Một số vấn đề về xã hội hoá giáo dục theo luật giáo dục năm 2019

CHÍNH SÁCH  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC  
THEO LUẬT GIÁO DỤC NĂM 2019  
Lê Văn Tranh*  
Nguyễn Duy Trinh**  
*Giảng-viên,-Trường-Đại-học-Luật-Tp.-Hồ-Chí-Minh  
**Trưởng-phòng-Giáo-dục,-huyện-Lâm-Hà,-tỉnh-Lâm-Đồng-  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Xã hội hoá giáo dục, hệ  
thống giáo dục, trường công lập,  
trường ngoài công lập.  
Ở Việt Nam, trong bối cảnh xã hội hoá giáo dục diễn ra nhanh, mạnh  
ở nhiều cấp học và một trong những điểm nổi bật của công tác xã hội  
hoá giáo dục đó chính là sự phát triển nhanh của các trường ngoài  
công lập theo tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào  
tạo để đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước  
trong điều kiện mới. Với sự thay đổi này, về lý thuyết sẽ có thêm  
nhiều chủ thể ngoài nhà nước tham gia đầu tư vào lĩnh vực giáo dục  
và người học sẽ có thêm nhiều cơ hội để lựa chọn. Trong phạm vi bài  
viết này, các tác giả tập trung đề cập đến hành lang pháp lý, nêu lên  
một số thuận lợi, khó khăn của quá trình xã hội hoá giáo dục đối với  
trường ngoài công lập trong hệ thống giáo dục; đồng thời đề ra một  
số giải pháp nhằm thu hút nguồn lực đầu tư cho giáo dục ngoài công  
lập để góp phần đưa mục tiêu “dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và  
đào tạo” thành một trong các động lực tăng trưởng và pháp triển kinh  
tế, xã hội.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 18/11/2019  
: 03/02/2020  
: 03/02/2020  
Article Infomation:  
Key words: Education socialization,  
education system, public schools,  
non-public schools.  
Abstract:  
Article History:  
In Vietnam, under the context of rapid and strong education  
socialization at several levels, one of the highlights of the education  
socialization is the rapid development of non-public schools with the  
spirit of fundamental and comprehensive innovation in education and  
training services to meet the requirements of industrialization and  
modernization of the country in new circumtances. With this change,  
in theory there will be more non-state entities investing in the  
education sector and the learners will have more opportunities to  
select the schools. In the scope of this article, the authors focus on the  
legal ground, highlighting advantages and disadvantages of the  
education socialization process for non-public schools in the  
education system; and also propose a number of solutions to attract  
investments for non-public education to contribute to the goal of  
“democratization, socialization of education and training” as one of  
the driving forces of growth and economic and social developments.  
Received  
Edited  
Approved  
: 18 Nov. 2019  
: 03 Feb. 2020  
: 13 Feb. 2020  
1. Cơ sở chính trị, pháp lý của chính sách  
xã hội hóa giáo dục  
Trong tiêń trình phát triển ở nhiều quôć  
gia, giáo dục được xem là cách để giảm thiểu  
rủi ro, nguy cơ cho xã hội và là con đường  
hữu hiệu để chống đói nghèo. Ngày nay, khi  
trí tuệ đã trở thành yếu tố hàng đầu thể hiện  
quyền lực và sức mạnh của một quốc gia thì  
chúng ta đều ý thức được rằng, giáo dục  
không chỉ là phúc lợi xã hội, mà thực sự là  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
16  
Số 24 (424) - T12/2020  
CHÍNH SÁCH  
đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế, phát  
triển xã hội. Theo đó, các nước kém phát  
triển cần quan tâm đến giáo dục và đầu tư  
cho giáo dục bởi đây chính là đầu tư cho phát  
(comunity education). Tổ chức thương mại  
thế giới (WTO) đã phân chia dịch vụ và  
thương mại dịch vụ trên thế giới 12 nhóm  
lớn với 143 hạng mục dịch vụ. Trong 12  
nhóm thương mại dịch vụ, thì dịch vụ giáo  
dục thuộc nhóm thứ năm, dịch vụ nhóm này  
bao gồm: dịch vụ giáo dục tiểu học, dịch vụ  
giáo dục trong học; dịch vụ giáo dục đại học  
và cao đẳng; dịch vụ giáo dục cho người lớn  
và các dịch vụ giáo dục khác. Dù muốn hay  
không thì thị trường dịch vụ (giáo dục) cũng  
đã và đang hình thành ở nước ta khi  
Việt Nam trở thành thành viên của WTO.  
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban  
Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về  
định hướng chiến lược phát triển giáo dục,  
đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện  
đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000 đã chỉ rõ,  
“Thể chế hoá chủ trương xã hội hoá giáo  
dục đã ghi trong nghị quyết Đại hội VIII”.  
Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục đã  
nêu, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số  
90/CP ngày 21/8/1997 về phương hướng và  
chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo  
dục, y tế, văn hoá. Sau Nghị quyết Trung  
ương 2 khóa VIII nêu trên, Luật Giáo dục ra  
đời năm 1998, lần đầu tiên công nhận chế độ  
đa sở hữu đối với các cơ sở giáo dục, bao  
gồm công lập, bán công, dân lập và tư thục.  
Ngày 14/6/2005, Quốc hội đã thông qua  
Luật Giáo dục. Luật Giáo dục xác định phát  
triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm  
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng  
nhân tài; phát triển giáo dục phải gắn với nhu  
cầu phát triển kinh tế, xã hội; “phát triển  
giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự  
nghiệp của Nhà nước và của toàn dân. Nhà  
nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự  
triển, quyêt́ định vận mệnh của con người, xã  
hội, vận mệnh của dân tộc. Vì thế, giáo dục,  
đào tạo giữ vai trò trung tâm, then chốt để hội  
nhập và phát triển1 của mỗi quốc gia.  
So với các nước, kể cả các nước có trình  
độ phát triển kinh tế cao hơn thì tỷ lệ chi tiêu  
công cho giáo dục trên GDPcủa Việt Nam khá  
lý tưởng (khoảng 5% GDP) góp phần đem lại  
những thành tựu quan trọng cho giáo dục nước  
nhà. Để thực hiện nguyên tắc hiến định  
“phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu”,  
Luật Giáo dục qua các thời kỳ đã xác định rõ  
hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo  
dục mở, liên thông gồm giáo dục chính quy  
và giáo dục thường xuyên. Trong đó, cấp học,  
trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc  
dân bao gồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổ  
thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại  
học. Để bảo đảm tính chất “đa mục tiêu” của  
nền giáo dục, chúng ta không thể chỉ dựa vào  
nguồn lực của Nhà nước, mà cần thực hiện  
giải pháp “xã hội hoá”.  
Xã hội hóa giáo dục là một chủ trương  
được thực hiện ở rất nhiều quốc gia trên thế  
giới, không chỉ những quốc gia nghèo, kém  
phát triển mà ngay cả ở các quốc gia phát  
triển, công tác xã hội hóa giáo dục càng  
được thực hiện rộng rãi và có hiệu quả. Tuy  
nhiên, qua các giai đoạn và tùy từng quốc  
gia, dân tộc, thuật ngữ xã hội hóa giáo dục  
có nhiều cách hiểu2 với những nội hàm ít  
nhiều liên quan đến các khía cạnh như: phi  
tập trung hóa (decentralization); giáo dục  
suốt đời (longlife education); xã hội học tập  
(learning society); giáo dục cộng đồng  
1 Năm 1996, Ủy ban Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã xuất bản báo cáo  
nghiên cứu về vấn đề giáo dục, trong đó đề cập đến 4 trụ cột của giáo dục Thế kỷ XXI. Đây có thể coi là  
những nguyên tắc cơ bản để định hình lại giáo dục cho phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu. Bốn trụ cột  
(4 pillars of education) đó là: Học để biết (Learning to know), Học để trưởng thành (Learning to be), Học  
để chung sống (Learning to live together), và học để làm (Learning to do).  
ve-xa-hoi-hoa-giao-duc-o-viet-nam-hien-nay, truy cập ngày 14/11/2019.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
17  
Số 24 (424) - T12/2020  
CHÍNH SÁCH  
nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các  
loại hình trường và các hình thức giáo dục;  
khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để  
tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự  
nghiệp giáo dục”3.  
Năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị  
quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã  
hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa  
và thể dục thể thao, trong đó đặt mục tiêu  
định hướng đến năm 2010, “tỷ lệ học sinh  
nhà trẻ ngoài công lập chiếm 80%, mẫu giáo  
70%, trung học phổ thông 40%, trung học  
chuyên nghiệp 30%, các cơ sở dạy nghề  
60%, đại học, cao đẳng khoảng 40%”.  
Năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị  
quyết số 40/NQ-CP về xã hội hóa giáo dục.  
Những năm gần đây, chủ trương xã hội hóa  
giáo dục còn được Trung ương chỉ đạo rõ  
hơn trong Nghị quyết số 29/NQ-TƯ ngày  
4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo  
dục và đào tạo. Trong phần Định hướng đổi  
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,  
quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết xác định:  
“Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế  
mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm  
định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển  
giáo dục và đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ  
trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công  
lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư  
phát triển giáo dục và đào tạo đối với các  
vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu  
số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và  
các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ  
hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo”.  
hình cơ sở giáo dục và hình thức giáo dục;  
khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để  
tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự  
nghiệp giáo dục; khuyến khích phát triển cơ  
sở giáo dục dân lập, tư thục đáp ứng nhu  
cầu xã hội về giáo dục…”4.  
Có thể nói rằng, các cơ sở chính trị, pháp  
lý nêu trên là căn cứ quan trọng để việc xã  
hội hoá giáo dục được ghi nhận và phát triển  
và trở thành một phần không thể thiếu trong  
bức tranh chung về phát triển giáo dục Việt  
Nam trong những năm qua.  
2. Những kết quả đạt được, hạn chế, bất  
cập trong thực hiện xã hội hoá giáo dục  
Việt Nam  
2.1. Những kết quả đạt được  
Về chương trình, Luật giáo dục năm  
2005 xác định nguyên tắc, “Chương trình  
giáo dục phải bảo đảm tính hiện đại, tính ổn  
định, tính thống nhất, tính thực tiễn, tính hợp  
lý và kế thừa giữa các cấp học và trình độ  
đào tạo; tạo điều kiện cho sự phân luồng,  
liên thông, chuyển đổi giữa các trình độ đào  
tạo, ngành đào tạo và hình thức giáo dục  
trong hệ thống giáo dục quốc dân; là cơ sở  
bảo đảm chất lượng giáo dục toàn diện; đáp  
ứng yêu cầu hội nhập quốc tế”. Quy định  
này đã tiếp tục được ghi nhận, mở rộng trong  
Luật giáo dục năm 2019 với nội  
dung,“Chương trình giáo dục phải bảo đảm  
tính khoa học và thực tiễn; kế thừa, liên  
thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo; tạo  
điều kiện cho phân luồng, chuyển đổi giữa  
các trình độ đào tạo, ngành đào tạo và hình  
thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc  
dân để địa phương và cơ sở giáo dục chủ  
động triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp;  
đáp ứng mục tiêu bình đẳng giới, yêu cầu hội  
nhập quốc tế. Chương trình giáo dục là cơ  
sở bảo đảm chất lượng giáo dục toàn diện”5.  
Với tính chất này, chương trình giáo dục là  
Ngày 14/6/2019, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc  
hội Khóa XIV đã thông qua Luật Giáo dục  
năm 2019. Với mục tiêu thể chế hóa chủ  
trương, đường lối của Đảng và pháp luật của  
Nhà nước về đổi mới giáo dục, đào tạo, tạo  
hành lang pháp lý cho việc xây dựng nền  
giáo dục Việt Nam phát triển toàn diện; Luật  
xác định: “Thực hiện đa dạng hóa các loại  
3 Điều 12 Luật Giáo dục năm 2005.  
4 Khoản 2 Điều 16 Luật Giáo dục năm 2019.  
5 Khoản 2 Điều 8 Luật Giáo dục năm 2019.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
18  
Số 24 (424) - T12/2020  
CHÍNH SÁCH  
thống nhất chung mà không có sự phân biệt,  
phân chia giữa các trường công lập và ngoài  
công lập. Tuy nhiên, với đòi hỏi của thực tế  
khi phải cạnh tranh nên các trường ngoài  
công lập đã “sáng tạo” trong việc thực hiện  
chương trình với nhiều mô hình học tập mới,  
phản ánh tính năng động về cách tư duy,  
cách đánh giá tình huống vấn đề phức tạp  
trong cuộc sống của xã hội. Các hoạt động  
này, ít nhiều đã hình thành phẩm chất, năng  
lực giải quyết vấn đề phù hợp với thực tiễn,  
đem lại kết quả thực sự cho cuộc sống, làm  
cho các phương pháp giáo dục truyền thống  
đang chịu nhiều thách thức, áp lực cạnh tranh  
đối với cả người dạy và cả người học. Điều  
này đã tạo ra những lợi ích xã hội nhất định  
khi mà đối tượng thụ hưởng đó chính là người  
học. Một số cơ sở ngoài công lập khi đi vào  
hoạt động đã xác lập ngay một số giá trị cốt  
lõi như nhân cách, trí tuệ, cảm xúc, đam mê,  
năng lượng… làm cơ sở xây dựng chương  
trình và phương pháp giảng dạy phù hợp.  
Về nguồn lực, các trường ngoài công lập  
chất lượng cao được tư nhân đầu tư mạnh mẽ  
khang tranh về cơ sở vật chất, hiện đại về  
chương trình và hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển  
mạnh trong các năm tới bởi các tập đoàn  
kinh tế tư nhân. Quan điểm, “các thành phần  
kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng  
của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc  
các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và  
cạnh tranh theo pháp luật6” làm cho vai trò  
của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị  
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội  
nhập quốc tế ngày càng được nhận thức rõ  
hơn và đánh giá đúng hơn. Tỷ trọng trong  
GDP của khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm  
cả kinh tế cá thể luôn duy trì ổn định trong  
khoảng 40%. Bước đầu đã hình thành được  
một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô  
lớn, hoạt động đa ngành như Tập đoàn  
Vingroup, Trường Hải, FLC… có khả năng  
cạnh tranh tốt hơn trên thị trường trong nước  
và quốc tế. Mức độ đóng góp vào tổng sản  
phẩm trong nước của kinh tế tư nhân luôn  
chiếm tỷ trọng lớn và tăng liên tục trong  
những năm qua7.  
Với những quan điểm về xã hội hoá giáo  
dục đã và đang triển khai trong hơn hai thập  
niên qua, mô hình giáo dục ngoài công lập  
gia tăng về số lượng điều đó cho thấy giáo  
dục ngoài công lập đã có sự phát triển và cả  
sự “chấp nhận” của xã hội đặc biệt là ở các  
thành phố lớn của Việt Nam. Ví dụ, những  
năm đầu thập kỷ 1990 tại Thành phố Hồ Chí  
Minh chỉ có số ít trường phổ thông dân lập  
với chưa tới 1.000 học sinh, sau đó, chưa đầy  
10 năm đã tăng lên 130 trường với gần  
30.000 học sinh cho cả 4 cấp: mầm non, tiểu  
học, trung học cơ sở và trung học phổ thông,  
đến năm học 2018-2019 có 932 trường mầm  
non, tiểu học, trung học cơ sở và trung học  
phổ thông dân lập với 280.118 học sinh, tăng  
gần 10 lần so với 10 năm trước8. Theo thống  
kê của Sở giáo dục thành phố Hồ Chí Minh,  
số lượng trường công lập và ngoài công lập  
của Thành phố tương đương nhau (110 và  
113 trường)9, đây là tỷ lệ cao hơn so với mặt  
bằng chung của cả nước.  
2.2. Những hạn chế, bất cập  
Về điều kiện thành lập: Quan điểm xếp  
giáo dục là ngành nghề kinh doanh có điều  
kiện là hoàn toàn hợp lý bởi tính chất và đặc  
thù của lĩnh vực này. Thành lập cơ sở giáo  
dục của nhà đầu tư ngoài công lập là tiền đề  
để hoạt động của một nhà trường. Tuy nhiên,  
hồ sơ thủ tục trong cấp phép thành lập  
trường được xem là hành trình đầy “nan  
6 Điều 51 Hiến pháp năm 2013.  
trong-nen-kinh-te-viet-nam-127594.html, truy cập ngày 12/11/2019.  
8 Xem  
thêm  
tại:  
20190815183726425.htm, truy cập ngày 14/11/19.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
19  
Số 24 (424) - T12/2020  
CHÍNH SÁCH  
giải” của nhà đầu tư. Thủ tục hành chính về  
cấp phép thành lập đã được quy định trong  
Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Giáo  
dục nhưng về bản chất các quy định vẫn ở  
dạng “luật khung”; vì thế, để thực thi được  
thì địa phương đã ban hành những quy định  
riêng. Những quy định riêng đó đã làm cho  
bức tranh về thủ tục được cấp phép thành lập  
trường ngoài công lập không thống nhất giữa  
các địa phương. Điều này đã làm tăng phát  
sinh chi phí tuân thủ, gia tăng rào cản gia  
nhập thị trường giáo dục/kinh doanh giáo  
dục của nhà đầu tư. Đâu đó đã có hiện tượng  
nhà đầu tư nản lòng, thậm chí rút lui khỏi thị  
trường bởi hàng rào thủ tục hành chính nhiêu  
khê, rườm rà, phức tạp.  
Về học phí: Các trường ngoài công lập  
do các nhà đầu tư tự bỏ vốn để thuê hoặc  
mua các cơ sở vật chất, trang thiết bị và vận  
hành. Cả hai trường hợp này đều có mức đầu  
tư ban đầu là không hề nhỏ, vì thế nếu không  
phải là chủ thể có tiềm lực tài chính và đam  
mê giáo dục thì khó có thể thực hiện được.  
Chi phí đầu tư, xây dựng trường lớp, vận  
hành do nhà đầu tư bỏ ra, và nguồn thu duy  
nhất để bù đắp là học phí. Vốn đầu tư ban  
đầu nhiều, học phí lại không được bao cấp  
hoặc hỗ trợ từ các nguồn khác nên mức học  
phí của trường dân lập cao hơn các trường  
công lập, làm ảnh hưởng tính tồn tại và cạnh  
tranh của các trường ngoài công lập. Ví dụ,  
học sinh lớp 1 trường công lập khu vực  
thành phố Hà Nội trung bình mỗi tháng phải  
nộp hơn một triệu đồng, gồm: tiền ăn  
450.000 đồng, học hai buổi 100.000, dịch vụ  
bán trú 130.000, tiếng Anh tăng cường  
150.000, nước 12.000, cuối buổi 180.000 và  
tiền sữa học đường hơn 50.000 đồng. Riêng  
học phí được miễn, theo quy định của Luật  
Giáo dục. Về các khoản phí đầu năm học,  
phụ huynh thường phải nộp khoảng 3-4 triệu  
đồng, bao gồm tiền cơ sở vật chất, đồng  
phục, bảo hiểm và quỹ phụ huynh. Như vậy,  
nếu tính theo cả năm học (9 tháng), tổng chi  
phí ở trường công lập cho một học sinh lớp  
1 là khoảng 14 triệu đồng. Cũng với 14 triệu  
đồng, nếu cho con học ở trường ngoài công  
lập phụ huynh chỉ đủ tiền nộp phí ghi danh  
và chi phí trong 2-3 tháng học10. Thậm chí,  
do bất đồng quan điểm về cách tính học phí  
giữa phụ huynh và nhà trường đã dẫn đến  
những “lùm xùm” trong thời gian qua11.  
Về chính sách thuế: Các trường ngoài  
công lập không được Nhà nước đầu tư về cơ  
sở vật chất, không sử dụng đến ngân sách  
nhà nước mà dựa chủ yếu vào các nhà đầu  
tư tâm huyết với giáo dục và sự đóng góp  
của phụ huynh học sinh theo cơ chế xã hội  
hóa giáo dục. Ở một góc độ nào đó, việc yêu  
cầu các trường ngoài công lập phải đóng  
thuế thu nhập doanh nghiệp là coi các trường  
học như “doanh nghiệp chính hiệu” là chưa  
hợp lý. Việc thu thuế theo hướng “tận thu”  
đối với các trường ngoài công lập là gián tiếp  
đánh thuế người học. Điều này dẫn đến bất  
bình đẳng ngày càng lớn giữa hai loại hình  
trường trường công lập và ngoài công lập.  
Về chương trình: Thực tế trong những  
năm qua cho thấy, phương pháp mới, lạ với  
người học là yếu tố thu hút người học của  
các trường ngoài công lập. Tuy nhiên, yêu  
cầu chung là vẫn phải đảm bảo nội đúng  
chương trình khung của đơn vị chủ quản, vì  
thế tính xã hội hoá giáo dục mới chỉ dừng lại  
ở việc đầu tư cơ sở vật chất chứ không phải  
là độc lập trong hoạt động (cho dù đó có thể  
hoi-phu-huynh-phan-ung-799457.ldo.  
817135.ldo.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
20  
Số 24 (424) - T12/2020  
CHÍNH SÁCH  
là chương trình có ưu điểm vượt trội). Thực  
tế ngay cả các trường quốc tế khi hoạt động  
tại Việt Nam thì cũng gặp khó bởi “đầu ra”  
giáo dục ở nước ta vẫn bị chi phối bởi tính  
nguyên tắc.  
địa phương. Điều này đã gây ra những khó  
khăn nhất định cho nhà đầu tư. Để khắc phục  
bất cập này, chúng tôi cho rằng, Chính phủ  
cần tăng cường khâu thanh tra, kiểm tra việc  
thi hành Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư ở  
các địa phương theo tinh thần Chính phủ  
“kiến tạo, liêm chính và hành động”.  
Về cơ sở hạ tầng: Có thể nói rằng, cơ sở  
hạ tầng của vùng, miền, địa phương hay là  
một quốc gia cũng có tác động trực tiếp đến  
hoạt động đầu tư hay tiếp cận giáo dục của  
người học. Cụ thể, khi người học đến từ  
vùng khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn mà  
được miễn học phí, được trợ cấp bữa trưa,  
nhà ở nhưng đường đến trường xa và khó đi  
thì tỷ lệ bỏ học vẫn ở mức cao (điều này  
chúng ta thường thấy tại các vùng sâu, vùng  
xa, điều kiện kinh tế, giao thông đi lại khó  
khăn như địa bàn một số tỉnh ở tây Bắc, tây  
Nguyên). Trường hợp này khó khăn cho  
ngay cả các trường công lập trong việc thu  
hút người học, và mức độ khó lại càng tăng  
(thậm chí bất khả thi) đối với các trường  
ngoài công lập.  
Thứ hai, Điều 103 Luật Giáo dục năm  
2019 quy định về chính sách ưu đãi đối với  
trường dân lập, trường tư thục như sau:  
“Trường dân lập, trường tư thục được Nhà  
nước giao hoặc cho thuê đất, giao hoặc cho  
thuê cơ sở vật chất”. Tuy nhiên, thực tế cho  
thấy, vấn đề được “nhận đất” với hình thức  
“giao” hoặc “cho thuê” chưa hợp lý; tình  
trạng “xin – cho” vẫn tồn tại phổ biến; tình  
trạng sử dụng sai mục đích đất được giao  
hoặc cho thuê vẫn còn diễn ra. Để khắc phục  
bất cập này, Chính phủ cần sớm ban hành  
văn bản hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục  
năm 2019; trong đó, quy định rõ “cam kết  
của nhà đầu tư về thời gian đưa vào khai  
thác, mục đích đưa vào khai thác, tính kinh  
tế trong khai thác…” để tạo sự minh bạch và  
công bằng trong việc tiếp cận, sử dụng đất  
đai cho giáo dục.  
Thứ ba, Điều 103 Luật Giáo dục năm  
2019 còn quy định chính sách ưu đãi về thuế  
và tín dụng đối với trường dân lập, trường tư  
thục. Theo đó, “trường dân lập, trường tư  
thục được Nhà nước … được hưởng các  
chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng”.  
Vấn đề tín dụng là bài toán khó khi mà  
các sản phẩm của giáo dục để “thế chấp”  
hoàn toàn khác với các ngành nghề sản xuất  
kinh doanh khác, và tín dụng đối với nhóm  
trường ngoài công lập chỉ có thể khả thi khi  
nó được áp dụng đối với các tổ chức tín dụng  
của Nhà nước, còn khó khả thi với các tổ  
chức tín dụng tư nhân. Do đó, Chính phủ cần  
có cơ chế “giao nhiệm vụ” đối với các tổ  
chứng tín dụng khi xét cấp tín dụng cho các  
trường ngoài công lập theo tinh thần “hỗ trợ  
3. Một số kiến nghị  
Thứ nhất, Điều 54 Luật Giáo dục năm  
2019 quy định, “Nhà đầu tư thành lập cơ sở  
giáo dục tư thục được lựa chọn một trong  
các phương thức sau đây: a) Đầu tư thành  
lập tổ chức kinh tế theo quy định của Luật  
Đầu tư, Luật Doanh nghiệp để tổ chức kinh  
tế thành lập cơ sở giáo dục tư thục theo quy  
định của Luật này; b) Trực tiếp đầu tư thành  
lập cơ sở giáo dục tư thục theo quy định của  
Luật này”. Theo quy định này, nhà đầu tư có  
hai cách để thành lập cơ sở giáo dục tư thục:  
Một là, nhà đầu tư thành lập tổ chức kinh  
tế theo quy định của Luật Đầu tư, Luật  
Doanh nghiệp (nhà đầu tư tiến hành đăng ký  
thành lập, lựa chọn mô hình kinh doanh, có  
thể là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty  
cổ phần, công ty hợp doanh, doanh nghiệp  
tư nhân). Việc lấy được giấy Chứng nhận  
đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy Chứng  
nhận đăng ký đầu tư chỉ là bước đầu. Để đi  
vào hoạt động, nhà đầu tư phải cần nhiều  
giấy phép khác; trong khi đó, mỗi địa  
phương lại đặt ra những yêu cầu mang tính  
và đồng hành”  
n
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
21  
Số 24 (424) - T12/2020  
pdf 6 trang Thùy Anh 10620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề về xã hội hoá giáo dục theo luật giáo dục năm 2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_van_de_ve_xa_hoi_hoa_giao_duc_theo_luat_giao_duc_nam.pdf