quyền lực cưỡng  
chế là sự tác động trực tiếp của chủ thể có quyền lực, nó sử dụng nguồn lực vật  
chất, tượng trưng, tinh thần. Quyền lực thể chế là sự tác động gián tiếp thông qua  
các quy trình, chuẩn mực được thiết lập hoặc thông qua sự sắp đặt thể chế. Theo  
đó, chủ thể có quyền có thể không kiểm soát sức mạnh cưỡng chế nhưng vì chủ thể  
có quyền lực có vị trí đặc biệt trong một mối quan hệ đặc biệt và do sự sắp đặt thể  
chế nên họ có thể thực thi quyền lực.  
Căn cứ vào cơ chế kiến tạo, quyền lực được chia thành hai tiểu loại: quyền  
lực cấu trúc và quyền lực kiến tạo. Quyền lực cấu trúc xác định địa vị và năng lực  
của các bên trong quan hệ quyền lực (như quan hệ giữa chủ thể có quyền lực là giới  
tư bản và giới lao động bị tước đoạt quyền lực). Quyền lực kiến tạo dựa trên những  
yếu tố xã hội rộng rãi như bản sắc, các giá trị xã hội và niềm tin [5].  
Nhìn chung, các cách tiếp cận quyền lực như trên phụ thuộc vào cách tiếp  
cận, gắn với những mục đích nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu khác nhau nhưng đều  
xem xét quyền lực dưới góc độ: mối quan hệ giữa các chủ thể; cơ chế thực hiện  
hoạt động, tác động. Tác giả cho rằng, việc xem xét cơ chế vận hành quyền lực là  
cách tiếp cận chủ đạo thay vì tiếp cận quyền lực từ góc độ chủ thể đối tượng kiểm  
soát quyền lực. Nói cách khác, việc tiếp cận cơ chế vận hành cho phép chúng ta có  
thể thiết kế và thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực và đạt được mục đích đặt ra –  
kiểm soát quyền lực.  
Căn cứ theo nguồn lực sức mạnh, quyền lực có thể chia thành quyền lực dựa  
trên sức mạnh kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa; thậm chí, có quan điểm cho  
rằng, trong thời đại kinh tế tri thức, thời đại công nghệ thông tin, thông tin, tri thức  
cũng chính là nguồn của quyền lực. Theo đó, quyền lực hiện đại là sự ‘chuyển giao  
từ nhà tư bản giàu có sang người giàu có về thông tin’ [6]. Hiện nay, tri thức và  
thông tin đã trở thành một nguồn lực, nền tảng và yếu tố cốt lõi cho việc thực hiện  
quyền lực của rất nhiều các chủ thể khác nhau trong xã hội. Do vậy, việc kiểm soát  
quyền lực nói chung và kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị và của hệ thống  
chính trị ở Việt Nam có lẽ sẽ có những chuyển đổi quan trọng.  
Dựa trên chủ thể có quyền, quyền lực có thể chia thành quyền lực nhà nước,  
quyền lực đảng chính trị, quyền lực của các tổ chức xã hội. Những dạng thức quyền  
lực này sẽ tương ứng với các cơ chế, cách thức, chủ thể kiểm soát khác nhau và gắn  
với những mục đích khác nhau. Nếu chủ thể là nhà nước, cơ chế kiểm soát chủ đạo  
sẽ là cơ chế kiểm soát trong, kiểm soát bằng chính các cơ quan nhà nước và kết hợp  
với kiểm soát ngoài, kiểm soát bằng đảng chính trị, tổ chức xã hội và người dân.  
Nếu chủ thể là tổ chức chính trị, xã hội thì việc kiểm soát quyền lực đối với các tổ  
chức này là sự kiểm soát sự tham gia của chúng vào công việc nhà nước, quản lí xã  
hội (hay chúng có biểu hiện của quyền lực công).  
384  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
Sự kiểm soát được hiểu là hoạt động xem xét để phát hiện, ngăn chặn những  
gì trái với quy định, đặt trong phạm vi quyền hành của mình [7]. Kiểm soát quyền  
lực mang nghĩa trung tính, nó không hàm ý quyền lực bị lạm dụng. Liên quan đến  
kiểm soát quyền lực, chế ngự quyền lực hàm ý tiêu cực, ngăn chặn, kiềm chế tác  
hại của việc thực hiện quyền lực. Hạn chế quyền lực không chỉ mang ý nghĩa là  
tránh, ngăn ngừa sự lạm dụng mà nó còn hàm ý chính quyền tự nó có tiềm năng vi  
phạm [8]. Tuy có sự khác biệt về nội dung các thuật ngữ, trên thực tế, việc kiểm  
soát quyền lực trong một số trường hợp bao hàm các hình thức chế ngự, hạn chế  
quyền lực vì kiểm soát quyền lực sẽ là vô nghĩa nếu không có khả năng hạn chế và  
chế ngự được sự lạm dụng quyền lực. Nói một cách đơn giản, sự kiểm soát quyền  
lực có nội hàm rộng hơn, nó không chỉ mang nghĩa tiêu cực (xem xét để ngăn chặn,  
xử lí những sai trái) mà còn có nghĩa tích cực (đảm bảo hoạt động quyền lực đúng  
mục đích, yêu cầu).  
Kiểm soát quyền lực xuất phát từ các lí do: (1) quản lí nói chung và quản lí  
nhà nước nói riêng cần phải có quyền lực, bởi quyền lực mới có thể tạo ra trật tự xã  
hội, trật tự pháp luật; (2) quyền lực và đặc biệt là quyền lực nhà nước có một đặc  
tính quan trọng, đây là việc độc quyền sử dụng sức mạnh vũ lực. Do nó có ảnh  
hưởng rất lớn đến xã hội nên chúng ta nên cần theo dõi, xem xét để phát hiện, ngăn  
chặn sự lạm dụng quyền lực và (3) chủ thể có quyền lực (Nhân dân) nhưng không  
trực tiếp thực hiện quyền lực nên cần kiểm soát việc thực hiện quyền lực, đảm bảo  
quyền lực này được thực hiện theo đúng ý chí của chủ thể.  
Để hạn chế sự chuyên quyền, học thuyết phân quyền dựa trên một giả định  
rằng, quyền lực rất mạnh không thể chế ngự, chỉ có thể dùng chính quyền lực mới  
có thể chế ngự được quyền lực. Trên cơ sở đó, quan điểm phân quyền cho rằng,  
quyền lực nhà nước phải được phân định thành ba nhánh khác nhau, hình thành  
bằng ba con đường độc lập với nhau, kiểm soát và cân bằng nhau. Tuy nhiên, việc  
phân chia quyền lực nhà nước không phải là công cụ toàn năng bởi nó thiếu phương  
tiện để thống nhất hành động của chính quyền [9]. Do đó, chúng ta cần có nhận  
thức về các yếu tố cơ bản nhất quyết định nội dung cơ chế kiểm soát.  
Thứ nhất, về mục đích, sự kiểm soát quyền lực nhằm đảm bảo tự do cá nhân,  
chống lạm quyền. Nó sẽ khác với mục đích bảo đảm vị trí của các giai cấp, lực  
lượng thống trị bởi sự kiểm soát khi đó là công việc “nội bộ” của giai cấp thống trị,  
ngăn cản giai cấp, tầng lớp bị trị tham gia vào việc kiểm soát quyền lực. Ngược lại,  
sự kiểm soát nhằm bảo vệ tự do, quyền lực thuộc về Nhân dân là phương tiện và là  
biểu hiện của dân chủ.  
Thứ hai, loại chủ thể bị kiểm soát ảnh hưởng đến nội dung và cách thức kiểm  
soát. Sự kiểm soát cơ quan nhà nước sẽ khác với tổ chức chính trị; sự kiểm soát cơ  
quan lập pháp sẽ khác với cơ quan hành pháp, tư pháp và đảng phái.  
385  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
Thứ ba, loại quyền lực ảnh hưởng đến việc thiết kế cơ chế kiểm soát quyền  
lực. Kiểm soát loại quyền lực pháp lí sẽ khác với kiểm soát quyền lực chính trị,  
kinh tế, tư tưởng, thông tin. Chẳng hạn, sự phát triển của công nghệ thông tin, mạng  
xã hội đòi hỏi phải kiểm soát quyền lực được thực hiện theo những cách phi truyền  
thống như “truyền tin”, “lôi kéo”, “tạo dư luận” thông qua mạng Internet.  
Thứ tư, chủ thể kiểm soát ảnh hưởng đến cơ chế, biện pháp thực hiện sự kiểm  
soát. Với chủ thể là cử tri, cách thức kiểm soát thông qua bầu cử, quyền tự do ngôn  
luận, tự do hội họp hoặc quy chế dân chủ cơ sở.  
Để hoạt động kiểm soát quyền lực có ý nghĩa và có giá trị, các căn cứ và tiêu  
chí đánh giá việc thực hiện quyền lực cần phải được đặt ra trước, rất rõ ràng, chính  
xác, có thể đo lường được việc thực hiện quyền lực. Mặt khác, hình thức, nội dung  
của việc thực hiện quyền lực với tư cách là đối tượng bị kiểm soát cũng cần có tính  
xác định cao, rõ ràng để chủ thể kiểm soát thực hiện sự kiểm soát. Với ý nghĩa đó,  
việc thực hiện quyền lực nhà nước và quyền lực chính trị nói chung phải trên cơ sở  
pháp luật, trong khuôn khổ pháp luật bởi pháp luật có thuộc tính xác định chặt chẽ  
về hình thức và nội dung, pháp luật là quy tắc được định trước, rõ ràng. Hoạt động  
quyền lực phải trong khuôn khổ và chịu sự ràng buộc của pháp luật là cốt lõi của tư  
tưởng về nhà nước pháp quyền. Hơn thế, không chỉ nhà nước mà cả xã hội cũng  
phải tuân theo pháp luật. Mục đích của xã hội không chỉ là nhà nước pháp quyền  
mà là xã hội pháp quyền.  
Để đánh giá việc thực hiện quyền lực, chúng ta cần phải dựa trên những tiêu  
chí, căn cứ về nội dung, tính chất, phải phù hợp giá trị, chuẩn mực văn minh, tiến  
bộ chung của nhân loại. Ví dụ, tính hợp lí, tính dân chủ, nhân quyền, tính dân tộc,  
tính hội nhập.  
Kiểm soát quyền lực giống như dân chủ, có nhiều mức độ khác nhau, ở mức  
cao nhất là trưng cầu dân ý. Trưng cầu dân ý ngày càng trở nên phổ biến: ‘tiếng nói  
của người dân là tiếng nói của Chúa’ [10]. Một lí do khác là ‘một khi trưng cầu  
được thực hiện về một vấn đề cụ thể để hợp pháp hóa, sẽ khó tránh khỏi nếu vấn đề  
tương tự xảy ra trong tương lai’ [11]. Xu hướng sử dụng trưng cầu dân ý tăng lên  
và hình thức trưng cầu dân ý mà công dân xuất gắn với chế độ dân chủ ở mức cao  
[12]. Điều này cũng cho thấy sự tương đồng giữa thực tế của xu hướng phát triển  
của dân chủ nói chung và dân chủ trực tiếp trên thế giới với chủ trương của Đảng  
và tinh thần của Hiến pháp 2013 về thực hiện dân chủ nói chung và dân chủ trực  
tiếp [13].  
Ở mức độ thứ hai, sự kiểm soát quyền lực là việc tham gia, góp ý cho việc ra  
quyết định của chủ thể có quyền lực. Tuy, với hình thức này, chủ thể giám sát không  
tác động trực tiếp đến người có quyền nhưng nó có thể tác động đến việc ra quyết  
định và có tính liên tục, có thể tạo áp lực chính trị và khi kết hợp với hình thức khác  
có thể có hiệu lực khá mạnh mẽ trong nền dân chủ hiện đại. Việc thực hiện quyền  
386  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
hội họp, biểu tình, phản biện chính sách cũng là hình thức kiểm soát quan trọng  
trong xã hội dân chủ.  
Ở mức độ thứ ba, kiểm soát quyền lực là việc xử lí những sai lệch, vi phạm  
của chủ thể thực hiện quyền lực. Hình thức phổ biến của mức độ kiểm soát này  
được thực hiện thông qua bầu cử định kì. Tuy nhiên, việc mỗi bốn năm hay năm  
năm một lần lựa chọn hoặc đôi khi bãi miễn các đại diện không theo sát và đánh  
giá được việc thực hiện quyền lực và do vậy, mức độ kiểm soát là hạn chế. Tuy  
nhiên, trong điều kiện dân chủ đại diện là phổ biến, việc bầu cử lại là cơ chế phổ  
quát nhất để cử tri kiểm soát quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị. Cũng ở mức  
độ thứ ba này, một hình thức, phương thức kiểm soát quyền lực có tính thực tế, thiết  
thực đó là kiểm soát bằng việc xét xử những vi phạm, lạm dụng quyền lực bằng tòa  
án (bao gồm cả tòa án thường và tòa án hiến pháp). Ba cơ chế kiểm soát như trên  
gắn với cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước với tư cách là hạt nhân của quyền lực  
chính trị.  
Các hình thức và mức độ kiểm soát quyền lực chính trị như trên, dù trong hay  
ngoài nhà nước đều chịu ảnh hưởng rất mạnh mẽ bởi các yếu tố: sự phát triển của  
khoa học, công nghệ (công nghệ thông tin), sự phát triển của truyền thông và truyền  
thông đại chúng, sự phát triển của nền dân chủ hiện đại, quá trình toàn cầu hóa. Và  
do vậy, nội dung và cơ chế kiểm soát quyền lực hiện đại đã trở lên đa dạng và phức  
tạp hơn.  
1.2. Vai trò, đặc trưng của kiểm soát xã hội đối với quyền lực của hệ thống  
chính trị Việt Nam hiện nay  
Kiểm soát quyền lực cũng là một vấn đề quan trọng trong đời sống chính trị  
Việt Nam. Kiểm soát xã hội đối với quyền lực của hệ thống chính trị có vai trò quan  
trọng, bởi nó giúp chủ thể của quyền lực theo dõi, kiểm tra, xem xét việc thực hiện  
quyền lực có phù hợp với ý chí của Nhân dân, có đúng với các chuẩn mực, giá trị  
chung và quy định của pháp luật hay không.  
Xuất phát từ quan niệm đối với quyền lực là kiểm soát mà không phải là hạn  
chế hay chế ngự. Kiểm soát quyền lực có hai giá trị cơ bản. Một mặt, kiểm soát  
quyền lực bảo đảm cho việc thực hiện quyền lực phải do dân, vì dân, đúng pháp  
luật, phù hợp với giá trị văn minh và không bị lạm dụng, không sai trái. Mặt khác,  
kiểm soát quyền lực cũng giúp cho việc thực hiện quyền lực hiệu quả hơn, hợp pháp  
hơn, văn minh hơn. Trên thực tế, nhiều trường hợp cho thấy, sự kiểm soát, chế ngự,  
hạn chế quyền lực nhà nước đôi khi làm cho nó yếu đi và không thực hiện tốt chức  
năng, nhiệm vụ mà nó vốn phải thực hiện. Ví dụ, một số quốc gia cố gắng giảm lĩnh  
vực can thiệp của nhà nước nhưng họ đồng thời giảm luôn năng lực của nhà nước  
[14]. Có lẽ, cách tiếp cận kiểm soát quyền lực cần chú ý cả hai mặt, ngăn chặn tiêu  
cực và thúc đẩy tích cực. Và vì lẽ đó, việc lựa chọn khái niệm kiểm soát quyền lực  
387  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
của Đảng Cộng sản Việt Nam phù hợp hơn so với khái niệm chế ngự, hạn chế quyền  
lực vốn được ưa chuộng nhiều nơi trên thế giới.  
Xuất phát từ vai trò như trên, đặc trưng đầu tiên của kiểm soát xã hội đối  
với quyền lực của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay là sự kiểm soát quyền lực  
có tính hài hòa hai mục tiêu cơ bản, ngăn chặn vi phạm, lạm dụng và thúc đẩy hiệu  
quả của việc thực hiện quyền lực. Điều này đã được hiện rất rõ trong Hiến pháp  
2013 với những nội dung mới, nổi bật trong chế độ chính trị – thực hiện dân chủ và  
kiểm soát quyền lực và một chương độc lập về quyền con người, quyền công dân.  
Thứ hai, kiểm soát xã hội đối với quyền lực của hệ thống chính trị ở Việt Nam có  
tính thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không tạo đối lập  
chính trị, đa nguyên, đa đảng. Thứ ba, cơ sở chính trị và pháp lí của kiểm soát xã  
hội đối với quyền lực của hệ thống chính trị ở Việt Nam là chủ trương, chính sách  
của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp  
quyền xã hội chủ nghĩa.  
1.3. Tính tất yếu khách quan của việc kiểm soát xã hội đối với quyền lực trong  
hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay  
Kiểm soát xã hội đối với quyền lực của hệ thống chính trị là một hiện tượng  
có tính tất yếu, khách quan bởi những lí do sau:  
Thứ nhất, tính tất yếu khách quan bởi mục tiêu chủ của kiểm soát xã hội là  
thiết lập trật tự, trật tự xã hội trong đời sống chính trị.  
Thứ hai, quyền lực chính trị được coi là loại quyền lực có tính công, ảnh  
hưởng và liên quan đến lợi ích chung của xã hội. Với tính chất này, quyền lực của  
hệ thống chính trị cần phải được kiểm soát nhằm đảm bảo trật tự chung, đảm bảo  
lợi ích chung cho toàn xã hội.  
Thứ ba, quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ xã hội, từ  
Nhân dân nhưng Nhân dân không thể hoàn toàn trực tiếp thực hiện. Do vậy, chúng  
ta cần phải kiểm soát để bảo đảm chủ quyền thuộc về Nhân dân.  
Thứ tư, có người đã từng nói, quyền lực có xu hướng tha hóa, quyền lực tuyệt  
đối có xu hướng tha hóa tuyệt đối [15]. Do vậy, phải kiểm soát quyền lực là một  
trong những biện pháp dùng để tránh lạm dụng quyền lực và hơn thế, kiểm soát  
quyền lực để bảo đảm quyền lực được thực hiện đúng mục đích dân chủ, hiệu lực  
và hiệu quả.  
Việc hoàn thiện hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước nói chung và sự kiểm  
soát quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị là một chủ trương quan trọng của Đảng  
Cộng sản Việt Nam. Chủ trương này được thể hiện trong các văn kiện Đại hội Đại  
biểu Toàn quốc lần X (2006) về giám sát tính hợp hiến, hợp pháp; Đại hội Đại biểu  
Toàn quốc lần XI (2011) về kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền  
lập pháp, hành pháp và tư pháp; Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần XII (2016) về xác  
388  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
định rõ cơ chế kiểm soát quyền lực, kiểm soát các quyền ở các cấp chính quyền. Về  
mặt pháp lí, chủ trương về kiểm soát quyền lực nhà nước đã chính thức được thể  
chế hóa trong Hiến pháp 2013.  
2. KIỂM SOÁT XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUYỀN LỰC CỦA NHÀ NƯỚC  
2.1. Vai trò, địa vị và hoạt động của các tổ chức xã hội trong việc kiểm soát  
quyền lực Nhà nước trong hoạt động xây dựng pháp luật  
Tăng cường sự tham gia, giám sát của các tổ chức xã hội vào đời sống chính  
trị nói chung và hoạt động quản lí nhà nước nói riêng. Đây là một xu thế phát triển  
của nền chính trị hiện đại. Trong các hình thức và cách thức tham gia, sự tham gia  
thông qua các tổ chức chính, một mặt là sự bảo đảm quyền tham gia của cá nhân  
vào đời sống chính trị, mặt khác, nó cũng là cơ chế để kiểm soát quyền lực và cơ  
chế này giúp sự kiểm soát có tác dụng, hiệu ứng mạnh mẽ hơn khi được thực hiện  
trong một tập thể, một tổ chức.  
Nhiều quan điểm cho rằng, việc ghi nhận trong hiến pháp chỉ mang tính hình  
thức (Window Dressing), vô nghĩa và không phù hợp [16]. Tuy nhiên, xét trong bối  
cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, chúng tôi đồng ý với quan điểm  
cho rằng hiến pháp và sự ghi nhận bằng hiến pháp là phương thức rất quan trọng để  
bảo vệ quyền của cá nhân và công dân cũng như bảo vệ sự vận hành của thể chế,  
tạo tiền đề pháp lí cho sự kiểm soát quyền lực của các cơ quan nhà nước [17].  
Về mặt lí thuyết, hiến pháp và các luật cần phải ghi nhận địa vị pháp lí của  
các tổ chức xã hội (không là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam). Việc ghi  
nhận này không có nghĩa là các tổ chức này sẽ tồn tại và hoạt động trên thực tế. Tuy  
nhiên, nó là chỉ dấu cho thấy sự cam kết của nhà nước về sự thực hiện quyền dân  
chủ, quyền tham gia và kiểm soát quyền lực của các tổ chức xã hội có cơ sở pháp  
lí. Sự ghi nhận thể hiện qua địa vị pháp lí và quyền được thể hiện qua: (1) sự ghi  
nhận địa vị pháp lí rõ ràng trong hiến pháp và thể hiện qua quyền tự do hội họp và  
tự do lập hội; (2) sự ghi nhận một cách bình đẳng về địa vị pháp lí của các tổ chức  
trong xã hội so với các loại tổ chức khác.  
Hiến pháp năm 2013 đã có ghi nhận quyền tham gia của công dân vào bộ máy  
nhà nước và trách nhiệm bảo đảm thực hiện ở các Điều 3, 6, 8, 9, 28. Đặc biệt,  
Khoản 3, Điều 9 ghi nhận các tổ chức xã hội nói chung hoạt động trong khuôn khổ  
pháp luật (cũng có thể hiểu là nghĩa vụ tuân thủ pháp luật) và trách nhiệm tạo điều  
kiện của nhà nước cho các tổ chức này hoạt động nhưng không ghi rõ là các tổ chức  
này có quyền tham gia và tham gia vào hoạt động quản lí nhà nước nói chung.  
Ngược lại, Khoản 1, Điều 9 ghi nhận rất rõ quyền và phạm vi hoạt động trong lĩnh  
vực quản lí nhà nước của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên, đặc biệt là  
quyền giám sát, phản biện xã hội; quyền tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước.  
Như vậy, có thể kết luận rằng: (1) các tổ chức không là thành viên của Mặt  
trận Tổ quốc Việt Nam có thể được tồn tại và hoạt động nhưng phải tuân thủ pháp  
389  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
luật; (2) các tổ chức xã hội (không là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)  
không phải là ‘cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân’ và không được trực tiếp  
tham gia vào các hoạt động chính trị quy định ở Khoản 1, Điều 9.  
Theo chúng tôi, cần xác định địa vị một cách bình đẳng trong việc tham gia  
vào quá trình xây dựng pháp luật của các tổ chức xã hội. Bởi lẽ, các chủ thể cần  
phải được bình đẳng trước pháp luật và việc tạo ra địa vị khác nhau trong việc tham  
gia vào quá trình xây dựng pháp luật là trái với nguyên tắc này. Mặt khác, cần quy  
định rõ điều kiện, hình thức, cách thức tham gia và phải dựa trên sự khác nhau về  
tính chất và chức năng của các tổ chức xã hội và không nên căn cứ vào sự phân  
định thứ bậc về địa vị chính trị của các tổ chức này. Hơn nữa, cần quy định các  
quyền tham gia, hình thức tham gia một cách đa dạng nhằm thu hút sự tham gia dân  
chủ của các tầng lớp khác nhau trong xã hội, nâng cao ý thức trách nhiệm và góp  
phần phát huy trí tuệ tập thể trong việc xây dựng pháp luật. Quy định rõ, đa dạng  
và khả thi các hình thức, biện pháp nhằm bảo đảm sự tham gia của các tổ chức xã  
hội vào quá trình xây dựng pháp luật. Đặc biệt, nhấn mạnh các quy định về trách  
nhiệm bảo đảm của cơ quan nhà nước trong việc tạo điều kiện cho sự tham gia này.  
2.2. Kiểm soát xã hội đối với quyền lực nhà nước trong hoạt động thực hiện và  
bảo vệ pháp luật  
Kiểm soát xã hội đối với quyền lực nhà nước trong lĩnh vực thực hiện và bảo  
vệ pháp luật có thể nói một cách ngắn gọn là kiểm soát quyền hành pháp và tư pháp  
và nó cũng bao hàm cả hoạt động xây dựng bộ máy nhà nước.  
Hình thức dân chủ bảo vệ quyền của người dân và cũng là cơ chế ngăn chặn  
những vi phạm từ phía nhà nước. Chúng tôi có thể nhất trí với quan điểm: ‘Tòa án  
là nơi đầu tiên và trước nhất mà người dân trông cậy để gìn giữ quyền con người’  
[15]. Mặc dù quá trình dân chủ hóa đã có những thay đổi đáng kể từ sau Đổi mới ở  
Việt Nam nhưng tình hình thực hiện cơ chế dân chủ bảo vệ và kiểm soát sự vi phạm  
của quyền lực nhà nước ở Việt Nam không phải là bức tranh toàn gam màu sáng,  
chẳng hạn hoạt động xét xử của tòa án trong lĩnh vực hình sự còn có những hạn chế  
cơ bản, những hạn chế đó thể hiện qua thực tiễn pháp lí [18]. Trong lĩnh vực tố tụng  
hành chính, thẩm quyền, thủ tục, thời hiệu xét xử các vụ án hành chính còn nhiều  
hạn chế trong quy định của pháp luật cũng như thực tiễn xét xử [19]. Việc nhận biết  
về các tổ chức hỗ trợ pháp lí, hòa giải cơ sở cũng đáng để chúng ta suy nghĩ.  
Trong các cơ chế dân chủ, cơ chế dân chủ kiểm soát dường như có vai trò  
quan trọng và thích hợp với đặc thù thể chế của Việt Nam bởi nó vừa đóng vai trò  
là cơ chế ngăn chặn sự vi phạm quyền con người và đồng thời thúc đẩy quyền con  
người. Tuy nhiên, dân chủ kiểm soát về mặt pháp lí còn hạn chế. Ví dụ: ‘… khái  
niệm kiểm soát quyền lực lập pháp (nói riêng) chưa bao giờ được chính thức ghi  
nhận trong bất kì một văn bản pháp luật nào của Việt Nam và cũng chưa được bàn  
thảo về mặt lí luận trong khoa học pháp lí nước ta’ [20]. Điều này cũng phù hợp với  
390  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
một đánh giá khác về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua cơ chế bỏ  
phiếu tín nhiệm ở Việt Nam đang trong quá trình tranh luận hơn là hiện thực [21].  
Về bầu cử, hình thức, cơ chế dân chủ này còn nhiều hạn chế. Ví dụ, tình trạng  
mất cân đối về tính đại diện theo dân số giữa các địa phương, tỉ lệ nhóm “yếu thế”  
còn hạn chế, tỉ lệ tự ứng cử và trúng cử còn khiêm tốn. Việc tổ chức cho cử tri tiến  
hành bãi miễn đại biểu quốc hội trên thực tế là không khả thi và chưa có đủ cơ sở  
pháp lí rõ ràng cho việc thực hiện chế độ bãi nhiệm đại biểu dân cử [20].  
Dân chủ trực tiếp với ý nghĩa là hình thức, cơ chế dân chủ tiến bộ nhất hầu  
như chưa được thực hiện trên thực tế. Quy chế dân chủ ở cơ sở có thể được coi là  
một hình thức, cơ chế dân chủ trực tiếp có hiệu quả và thành công ở mức độ nhất  
định. Tuy nhiên, cũng có quan điểm đánh giá việc thực hiện dân chủ ở cơ sở không  
hoàn toàn lạc quan bởi sự hạn chế của không gian tham gia dân chủ trực tiếp, tài  
chính, năng lực, văn hóa, tàn dư nền kinh tế tập trung.  
Hình thức, biểu hiện dân chủ trực tiếp rất quan trọng khác như trưng cầu dân  
ý (phúc quyết toàn dân) mặc dù đã được luật hóa nhưng chưa được thực hiện trên  
thực tế. Có quan điểm cho rằng dân chủ trực tiếp khó thực hiện trong điều kiện dân  
trí và trình độ phát triển kinh tế thấp, thế lực thù địch luôn kích động [22]. Theo  
chúng tôi, điều này không thuyết phục bởi tuy điều kiện khó khăn hơn hiện nay rất  
nhiều nhưng Hiến pháp năm 1946 đã quy định về việc phúc quyết toàn dân. Do đó,  
chúng tôi cho rằng:  
Thứ nhất, tiếp tục thực hiện và nâng cao hiệu quả, hiệu lực những cơ chế kiểm  
soát xã hội đối với quyền lực nhà nước hiện hành (như kiểm soát thông qua việc  
thực hiện quy chế dân chủ cơ sở), bởi đây là những tiền đề quan trọng cho kiến  
thiết, vận hành và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong tương lai.  
Thứ hai, việc kiểm soát xã hội đối với quyền lực nhà nước nên bắt đầu từ nhu  
cầu thực tế, gắn với những vụ việc cụ thể. Theo đó, việc kiểm soát bằng sự phán  
xét của tư pháp đối với các vụ việc cụ thể là hình thức kiểm soát có tính thực tế cao,  
phản ánh nhu cầu kiểm soát quyền lực có thật trong xã hội, đặc biệt là những vụ  
kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước sẽ tạo niềm  
tin vào hệ thống tòa án, niềm tin vào công lí và tạo áp lực xã hội lên việc thực hiện  
quyền lực nhà nước.  
Thứ ba, cần gia tăng cạnh tranh giữa các ứng viên, hiện thực hóa cơ chế bãi  
miễn, miễn nhiệm đại biểu quốc hội, gia tăng vai trò và cơ chế chịu trách nhiệm  
trước cử tri của đại biểu quốc hội là cách thức kiểm soát hữu hiệu trong điều kiện  
Việt Nam hiện nay.  
Thứ tư, thực hiện trưng cầu dân ý, với ý nghĩa là Nhân dân quyết định bằng  
bỏ phiếu, thể hiện mức độ dân chủ cao nhất và cũng là hình thức kiểm soát xã hội  
đối với quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị có tính dân chủ nhất trong điều kiện  
hiện tại.  
391  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
Thứ năm, bên cạnh những cơ chế pháp lí, chính trị để kiểm soát xã hội đối  
với quyền lực nhà nước, cần gia tăng kiểm soát về mặt văn hóa, đạo lí. Sự tha hóa  
quyền lực không thể giải quyết bằng sự phán xét, trừng phạt mà nó cần có sự tác  
động của những yếu tố đạo đức, niềm tin trong xã hội.  
Thứ sáu, kiểm soát xã hội đối với quyền lực nhà nước cần phải có môi trường  
thuận lợi. Ví dụ, cần có tự do thông tin, tự do ngôn luận, tự do lập hội. Bởi lẽ, sức  
mạnh của sự kiểm soát xã hội dựa vào sự kết nối các thành viên trong xã hội.  
3.  
KIỂM SOÁT XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUYỀN LỰC CỦA MẶT TRẬN TỔ  
QUỐC VIỆT NAM VÀ TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI  
Quyền lực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thể hiện chủ yếu trong lĩnh  
vực pháp lí và được quy định rất chi tiết trong Hiến pháp năm 2013 và Luật Mặt  
trận Tổ quốc Việt Nam 2015. Những lĩnh vực hoạt động thể hiện quyền lực chính trị  
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam rất đa dạng, trải dài từ quyền đưa ra kiến nghị đối  
với cơ quan nhà nước, tham gia xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật, xây  
dựng bộ máy nhà nước, giám sát cơ quan nhà nước và phản biện xã hội đối với việc  
xây dựng và thực hiện chính sách xã hội của nhà nước. Những loại quyền này của  
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tác động gián tiếp tới hoạt động của cơ quan nhà nước,  
nó không mang tính chất cưỡng chế, không sử dụng sức mạnh vũ lực, ngược lại, nó  
chủ yếu thuyết phục, tác động thông qua nhận thức.  
Với những loại quyền lực chính trị như trên, việc kiểm soát xã hội đối với  
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là rất quan trọng, bởi nó thể hiện sự phản ứng của xã  
hội đối với những tổ chức mang tính chính trị – xã hội rộng rãi. Về nguyên tắc, cơ  
chế kiểm soát sẽ nhấn mạnh sự theo dõi việc thực hiện quyền lực của Mặt trận Tổ  
quốc Việt Nam có bảo đảm đúng vai trò của nó. Kiểm soát quyền lực của Mặt trận  
Tổ quốc Việt Nam có những đặc trưng sau:  
Thứ nhất, về đối tượng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh, liên  
hiệp của những tổ chức và cá nhân, không phải là một tổ chức có tính hệ thống về  
cơ cấu, hoạt động không thể hiện sự thống nhất ý chí. Do vậy, để bảo đảm tính  
thống nhất của cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, hoạt động của Mặt trận  
Tổ quốc Việt Nam nên chịu sự kiểm soát xã hội kết hợp với kiểm soát bởi Đảng  
Cộng sản Việt Nam.  
Thứ hai, đặc thù của kiểm soát xã hội đối với quyền lực của Mặt trận Tổ quốc  
Việt Nam về cơ bản là cơ chế tự kiểm soát và kiểm soát quyền lực thông qua các tổ  
chức chính trị và tổ chức xã hội. Sự kiểm soát này thể hiện thông qua sự tham gia  
vào các tổ chức chính trị, xã hội để kiểm soát chính quyền lực chính trị của chúng  
và kiểm soát quyền lực của tổ chức liên hiệp của chúng. Sự tham gia cũng có thể  
được thực hiện từ bên ngoài, bằng sự giám sát, phản biện, góp ý và giám sát trong  
và giám sát ngoài có vai trò tương tác, bổ trợ để giám sát thực sự hiệu lực và  
hiệu quả.  
392  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
Thứ ba, cơ chế kiểm soát cần phải được thể chế hóa và ở mức độ ổn định,  
hiệu lực và hiệu quả nhất – cơ chế pháp lí. Vì vậy, cần phải có quy định pháp luật  
ghi nhận sự tồn tại của các tổ chức xã hội (Luật về Hội) và ghi nhận một cách bình  
đẳng địa vị pháp lí trong tổ chức và trong hoạt động của tất cả các tổ chức chính trị,  
xã hội.  
4. THỂ CHẾ XÃ HỘI KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG HỆ THỐNG  
CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM  
4.1. Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kiểm soát quyền lực  
Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được chứng minh trong lịch sử hình  
thành và phát triển đất nước và được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013. Với vai  
trò lãnh đạo toàn diện đối với hệ thống chính trị và Nhà nước, cơ chế và hệ thống  
các biện pháp kiểm soát quyền lực cần phải có đầu mối lãnh đạo nhằm kiểm soát  
được và hiệu quả quyền lực. Và do vậy, vị trí này phải do Đảng Cộng sản Việt Nam  
đảm nhiệm.  
Mặt khác, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là một chủ thể thực hiện quyền lực  
chính trị trong hệ thống chính trị. Vì vậy, việc kiểm soát quyền lực chính trị trước  
hết phải là sự tự kiểm soát của Đảng đối với các đảng viên, các tổ chức của Đảng,  
các hoạt động của Đảng trong mọi phạm vi, lĩnh vực và kiểm soát này mang tính  
liên tục, bền vững. Nói một cách ngắn gọn, sự tự kiểm soát quyền lực của Đảng là  
kiểm soát toàn diện. Để sự tự kiểm soát quyền lực của Đảng thành công, cần có sự  
kết hợp các cơ chế pháp lí, chính trị, văn hóa, đạo đức, kết hợp kiểm soát bên trong  
và ngoài Đảng, ở tất cả các cấp, các mức độ, loại và hình thức thực hiện quyền lực.  
4.2. Vai trò của công dân, cơ quan truyền thông trong kiểm soát quyền lực  
của Đảng, Nhà nước  
Sự phát triển của khoa học và kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin đã làm  
thay đổi đáng kể đời sống chính trị hiện đại. Thế hệ Web từ 1.0 tới 3.0 xuất hiện  
truyền thông đại chúng và mạng xã hội dẫn đến sự thay đổi mang tính cách mạng  
khiến cho việc tiếp cận thông tin, giao tiếp giữa các cá nhân mở rộng hơn. Từ đó,  
nó sẽ tăng cường sự minh bạch chính trị và thúc đẩy dân chủ, thúc đẩy quyền lực  
của người dân, tạo áp lực lên chính quyền. Nói một cách ngắn gọn, Internet nhìn  
tổng thể là có lợi cho dân chủ [22]. Từ đó, có thể nói rằng, truyền thông đại chúng  
của kỉ nguyên số đã thúc đẩy khả năng kiểm soát quyền lực bởi sự hỗ trợ của công  
nghệ. Truyền thông và truyền thông đại chúng đảm bảo sự minh bạch, thúc đẩy  
tương tác giữa công dân với quản trị đất nước, tăng tính chịu trách nhiệm trước  
công dân, giám sát chi tiêu công, đánh giá dịch vụ công, thúc đẩy sự tham gia của  
công dân thông qua truyền thông bằng bầu cử, hoạch định chính sách và thực thi  
chính sách [23]. Phương tiện truyền thông xã hội cũng cung cấp không gian cho  
việc huy động, vận động có tính tự nguyện hơn [23]. Truyền thông hiện đại cho  
phép kết nối trực tiếp các cá nhân với Đảng, lãnh tụ, làm cho Đảng trở nên dân chủ  
393  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
hơn, dễ dàng kiểm soát chính trị gia, giảm bớt sự bất cân xứng thông tin, buộc chính  
trị gia có trách nhiệm hơn, minh bạch và đáp ứng lợi ích cửa công dân hơn và chính  
khách cũng dễ dàng bị trừng phạt hơn [23].  
Mạng xã hội, không gian số gây ra những thay đổi có tính cách mạng. ‘Sự  
phát triển cộng nghệ có tính đột phá có thể báo hiệu sự kết thúc của phương thức  
quản lí nhà nước kéo dài hàng thế kỉ và quyền lực của nhà nước bị thách thức một  
cách cơ bản, mất đi vị thế ưu việt trong xã hội’ và ở chiều ngược lại, ‘…vì công  
nghệ kĩ thuật số thách thức quản lí tập trung và kiểm soát có tính hệ thống chặt chẽ  
bởi nhà nước, nhà nước đang ngày càng tìm cách kiểm soát chính mạng xã hội,  
nhưng khả năng này của nhà nước là xung đột với các mục tiêu phát triển mạng xã  
hội của nó’ [24]. Như vậy, quyền lực nhà nước không còn độc quyền như trước, nó  
bị cạnh tranh bởi mạng xã hội có tính chất toàn cầu và sức mạnh của mạng xã hội  
tăng lên theo số lượng các thành viên kết nối. Nói một cách ngắn gọn, sự phát triển  
của mạng xã hội, truyền thông đại chúng trên nền tảng công nghệ số đã trở thành  
một lực lượng thách thức (và có thể là kiểm soát) quyền lực thể chế có tính thứ bậc  
nói chung và Nhà nước nói riêng. Sự thách thức này có tính quy luật, nó không tốt  
mà cũng chẳng xấu, vấn đề là ứng xử với công nghệ và hậu quả chính trị của công  
nghệ mà thôi.  
Tuy nhiên, sự phát triển của truyền thông đại chúng có thể hạn chế việc ra  
quyết định, cản trở sự quản trị dân chủ và ‘cộng đồng trực tuyến có thể tạo ra những  
hậu quả không mong muốn đối với chính thể dân chủ bởi thành viên của họ bị cực  
đoan hóa chứ không phải được điều hòa tư tưởng để tránh cực đoan’ [23] hoặc công  
nghệ cũng chỉ là công cụ, người dân vẫn có thể bị dẫn dắt, nếu mạng Internet giúp  
giảm chi phí cho vận động chính trị thì nó cũng làm tăng chống đối cực đoan.  
5. CÁC GỢI Ý KHÁI QUÁT VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH CHUNG  
Thứ nhất, cần làm rõ mục đích của việc kiểm soát quyền lực trong hệ thống  
chính trị. Sự kiểm soát này nhằm mục đích gì? Phục vụ cho ai? Nếu có nhiều mục  
đích, mục đích nào là cao nhất?  
Thứ hai, thiết kế sự kiểm soát xã hội đối với quyền lực bằng cách mở rộng  
lựa chọn có cạnh tranh việc thực thi chính sách. Ví dụ, cùng là ứng viên của Đảng  
nhưng phải cạnh tranh về việc thực thi chính sách của Đảng trước cử tri.  
Thứ ba, kiểm soát xã hội đối với quyền lực của hệ thống chính trị gắn liền với  
việc thực hiện dân chủ ở tất cả các hình thức, cơ chế và mức độ dân chủ khác nhau.  
Lí lẽ rất đơn giản, mọi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân  
cho nên, việc kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước tức là thực hiện  
quyền dân chủ.  
Thứ tư, nếu chế độ một đảng là đặc thù của hệ thống chính trị Việt Nam, thì  
việc kiểm soát quyền lực chính trị nói chung phải gắn với vai trò lãnh đạo thống  
nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam và gắn với sự tự kiểm soát của Đảng.  
394  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
Thứ năm, để đảm bảo sự kiểm soát quyền lực có tính liên tục, thống nhất, ổn  
định và bền vững, việc kiểm soát quyền lực phải được pháp lí hóa, thể chế hóa bằng  
luật. Việc kiểm soát quyền lực phải đảm bảo tính công lí, công bằng và càng không  
phải là “trò chơi chính trị”, công cụ chính trị phục vụ cho mục đích của bất cứ thế  
lực nào nếu như không vì Nhân dân, dân tộc.  
Thứ sáu, sự kiểm soát xã hội đối với quyền lực của hệ thống chính trị đòi hỏi  
phải có sự tương tác, bổ trợ các cơ chế kiểm soát khác nhau, bởi các chủ thể khác  
nhau trên cơ sở chia sẻ mục đích chung là ngăn chặn những sai lệch và đảm bảo  
hiệu lực, hiệu quả của việc thực hiện quyền lực chính trị.  
Thứ bảy, sự kiểm soát xã hội đối với quyền lực của hệ thống chính trị cần tận  
dụng vai trò, sức mạnh của khoa học, công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin.  
Bởi lẽ, công nghệ không chỉ là phương tiện cho sự kiểm soát, bản thân sự phát triển  
của công nghệ cũng chính là một hình thái mới của đối tượng chịu sự kiểm soát vì  
thông tin là sức mạnh, thông tin là quyền lực trong thời đại số. Chấp nhận, thích  
nghi và thay đổi là cần thiết đối với các chủ thể cũng như đối tượng của kiểm soát  
xã hội đối với quyền lực của hệ thống chính trị.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Colin Hay. Political Analysis: A Critical Introduction. Palgrave. 2002; p. 3.  
[2] Mauro Calise and Theodore J. Lowi. Hyperpolitics: An Interactive Dictionary  
Of Political Science Concepts. The University of Chicago Press. 2010; p 49.  
[3] Duncan Watts, A Glossary of UK Government and Politics, Edinburgh  
University Press. 2007; p.199  
[4] Enrico Fels, Jan-Frederik Kremer, Katharina Kronenberg. Power in the 21st  
Century International Security and International Political Economy in a  
Changing World. Springer. 2012; p.6.  
[5] Michael Barnett and Raymond Duvall (eds). Power in Global Governance,  
Cambridge University Press. 2005: p.10-22.  
[6] Joseph Nye. Soft Power. Foreign Policy. 1990; 80: 153-71.  
[7] Tào Thị Quyên. Quyền bãi miễn đại biểu dân cử theo pháp luật Việt Nam. Tạp  
chí Nghiên cứu lập pháp. 2008; số 13(129).  
[8] Jeremy Waldron. Political Political Theory Essays On Institutions. Harvard  
University Press; 2016: trang 32.  
[9] Adam Przeworski. Democracy and the Limits of Self-Government, Cambridge  
University Press; 2010: p.137.  
395  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
[10] Mark Clarence Walker. The Strategic Use of Referendums: Power, Legitimacy,  
and Democracy. Palgrave Macmillan; 2003: p.11.  
[11] Gideon Rahat. Elite motives for initiating referendums Avoidance, addition  
and contradiction. In trong Maija Setälä and Theo Schiller (eds). Referendums  
and Representative Democracy Responsiveness, accountability and  
deliberation. Routledge; 2009: p.110.  
[12] David Altman. Direct Democracy World Wide. Cambridge University Press;  
2011.  
[13] Hoàng Phê (chủ biên). Từ điển Tiếng Việt. NXB Đà Nẵng; 1997.  
[14] Francis Fukuyama. The Imperative of State-building. Journal of Democracy.  
2004; Vol 15, No. 2.  
[15] Lord Acton. A letter to Bishop Mandell Creighton in 1887.  
[16] Linda Camp Keith, C. Neal Tate, Steven C. Poe. Is The Law A Mere Parchment  
Barrier To Human Rights Abuse? The Journal of Politics. April 2009; Vol. 71,  
No. 2: P. 644–660.  
[17] C. Neal Tate, Linda Camp Keith. Conceptualizing and Operationalizing  
Judicial Independence Globally.  
[18] Lê Tiến Châu. Chức năng xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam. Nhà Xuất  
bản Tư pháp; 2009.  
[19] Nguyễn Hoàng Anh. Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính – nhìn từ yêu cầu  
an toàn pháp lý. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. 7/2009; số 150.  
[20] Lê Văn Cảm, Dương Bá Thành 2010. Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước  
(và cả quyền lập pháp) trong nhà nước pháp quyền: một số vấn đề lý luận cơ  
bản. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. số 1/2010.  
[21] UNDP. Khảo sát về mong chờ của người dân về khả năng tiếp cận công lý ở  
Việt Nam; 2004.  
[22] Nguyễn Cúc. Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay: Một số vấn  
đề lý luận và thực tiễn. NXB Chính trị Quốc gia; 2002.  
[23] Andrea Ceron. Social Media and Political Accountability Bridging the Gap  
between Citizens and Politicians. Palgrave Macmillan; 2017.  
[24] Taylor Owen. Disruptive Power The Crisis of the State in the Digital Age.  
Oxford University Press; 2015.  
396  
pdf 14 trang Thùy Anh 15080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kiểm soát xã hội đối với quyền lực của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkiem_soat_xa_hoi_doi_voi_quyen_luc_cua_he_thong_chinh_tri_vi.pdf