Quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng thông qua công cụ tín thác
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
QUẢN LÝ DI SẢN DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG
THÔNG QUA CÔNG CỤ TÍN THÁC
Lê Vũ Nam*
Lê Bích Thủy**
* PGS.TS. Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
**NCS. Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Di sản thờ cúng, di sản
dùng vào việc thờ cúng, tín thác,
công cụ quản lý di sản.
Di sản là tài sản được sử dụng vào việc thờ cúng (di sản thờ cúng/di sản
dùng vào việc thờ cúng) ở nước ta thường là nhà ở, nhà thờ gắn liền với
quyền sử dụng đất nên có giá trị ngày càng lớn, tiềm ẩn nguy cơ tranh
chấp cao do bản chất phức tạp của các mối quan hệ dòng tộc nhiều đời.
Trong khi đó, luật thực định dự liệu chưa chặt chẽ, tạo khoảng trống cho
phát sinh nhiều tranh chấp cũng như sự thiếu thống nhất trong cách giải
quyết những vụ việc mang tính tương đồng. Thực tiễn đòi hỏi hoàn thiện
khung pháp lý nhằm giải quyết những tồn tại liên quan và chế định tín
thác có thể được xem là một giải pháp nên được cân nhắc, tham khảo.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 27/5/2021
: 09/6/2021
: 12/6/2021
Article Infomation:
Abstract:
Inheritance is a property used for ancestor worship tradition (worshiping
inheritance/inheritance used for worships) in our country, usually
at home and in ancestor churches associated with the land use rights,
so its value is increasing. There is a high potential for disputes due
to the complicated nature of multigenerational family relationships.
Meanwhile, the statutory provisions are not strict, leading to a gap for
several disputes as well as a lack of consensus in how to handle similar
cases. The practice requires reviews and improvements of the legal
framework to solve the related problems and the trust institution can be
considered as a solution as references.
Keywords:
Worshiping
inheritance; Inheritance used for
ancestor worship, trusts, tools
for inheritance management.
Article History:
Received
Edited
: 27 May 2021
: 09 Jun 2021
: 12 Jun 2021
Approved
1. Quy định của pháp luật Việt Nam về
quản lý di sản thờ cúng
Thꢀ nhꢁt, theo quy định tại khoản 1 Điều
645 BLDS năm 2015, khi tài sản trở thành di
sản dùng vào việc thờ cúng theo di chúc của
người để lại di sản thì tài sản này không được
chia thừa kế mà được giao cho người đã được
chỉ định trong di chúc quản lý hoặc giao cho
người được những người thừa kế cử ra để
thực hiện việc thờ cúng. Tuy nhiên, BLDS
năm 2015 và các luật khác có liên quan đều
không đề cập đến việc cấp giấy chứng nhận
quyềnsởhữuđốivớicácloạitàisảnphảiđăng
Các quy định của pháp luật Việt Nam về
quản lý di sản thờ cúng được ghi nhận cụ
thể tại Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015
(BLDS năm 2015) về “Di sản dùng vào
việc thờ cúng”, Điều 211 về “Sở hữu chung
của cộng đồng”, Điều 618 về “Quyền của
người quản lý di sản”. Thực tế cho thấy,
việc áp dụng các quy định hiện hành còn
nhiều điểm chưa hợp lý.
Số 13(437) - T7/2021
47
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
ký trong di sản này (trừ quy định tại khoản 5
Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 về cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
cho cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có
công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường,
nhà thờ họ trong trường hợp không có tranh
chấp). Điều này là quan trọng, vì theo pháp
luật hiện hành, một khi được pháp luật công
nhận là người sở hữu hợp pháp thì chủ thể có
thể thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản
(một cách thuận lợi trong trường hợp không
có người tranh chấp hoặc trong trường hợp
cơ quan nhà nước có thẩm quyền không biết
về nội dung di chúc về việc dùng tài sản làm
di sản thờ cúng), bao gồm cả việc chuyển
nhượng cho chủ thể khác với mục tiêu không
phải để phục vụ công việc thờ cúng. Nếu loại
tài sản phải đăng ký vẫn có tên chủ sở hữu
là người để lại di sản thì bất hợp lý. Bởi lẽ,
theo quy định của pháp luật hiện hành, sản
nghiệp của một người sẽ không còn một khi
người này không còn hiện hữu. Tuy nhiên,
nếu cho phép di sản thờ cúng được chuyển
tên sang cho người quản lý hoặc người thừa
kế, nếu không có sự giám sát từ những người
có quyền và lợi ích liên quan, không ai có thể
đảm bảo di nguyện của người để lại di sản sẽ
được nghiêm túc thực hiện vì khái niệm về
hạn chế quyền sở hữu còn chưa phổ biến tại
Việt Nam. Một ví dụ điển hình là vụ kiện yêu
cầu thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số 00863/QSDĐ/DP-DK đã cấp cho ông
Huỳnh Ngọc Luyến1. Theo hồ sơ vụ việc,
ông Luyến là con trưởng (cha đã mất nhiều
năm, không để lại di chúc), đã được mẹ (Trần
Thị Huệ) cùng các anh chị em ruột (Huỳnh
Ngọc Long, Huỳnh Ngọc Luyến, Huỳnh Thị
Ngọc Liên, Huỳnh Thị Lý, Huỳnh Thị Lai)
lập văn bản thỏa thuận chuyển đất từ đường
hương hỏa cho ông Huỳnh Ngọc Luyến với
nội dung: ông Luyến được quyền đăng ký,
sử dụng toàn bộ diện tích 880m2 đất và ông
Luyến phải bảo quản, quản lý đất gò mã của
gia tộc, đồng thời không được sang nhượng
với bất cứ hình thức nào. Tuy nhiên, sau khi
nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số 00863/QSDĐ/DP-DK, ông Luyến đã
chuyển nhượng quyền sử dụng một số phần
đất trong di sản dành cho thờ cúng này cho
một số cá nhân, đi ngược lại với văn bản thỏa
thuận trước đó. Điều này đã phát sinh tranh
chấp kéo dài vì với tư cách là chủ sở hữu,
ông Luyến có toàn quyền định đoạt tài sản
mà không chịu bất kỳ hạn chế nào. Trong
trường hợp di sản là đất nằm trong diện giải
tỏa, sau khi người quản lý hoặc người thừa
kế nhận khoản đền bù, cũng không có cơ sở
đảm bảo rằng khoản đền bù sẽ tiếp tục được
dùng để thờ cúng tổ tiên theo di nguyện.
Thꢀ hai, trong trường hợp di chúc ghi rõ
di sản để lại dành cho thờ cúng, chiếu theo
Điều 645 BLDS 2015, di sản thờ cúng sẽ
tồn tại theo đúng di nguyện của người để
lại di sản trong một khoảng thời gian chắc
chắn bằng khoảng thời gian sống của những
người có tên trong di chúc hoặc người thuộc
diện thừa kế theo pháp luật. Quy định pháp
luật hiện hành không đảm bảo di sản sẽ
trường tồn và di nguyện của người quá cố
sẽ được tuân thủ sau khoảng thời gian nêu
trên. Theo khoản 1, Điều 645 BLDS 2015,
“… trường hợp tất cả những người thừa kế
theo di chúc đã chết thì phần di sản dùng để
thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp
pháp di sản đó trong số những người thuộc
diện thừa kế theo pháp luật”. Vì không có
quy định về nghĩa vụ phải sử dụng di sản để
thực hiện hoạt động thờ cúng, di sản dùng
cho thờ cúng có thể trở thành tài sản thuộc
quyền sở hữu riêng của người được xác lập
quyền sở hữu theo nội dung điều luật nêu
1 Vụ ông Huỳnh Ngọc Luyến khiếu kiện quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, truy
chung_819_238_2_a.html.
48
Số 13(437) - T7/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
trên. Kết quả là người chủ sở hữu di sản
có quyền định đoạt di sản theo ý chí của
mình và không loại trừ trường hợp chỉ qua
vài năm, hoạt động thờ cúng sẽ không còn
được thực hiện. Điều này hoàn toàn trái với
di nguyện của người để lại di sản. Pháp luật
cũng bỏ ngỏ giải pháp xử lý di sản trong
trường hợp tất cả những người thuộc diện
thừa kế theo pháp luật chết. Nguyện vọng
để lại tài sản cho mục đích cá nhân nhiều
đời (ví dụ: thờ cúng tổ tiên) của các chủ thể
là chính đáng cần được pháp luật bảo vệ.
Tuy nhiên, các quy định của pháp luật hiện
hành không bảo đảm tính bền vững cho thực
hiện di nguyện của người để lại di sản cũng
như tiềm ẩn nguy cơ di sản sẽ trở thành tài
sản riêng của người nắm giữ di sản. Do đó,
cần thiết xây dựng cơ chế vận hành để đảm
bảo di nguyện có thể được thực hiện một
cách bền vững với thời gian cho dù người
thừa kế có thể không còn tồn tại.
người đồng thừa kế, người này khó có thể
thực hiện bất kỳ giao dịch nào đối với di sản
cho dù là nhằm mục đích phục vụ cho việc
thờ cúng. Điều này gây khó khăn cho người
quản lý khi nguồn thu không đủ để phục
vụ nghĩa vụ được giao; đồng thời, triệt tiêu
khả năng phát sinh lợi nhuận của tài sản.
Thực tiễn đã phát sinh nhiều mâu thuẫn và
tranh chấp liên quan đến các nghĩa vụ đóng
góp của các thành viên trong gia tộc khi lợi
tức từ hoạt động canh tác đất đai thuộc di
sản thờ cúng được cho là không đủ để thực
hiện tất cả các hoạt động thờ cúng hoặc việc
“bảo quản di sản” gây nhiều tốn kém.
Việc giới hạn quyền của người quản lý di
sản thờ cúng và hạn chế khả năng tham gia
giao dịch của di sản (ví dụ: cho thuê hoặc
góp vốn kinh doanh đối với phần đất đai
không trực tiếp có hoạt động thờ cúng) nhìn
chung không có lợi cho việc duy trì bền
vững di sản nhằm phục vụ cho di nguyện
của người quá cố.
Thꢀ ba, về nghĩa vụ phải “quản lý để
thực hiện việc thờ cúng”2 của người quản
lý di sản thờ cúng, mặc dù pháp luật không
quy định cấm dùng tài sản thờ cúng để khai
thác về mặt thương mại hoặc sản xuất kinh
doanh nhưng có thể hiểu, người quản lý
cũng cần tuân theo quy định chung về nghĩa
vụ và quyền của người quản lý di sản3. Theo
đó, người quản lý di sản có nghĩa vụ “bảo
quản di sản” và “không được bán, trao đổi,
tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt
tài sản bằng hình thức khác, nếu không
được những người thừa kế đồng ý bằng văn
bản”. Trong trường hợp người quản lý di
sản thờ cúng không phải là người thừa kế
duy nhất, nếu thiếu sự đồng ý của những
2. Tín thác - công cụ quản lý di sản
thờ cúng
Hoạt động quản lý di sản thờ cúng tại Việt
Nam về bản chất mang nhiều nét tương đồng
với hoạt động quản lý tài sản tín thác4 tại
các nước theo hệ thống pháp luật Anh-Mỹ.
Trong mối quan hệ giữa các bên liên quan,
người để lại di sản có thể được xem là người
lập tín thác, để lại tài sản của mình làm di
sản dành riêng cho hoạt động thờ cúng. Di
sản dành cho thờ cúng thực ra là một tài sản
chung của những người thừa kế, nhưng chỉ
có thể tồn tại cho mục đích được định trước
mà không được chia theo pháp luật thừa kế5.
2 Khoản 1 Điều 645 BLDS năm 2015.
3 Điều 617 và Điều 618 BLDS năm 2015.
4 Tài sꢂn tꢃn thꢄc (trusts) là tài sản do những người quản lý tín thác thay mặt một cá nhân hoặc nhóm người
nắm giữ và quản lý. Khi những tài sản này được người quản lý tín thác nắm giữ, người được hưởng không có
quyền quản lý chúng.
5 Trường hợp để lại toàn bộ tài sản làm di sản dành cho thờ cúng, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của những
người thuộc diện thừa kế theo pháp luật là một vấn đề khác.
Số 13(437) - T7/2021
49
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Về bản chất, di sản này là một dạng tài sản
tín thác, có mục đích để phục vụ cho hoạt
động thờ cúng tổ tiên, tụ họp con cháu cúng
giỗ. Người để lại di sản chỉ định người quản
lý di sản - người nhận tín thác - để quản lý,
vận hành tín thác với bên thụ hưởng tín thác
là những người thừa kế, là gia tộc, là con
cháu các thế hệ sau (được tụ họp cúng giỗ,
gặp mặt, được tổ tiên phù hộ). Người nhận
tín thác có thể là người được những người
thừa kế chỉ định. Người quản lý không thụ
hưởng lợi ích từ tài sản mà bên thụ hưởng
(những người đồng thừa kế, thừa kế, con
cháu, dòng tộc) sở hữu tài sản về mặt lợi
ích (có quyền hưởng lợi nhưng không được
chiếm giữ, định đoạt vào thời điểm tài sản
đang được người quản lý chiếm giữ). Bên
nhận và quản lý tín thác chỉ có thể quản lý
tài sản mà không thể hưởng lợi gì từ tài sản,
còn bên lập tín thác thì không còn có thể can
thiệp vào vận hành tín thác do đã qua đời.
di sản thờ cúng khi cần thiết, mặt khác có
thể ràng buộc người quản lý chỉ được dùng
hoa lợi, lợi tức có được từ việc sử dụng, định
đoạt… cho mục đích thờ cúng tổ tiên. Như
vậy, cho dù di sản thờ cúng có bị chuyển sang
một dạng tài sản khác (ví dụ: tiền, tài sản
dạng khác) thì mục đích thờ cúng vẫn được
thực hiện và những người có quyền liên quan
không cần lo lắng về việc lạm dụng di sản
cho mục đích không phù hợp với hoạt động
thờ cúng. Đồng thời, việc lựa chọn người
quản lý di sản sẽ được mở rộng hơn, không
giới hạn chỉ ở những người trong hàng thừa
kế (có thể thiếu kiến thức và kỹ năng quản
lý tài sản) mà có thể mở rộng ra cho những
người có kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng
để vận hành khối tài sản theo một cách có lợi
nhất, miễn là vẫn phục vụ cho mục tiêu đã
được định trước và được đặt dưới sự giám
sát của tập thể những người có quyền liên
quan (hội đồng tín thác có thể là các đồng
thừa kế). Cho dù người quản lý di sản dành
cho thờ cúng có tất cả các quyền của một chủ
sở hữu hợp pháp đối với tài sản, bao gồm các
quyền chiếm giữ, sử dụng và định đoạt thì tất
cả các quyền này đều bị hạn chế bởi những
điều kiện được quy định tại văn bản xác lập
quan hệ tín thác; đồng thời, việc thực hiện tất
cả các quyền này đều chỉ phục vụ cho mục
đích của tín thác chứ không phục vụ cho lợi
ích cá nhân của bên nhận tín thác. Ngoài ra,
vì chủ nợ của bên quản lý di sản không thể
tác động gì đến tài sản (ví dụ như thu giữ di
sản thờ cúng trong trường hợp bên quản lý
di sản bị tuyên bố phá sản và phải thanh lý
tài sản) và tài sản tín thác chỉ tồn tại cho bên
thụ hưởng hoặc chỉ phục vụ vì mục đích của
tín thác, chứ không liên quan đến chủ nợ của
cá nhân bên nhận, khả năng thất thoát di sản
sẽ bị loại bỏ. Thêm vào đó, quản lý di sản
thờ cúng theo tín thác đảm bảo di nguyện thờ
cúng của người quá cố được thực hiện một
cách bền vững cho dù các thừa kế hoặc đồng
thừa kế không còn tồn tại vì tín thác vẫn có
Điểm khác biệt giữa người quản lý di sản
thờ cúng theo pháp luật Việt Nam và bên
nhận tín thác theo luật Anh-Mỹ là quyền đối
với tài sản tín thác. Tại Việt Nam, nếu người
quản lý di sản không phải là người thừa kế
duy nhất thì người này không có quyền sở
hữu tài sản được dùng làm di sản thờ cúng
về mặt pháp lý, không thể tự định đoạt tài
sản mà chỉ có thể chiếm giữ, sử dụng và khai
thác theo sự đồng thuận của những người
thừa kế hoặc những người đồng thừa kế.
Dựa vào những điểm tương đồng giữa
quản lý di sản dành cho thờ cúng và quản lý
tài sản tín thác, vận dụng cơ chế hoạt động
của tín thác có thể giải quyết những hạn chế
trong thực tế vận hành các quy định của
pháp luật liên quan tại Việt Nam.
Theo cơ chế vận hành của quản lý tài sản
tín thác, một mặt có thể trao cho người quản
lý di sản thờ cúng quyền sở hữu nhất định
(cho dù là quyền sở hữu hạn chế) đối với di
sản, theo đó người này có quyền định đoạt
thể được tiếp tục duy trì
50
Số 13(437) - T7/2021
Bạn đang xem tài liệu "Quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng thông qua công cụ tín thác", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quan_ly_di_san_dung_vao_viec_tho_cung_thong_qua_cong_cu_tin.pdf

