Những khó khăn, vướng mắc, hạn chế và một số đề xuất khắc phục trong thực hành quyền công tố giai đoạn điều tra, truy tố các tội danh về mua bán người và một số tội danh có liên quan: Cưỡng bức lao động, tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại

NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT...  
KHẮC PHỤC TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ GIAI ĐOẠN ĐIỀU  
TRA, TRUY TỐ CÁC TỘI DANH VỀ MUA BÁN NGƯỜI VÀ MỘT SỐ TỘI  
DANH CÓ LIÊN QUAN: CƯỠNG BỨC LAO ĐỘNG,  
TỔ CHỨC MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI  
MAI ĐẮC BIÊN*  
Kiểm sát viên Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong  
các vụ án mua bán người và một số tội danh có liên quan nhằm bảo đảm việc truy tố,  
buộc tội đúng quy định của pháp luật. Bài viết trình bày những khó khăn vướng mắc của  
Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong các vụ án  
mua bán người và một số tội danh có liên quan; đưa ra một số kiến nghị, giải pháp cụ thể  
nhằm nâng cao chất lượng công tác này, góp phần hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm  
vụ của ngành Kiểm sát nhân dân.  
Từ khóa: Mua bán người; tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại; cưỡng bức lao động.  
Ngày nhận bài: 06/7/2021, Biên tập xong: 06/7/2021, Duyệt đăng: 06/7/2021  
Prosecutors exercise their rights in the judicial activities of human trafficking cases  
to ensure the prosecution and accusation of crimes in accordance with law. This article  
presents the difficulties and challenges faced by Prosecutors when exercising their  
rights in human trafficking cases and also proposes recommendations to improve the  
quality of this work, to fulfil the functions and tasks of the People’s Procuracy.  
Keywords: Human trafficking, organization of surrogacy for commercial purposes,  
forced labor.  
1. Những khó khăn, vướng mắc và đoạt người dưới 16 tuổi (Điều 153); Tội  
hạn chế trong thực hành quyền công tố mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận  
giai đoạn điều tra, truy tố các tội danh cơ thể người (Điều 154). Một số tội danh  
về mua bán người và một số tội danh có có liên quan là Tội tổ chức mang thai hộ  
liên quan: Cưỡng bức lao động, Tổ chức vì mục đích thương mại (Điều 187); Tội  
mang thai hộ vì mục đích thương mại  
cưỡng bức lao động (Điều 297). Khách  
thể của tội phạm trong nhóm tội này là  
quyền được bảo hộ về tự do, an toàn  
thân thể, danh dự, nhân phẩm của con  
người2. Hành vi khách quan của tội phạm  
bao gồm nhiều loại hành vi xâm hại tính  
mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của  
1.1. Những khó khăn, vướng mắc và  
hạn chế  
Theo quy định của Bộ luật hình sự  
(BLHS) Việt Nam năm 2015, các tội phạm  
về mua bán người gồm: Tội mua bán  
người (Điều 150); Tội mua bán người  
dưới 16 tuổi1 (Điều 151); Tội đánh tráo  
người dưới 16 tuổi (Điều 152); Tội chiếm  
* Tiến sĩ, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiểm sát  
Hà Nội  
2ꢀ Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thị Như Huyền, Bàn về  
1ꢀ Theo quy định tại Điều 1 Luật trẻ em năm 2016, trẻ tội mua bán người trong Bộ luật hình sự năm 2015, Tạp  
em là người dưới 16 tuổi.  
chí Kiểm sát số 06 (tháng 3/2019), tr. 41-47.  
Số chuyên đề 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 95  
NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT...  
con người như: Dùng vũ lực hoặc đe dọa hiện việc truy tố, buộc tội và kiểm sát hoạt  
động tư pháp của Cơ quan điều tra, Tòa  
án trong các vụ án hình sự nhằm bảo đảm  
cho việc điều tra, truy tố và xét xử được  
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,  
không để xảy ra tình trạng oan sai và bỏ  
lọt tội phạm.  
dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác để mua,  
bán người, chiếm đoạt người hoặc mua,  
bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể  
người; cưỡng bức lao động, tổ chức mang  
thai hộ vì mục đích thương mại. Mặt chủ  
quan của tội phạm là người phạm tội với  
lỗi cố ý: Người phạm tội nhận thức rõ  
hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm  
cho xã hội, thấy trước hậu quả và mong  
muốn cho hậu quả xảy ra. Chủ thể của tội  
phạm là người đủ tuổi chịu trách nhiệm  
hình sự (người từ đủ 14 tuổi trở lên), có  
Thực hành quyền công tố, kiểm sát  
hoạt động tư pháp đối với các vụ án về  
mua bán người trong điều tra, truy tố,  
Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ, quyền  
hạn của Viện kiểm sát theo quy định tại  
các điều 42, 159, 160, 161, 165, 166 BLTTHS  
năng lực trách nhiệm hình sự. Đối với tội năm 2015; Quy chế Công tác thực hành  
quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều  
tra, truy tố (Ban hành kèm theo Quyết định  
số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện  
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, sau đây  
gọi tắt là Quy chế Kiểm sát điều tra); Chỉ thị  
số 09/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện  
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về  
“Tăng cường các biện pháp nâng cao chất  
lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại  
phiên tòa”; Chỉ thị số 04/CT-VKSTC ngày  
10/7/2015 của Viện trưởng Viện kiểm sát  
nhân dân tối cao về “Tăng cường các biện  
pháp phòng chống oan, sai và nâng cao  
trách nhiệm trong giải quyết bồi thường  
thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động  
tố tụng hình sự”; Chỉ thị về “Tăng cường  
trách nhiệm công tố trong giải quyết các  
vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh  
phòng, chống tội phạm” (Ban hành kèm theo  
Quyết định số 05/CT-VKSTC ngày 27/4/2020  
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối  
cao) và một số văn bản khác.  
mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ  
thể người (Điều 154 BLHS năm 2015) thì  
chủ thể phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên.  
Theo quy định của Bộ luật tố tụng  
hình sự (BLTTHS) năm 2015, việc khởi  
tố, điều tra vụ án hình sự thuộc về Cơ  
quan điều tra3, Cơ quan được giao nhiệm  
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra4  
(sau đây gọi chung là Cơ quan điều tra).  
Cơ quan điều tra có nhiệm vụ, quyền hạn  
cũng như trách nhiệm phát hiện kịp thời  
mọi tội phạm, hành vi phạm tội, khởi tố  
vụ án, thực hiện mọi biện pháp điều tra  
để làm rõ tội phạm, người phạm tội. Viện  
kiểm sát thực hành quyền công tố, thực  
3ꢀ Theo Điều 134 BLTTHS năm 2015 và Điều 4 Luật  
tổ chức Cơ quan điều tra năm 2015, Cơ quan điều  
tra gồm: 1. Cơ quan Điều tra của Công an nhân dân,  
2. Cơ quan Điều tra trong Quân đội nhân dân, 3. Cơ  
quan Điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.  
4ꢀ Theo Điều 145 BLTTHS năm 2015, Cơ quan được  
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra  
gồm: a) Các cơ quan của Bộ đội biên phòng; b) Các  
cơ quan của Hải quan; c) Các cơ quan của Kiểm lâm;  
d) Các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển; đ) Các  
cơ quan của Kiểm ngư; e) Các cơ quan của Công an  
nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt  
động điều tra; g) Các cơ quan khác trong Quân đội  
nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt  
động điều tra.  
Khi thực hành quyền công tố, kiểm  
sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án  
về mua bán người trong điều tra, truy tố,  
Kiểm sát viên kiểm sát việc điều tra của  
Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, cán  
96 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 02 - 2021  
MAI ĐẮC BIÊN  
bộ điều tra; nghiên cứu hồ sơ vụ án để Loan... với mục đích chính là bán vào  
kiểm tra, xác định tính có căn cứ, tính hợp các ổ mại dâm và cưỡng bức lao động.  
pháp của các lệnh, quyết định, hoạt động Từ 01/12/2016 đến 30/5/2020, toàn quốc  
của Cơ quan điều tra; đề ra yêu cầu kiểm đã phát hiện, khởi tố, điều tra tổng số  
432 vụ/724 bị can về Tội mua bán người.  
Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã quyết  
định truy tố tổng số 369 vụ/643 bị can  
về Tội mua bán người, mua bán người  
dưới 16 tuổi; đã thực hành quyền công  
tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm 387 vụ/648 bị  
cáo về Tội mua bán người (trong đó có  
các vụ án tồn từ năm 2015)5.  
tra, xác minh, yêu cầu điều tra; trực tiếp  
tiến hành một số hoạt động điều tra theo  
quy định của pháp luật. Trên cơ sở kết quả  
nghiên cứu hồ sơ vụ án, kiểm sát, Kiểm  
sát viên báo cáo đề xuất lãnh đạo Viện  
quyết định phê chuẩn, không phê chuẩn  
hoặc thay đổi, hủy bỏ các lệnh, quyết định  
của Cơ quan điều tra; xử lý mọi vi phạm  
pháp luật trong điều tra, truy tố các vụ án  
về mua bán người. Trong giai đoạn truy  
tố, Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ, đánh  
giá kết quả điều tra, trên cơ sở đó báo cáo,  
đề xuất lãnh đạo Viện quyết định truy tố  
bị can ra trước Tòa án; đình chỉ hoặc tạm  
đình chỉ vụ án, bị can; trả hồ sơ yêu cầu  
điều tra bổ sung và một số quyết định  
khác để giải quyết đúng đắn vụ án hình  
sự. Mục đích của thực hành quyền công  
tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với  
các vụ án về mua bán người trong điều  
tra, truy tố nhằm nhanh chóng phát hiện,  
xử lý kịp thời mọi tội phạm, người phạm  
tội, bảo đảm việc khởi tố, điều tra, truy tố  
đúng người, đúng tội, đúng quy định của  
pháp luật.  
Trong những năm qua, Kiểm sát viên  
đã thực hiện tốt chức năng thực hành  
quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư  
pháp trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ  
án về mua bán người, góp phần tích cực  
vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật  
tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà  
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ  
quan, tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, thực  
tiễn công tác thực hành quyền công tố,  
kiểm sát việc điều tra, truy tố các vụ án về  
mua bán người và một số tội có liên quan  
như Tội cưỡng bức lao động, Tội tổ chức  
mang thai hộ vì mục đích thương mại cho  
thấy còn có những khó khăn, vướng mắc  
sau đây:  
Thứ nhất, khó khăn, vướng mắc và hạn chế  
trong việc phát hiện, khởi tố, điều tra đối với  
các tội về mua bán người, cưỡng bức lao động,  
tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại  
Trong những năm gần đây, mặc dù  
đã được kiểm soát nhưng tình hình tội  
phạm mua bán người vẫn còn diễn biến  
phức tạp, gia tăng về mức độ với những  
phương thức, thủ đoạn hết sức tinh vi,  
xảo quyệt, có sự cấu kết chặt chẽ giữa các  
đối tượng ở trong nước với đối tượng  
ở nước ngoài. Ngoài ra, các đối tượng  
thực hiện tội phạm này còn hình thành  
các đường dây mua bán người từ Việt  
Nam sang các nước trong khu vực như  
Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Đài  
Các vụ án về mua bán người, cưỡng  
bức lao động, tổ chức mang thai hộ vì  
mục đích thương mại chủ yếu thuộc loại  
tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc  
biệt nghiêm trọng nên người phạm tội  
5ꢀ Lê Minh Long, Một số giải pháp nâng cao chất lượng  
công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát các vụ án mua  
bán người, Tạp chí Khoa học Kiểm sát số Chuyên đề  
02/2020; tr.96-100.  
Số chuyên đề 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 97  
NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT...  
trước, trong và sau khi thực hiện hành vi hợp dẫn đến tử vong) sau đó thực hiện  
phạm tội đều có những thủ đoạn rất tinh việc chuyển giao.  
vi, nguy hiểm để che giấu tội phạm, xóa  
Đối với Tội mua bán người, Tội mua  
dấu vết. Có thể kể đến như hành vi dụ  
dỗ, mua chuộc, cưỡng ép bị hại, cha mẹ bị  
hại; lựa chọn địa điểm là những nơi vắng  
người, thời gian phạm tội là thời điểm  
vắng người qua lại, trong đêm tối, mưa  
bão, vùng biên giới để chuyển giao người  
bị hại; trong bệnh viện, trạm y tế để đánh  
tráo người dưới 01 tuổi, chiếm đoạt người  
dưới 16 tuổi; lừa dối đưa ra mức lương  
cao để đưa người lao động đến nơi xa xôi,  
vắng vẻ, ra nước ngoài để cưỡng bức lao  
động; tổ chức mang thai hộ vì mục đích  
thương mại…  
bán người dưới 16 tuổi, Tội tổ chức  
mang thai hộ vì mục đích thương mại,  
Tội cưỡng bức lao động, người phạm tội  
thường phạm tội dưới dạng đồng phạm  
có tổ chức, có sự cấu kết chặt chẽ với nhau  
trong hành động phạm tội, che giấu tội  
phạm giữa người môi giới, người bán,  
người mua, người sử dụng lao động với  
người cung cấp lao động, người thuê và  
người được thuê đẻ thuê, với cả những  
tổ chức phạm tội nước ngoài. Hành vi  
phạm tội được che giấu, ngụy trang, hợp  
thức hóa dưới dạng hợp đồng cho, nhận  
con nuôi, làm giấy tờ giả, hợp đồng đi  
lao động nước ngoài… Sau khi thực hiện  
hành vi phạm tội như mua bán người  
dưới 16 tuổi, chiếm đoạt người dưới 16  
tuổi và các tội phạm khác, người phạm tội  
còn có những hành vi khống chế để ngăn  
chặn bị hại hoặc người nhà bị hại tố cáo  
như dụ dỗ, đe dọa, cho tiền hoặc hứa hẹn  
đem lại một lợi ích nào đó. Một số trường  
hợp phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc  
biệt nghiêm trọng như phạm tội mua  
bán người, mua bán người dưới 16 tuổi,  
chiếm đoạt người dưới 16 tuổi, tội chiếm  
đoạt mô, người phạm tội còn có những  
hành vi như bỏ trốn ra nước ngoài để che  
giấu tội phạm, trốn tránh sự trừng phạt.  
Với những đặc điểm trên, việc phát hiện  
tội phạm đối với nhóm tội này gặp nhiều  
khó khăn hơn các tội phạm thông thường  
khác.  
Việc phát hiện tội phạm gặp khó khăn  
vì khi chuẩn bị phạm tội, người phạm  
tội có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đầy đủ các  
công cụ, phương tiện phạm tội như hóa  
trang, đeo khẩu trang, kính đen che mặt,  
giả tiếng nói địa phương để tránh phát  
hiện trong khi chuyển giao bị hại, nhất là  
đưa qua biên giới, đưa vào các cơ sở mua  
bán dâm, các nơi lao động cưỡng bức. Khi  
thực hiện các tội phạm như Tội mua bán,  
chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người,  
Tội cưỡng bức lao động, người phạm tội  
thường dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ  
lực để đánh đập bị hại; dùng thủ đoạn  
khác như đánh thuốc mê, chuốc rượu,  
chất kích thích mạnh khác khiến bị hại  
không còn tỉnh táo, có khả năng kháng cự  
và suy sụp về tinh thần hoặc lợi dụng việc  
chữa bệnh, phẫu thuật để lén lút chiếm  
đoạt bộ phận cơ thể người. Trong một  
số trường hợp, người phạm tội còn thực  
hiện hành vi phạm tội khác trước hành vi  
chuyển giao bị hại cho người mua, người  
tiếp nhận như dùng hung khí đánh mạnh  
vào đầu cho nạn nhân bất tỉnh (có trường  
Một đặc điểm gây khó khăn trong việc  
thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm  
đối với loại tội phạm này là việc bị hại là  
người dưới 16 tuổi, có trường hợp chỉ là  
trẻ sơ sinh nên việc lấy lời khai của bị hại  
98 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 02 - 2021  
MAI ĐẮC BIÊN  
nhiều khi là không thể hoặc độ tin cậy hại là người dưới 16 tuổi là tình tiết định  
không cao do bị hại còn ít tuổi nên hoảng khung tăng nặng. Do vậy, khi giải quyết  
sợ, không nhớ. Bị hại ít tuổi nên việc ghi  
nhớ những đặc điểm của người phạm tội  
để phục vụ việc tố cáo sau này rất kém,  
do vậy, khi lấy lời khai của họ cũng rất  
khó để xác định những đặc điểm của  
người phạm tội để truy xét, bắt giữ. Một  
số trường hợp đặc biệt, sau khi bị xâm hại,  
mua bán, nạn nhân đã rất sợ hãi, suy sụp  
tinh thần hoặc tự sát, bỏ trốn nên không  
lấy được lời khai hoặc nội dung lời khai  
rất lộn xộn, khó xác định sự thật. Đối với  
Tội cưỡng bức lao động, nhiều trường  
hợp tội phạm chỉ bị phát hiện sau khi bị  
cưỡng bức ra nước ngoài lao động đã bỏ  
trốn về nước tố cáo, hành vi phạm tội đã  
trải qua một thời gian, người phạm tội  
đã bỏ trốn nên việc bắt giữ, xử lý rất khó  
khăn. Đối với Tội tổ chức mang thai hộ vì  
mục đích thương mại, thông thường chỉ  
bị phát hiện khi người được thuê mang  
thai hộ tố cáo do những mâu thuẫn giữa  
người thuê và người được thuê mang thai  
nên tỷ lệ phát hiện, xử lý còn thấp. Trong  
quá trình xử lý vụ án, hai bên lại tự thỏa  
thuận được với nhau nên bị hại bãi nại,  
rút đề nghị khởi tố, không yêu cầu xử lý.  
Từ những lý do trên nên người phạm tội  
có thể lợi dụng để chối tội, không thừa  
nhận hành vi phạm tội.  
vụ án hình sự về loại tội này, các cơ quan  
tiến hành tố tụng phải xác định chính xác  
tuổi của người bị hại để quyết định việc  
định tội, định khung, có ý nghĩa trong  
đường lối giải quyết vụ án sau này.  
Trong một số trường hợp, việc xác  
định tuổi của bị hại có những khó khăn  
nhất định do không có giấy tờ để xác  
định tuổi (giấy khai sinh, chứng minh  
nhân dân, sổ hộ khẩu…). Nguyên nhân  
có thể là do cha mẹ chưa kịp làm giấy  
khai sinh, không làm giấy khai sinh,  
chứng minh nhân dân hoặc bị thất lạc,  
mất mát hoặc người phạm tội cố tình  
che giấu. Cũng có trường hợp do bị hại  
còn nhỏ tuổi nên không nhớ hoặc không  
biết được những thông tin về nhân thân  
của mình. Trong những trường hợp  
trên, cơ quan tiến hành tố tụng gặp rất  
nhiều khó khăn để xác định tội danh,  
áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện  
pháp cưỡng chế, áp dụng điều khoản  
truy tố. Điều tra viên, Kiểm sát viên cần  
áp dụng các biện pháp điều tra để xác  
định tuổi như lấy lời khai của người  
phạm tội, người bị hại, người thân, thu  
thập giấy chứng sinh, học bạ, trích lục  
tàng thư lưu trữ cũng như các giấy tờ tài  
liệu khác. Trường hợp những biện pháp  
trên không có kết quả thì phải tiến hành  
giám định pháp y để xác định tuổi. Tuy  
nhiên, trong kết luận giám định tuổi, cơ  
quan giám định chỉ có thể xác định độ  
tuổi chênh lệch trong thời hạn khoảng  
06 tháng chứ không thể đưa ra chính xác  
độ tuổi (Ví dụ: Người được giám định  
có độ tuổi từ 15 tuổi 9 tháng đến 16 tuổi  
3 tháng). Theo quy định của pháp luật  
Việt Nam thì trong trường hợp trên, đối  
Thứ hai, khó khăn, vướng mắc và hạn chế  
trong việc xác định tuổi của người bị hại, tuổi  
của người phạm tội  
Một đặc điểm riêng biệt của các tội về  
mua bán người là trong một số tội, người  
bị hại phải là người dưới 16 tuổi như Tội  
mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151), Tội  
đánh tráo người dưới 01 tuổi (Điều 152),  
Tội chiếm đoạt người dưới 16 (Điều 153).  
Đối với Tội cưỡng bức lao động, người bị  
Số chuyên đề 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 99  
NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT...  
với người phạm tội thì phải lấy độ tuổi  
thấp nhất, còn đối với người bị hại thì  
phải lấy độ tuổi cao nhất để áp dụng  
theo nguyên tắc có lợi cho người phạm  
tội, do đó có thể xảy ra việc xử lý không  
đúng tội. Hơn nữa, việc đưa người bị hại  
đi giám định đôi khi gặp phải sự phản  
đối, không hợp tác của họ.  
khởi tố vụ án, khởi tố bị can sau đó phải đình  
chỉ, khởi tố sai tội danh, bỏ lọt tội phạm.  
Thứ tư, khó khăn, vướng mắc và hạn chế  
trong việc đề ra yêu cầu điều tra  
Một trong những nhiệm vụ, quyền  
hạn của Kiểm sát viên là đề ra yêu cầu  
điều tra để yêu cầu Cơ quan điều tra,  
Điều tra viên, Cán bộ điều tra thực hiện  
việc điều tra một cách đúng đắn, đầy đủ  
nhằm làm rõ tội phạm, người phạm tội,  
các tình tiết khác có liên quan đến giải  
quyết đúng đắn vụ án hình sự, không để  
xảy ra tình trạng khởi tố, điều tra, truy  
tố oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Yêu cầu  
điều tra có thể được thực hiện nhiều lần  
bằng văn bản hoặc bằng lời nói, trong  
đó Kiểm sát viên yêu cầu những nội  
dung cụ thể để Điều tra viên thực hiện,  
tập trung vào việc phát hiện, thu thập  
chứng cứ chứng minh tội phạm, người  
phạm tội. Điều tra viên có trách nhiệm  
thực hiện nhanh chóng, đầy đủ yêu cầu  
điều tra của Kiểm sát viên trong toàn bộ  
quá trình điều tra, truy tố.  
Thứ ba, khó khăn, vướng mắc và hạn chế  
đối với Kiểm sát viên trong việc đề xuất phê  
chuẩn, không phê chuẩn, thay đổi, hủy bỏ các  
quyết định của Cơ quan điều tra  
Sau khi ra quyết định khởi tố vụ án,  
khởi tố bị can, các quyết định khác, Cơ  
quan điều tra chuyển quyết định cùng  
toàn bộ hồ sơ đến Viện kiểm sát để thực  
hiện chức năng thực hành quyền công  
tố và kiểm sát việc khởi tố vụ án, khởi tố  
bị can, các quyết định khác. Trong thời  
hạn 03 ngày theo quy định của BLTTHS  
năm 2015, Kiểm sát viên đại diện cho  
Viện kiểm sát phải tiến hành nghiên cứu  
hồ sơ, kiểm tra tính có căn cứ và tính  
hợp pháp của các quyết định khởi tố vụ  
án, khởi tố bị can, các hoạt động tố tụng  
của Điều tra viên trong việc khởi tố vụ án,  
khởi tố bị can để báo cáo Lãnh đạo Viện  
phê chuẩn hoặc hủy bỏ, thay đổi quyết  
định khởi tố bị can. Đối với các quyết định  
khác như lệnh bắt người trong trường hợp  
khẩn cấp, lệnh gia hạn tạm giữ, tạm giam,  
lệnh khám xét..., Kiểm sát viên phải kịp  
thời, nhanh chóng nghiên cứu, đánh giá  
tính có căn cứ hoặc tính hợp pháp của các  
quyết định để báo cáo Lãnh đạo Viện quyết  
định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn,  
thay đổi, hủy bỏ. Trong thời gian qua, việc  
phê chuẩn, không phê chuẩn, thay đổi, hủy  
bỏ các quyết định của Cơ quan điều tra vẫn  
còn xảy ra một số trường hợp chưa chính  
xác, chưa kịp thời, còn để xảy ra tình trạng  
Tuy nhiên, trên thực tế, việc đề ra yêu  
cầu điều tra của Kiểm sát viên còn nhiều  
hạn chế như hồ sơ không có bản yêu cầu  
điều tra hoặc có nhưng nội dung còn  
chung chung, sơ sài, không cụ thể, không  
đáp ứng yêu cầu của việc điều tra, chậm  
đề ra yêu cầu điều tra... Do vậy, Điều tra  
viên không thực hiện đầy đủ các yêu cầu  
thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm,  
người phạm tội, vi phạm trình tự thủ tục  
tố tụng, vi phạm thời hạn điều tra, xâm  
phạm đến quyền con người của người bị  
buộc tội, việc điều tra không đúng đắn,  
vi phạm những quy định khác của pháp  
luật. Đây cũng chính là một trong các lý  
do dẫn đến oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm,  
100 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 02 - 2021  
MAI ĐẮC BIÊN  
làm hồ sơ vụ án phải điều tra kéo dài hoặc  
phải trả để điều tra bổ sung nhiều lần.  
Thứ nhất, các quy định của pháp luật về  
hình sự và tố tụng hình sự còn nhiều bất cập,  
chậm sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn, giải thích  
Thứ năm, khó khăn, vướng mắc và hạn chế  
trong giai đoạn truy tố của Kiểm sát viên: Còn  
tình trạng truy tố không đúng tội danh, truy  
tố quá thời hạn, Tòa án trả hồ sơ để yêu cầu  
điều tra bổ sung nhiều lần  
Nhiều điều luật của BLHS đã quy định  
nhưng cần phải có hướng dẫn nội dung  
điều luật, hướng dẫn về các tình tiết định  
khung tăng nặng để các cơ quan tư pháp  
áp dụng thống nhất trong việc khởi tố,  
điều tra, truy tố, xét xử. Quy chế kiểm sát  
điều tra còn nhiều nội dung cụ thể chưa  
được quy định cũng gây khó khăn cho  
hoạt động nghiệp vụ của Kiểm sát viên.  
Kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra ra  
bản kết luận điều tra đề nghị truy tố6, gửi  
kết luận, quyết định cùng toàn bộ hồ sơ  
vụ án đến Viện kiểm sát để Viện kiểm sát  
thực hành quyền công tố, quyết định việc  
truy tố. Kiểm sát viên tiếp tục nghiên cứu  
hồ sơ, xác định, kiểm tra tính có căn cứ,  
tính hợp pháp của quyết định khởi tố, đề  
nghị truy tố để báo cáo đề xuất Lãnh đạo  
Viện quyết định. Về cơ bản, việc truy tố  
của Viện kiểm sát được thực hiện đúng  
người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy  
nhiên, vẫn còn trường hợp truy tố sai tội  
danh hoặc vi phạm các quy định của pháp  
Thứ hai, nhận thức và áp dụng các quy  
định của pháp luật cũng như trình độ, năng  
lực, ý thức trách nhiệm, bản lĩnh nghề nghiệp  
của một số Điều tra viên, Kiểm sát viên còn  
hạn chế  
Một số Điều tra viên, Kiểm sát viên  
còn hạn chế trong trình độ pháp lý, chưa  
hiểu đúng và đủ những quy định của  
pháp luật, nhất là pháp luật hình sự nên  
luật về trình tự, thủ tục hoặc chứng cứ còn lúng túng, khó khăn ngay trong việc  
định tội, định khung khi khởi tố vụ án,  
khởi tố bị can, áp dụng các biện pháp  
ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế. Một số  
Điều tra viên, Kiểm sát viên có kiến thức  
thực tế nhưng kiến thức về lý luận chưa  
thực sự logic, nhận thức không đầy đủ về  
pháp luật do chỉ quan tâm tới những kinh  
nghiệm thực tiễn, còn xa rời lý luận dẫn  
tới khi gặp các loại án mới, án khó thì giải  
quyết không đúng đắn.  
chứng minh tội phạm còn chưa bảo đảm  
dẫn đến việc Tòa án trả hồ sơ, yêu cầu  
điều tra bổ sung nhiều lần.  
1.2. Nguyên nhân của những khó khăn,  
vướng mắc và hạn chế  
Những khó khăn, vướng mắc và hạn  
chế trong thực hành quyền công tố giai  
đoạn điều tra, truy tố các tội danh về mua  
bán người, Tội tổ chức mang thai hộ vì  
mục đích thương mại, Tội cưỡng bức lao  
động có nhiều nguyên nhân được xem  
xét, đánh giá ở nhiều góc độ, cấp độ khác  
nhau. Trong đó, có những nguyên nhân  
cơ bản và chủ yếu sau:  
Kiểm sát viên chưa thực sự đề cao trách  
nhiệm, nghiên cứu chưa sâu, thực hiện  
không đầy đủ quy trình nghiệp vụ, còn  
lo ngại phải chịu trách nhiệm theo Nghị  
quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày  
17/3/2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội  
về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do  
người có thẩm quyền trong hoạt động tố  
6ꢀ Trường hợp có căn cứ đình chỉ điều tra, đình chỉ  
điều tra đối với bị can theo quy định của pháp luật  
thì Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra và quyết  
định đình chỉ điều tra.  
Số chuyên đề 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 101  
NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT...  
tụng hình sự gây ra, Luật Trách nhiệm bồi những quy định của pháp luật cho phù  
thường của Nhà nước nếu để xảy ra oan hợp hơn nữa, tăng cường văn bản hướng  
sai. Hoặc do áp lực từ dư luận, cơ quan dẫn, tăng cường nhận thức, trách nhiệm  
ngôn luận, của những người có quyền cũng như đào tạo, bồi dưỡng nâng cao  
lực hoặc thân quen nên một số Kiểm sát trình độ pháp luật, chuyên môn nghiệp  
viên đã bộc lộ tư tưởng né tránh, đùn đẩy vụ cho Điều tra viên, Kiểm sát viên; tăng  
trách nhiệm, thiếu kiên quyết trong đấu cường những điều kiện cơ sở vật chất bảo  
tranh với tội phạm nói chung và tội phạm đảm hoạt động nghiệp vụ. Làm tốt công  
về mua bán người nói riêng. Những hạn tác điều tra, truy tố trong các vụ án về  
chế trên dẫn đến tình trạng không kịp thời mua bán người không chỉ góp phần bảo  
phát hiện tội phạm, không thu thập, lưu vệ bị hại khỏi sự xâm hại của tội phạm mà  
giữ đúng và đầy đủ chứng cứ, vi phạm còn góp phần bảo đảm tốt nhất quyền con  
trình tự thủ tục tố tụng, làm cho việc giải người, quyền công dân theo quy định của  
quyết vụ án kéo dài, có trường hợp oan Hiến pháp và pháp luật.  
sai hoặc bỏ lọt tội phạm.  
2. Một số đề xuất khắc phục những  
Thứ ba, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục khó khăn, vướng mắc và hạn chế trong  
vụ việc điều tra, truy tố còn hạn chế  
thực hành quyền công tố giai đoạn điều  
tra, truy tố các tội danh về mua bán người  
và một số tội danh có liên quan  
Mặc dù trong những năm qua, cơ sở  
vật chất, trang thiết bị của Cơ quan điều  
tra, Viện kiểm sát đã được Nhà nước  
2.1. Quán triệt, yêu cầu Điều tra viên,  
quan tâm đầu tư nhưng vẫn còn hạn chế. Kiểm sát viên nắm vững những quy định  
Việc trụ sở cơ quan còn chật hẹp, phương của pháp luật về tội phạm mua bán người,  
tiện đi lại, tác nghiệp còn chưa đủ đã ảnh về thực hành quyền công tố trong điều tra,  
hưởng đến chất lượng điều tra, truy tố các truy tố các vụ án hình sự về mua bán người  
vụ án về mua bán người. Vấn đề lương,  
BLHS và BLTTHS năm 2015 về cơ  
phụ cấp cho Điều tra viên, Kiểm sát viên  
bản đã khắc phục được những hạn chế,  
cũng còn bất cập, chưa tương xứng so  
khiếm khuyết của pháp luật về các tội  
với mặt bằng chung trong xã hội. Điều  
phạm về mua bán người cũng như trình  
này cũng ảnh hưởng đến trách nhiệm của  
tự, thủ tục giải quyết các vụ án này. Các  
Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực thi  
cơ quan tư pháp Trung ương cũng đã  
kịp thời ban hành một số Thông tư liên  
nhiệm vụ.  
Những khó khăn, vướng mắc, hạn chế ngành hướng dẫn thực hiện các quy định  
nêu trên đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân  
tụng, người tiến hành tố tụng, nhất là Viện cũng đã ban hành nhiều văn bản quy  
kiểm sát, Kiểm sát viên cần nhận thức đầy định, hướng dẫn về thực hiện chức năng  
đủ tính chất, mức độ nguy hiểm của tội thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt  
phạm về mua bán người, sớm có nhiều động tư pháp trong tố tụng hình sự như:  
giải pháp tăng cường hiệu quả công tác Quy chế kiểm sát điều tra; Chỉ thị số  
phát hiện, điều tra, truy tố tội phạm. Các 05/CT-VKSTC ngày 27/4/2020 của Viện  
biện pháp đó có thể là sửa đổi, bổ sung trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về  
102 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 02 - 2021  
MAI ĐẮC BIÊN  
“Tăng cường trách nhiệm công tố trong  
giải quyết các vụ án hình sự, đáp ứng yêu  
cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm”  
và một số văn bản khác. Do vậy, Cơ quan  
điều tra, Viện kiểm sát cần tăng cường  
quán triệt, yêu cầu Điều tra viên, Kiểm  
sát viên nắm vững quy định của BLHS về  
các tội trong nhóm tội mua bán người và  
một số tội danh có liên quan, cấu thành  
tội phạm của từng tội cụ thể để xác định  
đúng đắn về điều, khoản khi khởi tố vụ  
án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp  
ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế. Nắm  
vững các quy định của pháp luật tố tụng  
hình sự, các văn bản dưới luật, quy chế  
nghiệp vụ của ngành về trình tự thủ tục  
tố tụng, các kỹ năng nghiệp vụ để thực  
hiện tốt các hoạt động điều tra, truy tố và  
thực hành quyền công tố đối với nhóm  
tội này.  
2.3. Tăng cường công tác đào tạo, bồi  
dưỡng cán bộ, Kiểm sát viên  
Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán  
bộ tại các cơ sở đào tạo của Ngành để  
nâng cao hơn nữa trình độ pháp luật, kỹ  
năng chuyên môn, nghề nghiệp của Kiểm  
sát viên. Trước mắt, cần đổi mới công tác  
giảng dạy theo đúng hoạt động đào tạo,  
bồi dưỡng cán bộ trong Ngành là trang  
bị kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ, phương  
pháp làm việc, kinh nghiệm xử lý công  
việc hiệu quả và theo nhu cầu của Viện  
kiểm sát nhân dân các cấp. Đổi mới nội  
dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng  
theo hướng tăng cường kỹ năng công tác  
nghiệp vụ, đào tạo chuyên sâu về thực  
hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư  
pháp. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp  
vụ kiểm sát phải được đầu tư và quan  
tâm đúng mức, các tiêu chuẩn về đào tạo,  
bồi dưỡng phải trở thành một trong các  
điều kiện bắt buộc để bổ nhiệm chức danh  
Kiểm sát viên, chức danh quản lý lãnh đạo  
của Ngành. Kết hợp giảng lý luận với đi  
thực tế để tìm hiểu, tiếp cận các vụ án điển  
hình, trọng điểm được dư luận quan tâm.  
Tăng cường thảo luận, trao đổi tọa đàm về  
những vấn đề khó khăn, vướng mắc trong  
hoạt động điều tra, thực hành quyền công  
tố, kiểm sát điều tra nhằm rút ra bài học  
2.2. Tăng cường trách nhiệm, chuyên  
môn nghiệp vụ, đạo đức của Kiểm sát viên  
Tăng cường trách nhiệm thực hành  
quyền công tố của Kiểm sát viên trong  
điều tra, truy tố các vụ án về mua bán  
người để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ  
phòng, chống oan sai và bỏ lọt tội phạm.  
Quan tâm đào tạo, giáo dục, xây dựng  
đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên có đạo đức  
cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, kinh nghiệm, kỹ năng giải quyết các vụ  
án về mua bán người. Phối hợp với các cơ  
sở đào tạo của Bộ Công an tổ chức mở các  
lớp học về phương pháp, chiến thuật điều  
tra các loại tội này.  
tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện nâng  
cao kỹ năng, có tinh thần đấu tranh với  
tội phạm, người phạm tội. Người Kiểm  
sát viên phải có phẩm chất trong sáng,  
trọng danh dự, tâm huyết, không bị vật  
chất cám dỗ, hết lòng phục vụ Nhà nước,  
phục vụ nhân dân, bảo vệ lợi ích của Nhà  
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ  
quan, tổ chức, cá nhân, đặc biệt là của  
người bị buộc tội.  
Ngoài ra, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng  
của Ngành cần tăng cường hỗ trợ công tác  
tự đào tạo, bồi dưỡng tại Viện kiểm sát  
nhân dân các địa phương thông qua việc  
trao đổi, tọa đàm, rút kinh nghiệm trong  
việc giải quyết các vụ án hình sự. Đồng  
Số chuyên đề 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 103  
NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT...  
thời, cũng cần đưa các vụ án có vi phạm Khi kiểm sát hoạt động điều tra của Cơ  
trong hoạt động điều tra, trong công tác  
thực hành quyền công tố, kiểm sát điều  
tra để các Kiểm sát viên rút kinh nghiệm,  
không mắc phải các vi phạm đã xảy ra  
nhằm nâng cao trình độ chuyên môn. Tổ  
chức cho cán bộ, Kiểm sát viên tham dự  
phiên tòa xét xử các vụ án về mua bán  
người có Luật sư bào chữa để lắng nghe  
nhiều ý kiến phản biện trái chiều, từ đó  
tổng kết, tích lũy kỹ năng nghề nghiệp.  
Viện kiểm sát các cấp thường xuyên tổng  
kết, bổ sung, hoàn thiện lý luận về thực  
hành quyền công tố, kiểm sát các vụ án  
về mua bán người, xây dựng các chuyên  
đề nghiệp vụ như: Viện kiểm sát trực tiếp  
khởi tố vụ án hình sự, trực tiếp điều tra  
trong trường hợp luật định; yêu cầu điều  
tra... Tổ chức hội nghị cho các cán bộ, Kiểm  
sát viên học tập, trao đổi, rút kinh nghiệm,  
trang bị lại cho tất cả các Kiểm sát viên,  
cán bộ làm công tác nghiệp vụ nhằm nâng  
cao trình độ nhận thức, phương pháp, nội  
dung và quy trình thực hiện nhiệm vụ.  
quan điều tra, Điều tra viên, cần kiểm sát  
chặt chẽ các hoạt động điều tra như lấy  
lời khai, hỏi cung bị can, khám nghiệm  
hiện trường, khám nghiệm tử thi, các  
biện pháp khám xét, đối chất, nhận dạng,  
thực nghiệm điều tra; kịp thời và chủ  
động đề ra các yêu cầu điều tra giúp các  
Điều tra viên định hướng điều tra từng  
vụ án, đảm bảo chất lượng và hiệu quả  
cao trong hoạt động điều tra.  
2.5. Tăng cường giáo dục, nâng cao  
hiểu biết pháp luật cho nhân dân  
Hoạt động tuyên truyền, phổ biến,  
giáo dục pháp luật cho nhân dân là vô  
cùng quan trọng. Cần tăng cường hoạt  
động truyền thông, giải thích rộng rãi  
đến mọi tầng lớp dân cư, mọi lứa tuổi  
để mọi người hiểu biết các quy định của  
pháp luật về tội phạm, về Tội mua bán  
người, Tội tổ chức mang thai hộ vì mục  
đích thương mại, Tội cưỡng bức lao động  
để nhân dân chủ động phòng ngừa, ngăn  
chặn, đẩy lùi tội phạm. Giáo dục pháp  
luật là hoạt động định hướng có tổ chức,  
có chủ định của chủ thể giáo dục tác  
động lên đối tượng giáo dục nhằm mục  
đích hình thành sâu sắc và mở rộng ở họ  
tri thức pháp luật, hình thành tình cảm  
và lòng tin đối với pháp luật, hình thành  
động cơ, hành vi và thói quen xử sự phù  
hợp với các yêu cầu của hệ thống pháp  
luật. Vì vậy, đối tượng cần được giáo dục  
pháp luật đó là cộng đồng dân cư, người  
bị tạm giữ, tạm giam, người bị giáo dục  
tại trường giáo dưỡng, cán bộ các cơ  
quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan hữu  
quan có liên quan đến công tác quản lý,  
giáo dục, cải tạo người phạm tội./.  
2.4. Tăng cường kiểm sát việc tuân theo  
pháp luật trong điều tra, truy tố  
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong  
điều tra, truy tố là một trong hai chức  
năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát, có  
quan hệ máu thịt với thực hành quyền  
công tố nhằm bảo đảm cho việc khởi tố,  
điều tra, truy tố đúng quy định của pháp  
luật, thực hiện mục đích chống oan sai  
hoặc bỏ lọt tội phạm. Viện kiểm sát cần  
chủ động kiểm sát chặt chẽ hoạt động tố  
tụng của Cơ quan điều tra, các cơ quan  
khác được giao nhiệm vụ tiến hành một  
số hoạt động điều tra, của Điều tra viên,  
bảo đảm mọi thông tin về tố giác, tin  
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đều  
được Viện kiểm sát nắm bắt, kiểm sát.  
104 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 02 - 2021  
pdf 10 trang Thùy Anh 16020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những khó khăn, vướng mắc, hạn chế và một số đề xuất khắc phục trong thực hành quyền công tố giai đoạn điều tra, truy tố các tội danh về mua bán người và một số tội danh có liên quan: Cưỡng bức lao động, tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_kho_khan_vuong_mac_han_che_va_mot_so_de_xuat_khac_phuc.pdf