Quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong bộ luật hình sự năm 2015

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI...  
PHẠM TỘI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015  
ĐẶNG VĂN THỰC*  
Do các yếu tố về tâm, sinh lý nên việc quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi  
phạm tội không giống như đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên. Việc áp dụng hình phạt đối  
với người dưới 18 tuổi phạm tội chủ yếu nhằm mục đích giáo dục và cải tạo họ trở thành  
công dân có ích cho xã hội. Bài viết đi sâu phân tích các quy định của Bộ luật hình sự  
(BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về quyết định hình phạt đối với người dưới  
18 tuổi phạm tội, từ đó đưa ra các kiến nghị sửa đổi một số quy định chưa phù hợp của Bộ  
luật, đảm bảo tốt hơn nữa quyền và lợi ích của người dưới 18 tuổi phạm tội.  
Từ khóa: Bộ luật hình sự năm 2015, hình phạt, người dưới 18 tuổi phạm tội.  
Ngày nhận bài: 28/11/2020; Biên tập xong: 15/12/2020; Duyệt đăng: 28/01/2021  
Due to mental and physiological factors, the decision on sentences for offenders under  
18 years old is different from whom above 18 years old. Applied punishments to that  
subject aim to educate them to become useful citizens. The article analyzes regulations of  
the 2015 Penal Code (amended and supplemented in 2017) on the decision on sentences  
for offenders under 18 years old, thereby making the recommendations to amend some  
inappropriate regulations of this Code, further ensuring their rights and interests.  
Keywords: The 2015 Penal Code, punishments, offenders under 18 years old.  
ới quan điểm nhất quán trong tự lập, khả năng tự kiềm chế chưa cao  
việc bảo vệ trẻ em, Việt Nam nên họ dễ bị kích động, dễ bị lôi kéo vào  
là nước đầu tiên của châu Á những hoạt động phiêu lưu, mạo hiểm.  
V
và là nước thứ hai trên thế giới tham gia Do đó, người dưới 18 tuổi phạm tội thì  
Công ước về quyền trẻ em và thúc đẩy một phần trách nhiệm thuộc về gia đình  
việc hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ và xã hội. Khi quyết định hình phạt đối  
quyền trẻ em, trong đó đặc biệt quan tâm với người dưới 18 tuổi, cần phải cân nhắc  
đến đối tượng trẻ em vi phạm pháp luật, đến các đặc điểm về tâm sinh lý, các yếu  
nhất là trường hợp người dưới 18 tuổi tố gia đình và xã hội để đưa ra những  
phạm tội. Một trong những sửa đổi căn phán quyết xác đáng nhằm bảo đảm  
bản trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ quyền con người của người dưới 18 tuổi  
sung năm 2017 – gọi chung là BLHS năm phạm tội1. BLHS năm 2015 đã có những  
2015) so với BLHS năm 1999 là việc loại bỏ  
các quy định mang tính chất định lượng,  
cụ thể hóa thành các quy định mang tính  
chất định tính. Theo đó, chương X trong  
BLHS năm 1999 được sửa đổi thành trách  
nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi  
phạm tội. Người dưới 18 tuổi là người  
chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng  
như về tâm, sinh lý, họ bị hạn chế về trình  
độ nhận thức cũng như về kinh nghiệm  
sống, thiếu những điều kiện về bản lĩnh  
* Thạc sĩ, Phó trưởng khoa Pháp luật hình sự và  
Kiểm sát Hình sự, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội  
1ꢀ Bài viết chỉ tập trung phân tích các nội dung về  
quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi  
phạm tội. Các nội dung quyết định hình phạt đối  
với người phạm tội nói chung đã được đề cập cụ thể  
ở các chuyên đề khác. Khi quyết định hình phạt đối  
với người dưới 18 tuổi phạm tội ngoài các quy định  
riêng thì người áp dụng pháp luật vẫn phải tuân  
theo các quy định về quyết định hình phạt tại Điều  
50 BLHS: “1. Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn  
17 Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI...  
quy định riêng về việc quyết định hình hình phạt thuộc thẩm quyền của Tòa án,  
phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội người áp dụng pháp luật cần nắm vững  
để đảm bảo đúng mục đích áp dụng hình nội dung nguyên tắc:  
phạt đối với người dưới 18 tuổi là nhằm  
− Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình  
phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình  
sự và áp dụng một trong các biện pháp  
quy định tại Mục 2 hoặc việc áp dụng biện  
pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy  
định tại Mục 3 Chương này, bảo đảm hiệu  
quả giáo dục, phòng ngừa.  
cải tạo, giáo dục họ.  
1. Quy định của Bộ luật hình sự về  
quyết định hình phạt đối với người dưới  
18 tuổi phạm tội  
Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội,  
ngoài các nội dung về quyết định hình  
phạt được quy định áp dụng chung đối  
với người phạm tội được quy định tại  
Chương VIII về Quyết định hình phạt  
trong BLHS, người áp dụng pháp luật cần  
xác định thêm các quy định tại Chương  
XII: Những quy định đối với người dưới  
18 tuổi phạm tội để có thể quyết định hình  
phạt một cách phù hợp nhất đối với người  
dưới 18 tuổi phạm tội.  
Thứ nhất, nắm rõ nguyên tắc xử lý đối  
với người dưới 18 tuổi quy định tại Điều  
91 BLHS năm 2015. Về cơ bản, nguyên tắc  
xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội là nhằm  
đảm bảo lợi ích tốt nhất của người dưới  
18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo  
dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát  
triển lành mạnh, trở thành công dân có  
ích cho xã hội. Nguyên tắc xử lý đối với  
người dưới 18 tuổi đòi hỏi người áp dụng  
phải luôn luôn quan tâm đến việc áp  
dụng hình thức phù hợp nhất để đạt được  
mục đích giáo dục và cải tạo đối với người  
dưới 18 tuổi. Các nguyên tắc khác tại Điều  
91 BLHS năm 2015 về cơ bản là các nội  
dung cụ thể hóa mục đích quy định tại  
nguyên tắc thứ nhất. Trong quá trình xử  
lý đối với người dưới 18 tuổi, người áp  
dụng pháp luật luôn phải lưu ý việc có thể  
áp dụng hình thức xử lý nhẹ nhất có thể  
cho họ. Đặc biệt, đối với việc quyết định  
− Không xử phạt tù chung thân hoặc tử  
hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.  
− Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có  
thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm  
tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp  
giáo dục khác không có tác dụng răn đe,  
phòng ngừa. Khi xử phạt tù có thời hạn,  
Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội  
được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp  
dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm  
tội tương ứng và với thời hạn thích hợp  
ngắn nhất. Không áp dụng hình phạt bổ  
sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.  
− Án đã tuyên đối với người chưa đủ  
16 tuổi phạm tội thì không tính để xác  
định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.  
Thứ hai, các quy định của BLHS về việc  
áp dụng các hình phạt đối với người dưới  
18 tuổi phạm tội. Người dưới 18 tuổi bị  
áp dụng 4 hình phạt: Cảnh cáo, phạt tiền,  
cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn.  
Về cơ bản, các hình phạt được áp dụng  
có lợi đối với người dưới 18 tuổi so với  
người trên 18 tuổi: 1) Mở rộng phạm vi áp  
dụng các loại hình phạt không giam giữ  
đối với người dưới 18 tuổi: Cải tạo không  
giam giữ được áp dụng đối với người  
phạm tội rất nghiêm trọng. 2) Thời hạn áp  
dụng hình phạt ngắn hơn so với trường  
hợp người trên 18 tuổi phạm tội: Mức tiền  
phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới  
18 tuổi phạm tội không quá một phần hai  
mức tiền phạt mà điều luật quy định. Đối  
với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi  
khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng  
quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử  
cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất  
và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm  
tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ  
và tăng nặng trách nhiệm hình sự. 2. Khi quyết định  
áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại  
khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài  
sản, khả năng thi hành của người phạm tội.  
18 Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
ĐẶNG VĂN THỰC  
hình thì mức hình phạt cao nhất được áp  
dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có  
thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được  
áp dụng không quá ba phần tư mức phạt  
tù mà điều luật quy định. Đối với người  
từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm  
tội, nếu điều luật được áp dụng quy định  
hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì  
mức hình phạt cao nhất được áp dụng  
không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời  
hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp  
dụng không quá một phần hai mức phạt  
tù mà điều luật quy định. Đối với hình  
phạt cải tạo không giam giữ thì thời hạn  
cải tạo không giam giữ đối với người dưới  
18 tuổi phạm tội không quá một phần hai  
thời hạn mà điều luật quy định... 3) Hạn  
chế các quy định về nghĩa vụ bổ sung đối  
với người dưới 18 tuổi khi áp dụng các  
loại hình phạt: Khi áp dụng hình phạt cải  
tạo không giam giữ đối với người dưới  
18 tuổi phạm tội, thì không khấu trừ thu  
nhập của người đó.  
− Quyết định hình phạt trong trường  
hợp phạm nhiều tội: Khi xét xử cùng một  
lần người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội thì  
Tòa án quyết định hình phạt đối với từng  
tội và tổng hợp hình phạt theo nguyên tắc  
chung quy định tại Điều 55 BLHS năm  
2015 không trái quy định tại Điều 103 Bộ  
luật này3.  
đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về  
hành vi trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội đối với  
hai tội là tội giết người (Điều 123) và tội cướp tài  
sản (Điều 168).  
+ Mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16  
tuổi đến dưới 18 tuổi về hành vi chuẩn bị phạm tội  
là không quá ½ mức hình phạt cao nhất của khung  
hình phạt được quy định cho chuẩn bị phạm tội.  
+ Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người  
từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội chưa đạt  
không quá một phần ba mức hình phạt quy định  
tại Điều 100 và Điều 101 Bộ luật này.  
+ Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người  
từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội chưa đạt  
không quá một phần hai mức phạt quy định tại  
các điều 99, 100 và 101.  
Thứ ba, nắm rõ các quy định về quyết  
định hình phạt trong các trường hợp đặc  
biệt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:  
.
3ꢀ Nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì  
mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá  
03 năm. Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì  
mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được  
vượt quá 18 năm đối với người từ đủ 16 tuổi đến  
dưới 18 tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người  
từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội.  
+ Đối với người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội, có  
tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi, có tội  
được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi, thì việc tổng  
hợp hình phạt áp dụng như sau:  
a) Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được  
thực hiện trước khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn  
hoặc bằng mức hình phạt đã tuyên đối với tội được  
thực hiện sau khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung  
không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với  
người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định  
tại khoản 1 Điều 103 BLHS;  
− Quyết định hình phạt trong trường  
hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt.  
Theo quy định tại Điều 102 BLHS năm  
2015, Tòa án quyết định hình phạt đối  
với người dưới 18 tuổi trong trường hợp  
chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt  
theo nguyên tắc chung quy định tại khoản  
1 Điều 57 BLHS năm 2015. Theo đó, đối  
với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi  
phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết  
định theo các điều của Bộ luật này về các  
tội phạm tương ứng tùy theo tính chất,  
mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành  
vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và  
những tình tiết khác khiến cho tội phạm  
không thực hiện được đến cùng2.  
b) Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được  
thực hiện sau khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn  
2ꢀ. Mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện  
tuổi đến dưới 16 tuổi về hành vi chuẩn bị phạm trước khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không  
tội là không quá 1/3 mức hình phạt cao nhất của vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người  
khung hình phạt được quy định cho chuẩn bị từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi theo quy định tại  
phạm tội. Theo khoản 3 Điều 14 BLHS, người từ khoản 1 Điều 103 BLHS;  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 19  
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI...  
− Tổng hợp hình phạt của nhiều bản  
“Điều...: Căn cứ quyết định hình phạt đối  
án: Việc tổng hợp hình phạt trong trường với người dưới 18 tuổi phạm tội  
hợp một người đang phải chấp hành một  
bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm  
trước hoặc sau khi có bản án này, được  
thực hiện theo quy định tại Điều 55, 56  
của Bộ luật này. Trường hợp mà người  
phạm tội là người dưới 18 tuổi, BLHS quy  
định: Hình phạt chung không được vượt  
quá mức hình phạt cao nhất quy định tại  
Điều 103 BLHS năm 2015.  
2. Một số kiến nghị hoàn thiện quy  
định của Bộ luật hình sự năm 2015 về  
quyết định hình phạt đối với người dưới  
18 tuổi phạm tội  
Thứ nhất, theo quy định tại Chương  
XII: Những quy định đối với người dưới  
18 tuổi phạm tội không có điều luật quy  
định riêng về căn cứ quyết định hình phạt  
đối với người dưới 18 tuổi. Để tạo điều  
kiện thuận lợi cho Tòa án trong việc quyết  
định hình phạt, tác giả cho rằng cần bổ  
sung thêm một điều luật quy định cụ thể  
về căn cứ quyết định hình phạt đối với  
người dưới 18 tuổi phạm tội. Các căn cứ  
quyết định hình phạt đối với người dưới  
18 tuổi phải dựa trên quy định tại Điều  
50 Bộ luật này và các nội dung về nguyên  
tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm  
tội. Do đó, tác giả kiến nghị bổ sung Điều  
luật về căn cứ quyết định hình phạt đối  
với người dưới 18 tuổi như sau:  
Khi quyết định hình phạt đối với người  
dưới 18 tuổi, ngoài các nội dung quy định tại  
Điều 50, Tòa án cần căn cứ vào các nguyên tắc  
xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy  
định tại Điều 91 của Bộ luật này”.  
Thứ hai, theo quy định tại Điều 98 BLHS  
năm 2015, người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ  
bị áp dụng một trong bốn hình phạt: Cảnh  
cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù  
có thời hạn. Việc quy định như vậy đã gây  
ra khó khăn đối với việc quyết định hình  
phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
là người nước ngoài. Người dưới 18 tuổi  
phạm tội là người nước ngoài cũng chỉ có  
thể áp dụng một trong bốn hình phạt trên  
mà không được áp dụng hình phạt trục  
xuất. Người dưới 18 tuổi phạm tội là người  
nước ngoài phải chấp hành hình phạt tại  
Việt Nam trong thực tế sẽ gây ra những  
trở ngại đối với các cơ quan có thẩm quyền  
như rào cản ngôn ngữ, chế độ cải tạo, giam  
giữ; điều kiện giam giữ, sinh hoạt và một  
số vấn đề khác. Những trở ngại đó có thể  
làm giảm hoặc mất đi mục đích của các  
hình phạt, đồng thời làm cho các cơ quan  
có thẩm quyền gặp khó khăn trong công  
tác của mình. Vì vậy, tác giả cho rằng cần  
bổ sung hình phạt trục xuất vào quy định  
tại Điều 98 BLHS năm 2015 để Tòa án có  
căn cứ pháp lý áp dụng hình phạt trục  
xuất đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
+ Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực là người nước ngoài, tránh được những  
hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện  
sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp  
dụng như sau:  
khó khăn trong thực tế. Tuy nhiên, cũng  
cần lưu ý rằng, khi áp dụng hình phạt trục  
xuất, Tòa án phải cân nhắc tới yếu tố gia  
đình của người dưới 18 tuổi phạm tội là  
người nước ngoài để quyết định hình phạt  
cần áp dụng. Nếu gia đình, cha mẹ, hoặc  
người giám hộ của họ đang sinh sống, làm  
việc tại Việt Nam thì Tòa án phải cân nhắc  
không trục xuất đối với họ.  
Thứ ba, Điều 101 BLHS năm 2015 quy  
định về tù có thời hạn áp dụng đối với  
người dưới 18 tuổi phạm tội còn có một  
số điểm chưa hợp lý:  
a) Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội  
được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi nặng  
hơn hoặc bằng mức hình phạt áp dụng đối với  
tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì  
hình phạt chung không được vượt quá mức hình  
phạt cao nhất quy định tại khoản 1 Điều này;  
b) Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được  
thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi nặng hơn mức  
hình phạt áp dụng đối với tội thực hiện khi người  
đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng  
như đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội.  
20 Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
ĐẶNG VĂN THỰC  
- Điều 101 sử dụng thuật ngữ “nếu hợp lý khi cân nhắc độ tuổi của người  
điều luật...”, “không quá ba phần tư mức phạm tội.  
phạt tù mà điều luật quy định”. Giả sử  
một người 15 tuổi thực hiện hành vi giết  
người được quy định tại khoản 2 Điều 123  
BLHS năm 2015 (mức hình phạt từ 07 đến  
15 năm tù) nhưng Điều luật vẫn có quy  
định hình phạt cao nhất được áp dụng là  
tù chung thân, tử hình (tại khoản 1 Điều  
123 Bộ luật này). Do đó, nếu hiểu máy  
móc thì hình phạt trong trường hợp này  
được áp dụng là không quá 12 năm tù, vì  
khung hình phạt cao nhất của điều luật  
quy định hình phạt chung thân, tử hình  
cho dù bị cáo chỉ vi phạm khoản 2 Điều  
123 BLHS năm 2015. Đây không phải là  
quyết định chính xác, bởi trường hợp này  
Tòa án không được quyết định hình phạt  
quá một phần hai mức hình phạt tù cao  
nhất quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS  
năm 2015 (vì người phạm tội bị truy cứu  
trách nhiệm hình sự ở khoản 2 Điều 123  
Bộ luật này), nghĩa là chỉ được áp dụng  
hình phạt không quá 7 năm 6 tháng tù. Vì  
vậy, Điều 101 BLHS năm 2015 cần phải  
sửa đổi thuật ngữ “nếu điều luật được áp  
dụng” sang dùng thuật ngữ “nếu khung  
hình phạt được áp dụng”, sửa đổi cụm từ  
“không quá... mức phạt tù mà điều luật quy  
định” sang dùng cụm từ “không quá... mức  
tối đa của khung hình phạt”.  
- Điều 101 BLHS năm 2015 chỉ xác  
định mức hình phạt cao nhất có thể áp  
dụng mà không xác định mức hình phạt  
tối thiểu được áp dụng. Do mức tối thiểu  
tại phần riêng dành cho người dưới 18  
tuổi phạm tội không quy định cụ thể thì  
về nguyên tắc phải được xác định theo  
quy định chung. Trên thực tế áp dụng,  
mức hình phạt tù tối thiểu là không quá  
3/4 mức tối thiểu của hình phạt tù (người  
từ 16 đến 18 tuổi) hoặc không quá 1/2  
mức tối thiểu của hình phạt tù (người từ  
đủ 14 đến dưới 16 tuổi) được quy định  
tại điều luật áp dụng4. Đây là hướng dẫn  
Tuy nhiên, cá nhân Tác giả nhận thấy  
hướng dẫn này thiếu căn cứ pháp lý. Bởi  
lẽ, Điều 101 BLHS năm 2015 chỉ khống  
chế mức tối đa của hình phạt tù được áp  
dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
mà không quy định mức tối thiểu được áp  
dụng là bao nhiêu, nên khi Tòa án quyết  
định hình phạt, phải xác định mức thấp  
nhất của hình phạt được áp dụng theo các  
quy định chung. Nói cách khác, vì quy  
định riêng dành cho người dưới 18 tuổi  
phạm tội không quy định về giới hạn tối  
thiểu nên Tòa án muốn quyết định hình  
phạt nhẹ hơn chế tài thì phải thỏa mãn  
quy định chung tại Điều 54 BLHS năm  
2015. Thêm nữa, Nghị quyết 01/2006/NQ-  
HĐTP khi hướng dẫn về trình tự quyết  
định hình phạt tù đối với người dưới 18  
tuổi phạm tội, tại mục 11.2 có hướng dẫn:  
“Trường hợp theo cách tính được hướng dẫn  
tại tiểu mục 11.1 mục 11 này, mà mức hình  
phạt tù được xác định đối với người chưa  
thành niên phạm tội thấp hơn mức tối thiểu  
của hình phạt tù có thời hạn (ba tháng) thì cần  
áp dụng loại hình phạt khác nhẹ hơn đối với họ  
mà không được quyết định hình phạt tù dưới  
ba tháng”. Như vậy, khi quyết định hình  
phạt mà mức phạt tù thấp hơn 3 tháng thì  
Tòa án phải chuyển sang hình phạt khác  
thuộc loại nhẹ hơn. Đây là một hướng dẫn  
trái luật, vì khi muốn chuyển sang hình  
phạt khác thuộc loại nhẹ hơn thì phải bảo  
đảm các điều kiện quy định tại Điều 54  
BLHS năm 2015. Trường hợp này, Nghị  
quyết 01/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn  
chuyển sang hình phạt khác thuộc loại  
nhẹ hơn mà không cần phải có đủ điều  
kiện áp dụng Điều 54 BLHS năm 2015 là  
không hợp lý.  
Theo đó, BLHS phải quy định cụ thể  
cho phép Tòa án quyết định hình phạt đối  
với người dưới 18 tuổi phạm tội ở dưới  
mức thấp nhất của khung hình phạt và  
trong trường hợp đặc biệt có thể dưới  
4ꢀ. Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của  
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điều BLHS (Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP)  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 21  
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI...  
mức tối thiểu của hình phạt tù được quy (mở rộng hơn có thể là mức phạt tiền tối  
định tại Điều 38 Bộ luật này hoặc chuyển thiểu, cải tạo không giam giữ tối thiểu) tại  
sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Điều 101 BLHS năm 2015 không làm hạn  
Vì vậy, kiến nghị sửa đổi Điều 101 BLHS chế khả năng áp dụng các quy định khác  
năm 2015 như sau:  
“Người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ bị  
phạt tù có thời hạn theo quy định sau đây:  
của BLHS có lợi cho người dưới 18 tuổi  
phạm tội như áp dụng Điều 54, Điều 65  
Bộ luật này... Quy định này là một quy  
định bổ sung dành riêng cho người dưới  
18 tuổi phạm tội nhằm tạo căn cứ pháp  
lý cho Tòa án áp dụng hình phạt nhẹ hơn  
chế tài khi chưa đủ căn cứ áp dụng Điều  
54 BLHS năm 2015. Hay nói cách khác,  
khi không áp dụng Điều 54 Bộ luật này,  
chỉ riêng quy định bổ sung này, Tòa án  
cũng đã có thể quyết định hình phạt nhẹ  
hơn chế tài hoặc chuyển sang hình phạt  
khác thuộc loại nhẹ hơn. Nếu có thêm căn  
cứ áp dụng Điều 54 BLHS thì Tòa án hoàn  
toàn có thể áp dụng mà không mâu thuẫn  
với quy định bổ sung tại Điều 101 Bộ luật  
này. Đây là một quy định bổ sung có lợi  
cho người dưới 18 tuổi phạm tội.  
Thứ tư, trong những trường hợp phạm  
tội nhiều lần, tội liên tục, người phạm tội  
có thể thực hiện tội phạm nhiều lần, trong  
đó có thể có những lần thực hiện hành vi  
phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, có những  
lần thực hiện hành vi phạm tội khi đã đủ  
18 tuổi. Do tính chất nguy hiểm cho xã hội  
của hành vi phạm tội được thực hiện khi  
bị cáo chưa thành niên sẽ thấp hơn những  
hành vi được thực hiện khi đã thành niên  
nên khi quyết định hình phạt, Tòa án phải  
cân nhắc đến những hành vi do bị cáo  
thực hiện khi chưa đủ 18 tuổi. Đây sẽ là  
một quy định phân hóa trách nhiệm theo  
độ tuổi của người dưới 18 tuổi phạm tội.  
Do đó, kiến nghị bổ sung điều luật sau:  
1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến  
dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu khung hình  
phạt được áp dụng quy định hình phạt tù  
chung thân hoặc tử hình, thì mức hình  
phạt cao nhất được áp dụng không quá  
mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn  
thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng  
không quá ba phần tư mức cao nhất và không  
thấp hơn ba phần tư mức tối thiểu mức phạt  
tù mà khung hình phạt quy định;  
2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới  
16 tuổi khi phạm tội, nếu khung hình phạt  
đượcápdụngquyđịnhhìnhphạttùchung  
thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao  
nhất được áp dụng không quá mười hai  
năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình  
phạt cao nhất được áp dụng không quá một  
phần hai mức cao nhất và không thấp hơn một  
phần hai mức tối thiểu mức phạt tù mà khung  
hình phạt quy định;  
3. Trong trường hợp quy định tại khoản 1  
và khoản 2 Điều này, Tòa án có thể áp dụng  
mức phạt tù dưới mức tối thiểu của khung  
hình phạt được áp dụng. Trong trường hợp  
đꢀc biꢁt, Tòa án được quyết định hình phạt  
tù dưới mức tối thiểu quy định tại Điều 54  
Bộ luật này hoꢀc chuyển sang hình phạt khác  
thuộc loại nhẹ hơn”.  
Những quy định được sửa đổi, bổ  
sung như trên sẽ góp phần bảo đảm cho  
người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng  
mức hình phạt thấp hơn so với người đã  
thành niên phạm tội tương ứng, tạo điều  
kiện cần và đủ về căn cứ pháp lý để Tòa  
án có thể quyết định hình phạt nhẹ hơn  
chế tài, áp dụng các hình phạt không tước  
tự do (các hình phạt nhẹ hơn hình phạt  
tù). Cũng cần lưu ý rằng, việc bổ sung quy  
định mức hình phạt tù tối thiểu được áp  
dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
“Điều…: Quyết định hình phạt trong  
trường hợp phạm tội nhiều lần, tội liên tục  
Khi quyết định hình phạt đối với người  
dưới 18 tuổi phạm tội nhiều lần, tội liên tục  
thì Tòa án phải xem xét tính chất và mức  
độ nguy hiểm cho xã hội của những hành vi  
phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi để làm căn cứ  
quyết định hình phạt”./.  
22 Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
pdf 6 trang Thùy Anh 10240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong bộ luật hình sự năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquyet_dinh_hinh_phat_doi_voi_nguoi_duoi_18_tuoi_pham_toi_tro.pdf