Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP  
BÁN LẺ VIỆT NAM TRONG XU THẾ HỘI NHẬP QUỐC TẾ  
ThS. GVC. Lê Văn Quý  
1. Thị trường bán lẻ trong bối cảnh hội nhập quốc tế  
Theo cam kết gia nhập WTO, kể từ ngày 11/1/2015, Việt Nam mở cửa  
hoàn toàn đối với lĩnh vực bán lẻ, các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài sẽ được  
phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn tại Việt Nam, chưa kể 10.000 loại hàng  
hóa từ tổ chức AEC của các nước ASEAN sẽ được loại bỏ hoàn toàn thuế quan.  
Trong khi các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài khá thành công, chiếm thị phần  
lớn,thì sự tương ứng là thị trường bán lẻ trong nước phải đối diện với nhiều đối  
thủ cạnh trạnh tầm cở như: BJC (Thái Lan) sẽ xây dựng 100 cửa hàng và đạt 300  
cửa hàng trong tương lai, các doanh nghiệp khác đang tham gia như: TCI (phân  
phối độc quyền Red Bull, Nestle and Bear…) cũng đã triển khai 1.000 đại lý  
cung cấp hàng cho 5.000 cửa hàng bán lẻ tại Việt Nam; LotteMart (Hàn Quốc)  
đang sở hữu 12 công ty hoạt động trong lĩnh vực bánh kẹo, thức ăn nhanh với  
hàng trăm cửa hàng, trung tâm thương mại; Công ty Aeon Credit Service (Nhật  
Bản) cung cấp dịch vụ bán hàng trả góp, trung tâm mua sắm…Một số dự án  
khác đang được triển khai như Tập đoàn WCT-Malaysia có dự án “đại siêu thị”  
(Shopping mall) Platinum Plaza đầu tư với tổng vốn 600 triệu USD; E-Mart -  
Tập đoàn bán lẻ lớn của Hàn Quốc - cũng đã vào Việt Nam với vốn đầu tư ban  
đầu 80 triệu USD và có kế hoạch mở chuỗi 52 siêu thị đến năm 2020. Mới đây  
nhất, tập đoàn bán lẻ lớn thứ hai của Pháp là Auchan có ý định tham gia vào Việt  
Nam với kế hoạch đầu tư 500 triệu USD trong 10 năm…Cũng theo Bộ Công  
thương, tính đến cuối năm 2013 cả nước có khoảng 700 siêu thị, trong đó các tập  
đoàn nước ngoài chiếm 40% và 125 trung tâm thương mại, trong đó các tập đoàn  
nước ngoài chiếm 25%. Dù là “người đi sau” và phát triển mạnh trong mấy năm  
gần đây, song các tập đoàn nước ngoài đã chiếm tỷ lệ tương ứng là 40% và 25%.  
Như vậy vấn đề đặt ra là: doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam có còn cơ hội chiếm  
lĩnh thị trường bán lẻ trong nước sau năm 2015 không? Và những giải pháp nào  
góp phần cho bước phát triển vững chắc trong cuộc cạnh tranh này?  
2. Đánh giá bước đầu về doanh nghiệp trong nước tham gia thị  
trường bán lẻ  
Việt Nam đã dần mở cửa thị trường bán lẻ kể từ ngày 1/1/2009, theo  
thông tin nghiên cứu của tổ chức tư vấn AT-Kearney (Mỹ) công bố thì thị trường  
bán lẻ Việt Nam hấp dẫn, được xếp hạng thứ 3/30 nước đang trên thế giới. Điều  
đó có nghĩa thị trường bán lẻ Việt Nam đã và sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư nước  
ngoài vào Việt Nam, cuộc đua cạnh tranh tăng lên, sẽ phát triển theo xu thế hội  
37  
nhập toàn cầu hóa nền kinh tế. Cho đến nay, sau hơn 5 năm mở cửa thị trường  
ngành này đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực: số lượng trung tâm thương  
mại, siêu thị và các điểm bán lẻ xu hướng hiện đại tăng nhanh chóng. Các kênh  
bán lẻ hiện đại chiếm khoảng 20% thị trường bán lẻ và dự kiến năm 2015 sẽ tăng  
25%. Các chuyên gia đánh giá, các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài hiện có phần  
cạnh tranh khiêm tốn trên thị trường bán lẻ Việt Nam trong khi doanh nghiệp  
trong nước có nhiều ưu thế về thị phần và nhiều doanh nghiệp đang mở rộng  
phát triển hàng loạt chuỗi hệ thống ngành hàng bán lẻ.  
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt đã nêu trên, những yêu  
cầu cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp bán lẻ trong  
nước chính là:  
Thứ nhất, vấn đề giải quyết - phân bố mặt bằng bán lẻ đây là khó khăn  
lâu dài nếu không có hỗ trợ từ Nhà nước, trong thực tế để thuê được địa điểm  
kinh doanh là rất khó, Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam mong muốn có những  
quy định, chính sách ưu đãi trong việc giao, cho thuê đất để phục vụ hoạt động  
bán lẻ. Trong lúc hai đô thị lớn là Hà Nội và TP.HCM, ở những công trình công  
cộng các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam phải sử dụng quỹ mặt bằng ở các tuyến  
Metro, điểm bán lẻ dưới lòng đất để phát triển hết sức khó khăn. Chỉ tính riêng  
chi phí mặt bằng kinh doanh đã chiếm từ 30-40% vốn đầu tư của doanh nghiệp.  
Trong khi, các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài có thế mạnh về vốn, tài chính,  
thương hiệu, mạng lưới phân phối, kỹ năng, con người...  
Thứ hai, khó khăn lớn của doanh nghiệp, hộ kinh doanh Việt Nam là  
năng lực cạnh tranh yếu kém, đa phần hoạt động quy mô nhỏ, trình độ quản lý  
lạc hậu, phương thức kinh doanh chưa tiên tiến, cơ sở hạ tầng kinh doanh thiếu  
hiện đại, chiến lược kinh doanh không được quan tâm đúng mức.  
Thứ ba, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm trong  
đào tạo, tổ chức cung ứng…Đồng thời, tính liên kết giữa các doanh nghiệp: liên  
kết dọc giữa nhà sản xuất - nhà bán buôn - nhà bán lẻ; liên kết ngang giữa nhà  
bán buôn với nhà bán buôn, nhà bán lẻ với nhà bán lẻ; liên kết giữa nhà phân  
phối với các nhà cung ứng dịch vụ ngân hàng… vẫn còn yếu kém.  
Thứ tư, vai trò điều tiết của Chính phủ hầu như chưa phát huy trong  
việc định hướng cũng như giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước. Điển hình việc  
cấp giấy phép hoạt động cho các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài hầu hết những  
siêu thị, trung tâm thương mại đều chọn được những vị trí đẹp nhất, gần trung  
tâm, nơi tập trung dân cư, giao thông thuận tiện, mặt bằng rộng.  
Thứ năm, doanh nghiệp trong nước cũng có những thay đổi để thích ứng  
với hội nhập thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, về mặt thông tin họ không nhận  
được xuyên suốt, tổng thể, thường xuyên. Trong khi ở các nước có những chính  
38  
sách giúp doanh nghiệp thích ứng với xu thế hội nhập. Và để doanh nghiệp Việt  
Nam có đủ năng lực cạnh tranh hay không thì vai trò của Chính phủ trong sự  
chuẩn bị cho họ về việc định vị toàn cầu là vô cùng quan trọng.  
3. Những cơ sở phát triển thị trường bán lẻ  
Thứ nhất, thị trường Việt Nam khá lớn, với 90 triệu dân, cơ cấu dân số  
trẻ, khoảng 65% trong độ tuổi lao động, trên 55% dân số dưới 45 tuổi, hơn nửa  
dân số có độ tuổi dưới 30, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng. Dự báo  
dân số tương ứng năm 2020 là 95 triệu (70 triệu dân thành thị), người thành thị  
luôn dẫn đầu về tiêu dùng hàng Hi-tech. Và tính toán của các chuyên gia ngành  
hàng bán lẻ, trung bình cứ 100.000 dân thì cần có 1 đại siêu thị, 1 trung tâm  
thương mại; cứ 10.000 dân thì cần 1 siêu thị cỡ trung bình; còn 1.000 dân thì cần  
1-3 cửa hàng tiện lợi. So với tình hình thực tế phân bố dân cư ở Việt Nam thì  
mạng lưới bán lẻ vẫn còn thưa thớt. Đó cũng chính là khoảng trống để các doanh  
nghiệp bán lẻ Việt Nam mở rộng thị phần. Cùng với nhiều lợi thế khác về nguồn  
hàng, sự am hiểu văn hóa tiêu dùng…để doanh nghiệp bán lẻ trong nước có cơ  
hội phát triển.  
Nhận định về các doanh nghiệp bán lẻ trong nước thì chỉ có một số đơn vị  
có phương thức kinh doanh và phân phối tương đối chuyên nghiệp như: Tổng  
công ty Thương mại Sài Gòn (Satra) với hơn 40 doanh nghiệp trực thuộc, Tổng  
công ty thương mại Hà Nội, chuỗi siêu thị Citimax, Fivimart, hệ thống Maxi  
Mart, CoopMart...Thực tế cho thấy các đơn vị bán lẻ trong nước còn chưa nhiều,  
lại thiếu tính chuyên nghiệp và vốn ít; hệ thống hậu cần như kho bãi, xe chuyên  
dùng, nguồn hàng rời rạc, thiếu đồng bộ, chưa đạt chuẩn; hạ tầng giao thông  
kém... Hầu hết các nhà phân phối bán lẻ ở quy mô nhỏ, yếu về năng lực, hạn chế  
về mặt hàng phục vụ, nguồn nhân lực chưa được đào tạo cơ bản...Vì thế, việc mở  
cửa thị trường bán lẻ theo cam kết cho các doanh nghiệp nước ngoài với trình độ  
văn minh thương mại cao là một thách thức lớn để tồn tại, phát triển doanh  
nghiệp bán lẻ trong nước.  
Thứ hai, hiện có nhiều doanh nghiệp trong nước có nhu cầu đẩy mạnh  
phát triển thị phần khu vực nông thôn. Hoạt động kinh doanh ở thành thị vốn  
luôn là chiến lược phát triển chính của các doanh nghiệp, tuy nhiên trong bối  
cảnh các nhà bán lẻ trong nước gặp nhiều cạnh tranh cũng như dần bão hòa ở thị  
trường này thì việc đầu tư phát triển tại nông thôn sẽ là phương án thích hợp.  
Hiện, các doanh nghiệp kể trên đang mở rộng hệ thống kênh phân phối về nông  
thôn, với mạng lưới hàng chục siêu thị, hàng trăm cửa hàng trên toàn quốc. Theo  
kết quả khảo sát về thị trường khu vực nông thôn Việt Nam của Kantar  
Worldpanel (một công ty đa quốc gia chuyên tư vấn-nghiên cứu thị trường hàng  
đầu thế giới) công bố hồi tháng 11/2014 cho thấy: nông thôn hiện chiếm 68%  
dân số và đóng góp 60% tổng thu nhập quốc nội, với trình độ dân trí ngày càng  
39  
được nâng cao. Về dài hạn, thu nhập và mức sống nông thôn đang tiếp tục được  
nâng lên. Nhờ đó, các trang thiết bị cơ bản cũng đã có mặt ở phần lớn các hộ gia  
đình. Chủ tịch Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam cũng nhận định đây là thị  
trường tiềm năng rộng lớn, song để cạnh tranh đối với các doanh nghiệp nước  
ngoài, không chỉ cần mở rộng thị trường kinh doanh là đủ, các nhà bán lẻ trong  
nước cần phải đảm bảo trước hết về mặt chất lượng, giành được lòng tin của  
người tiêu dùng.  
Thứ ba, nếu cứ giữ quan điểm sản xuất hàng hóa để tiêu thụ nội địa thì  
khó cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài do mẫu mã, thông tin sản phẩm không  
thu hút người tiêu dùng. Theo thế giới xu hướng về thị trường bán lẻ có 4 yếu tố  
tác động và Việt Nam cũng không nằm ngoài vấn đề này. Trong đó, yếu tố kinh  
tế toàn cầu về mua sắm, có nghĩa các nhà bán lẻ nước ngoài đầu tư sẽ đem đến  
những công nghệ mới trong thị trường bán lẻ, các hàng hóa này đã đạt chuẩn ở  
thị trường mặc định rồi. Do vậy, người tiêu dùng có cơ hội lựa chọn, sử dụng  
được nhiều hàng hóa tốt. Ngoài ra, việc gia nhập của nhà đầu tư nước ngoài vào  
thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ tạo sự kích thích nhà sản xuất trong nước thay đổi  
phương thức sản xuất, phân phối, dịch vụ... để cạnh tranh, phát triển với sự tham  
gia của nhiều đối thủ có mặt.  
Thứ tư, Bên cạnh nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm chất  
lượng cao, an toàn, cũng sẽ tương ứng mức thu nhập tăng hơn và sự phát triển  
của các lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ... sẽ vẫn tiếp tục gia tăng, phát triển … thì  
nền kinh tế với hơn 90 triệu người cho thấy triển vọng đối với ngành bán lẻ tại  
Việt Nam sẽ đầy tiềm năng, cơ hội nhưng cũng chứa đựng không ít khó khăn,  
thử thách.  
4. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các  
doanh nghiệp bán lẻ trong nước trong xu thế hội nhập quốc tế.  
Từ những nội dung đề cập trên, để doanh nghiệp bán lẻ trong nước có thể  
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường hội nhập quốc tế, nên tập  
trung vào một số giải pháp cần thiết sau:  
Một là, cần có những chính sách và quy định chặt chẽ hơn, không trái với  
các cam kết gia nhập WTO, FTA… và hỗ trợ cho doanh nghiệp, như: đào tạo  
nguồn nhân lực, nghiên cứu thị trường, xu hướng mua sắm hàng hóa của người  
tiêu dùng…  
Hai là, đẩy mạnh tiêu thụ hàng Việt ở khu vực nông thôn thông qua các  
hội chợ, chương trình bán hàng lưu động.  
Ba là, cần có các chương trình liên kết thương mại, xúc tiến thương mại  
giữa các tỉnh trong cả nước về nguồn hàng.  
40  
Bốn là, các doanh nghiệp bán lẻ trong nước phải tính đến mô hình liên  
kết giữa người sản xuất và bán hàng. Kinh nghiệm ở các nước phát triển, các  
doanh nghiệp phân phối đều đi theo hướng này. Tuy nhiên, để có thể liên kết  
được, doanh nghiệp nên đưa ra các hàng hoá cạnh tranh (phải có nguồn vốn giá  
rẻ do Chính phủ quy định).  
Năm là, phần lớn các cơ sở sản xuất và nuôi trồng của nông dân có quy  
mô nhỏ, tự phát, manh mún, quy trình sản xuất thiếu tuân thủ các quy định về vệ  
sinh an toàn thực phẩm, vì vậy, rất cần cơ quan nhà nước hỗ trợ về kỹ thuật, quy  
trình công nghệ, chính sách ưu đãi…  
Tóm lại:  
Sau hơn 7 năm trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại  
Thế giới (WTO), Việt Nam đã thực biện cam kết mở cửa thị trường và đang là  
một trong những thị trường bán lẻ cạnh tranh sôi động, hấp dẫn, thu hút sự quan  
tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Do đó, doanh nghiệp trong nước  
cần có chiến lược kinh doanh hợp lý, đào tạo nhân lực, đẩy mạnh liên kết giữa  
nhà sản xuất – phân phối – bán lẻ để tạo nên những lợi thế của mình…đồng thời  
cần có những cơ chế, chính sách của nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho  
doanh nghiệp bán lẻ trong nước cạnh tranh, mở rộng, gia tăng thị phần hướng  
đến mục đích phát triển lợi ích lâu dài, bền vững, thể hiện Việt nam là thành viên  
có vai trò tích cực trong tiến trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam làm gì để đứng vững trong cuộc cạnh  
tranh khốc liệt – TS. Liên Hà – Đại học Ngoại thương.  
2. Tổng cục Thống kê (năm 2013, 2014): Số liệu thống kê về thương mại  
trong nước.  
3. Nguồn Internet.  
41  
pdf 5 trang Thùy Anh 13521 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnang_cao_nang_luc_canh_tranh_cua_doanh_nghiep_ban_le_viet_na.pdf