Một số vấn đề pháp lý về sự phù hợp của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao kết hợp đồng từ cách tiếp cận so sánh

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA CHẤP NHẬN  
ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG VỚI ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT  
HỢP ĐỒNG TỪ CÁCH TIẾP CẬN SO SÁNH  
Hồ Ngọc Hiển  
Người phản biện: TS. Cao Đình Lành  
Tóm tắt: Sự phù hợp của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và đề nghị giao  
kết hợp đồng là một trong những vấn đề quan trọng của pháp luật về hợp đồng. Bài  
viết này nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về sự phù hợp của chấp nhận đề nghị giao  
kết hợp đồng với đề nghị giao kết hợp đồng dƣới góc độ so sánh, phân tích các quy  
định tƣơng ứng của pháp luật Việt Nam và kiến nghị một số phƣơng hƣớng sửa đổi, bổ  
sung các quy định này.  
Từ khoá: Đề nghị giao kết hợp đồng; chấp nhận đề nghị giao kết; nguyên tắc  
hình ảnh phản chiếu; lời đề nghị mới.  
Résumé: La conformité de l‟acceptation avec la pollicitation est l'une des  
questions importantes du droit des contrats. Cet article étudie certaines questions  
juridiques concernant la conformité de l‟acceptation avec la pollicitation sous une  
perspective comparative et analytique des dispositions correspondantes du droit  
Vietnamienne et propose un certain nombre d‟orientation pour modifier et compléter  
ces réglementations.  
Mots-clés: pollicitation/offre; acceptation de l'offre; principe de l'image miroir;  
nouvelle offre.  
Dẫn nhập  
Trên cơ sở nguyên tắc tự do hợp đồng, khi nhận đƣợc đề nghị giao kết hợp đồng  
(offer), bên đƣợc đề nghị giao kết có quyền chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hoặc  
không chấp nhận đề nghị đó. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (acceptance) biểu  
thị sự đồng ý của bên đƣợc đề nghị đối với đề nghị giao kết hợp đồng, do đó, chấp  
nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải phù hợp với đề nghị giao kết hợp đồng.  
Vấn đề đặt ra là sự phù hợp đó có phải là sự đồng ý toàn bộ và vô điều kiện đối  
với đề nghị giao kết hợp đồng hay không? Trả lời câu hỏi này sẽ dẫn tới hai cách tiếp  
cận khác nhau về chấp nhận đề nghị giao kết hợp : 1) chấp nhận đề nghị giao kết hợp  
TS. Khoa Luật, Học viện Khoa học xã hội. Email:hongochien76@gmail.com  
269  
đồng phải là sự đồng ý toàn bộ đối với đề nghị giao kết hợp đồng; 2) chấp nhận đề  
nghị giao kết hợp đồng có thể chứa đựng các sửa đổi, bổ sung không làm thay đổi cơ  
bản các nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng.  
1. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự đồng ý toàn bộ đối với đề  
nghị giao kết hợp đồng  
Theo định nghĩa của Bộ từ điển luật học Black‟s Law Dictionary: “Chấp nhận đề  
nghị giao kết hợp đồng đƣợc hiểu là sự đồng ý của bên đƣợc đề nghị đối với các điều  
khoản của đề nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị, một cách rõ ràng hoặc ngầm  
định bằng hành vi, theo hình thức đƣợc thừa nhận hoặc theo yêu cầu của bên đề nghị,  
theo đó hợp đồng đƣợc xác lập và ràng buộc các bên. Nếu một chấp nhận đề nghị giao  
kết hợp đồng có sửa đổi các điều khoản hoặc bổ sung các điều khoản mới, nó thƣờng  
là một đề nghị giao kết hợp đồng mới”287.  
Theo định nghĩa này, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng về bản chất là đồng ý  
của bên đƣợc đề nghị đối với đề nghị giao kết hợp đồng. Về hình thức, chấp nhận đề  
nghị giao kết hợp đồng có thể dƣới hình thức rõ ràng (bằng văn bản hoặc bằng lời nói)  
hoặc bằng hành vi cụ thể trong những trƣờng hợp nhất định. Về nội dung, chấp nhận  
đề nghị giao kết hợp đồng phải phù hợp với đề nghị giao kết hợp đồng. Một thông báo  
chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có chứa đựng những sửa đổi, bổ sung so với đề  
nghị giao kết hợp đồng thƣờng không đƣợc coi là chấp nhận mà là một đề nghị mới.  
Đây cũng là nhận thức đƣợc thừa nhận bởi nhiều công trình khoa học về luật hợp đồng  
cũng nhƣ đƣợc ghi nhận tại nhiều đạo luật của các nƣớc, các công ƣớc và văn kiện có  
tính quốc tế về hợp đồng288.  
Pháp luật về hợp đồng của nhiều quốc gia quy định chấp nhận đề nghị giao kết  
hợp đồng phải là sự đồng ý toàn bộ đối với đề nghị giao kết hợp đồng. Một biểu thị trả  
lời chấp nhận đề nghị nhƣng chứa đựng bất kỳ sự sửa đổi, bổ sung nào so với đề nghị  
giao kết hợp đồng đƣợc coi là từ chối và cấu thành một đề nghị mới.  
Theo pháp luật của Anh và Hoa Kỳ, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng “là  
biểu thị sự đồng ý đối với các điều khoản theo đề nghị của bên đề nghị giao kết hợp  
287 Bryan A. Garner (editor in chief) Black‟s Law Dictionary, 9th edition, p.13  
288 Xem BLDS CHLB Nga: Điều 438; Luật hợp đồng Trung Quốc: Điều 21, 22, 30, Bộ nguyên tắc Châu Âu về  
luật hợp đồng: Điều 2:204; Công ƣớc Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: Điều 18 (1), 19; Bộ  
nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thƣơng mại quốc tế, 2016: Điều 2.1.6 (1),  
270  
đồng”289, là “sự biểu thị đồng ý dứt khoát và vô điều kiện đối với đề nghị giao kết hợp  
đồng”290.  
Mô hình này về chấp nhận giao kết hợp đồng đƣợc gọi là quy tắc “hình ảnh phản  
chiếu” (the mirror image rule/approach) đối với thiết lập hợp đồng. Theo đó, nếu bên  
đƣợc đề nghị chấp nhận toàn bộ điều khoản của đề nghị giao kết hợp đồng, hợp đồng  
sẽ đƣợc giao kết. Nếu bên đƣợc đề nghị không chấp nhận tất cả các điều khoản đƣợc  
đề xuất, đề nghị giao kết bị từ chối. Nếu bên đƣợc đề nghị không từ chối toàn bộ các  
điều khoản, nhƣng có đề nghị một số thay đổi các điều khoản đó, kết quả là một đề  
nghị mới đƣợc thiết lập291. Quy tắc “hình ảnh phản chiếu” đƣợc tóm tắt bởi Tòa án tối  
cao của bang Minnesota trong vụ Langellie v. Shaefer, 36 Minn. 361, 363 (1887):  
“Một đề nghị giao kết hợp đồng bởi bên đề nghị đối với bên đƣợc đề nghị không ràng  
buộc nghĩa vụ đối với bên đề nghị, trừ khi nó đƣợc chấp nhận bởi bên đƣợc đề nghị  
theo các điều khoản của đề nghị giao kết hợp đồng. Bất kỳ sửa đổi nào so với các điều  
khoản đó sẽ làm đề nghị giao kết mất hiệu lực (...). Sẽ không có thỏa thuận, ngoại trừ  
trƣờng hợp có câu trả lời chấp nhận đơn giản đối với đề nghị giao kết hợp đồng mà  
không kèm bất kỳ điều khoản mới nào”292.  
Đối với Hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa và các nƣớc chịu ảnh hƣởng của hệ  
thống pháp luật này, nguyên tắc này đƣợc quy định tại hầu hết các đạo luật trong đó  
chủ yếu là các bộ luật dân sự.  
Bộ luật dân sự CHLB Đức không đƣa ra khái niệm về chấp nhận đề nghị giao kết  
hợp đồng, tuy nhiên, nguyên tắc này đƣợc khẳng định tại khoản 2, Điều 150 BLDS  
CHLB Đức: “một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng kèm theo những mở rộng, giới  
hạn hoặc các thay đổi khác được coi là từ chối đề nghị giao kết hợp đồng và cấu  
thành một đề nghị mới”.293  
Bộ luật dân sự của Pháp trƣớc đây không đƣa ra khái niệm về chấp nhận đề nghị  
giao kết hợp đồng (cũng nhƣ không đƣa ra khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng). Quy  
định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng đƣợc phát triển bởi án lệ. Tuy nhiên,  
289 (§50 (1), Restatement of Law, contract, second, (American Law Institute)  
290 Ewan McKendrick, Contract Law-Text, Cases and Materials, fifth edition, Oxford University Press, 2012,  
p.80-85; Jan M. Smits, Contract Law – A Comparative Introduction, Edward Elgar, 2014, p.55  
291 John Swan, Barry J. Reiter, Nicholas C. Bala, Contracts- Cases, Notes &Materials 7th Edition, LexisNexis  
Butterworths, 2006, p.415-418.  
292 Randy E. Barnett, Contract-Cases and Doctrine, 4th Edition, Aspen Publishers, 2008, p.335  
293 https://www.gesetze-im-internet.de/englisch_bgb/englisch_bgb.html#p0450  
271  
trong lần sửa đổi Bộ luật dân sự năm 2016, các nhà làm luật Pháp đã đƣa ra khái niệm  
về đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tại các Điều L.  
1113 đến L.1121294. Theo đó, “chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự biểu lộ ý chí  
của bên nhận đƣợc lời đề nghị giao kết, nhằm ràng buộc với các điều kiện của lời đề  
nghị […]. Lời chấp nhận không trùng khớp với lời đề nghị sẽ không có hiệu lực, và  
tạo thành lời đề nghị mới (Điều L.1118).  
Pháp luật của CHLB Nga ghi nhận nguyên tắc này tại khoản 1, Điều 438 Bộ luật  
dân sự CHLB Nga: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được  
đề nghị giao kết hợp đồng về việc đề nghị giao kết hợp đồng được chấp nhận. Chấp  
nhận đề nghị giao kết hợp đồng là chấp nhận toàn bộ và vô điều kiện”295.  
Nhƣ vậy, cách tiếp cận truyền thống đƣợc thừa nhận rộng rãi là chấp nhận đề  
nghị giao kết hợp đồng phải phù hợp hoàn toàn với đề nghị giao kết hợp đồng. Một  
biểu thị đồng ý với đề nghị giao kết hợp đồng nhƣng có kèm theo các sửa đổi, bổ sung  
so với đề nghị giao kết hợp đồng đƣợc coi là từ chối và cấu thành đề nghị mới. Cách  
tiếp cận này hƣớng đến bảo đảm cao nhất sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể của hợp  
đồng.  
2. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có các sửa đổi, bổ sung so với đề  
nghị giao kết hợp đồng  
Xuất phát từ thực tiễn, đặc biệt là thực tiễn kinh doanh thƣơng mại, một số bộ  
luật dân sự và văn kiện quốc tế về luật hợp đồng đƣợc xây dựng vào giai đoạn sau này  
có cách tiếp cận khác biệt296. Theo đó, mặc dù vẫn quy định về nguyên tắc, chấp nhận  
đề nghị giao kết hợp đồng phải phù hợp với các điều khoản của đề nghị giao kết hợp  
đồng, tuy nhiên, trong trƣờng hợp một biểu thị trả lời đồng ý kèm theo những điều  
khoản sửa đổi, bổ sung so với đề nghị giao kết hợp đồng, với một số điều kiện nhất  
định, sẽ là một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.  
294Bộ Luật dân sự Pháp (sửa đổi, bổ sung năm 2016). Xem:  
295 Bộ luật dân sự Liên bang Nga, xem: http://www.russian-civil-  
296 Alonso-Pérez Maria-Teresa. Contre-offre versus acceptation modifiée. In: Revue internationale de droit  
comparé. Vol. 66 N°1, 2014, tr. 57.  
272  
Theo Luật nghĩa vụ của Thuỵ Sĩ quy định tại Điều 2 quy định297: 1. Nếu các bên  
thống nhất với nhau về tất cả các điểm cơ bản, hợp đồng xem nhƣ đƣợc ký kết, ngay  
cả khi một số điểm không cơ bản đƣợc bảo lƣu; 2. Trong trƣờng hợp không có sự  
thống nhất giữa các bên về các điểm không cơ bản, thẩm phán phán quyết về các điểm  
này căn cứ vào bản chất của vụ việc.  
Theo Bộ luật dân sự của Hà Lan, Điều 6: 225, tại khoản 1 và 2 quy định:  
(1) Một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có chứa đựng những điều khoản  
sửa đổi, bổ sung, là một đề nghị giao kết hợp đồng mới và là một từ chối đối với đề  
nghị ban đầu.  
(2) Trƣờng hợp một câu trả lời với ý định chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng  
có chứa những sửa đổi, bổ sung về những điều khoản không quan trọng của đề nghị  
giao kết hợp đồng, trả lời đó là một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực  
và hợp đồng đƣợc xác lập với các điều khoản của chấp nhận đề nghị giao kết hợp  
đồng, trừ khi bên đề nghị phản đối ngay lập tức những điều khoản sửa đổi, bổ sung đó.  
Theo Luật Hợp đồng Trung Quốc 1999, nội dung của chấp nhận đề nghị giao  
kết hợp đồng phải phù hợp với nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng. Nếu bên đƣợc  
đề nghị đề xuất các thay đổi cơ bản đối với nội dung, chấp nhận này sẽ trở thành một  
đề nghị giao kết hợp đồng mới. Các thay đổi về mục đích, chất lƣợng, số lƣợng, giá cả  
hoặc tiền công, thời hạn thực hiện, địa điểm và cách thức thực hiện, trách nhiệm vi  
phạm hợp đồng và biện pháp giải quyết tranh chấp hợp đồng là các thay đổi cơ bản đối  
với nội dung của đề nghi giao kết hợp đồng (Điều 30). Nếu một chấp nhận đề nghị  
giao kết hợp đồng có chứa những thay đổi không cơ bản (non-substantial changes) so  
với nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng sẽ  
có hiệu lực, nội dung của hợp đồng sẽ dựa trên nội dung của chấp nhận đề nghị giao  
kết hợp đồng, ngoại trừ trƣờng hợp bên đề nghị phản đối kịp thời những nội dung đó,  
hoặc trong đề nghị giao kết hợp đồng đã thể hiện rõ chấp nhận đề nghị giao kết hợp  
đồng không đƣợc có bất kỳ sự thay đổi nào so với nội dung của đề nghị giao kết hợp  
đồng (Điều 31).  
297 Luật nghĩa vụ Thuỵ Sĩ năm 1911, xem: https://www.admin.ch/opc/fr/classified-  
compilation/19110009/index.html, truy cập ngày 12/12/2018.  
273  
Theo Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Điều 19  
quy định: một sự phúc đáp có khuynh hƣớng chấp nhận chào hàng nhƣng có chứa  
đựng các điều khoản bổ sung hay những điều khoản khác mà không làm biến đổi một  
cách cơ bản nội dung của chào hàng thì đƣợc coi là chấp nhận chào hàng, trừ phi  
ngƣời chào hàng ngay lập tức phản đối những khác biệt đó bằng miệng hoặc bằng  
cách gửi thông báo phản đối cho ngƣời đƣợc chào hàng. Nếu ngƣời chào hàng không  
phản đối nhƣ vậy, nội dung của hợp đồng sẽ là nội dung của chào hàng với những sửa  
đổi nêu trong chấp nhận chào hàng (khoản 2, Điều 19). Các yếu tố bổ sung hay sửa đổi  
liên quan đến các điều kiện giá cả, thanh toán, đến phẩm chất và số lƣợng hàng hóa,  
địa điểm và thời hạn giao hàng, đến phạm vi trách nhiệm của các bên hay đến việc giải  
quyết tranh chấp đƣợc coi là những điều kiện làm biến đổi một cách cơ bản nội dung  
của chào hàng (khoản 3, Điều 19).  
Ở Hoa Kỳ, quy tắc hình ảnh phản chiếu đã nêu trên đƣợc thừa nhận rộng rãi, tuy  
nhiên, Bộ luật thƣơng mại thống nhất (UCC) áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng  
hóa, tại Điều 2-207 đã thay đổi quy tắc này298, theo đó:  
(1) Một sự biểu thị chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hợp lý và xác định hoặc  
một xác nhận bằng văn bản đƣợc gửi trong một thời hạn hợp lý, đƣợc coi là chấp nhận  
đề nghị giao kết hợp đồng ngay cả khi nó chứa đựng các điều khoản bổ sung hoặc  
khác biệt so với các điều khoản của đề nghị giao kết hợp đồng, ngoại trừ trƣờng hợp  
chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thể hiện rõ điều kiện bên đề nghị đồng ý với các  
điều khoản bổ sung hoặc khác biệt đó.  
(2) Điều khoản bổ sung đƣợc hiểu là đề xuất bổ sung đối với hợp đồng. Giữa các  
thƣơng nhân, các điều khoản bổ sung đó trở thành nội dung của hợp đồng trừ khi:  
(a) Đề nghị giao kết hợp đồng xác định giới hạn của chấp nhận đề nghị giao kết  
hợp đồng đối với đề nghị giao kết hợp đồng;  
(b) Các điều khoản bổ sung đó thay đổi cơ bản nội dung của đề nghị giao kết  
hợp đồng;  
(c) Thông báo phản đối các điều khoản bổ sung này đã đƣợc gửi trong một thời  
hạn hợp lý sau khi bên đề nghị nhận đƣợc thông báo về điều khoản bổ sung.  
298 John D. Calamri, Joseph M. Perillo, The Law of Contract, 4th Edition, West Publishing Co, 1998, p.96-97  
274  
(3) Hành vi của hai bên thừa nhận hợp đồng là đủ để thiết lập hợp đồng dù các  
văn bản của các bên không thể hiện hợp đồng đã đƣợc xác lập. Trong trƣờng hợp đó,  
các điều khoản cụ thể của hợp đồng sẽ bao gồm các điều khoản mà các bên đã thỏa  
thuận bằng văn bản và các điều khoản bổ sung theo các quy định khác của Đạo luật  
này.  
Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế, phiên bản  
năm 2016, tại Điều 2.1.11. quy định:  
(1) Một phúc đáp đối với đề nghị giao kết hợp đồng có khuynh hƣớng chấp nhận  
đề nghị nhƣng chứa đựng các bổ sung, giới hạn hoặc các sửa đổi khác là từ chối đề  
nghị giao kết hợp đồng và cấu thành một đề nghị giao kết hợp đồng mới (counter-  
offer);  
(2) Tuy nhiên, một phúc đáp đối với đề nghị giao kết hợp đồng có khuynh  
hƣớng chấp nhận đề nghị nhƣng chứa đựng các bổ sung, giới hạn hoặc các sửa đổi  
khác mà không làm biến đổi một cách cơ bản các điều khoản của đề nghị giao kết hợp  
đồng sẽ cấu thành/là một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, ngoại trừ trƣờng  
hợp/trừ khi bên đề nghị phản đối một cách không chậm trễ những khác biệt đó. Nếu  
bên đề nghị không phản đối, hợp đồng sẽ bao gồm các điều khoản của đề nghị giao kết  
hợp đồng và các khác biệt trong chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.299  
Theo Bộ nguyên tắc Châu Âu về luật hợp đồng300, khoản 1, Điều 2:204: “Bất  
kỳ hình thức tuyên bố hoặc hành vi của bên đƣợc đề nghị là một chấp nhận đề nghị  
giao kết hợp đồng nếu nó biểu thị sự đồng ý đối với đề nghị giao kết hợp đồng”.  
Tuy nhiên, Điều 2:208 Bộ nguyên tắc Bộ nguyên tắc Châu Âu về luật hợp đồng  
quy định về chấp nhận giao kết hợp đồng kèm theo các bổ sung, sửa đổi nhƣ sau:  
(1) Một phúc đáp của bên đƣợc đề nghị giao kết hợp đồng chứa đựng những  
điều khoản khác biệt hoặc bổ sung làm biến đối một cách cơ bản nội dung của đề nghị  
giao kết hợp đồng là một từ chối đề nghị giao kết hợp đồng và trở thành một đề nghị  
giao kết mới;  
(2) Một phúc đáp thể hiện sự đồng ý rõ ràng đối với đề nghị giao kết hợp đồng  
đƣợc coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng ngay cả khi nó thể hiện rõ hoặc ngụ ý  
299 https://www.unidroit.org/english/principles/contracts/principles2016/principles2016-e.pdf (p. 50)  
300 https://www.jus.uio.no/lm/eu.contract.principles.parts.1.to.3.2002/doc.html#119  
275  
những điều khoản khác biệt hoặc bổ sung, miễn là không làm thay đổi một cách cơ  
bản các điều khoản của đề nghị giao kết hợp đồng. Các điều khoản khác biệt hoặc bổ  
sung đó sẽ trở thành nội dung của hợp đồng.  
(3) Tuy nhiên, một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có các bổ sung hoặc  
khác biệt nhƣ vậy sẽ là một từ chối đề nghị giao kết hợp đồng nếu:  
(a) Đề nghị giao kết hợp đồng xác định giới hạn rõ ràng cho việc chấp nhận đề  
nghị; hoặc  
(b) Bên đề nghị phản đối ngay lập tức các điều khoản bổ sung hoặc khác biệt đó;  
hoặc  
(c) Bên đƣợc đề nghị thể hiện trong chấp nhận đề nghị điều kiện cần có sự đồng  
ý của bên đề nghị đối với những điều khoản khác biệt hoặc bổ sung so với đề nghị  
giao kết hợp đồng và sự đồng ý đó không đến bên đƣợc đề nghị trong một khoảng thời  
gian hợp lý.  
Tuy nhiên, Ủy ban Luật hợp đồng Châu Âu thừa nhận quy định này không phản  
ánh pháp luật hiện hành của nhiều nƣớc Châu Âu “Hầu hết các hệ thống pháp luật (của  
các quốc gia Châu Âu) không có các quy định phù hợp với Điều 2: 208 (2) và (3).  
Nhiều quốc gia cho rằng (…) những sửa đổi dù không cơ bản trong trả lời của bên  
đƣợc đề nghị sẽ làm cho hợp đồng không đƣợc xác lập…301.  
Nhƣ vậy, với các quy định pháp luật của một số quốc gia và của một số văn kiện  
có tính quốc tế, khu vực về hợp đồng nêu trên, có thể thấy, một xu hƣớng khác về sự  
phù hợp giữa chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và đề nghị giao kết hợp đồng đã  
đƣợc thừa nhận, theo đó, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, với một số điều kiện cụ  
thể, có thể chứa đựng những điều khoản sửa đổi, bổ sung so với đề nghị giao kết hợp  
đồng.  
Mặc dù có những khác biệt trong cách tiếp cận về các điều kiện cụ thể, về cơ  
bản, pháp luật của một số quốc gia và một số văn kiện quốc tế về hợp đồng đã nêu trên  
thống nhất quy định, những khác biệt giữa chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và đề  
nghị giao kết hợp đồng phải là không cơ bản, không làm thay đổi các điều khoản cơ  
301 Ole Lando & Hugh Beale, Principles of European Contract Law, Part I & II (eds.2000, at 180).  
276  
bản của đề nghị giao kết hợp đồng và bên đề nghị không phản đối ngay lập tức (hoặc  
trong một thời hạn hợp lý) những sửa đổi, bổ sung đó.  
Vậy, những sửa đổi, bổ sung nào sẽ làm thay đổi cơ bản nội dung của đề nghị  
giao kết hợp đồng? Một số hệ thống pháp luật chỉ rõ những sửa đổi, bổ sung nào là  
thay đổi cơ bản nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng nhƣ Luật Hợp đồng Trung  
Quốc 1999 hoặc Công ƣớc Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhƣ đã  
nêu trên, tuy nhiên, pháp luật một số quốc gia và văn kiện về hợp đồng chỉ quy định  
khái quát mang tính định tính. Việc xác định những điều khoản sửa đổi, bổ sung đó có  
làm thay đổi cơ bản đề nghị giao kết hợp đồng hay không tùy thuộc vào từng vụ việc  
cụ thể. Điều này đƣợc thể hiện trong bình luận của Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về  
hợp đồng thƣơng mại quốc tế, theo đó những điều khoản thay đổi một cách cơ bản  
đƣợc xác định tùy thuộc hoàn cảnh cụ thể của từng vụ việc. Những điều khoản thay  
đổi về giả cả hoặc phƣơng thức thanh toán, thời gian và địa điểm thực hiện nghĩa vụ  
phi tiền tệ, phạm vi trách nhiệm, giải quyết tranh chấp sẽ thƣờng là các thay đổi cơ bản  
đối với đề nghị giao kết hợp đồng. Một yếu tố đƣợc xem xét là những điều khoản thay  
đổi, bổ sung đó có đƣợc sử dụng phổ biến trong lĩnh vực thƣơng mại có liên quan và  
do đó không gây bất ngờ cho bên đề nghị hay không302.  
Dù quy định cụ thể hay khái quát, cách tiếp cận mới về sự phù hợp giữa chấp  
nhận đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao kết hợp đồng, bên cạnh khẳng định  
nguyên tắc chung, thừa nhận ngoại lệ rằng, với những điều kiện nhất định, chấp nhận  
đề nghị giao kết hợp đồng có thể bao gồm những điều khoản khác biệt với đề nghị  
giao kết hợp đồng và hợp đồng đƣợc xác lập sẽ bao gồm các điều khoản khác biệt đó,  
ngoại trừ bên đề nghị phản đối ngay lập tức. Cách tiếp cận này thể hiện sự linh hoạt,  
mềm dẻo trong thực tiễn giao dịch dân sự và thƣơng mại, phản ánh đƣợc ý chí thực  
của các bên mong muốn xác lập hợp đồng dù có những khác biệt không quan trọng so  
với ý chí ban đầu của bên đề nghị, đồng thời thúc đẩy việc giao kết hợp đồng đƣợc  
diễn ra nhanh chóng.  
Cũng cần lƣu ý là, các hệ thống pháp luật đã nêu trên đều dành cho bên đề nghị  
quyền tự quyết định về việc hợp đồng có đƣợc xác lập hay không với các sửa đổi, bổ  
302 https://www.unidroit.org/english/principles/contracts/principles2016/principles2016-e.pdf (trang 50-51)  
277  
sung đó. Bên đề nghị có quyền phản đối những điều khoản sửa đổi, bổ sung này và do  
đó, hợp đồng không đƣợc xác lập. Tuy nhiên, với xu hƣớng thúc đẩy các hợp đồng  
đƣợc giao kết, các quy định pháp luật và một số văn kiện về hợp đổng nêu trên đều  
tiếp cận theo hƣớng bên đề nghị, nếu không đồng ý thì phải phản đối ngay lập tức các  
điều khoản sửa đổi, bổ sung đó, nếu không phản đối ngay lập tức, hợp đồng sẽ đƣợc  
xác lập và các điều khoản này sẽ là nội dung của hợp đồng.  
3. Sự phù hợp của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao  
kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam  
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 393, Bộ luật dân sự 2015 (BLDS 2015): “Chấp  
nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên đƣợc đề nghị về việc chấp nhận  
toàn bộ nội dung của đề nghị” (tác giả nhấn mạnh). Khi bên đƣợc đề nghị đã chấp  
nhận giao kết hợp đồng nhƣng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi nhƣ ngƣời  
này đã đƣa ra đề nghị mới (Điều 392 BLDS 2015).Quy định này kế thừa quy định của  
BLDS 2005 về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tại Điều 396: “Chấp nhận đề nghị  
giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên đƣợc đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp  
nhận toàn bộ nội dung của đề nghị”. BLDS 1995 tại khoản 3 Điều 399, dù có diễn đạt  
khác biệt, cũng thể hiện tinh thần trên: “Khi bên đƣợc đề nghị đã chấp nhận giao kết  
hợp đồng, nhƣng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị, thì coi nhƣ ngƣời này đã đƣa  
ra đề nghị mới”.  
Nhƣ vậy, theo pháp luật Việt Nam, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự  
chấp nhận của bên đƣợc đề nghị đối với toàn bộ nội dung của đề nghị giao kết hợp  
đồng. Các quy định khác về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của BLDS 2005 và  
BLDS 2015 không quy định bất kỳ ngoại lệ nào.  
Tuy nhiên, xu hƣớng hiện nay đƣợc thể hiện trong các văn kiện pháp lý quốc tế  
về hợp đồng là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể chứa đựng các nội dung  
khác biệt với đề nghị giao kết hợp đồng, với điều kiện đây là nhƣng khác biệt không  
mang tính căn bản so với nội dung của lời đề nghị giao kết. Trong bối cảnh Việt Nam  
đã gia nhập Công ƣớc Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng nhƣ hội  
nhập quốc tế sâu rộng hơn, việc tiếp nhận những xu hƣớng mới trong lĩnh vực pháp  
luật về hợp đồng cũng cần đƣợc cân nhắc.  
278  
Vì vậy, theo tác giả, Việt Nam có thể cân nhắc sửa đổi các quy định của BLDS  
2015 về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo hƣớng tiếp thu những kinh nghiệm  
của Luật Hợp đồng Trung Quốc năm 1999 và Công ƣớc Viên 1980 về hợp đồng mua  
bán hàng hóa quốc tế nhƣ đã nêu trên, theo đó:  
- Thứ nhất, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng biểu thị sự đồng ý đối với đề  
nghị giao kết hợp đồng và phải phù hợp với đề nghị giao kết hợp đồng. Trƣờng hợp  
bên đƣợc đề nghị trả lời chấp nhận nhƣng có kèm theo các nội dung sửa đổi, bổ sung  
hay hạn chế làm thay đổi cơ bản đề nghị giao kết hợp đồng đƣợc coi là từ chối và tạo  
thành một đề nghị giao kết hợp đồng mới.  
- Thứ hai, trƣờng hợp bên đƣợc đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp  
đồng nhƣng có kèm theo các sửa đổi, bổ sung hay hạn chế nhƣng không làm thay đổi  
cơ bản đề nghị giao kết hợp đồng đƣợc coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ  
khi bên đề nghị giao kết hợp đồng phản đối ngay lập tức các sửa đổi, bổ sung hay hạn  
chế đó. Trƣờng hợp hợp đồng đƣớc xác lập, hợp đồng sẽ bao gồm các điều khoản sửa  
đổi, bổ sung hay hạn chế đó.  
- Thứ ba, các sửa đổi, bổ sung hay hạn chế về mục đích hợp đồng, chất lƣợng, số  
lƣợng, giá cả hoặc tiền công, thời hạn thực hiện, địa điểm và cách thức thực hiện, trách  
nhiệm vi phạm hợp đồng và biện pháp giải quyết tranh chấp hợp đồng là các thay đổi  
cơ bản đối với nội dung của đề nghi giao kết hợp đồng.  
Với hƣớng sửa đổi BLDS nhƣ vậy, các quy định của BLDS có thể linh hoạt,  
mềm dẻo hơn, thúc đẩy việc xác lập hợp đồng, đồng thời vẫn bảo đảm quyền quyết  
định của bên đề nghị giao kết hợp đồng trong trƣờng hợp có chấp nhận đề nghị giao  
kết chứa đựng những điều khoản sửa đổi, bổ sung hay hạn chế so với đề nghị giao kết  
hợp đồng.  
Kết luận  
Pháp luật hợp đồng của nhiều quốc gia vẫn tiếp tục quy định chấp nhận đề nghị  
giao kết hợp đồng phải hoàn toàn phù hợp với đề nghị giao kết hợp đồng. Những sửa  
đổi, bổ sung so với đề nghị giao kết hợp đồng bị coi là từ chối đề nghị và tạo thành  
một đề nghị mới. Tuy nhiên, khoảng mấy chục năm gần đây, một số quốc gia không  
coi nguyên tắc trên mang tính tuyệt đối. Đặc biệt là một số văn kiện có tính quốc tế về  
hợp đồng đã ghi nhận và thể hiện xu hƣớng chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, bên  
279  
cạnh nguyên tắc là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải phù hợp với đề nghị giao  
kết hợp đồng, ngoại lệ đƣợc thừa nhận là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trong  
một số trƣờng hợp nhất định, có thể chứa đựng những khác biệt so với đề nghị giao kết  
hợp đồng, với điều kiện, những khác biệt đó không làm thay đổi cơ bản nội dung của  
đề nghị giao kết hợp đồng. Sự thừa nhận này thể hiện xu hƣớng thông thoáng, linh  
hoạt, thúc đẩy các giao lƣu dân sự, thƣơng mại phát triển. Trong bối cảnh đó, theo tác  
giả Việt Nam cũng cần sửa đổi BLDS về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo xu  
hƣớng mới.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Neil Andrews, Contract Law, Cambridge University Press, 2011,  
2. Bryan A. Garner (editor in chief) Black‟s Law Dictionary, 9th edition.  
3. Ewan McKendrick, Contract Law-Text, Cases and Materials, fifth edition,  
Oxford University Press, 2012.  
4. Catherine Elliott & Frances Quinn, Contract Law, 7th, 2009, Pearson  
Education Limited, Pearson Longman.  
5. John Swan, Barry J. Reiter, Nicholas C. Bala, Contracts- Cases, Notes  
&Materials 7th Edition, LexisNexis Butterworths, 2006.  
6. Randy E. Barnett, Contract-Cases and Doctrine, 4th Edition, Aspen  
Publishers, 2008.  
7. Ole Lando & Hugh Beale, Principles of European Contract Law, Part I & II  
(eds.2000).  
8. Alonso-Pérez Maria-Teresa. Contre-offre versus acceptation modifiée. In:  
Revue internationale de droit comparé. Vol. 66 N°1, 2014  
9. Jan M. Smits, Contract Law – A Comparative Introduction, Edward Elgar,  
2014  
10. John D. Calamri, Joseph M. Perillo, The Law of Contract, 4th Edition, West  
Publishing Co, 1998.  
280  
pdf 12 trang Thùy Anh 14580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề pháp lý về sự phù hợp của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao kết hợp đồng từ cách tiếp cận so sánh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_van_de_phap_ly_ve_su_phu_hop_cua_chap_nhan_de_nghi_gi.pdf