Những vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh trong tố tụng hình sự và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng
PHAÙP LUAÄT // TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN
NHÖÕNG VÖÔÙNG MAÉC TRONG VIEÄC AÙP DUÏNG BIEÄN PHAÙP
NGAÊN CHAËN BAÛO LÓNH TRONG TOÁ TUÏNG HÌNH SÖÏ
VAØ MOÄT SOÁ GIAÛI PHAÙP NAÂNG CAO HIEÄU QUAÛ AÙP DUÏNG
Trung úy, CN. Trịnh Tuấn Anh *
Tóm tắt nội dung: Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) năm 2003 đã quy định cụ thể các
biện pháp ngăn chặn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giải quyết vụ án cũng như
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng bị áp dụng. Tuy nhiên, một số quy định của
Bộ luật TTHS năm 2003 về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh còn một số vấn đề vướng mắc, bất
cập, dẫn đến việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh trong hoạt động TTHS ở nước ta
còn rất hạn chế. Trên cơ sở đó, tác giả kiến nghị một số nội dung góp phần hoàn thiện các quy
định về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn
chặn bảo lĩnh, hạn chế việc tạm giam trong thực tiễn hoạt động TTHS.
Bộ luật TTHS năm 2003 của nước ta thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào tính
dành Chương IV trong phần “Những quy định chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
chung” để quy định về các biện pháp ngăn vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ
chặn. Theo đó biện pháp ngăn chặn gồm có: quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án có thể
Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, quyết định cho họ được bảo lĩnh.
bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo
Trong công tác đấu tranh phòng, chống
đảm. Việc quy định các biện pháp ngăn chặn tội phạm, cùng với các biện pháp ngăn chặn
trong TTHS góp phần đảm bảo cho công tác khác, biện pháp bảo lĩnh có vai trò rất quan
điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện đạt hiệu trọng đối với các hoạt động điều tra, truy tố, xét
quả đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, xử và thi hành án. Theo đó, bảo lĩnh là một biện
thực tiễn cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do Cơ
chủ yếu chỉ áp dụng các biện pháp bắt, tạm giữ, quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp
tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú mà rất ít áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có đủ căn cứ và
dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để các điều kiện do pháp luật quy định, để thay thế
bảo đảm và biện pháp bảo lĩnh do việc áp dụng biện pháp tạm giam nhằm bảo đảm không để bị
hai biện pháp này còn một số vướng mắc.
can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều
Từ thực tiễn áp dụng và căn cứ vào yêu tra, truy tố, xét xử, đồng thời bảo đảm sự có mặt
cầu cải cách tư pháp cho thấy, cần phải đổi mới của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến
và hoàn thiện một số biện pháp ngăn chặn. hành tố tụng.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin trình
Như vậy, về bản chất pháp lý thì bảo lĩnh
bày một số vướng mắc và đề xuất sửa đổi căn là biện pháp ngăn chặn thay thế biện pháp ngăn
cứ, thủ tục để phát huy hiệu lực, hiệu quả áp chặn tạm giam, được áp dụng trong trường hợp
dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh trong thực không cần thiết phải tạm giam, nhưng vẫn thấy
tiễn, góp phần hạn chế việc tạm giam.
Theo quy định tại điều 92 Bộ luật TTHS
năm 2003: Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để
cần thiết phải ngăn chặn, phòng ngừa bị can, bị
---------------------------------------------------------------
* Giáo viên Bộ môn PL - T39
SOÁ 04 // QUYÙ II NAÊM 2014
27
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN // PHAÙP LUAÄT
cáo tiếp tục phạm tội, thì các cơ quan tiến hành định rõ trách nhiệm của chủ thể nhận bảo lĩnh
tố tụng giao bị can, bị cáo cho cá nhân hoặc tổ khi vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan mà chỉ quy
chức giám sát, giáo dục khi có yêu cầu của cá định “cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh vi
nhân hoặc tổ chức đó kèm theo điều kiện phải phạm nghĩa vụ đã cam đoan phải chịu trách
bảo đảm bị can, bị cáo sẽ có mặt đúng thời gian, nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan và trong
địa điểm theo giấy triệu tập của cơ quan tiến trường hợp này bị can, bị cáo được nhận bảo
hành tố tụng.
Từ quy định về biện pháp ngăn chặn
lĩnh sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác”
Từ những phân tích trên, chúng tôi thấy
bảo lĩnh, chúng ta có thể thấy, bảo lĩnh là một có một số vướng mắc trong quá trình áp dụng
biện pháp ngăn chặn ít nghiêm khắc hơn so với biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh của các cơ quan
những biện pháp ngăn chặn có tính tước tự do tiến hành tố tụng như sau:
ứ nhất, tính chất mức độ nguy hiểm
ứ hai, đối tượng áp dụng phải là bị
giam chưa hay chỉ cần có đủ điều kiện tạm giam
quyền công dân mà được thực hiện tất cả các bảo lĩnh.
quyền này miễn sao việc thực hiện các quyền
đó không gây trở ngại cho hoạt động điều tra, thế nào thì áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo
truy tố, xét xử. Theo quy định của Bộ luật TTHS lĩnh.
ứ ba, nhân thân của bị can, bị cáo như
năm 2003, đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn
ứ tư, bị can, bị cáo không đồng ý được
chặn bảo lĩnh chỉ có thể là bị can - người bị khởi bảo lĩnh nhưng chủ thể nhận bảo lĩnh có đủ điều
tố về hình sự (Khoản 1, Điều 49), bị cáo - người kiện bảo lĩnh thì có áp dụng bảo lĩnh không?
đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử (Khoản 1,
ứ năm, cá nhân nhận bảo lĩnh là người
Điều 50). Điều đó có nghĩa, người chưa bị khởi thân thích của bị can, bị cáo vậy người thân thích
tố với tư cách là bị can hoặc người không bị Tòa ở đây được hiểu như thế nào? có nhất thiết phải
án quyết định đưa ra xét xử với tư cách là bị cáo có 2 cá nhân không?
không thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn này.
ứ sáu, nếu bị can, bị cáo không có mặt
Trong khi đó, biện pháp ngăn chặn bắt người, theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện
ngoài áp dụng đối với bị can, bị cáo còn có thể Kiểm sát, Tòa án; bị can, bị cáo trốn; bị can, bị
áp dụng đối với cả người chưa bị khởi tố về hình cáo tiếp tục phạm tội thì chủ thể nhận bảo phải
sự (bắt người phạm tội quả tang), người bị tình chịu trách nhiệm gì?
nghi là đã thực hiện tội phạm (bắt người trong
Để tháo gỡ những vướng mắc trong thực
trường hợp khẩn cấp) nhằm ngăn chặn kịp thời tiễn áp dụng, nâng cao hiệu quả áp dụng biện
hành vi phạm tội hoặc không để họ sẽ tiếp tục pháp ngăn chặn bảo lĩnh, bảo đảm một cách tốt
phạm tội.
Tuy nhiên chúng ta thấy Điều 92 - Bộ luật Điều 92 - Bộ luật TTHS năm 2003 theo hướng:
TTHS năm 2003 không quy định cụ thể căn cứ, Vấn đề thứ nhất: Điều 92 - Bộ luật TTHS
nhất quyền của bị can, bị cáo, đề nghị sửa đổi
điều kiện, đối tượng có thể áp dụng biện pháp quy định “căn cứ vào tính chất mức độ nguy
này mà chỉ quy định căn cứ vào tính chất, mức hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội” còn
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và mang tính chung chung. Vì vậy, theo chúng tôi
nhân thân của bị can, bị cáo mà Cơ quan điều cần phải quy định cụ thể chỉ áp dụng biện pháp
tra, Viện kiểm sát và Tòa án có thể quyết định ngăn chặn bảo lĩnh đối với bị can, bị cáo phạm
cho họ được bảo lĩnh. Đồng thời cũng không quy tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng. Không
28
SOÁ 04 // QUYÙ II NAÊM 2014
PHAÙP LUAÄT // TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN
áp dụng bảo lĩnh đối với bị can, bị cáo phạm tội điều kiện thể hiện ý chí của bị can, bị cáo được
rất nghiêm trọng, hoặc đặc biệt nghiêm trọng, bảo lĩnh. Nếu không có sự đồng ý của bị can, bị
trừ trường hợp bị can, bị cáo là phụ nữ có thai, cáo thì hiệu quả áp dụng biện pháp bảo lĩnh sẽ
nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, rất thấp, thậm chí sẽ không có hiệu quả.
bệnh nặng có nơi cư trú rõ ràng. Tuy nhiên cũng
Vấn đề thứ năm: cá nhân nhận bảo lĩnh
không áp dụng biện pháp bảo lĩnh đối với bị can, là người thân thích của bị can, bị cáo. Người
bị cáo là phụ nữ có thai, nuôi con nhỏ dưới 36 thân thích ở đây cần phải được quy định như
tháng tuổi, người già yếu, bệnh nặng có nơi cư trong Luật hôn nhân và gia đình, tức là giữa
trú rõ ràng trong các trường hợp sau:
chủ thể nhận bảo lĩnh với người được bảo lĩnh
Bị can, bị cáo bỏ trốn bị bắt theo quyết phải có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống
định truy nã.
hoặc quan hệ nuôi dưỡng, ví dụ: cha, mẹ, anh,
Bị can, bị cáo đã được áp dụng biện pháp chị, em ruột của bị can, bị cáo… Ngoài ra, cũng
ngăn chặn bảo lĩnh nhưng tiếp tục phạm tội không nhất thiết quy định điều kiện bảo lĩnh phải
hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc có hai người. Vì mục đích hướng tới của bảo lĩnh
điều tra, truy tố, xét xử.
là bảo đảm nghĩa vụ mà bị can, bị cáo phải thực
Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh hiện. Đồng thời, quan trọng cần thiết nhất là bảo
quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu áp dụng đảm được trách nhiệm pháp lý đối với cả bên
bảo lĩnh sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
nhận bảo lĩnh và bên được nhận bảo lĩnh khi
Vấn đề thứ hai: có ý kiến cho rằng bảo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan. Có nghĩa yếu
lĩnh là biện pháp thay thế biện pháp tạm giam tố để bảo đảm cho cam kết được thực hiện chủ
nhưng không có nghĩa bị can, bị cáo phải đã bị yếu không phải là số lượng người mà là sự ràng
tạm giam rồi mới được áp dụng biện pháp bảo buộc trách nhiệm pháp lý mà họ sẽ phải gánh
lĩnh mà khi xét thấy bị can, bị cáo có đủ điều chịu nếu vi phạm. Vì vậy chỉ cần ghi nhận cá
kiện tạm giam nhưng có đủ căn cứ, điều kiện áp nhân nhận bảo lĩnh là người đã thành niên, có
dụng biện pháp bảo lĩnh thì có thể áp dụng biện đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện đứng ra
pháp bảo lĩnh ngay. Ý kiến khác lại cho rằng bảo nhận bảo lĩnh, có phẩm chất đạo đức tốt, chấp
lĩnh là biện pháp thay thế biện pháp tạm giam hành nghiêm chỉnh pháp luật, có nơi cư trú rõ
nên để áp dụng biện pháp bảo lĩnh thì bị can, bị ràng và có khả năng thực hiện nghĩa vụ đã cam
cáo phải đã bị tạm giam. Từ hai luồng ý kiến trên kết.
chúng ta thấy chưa có sự thống nhất trong cách
Vấn đề thứ sáu: Điều 92 - BLTTHS năm
hiểu và áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh 2003 quy định “cá nhân hoặc tổ chức nhận
dẫn tới khó khăn trong việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan phải
bảo lĩnh. Về vấn đề này theo chúng tôi vì bảo chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan”.
lĩnh là biện pháp “thay thế” biện pháp tạm giam Tuy nhiên lại không quy định cụ thể trách nhiệm
nên cần quy định rõ ràng theo luồng ý kiến thứ đó là trách nhiệm gì (hành chính, dân sự hay
hai đó là chỉ được áp dụng biện pháp bảo lĩnh hình sự). Nếu sau khi áp dụng biện pháp ngăn
khi bị can, bị cáo đã có lệnh bắt tạm giam hoặc chặn bảo lĩnh mà bị can, bị cáo bỏ trốn thì sẽ xử
đã có lệnh tạm giam.
lỹ như thế nào đối với chủ thể nhận bảo lĩnh?
Vấn đề thứ ba: về nhân thân của bị can, Đây là khó khăn lớn nhất và là nguyên nhân
bị cáo thì phải là bị can, bị cáo có lý lịch rõ ràng, chính mà trong thực tế rất ít các cơ quan tiến
chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, và hành tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo
thành khẩn khai báo, không có biểu hiện sẽ trốn, lĩnh. Chính vì vậy, để hạn chế việc tạm giam,
gây cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.
đảm bảo một cách tốt nhất quyền lợi của bị can
Vấn đề thứ tư: cần quy định thêm điều bị cáo cần phải quy định rõ ràng trách nhiệm
kiện đó là phải có sự đồng ý của bị can, bị cáo. của chủ thể nhận bảo lĩnh khi vi phạm nghĩa vụ
Vì điều 92 - BLTTHS năm 2003 không quy định đã cam đoan./.
SOÁ 04 // QUYÙ II NAÊM 2014
29
Bạn đang xem tài liệu "Những vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh trong tố tụng hình sự và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nhung_vuong_mac_trong_viec_ap_dung_bien_phap_ngan_chan_bao_l.pdf

