Một kỹ thuật đánh giá sự tập trung của sinh viên dựa trên trạng thái đóng/mở của mắt

TNU Journal of Science and Technology  
226(07): 254 - 261  
A TECHNIQUE OF ASSESSING STUDENT ENGAGEMENT  
BASED ON EYE CLOSE/OPEN BEHAVIOR  
Tran Thanh Phuong1, Tran Van Lang1, Do Nang Toan2*  
1Lac Hong University, 2Vietnam National University, Hanoi  
ARTICLE INFO  
Received: 21/4/2021  
Revised: 31/5/2021  
Published: 31/5/2021  
ABSTRACT  
Automated learning analysis is becoming an essential topic in the  
educational area, which needs systems to monitor the learning process  
and to measure the students engagement to help for teachers more  
rational adjustments in teaching strategies and learning environment.  
This paper proposes a technique to estimate the degree of sleepiness  
base on open/ close state of the eye to assess student concentration  
during in class. Input data for algorithm is captured by the camera in  
class and the evaluation analysis is performed on each student during  
learning. The technique has been setted up and effective for medium-  
sized theoretical classes in engineering disciplines.  
KEYWORDS  
Student engagement  
Eye-Blink Detection  
Drowsiness Detection  
Engagement Recognition  
Human Behavior Analysis  
MỘT KỸ THUẬT ĐÁNH GIÁ SỰ TẬP TRUNG CỦA SINH VIÊN  
DỰA TRÊN TRẠNG THÁI ĐÓNG/MỞ CỦA MẮT  
Trần Thanh Phương1, Trần Văn Lăng1, Đỗ Năng Toàn2*  
1Trường Đại học Lạc Hồng, 2Đại học Quốc gia Hà Nội  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 21/4/2021  
Ngày hoàn thiện: 31/5/2021  
Ngày đăng: 31/5/2021  
TÓM TẮT  
Phân tích học tập tự động đang trở thành một chủ đề thiết yếu trong  
lĩnh vực giáo dục, trong đó cần các hệ thống giám sát quá trình học  
tập và đo lường mức độ tham gia của sinh viên để giúp cho giáo viên  
có những điều chỉnh hợp lý hơn về chiến lược giảng dạy và môi  
trường học tập. Bài báo này đề xuất một kỹ thuật ước lượng mức độ  
buồn ngủ dựa trên trạng thái đóng/mở của mắt để đánh giá sự tập  
trung của sinh viên trong giờ học. Dữ liệu đầu vào của thuật toán  
được ghi nhận bởi camera trong lớp học và việc phân tích đánh giá  
được thực hiện trên từng sinh viên trong suốt quá trình học tập. Kỹ  
thuật đã được cài đặt thử nghiệm và tỏ ra hiệu quả đối với các lớp  
học lý thuyết với quy mô trung bình của các ngành học kỹ thuật.  
TỪ KHÓA  
Sự tham gia của sinh viên  
Phát hiện đóng mở mắt  
Phát hiện ngủ gật  
Nhận dạng sự chú ý  
Phân tích hành vi  
* Corresponding author. Email: [email protected]  
254  
TNU Journal of Science and Technology  
226(07): 254 - 261  
1. Giới thiệu  
Phân tích sự tập trung trong học tập hiện đang trở thành một chủ đề quan trọng trong cộng  
đồng giáo dục, trong đó cần có các hệ thống hiệu quả để theo dõi quá trình học tập và cung cấp  
phản hồi cho giáo viên. Những tiến bộ gần đây trong cảm biến thị giác và phương pháp thị giác  
máy tính cho phép theo dõi tự động hành vi và trạng thái cảm xúc của người học, trong đó:  
(i) Hành vi được xác định từ các dấu hiệu như: giơ tay phát biểu, tư thế đầu và tư  
thế hình thể [1]-[5].  
(ii) Cảm xúc gồm có: thích thú, mệt mỏi, bối rối,… được xác định từ biểu hiện trên  
khuôn mặt [6]-[8].  
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, vấn đề phân tích sự tập trung của sinh viên khi tham gia học  
tập rất đa dạng và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và chủ yếu tập trung vào phân tích hành  
vi và cảm xúc, như: phân tích biểu hiện cảm xúc trên khuôn mặt, phân tích chuyển động mắt,  
phân tích chuyển động đầu, tư thế hình thể v.v.. Những nghiên cứu liên quan đến hành vi, có thể  
kể đến, Divjak và Bischof [9] đã phân tích dựa vào hành vi chuyển động đầu và mắt, Bidwell và  
Fuchs [10] đã đo lường mức độ tương tác của sinh viên bằng hệ thống quan sát tự động hành vi  
của mắt, họ đề xuất đưa ra 8 danh mục hành vi riêng biệt, nhưng chỉ có thể phân loại sinh viên là  
"tham gia" hoặc "không tham gia". Krithika [11] sử dụng chuyển động của mắt và đầu để kiểm  
tra sự tập trung của học sinh và tạo ra cảnh báo về mức độ tập trung thấp.  
Những nghiên cứu liên quan đến cảm xúc, có thể kể đến, Turabzadeh và cộng sự [12] dựa trên  
nhận dạng cảm xúc khuôn mặt trong thời gian thực, sử dụng thuật toán mẫu nhị phân cục bộ  
(Local Binary Point - LBP), Kamath, Biswas và Balasubramania [13] sử dụng thuật toán phát  
hiện khuôn mặt Vilola Jones để phân tích hình ảnh đầu vào và sau đó là biểu đồ phân định hướng  
(HOG, Sharma và cộng sự đã đề xuất một hệ thống thời gian thực, dựa trên những biểu hiện cảm  
xúc trên khuôn mặt, để kiểm tra sự tham gia của học sinh trong bối cảnh học tập điện tử, tự động  
điều chỉnh nội dung theo mức độ tập trung của học sinh, bằng cách phân tích cảm xúc của học  
sinh và đưa ra ba mức độ tập trung khác nhau (cao, trung bình và thấp) [14].  
Trong bài báo này, chúng tôi đề xuất một kỹ thuật đánh giá sự tập trung của sinh viên trong  
giờ học, là sự kết hợp của cả việc phân tích hành vi và cảm xúc với một trạng thái cảm xúc đặc  
biệt là “buồn ngủ”, nhờ ước lượng mức độ buồn ngủ dựa trên trạng thái đóng/mở của mắt. Phần  
còn lại của bài báo được thể hiện như sau: Phần 2 trình bày một số nghiên cứu liên quan. Phần 3  
là kỹ thuật đề xuất. Tiếp theo là thử nghiệm và cuối cùng là kết luận về kỹ thuật đề xuất.  
2. Cơ sở lý thuyết của thuật toán  
Mức độ buồn ngủ được ước lượng dựa trên các yếu tố khác nhau, chẳng hạn như tỷ lệ khung  
hình và thời lượng đóng của mắt. Ứng với mỗi mức độ sẽ có những biểu hiện, hành vi và thời  
lượng mắt đóng tương ứng. Ngoài ra, yếu tố mắt đóng nhanh hay chậm cũng được chúng tôi quan  
tâm xem xét. Đối với người thức giấc/tỉnh táo thì mắt đóng và mở rất nhanh. Đối với người trong  
tình trạng mệt mỏi, buồn ngủ thì mắt có xu hướng đóng chậm [15].  
Hình 1. Thời gian mắt mở đến khi mắt đóng hoàn toàn  
255  
TNU Journal of Science and Technology  
226(07): 254 - 261  
Trong hình 1, dựa trên dữ liệu Talking Face1 với máy ảnh ghi hình là 24fps, trạng thái mắt  
đóng hoàn toàn xảy ra tại frame thứ tư. Do đó thời gian đóng mắt hoàn toàn (hình 2) là:  
푁
∗ 1000  
푓푟푎푚푒  
푇푒푦푒_푐푙표푠푒푑  
=
(1)  
푓푝푠  
Trong đó:  
-
푁
푓푟푎푚푒  
là số lượng khung hình tính từ khung có trạng thái mắt mở đến  
khung có trạng thái mắt đóng hoàn toàn (trong trường hợp này là 4).  
푓푝푠 (frames per second) là số lượng khung hình trên mỗi giây, giá trị  
này thay đổi tùy vào máy ghi hình (trong trường hợp này là 24).  
-
Nên theo (1), giá trị 푇푒푦푒_푐푙표푠푒푑 = (4 * 1000) / 24 170 ms  
푇
푒푦푒_푐푙표푠푒푑  
Durations  
Hình 2. Minh họa thời gian mắt mở đến khi mắt đóng hoàn toàn  
Trước khi thực hiện ước lượng mức độ buồn ngủ, bước tiền xử lý của chúng tôi là loại bỏ  
những đoạn video có mắt đóng nhanh (푇푒푦푒_푐푙표푠푒푑 ≤ 170ms) xem công thức (1) và thời lượng mắt  
đóng ngắn (duration < 1s), những đoạn này được xem xét là tập trung. Chúng tôi chỉ quan tâm  
đến những đoạn video có mắt đóng chậm (푇푒푦푒_푐푙표푠푒푑 > 170ms) và thời lượng mắt đóng dài  
(duration ≥ 1s) (xem bảng 1).  
Bảng 1. Sự tương quan giữa mức độ buồn ngủ và hành vi [15]  
Mức độ  
Thức giấc/Tỉnh táo (Không buồn ngủ): Thời lượng mắt đóng <1s  
Người thức giấc/tỉnh táo có các hành vi và biểu cảm như: Sắc mặt bình thường; đóng/mở mắt nhanh; các  
cử động/cử chỉ của cơ thể xảy ra không thường xuyên.  
Hơi buồn ngủ: Thời lượng mắt đóng 1-2s  
Khi người trở nên hơi buồn ngủ, các hành vi khác nhau có thể được thể hiện. Những hành vi này được gọi  
là cách cư xử, có thể bao gồm dụi mặt hoặc mắt, gãi, sắc mặt giảm và di chuyển không yên trên ghế.  
Những hành động này có thể được coi là biện pháp đối phó với cơn buồn ngủ. Chúng xảy ra trong các  
giai đoạn trung gian của buồn ngủ. Không phải tất cả các cá nhân đều thể hiện cách cư xử trong các giai  
đoạn trung gian. Một số cá nhân có vẻ trầm lắng hơn, đóng mắt chậm hơn, sắc mặt của họ có thể giảm,  
thiếu hoạt động rõ ràng, họ có thể nhìn chằm chằm vào một vị trí cố định.  
Ngủ gật: Thời lượng mắt đóng 2-3s hoặc lâu hơn  
Khi người trở nên ngủ gật, thường xảy ra tình trạng mí mắt khép lâu hơn. Điều này thường đi kèm với sự  
di chuyển của mắt lên hoặc sang một bên. Mắt không tập trung thích hợp, thiếu linh hoạt, sắc mặt giảm,  
thiếu hoạt động rõ ràng, có thể có các chuyển động bị cô lập (hoặc ngắt quãng) lớn.  
Cực kỳ buồn ngủ: Thời lượng mắt đóng ≥ 4s  
Người trong tình trạng này thường có biểu hiện mí mắt đóng kéo dài (4 giây trở lên) và thời gian thiếu  
hoạt động kéo dài tương tự. Có thể có những chuyển động bị ngắt quãng lớn.  
Dựa vào mức độ và hành vi ở bảng 1, chúng tôi xây dựng luật xác định mức độ buồn ngủ như sau:  
1 https://personalpages.manchester.ac.uk/staff/timothy.f.cootes/data/talking_face/talking_face.html  
256  
TNU Journal of Science and Technology  
Bảng 2. Luật xác định mức độ buồn ngủ  
226(07): 254 - 261  
Mức độ  
Điều kiện  
Thức giấc/Tỉnh táo  
Hơi buồn ngủ  
Ngủ gật  
EAR > 0.2  
EAR < 0.2 AND Duration [1s, 2s)  
EAR < 0.2 AND Duration [2s, 4s)  
EAR < 0.2 AND Duration ≥ 4s  
Cực kỳ buồn ngủ  
Trong đó, EAR là mức độ mở của mắt được tính tỷ lệ chiều rộng và chiều dài của hình chữ  
nhật chứa mắt.  
Áp dụng luật bảng 2 chúng tôi định nghĩa 4 lớp thể hiện mức độ buồn ngủ theo cấp độ từ 1 – 4  
và hai thuộc tính cần xem xét là EAR và Duration (s). Dựa vào thông tin trên, chúng tôi xây  
dựng mô hình quyết định mức độ buồn ngủ như hình 3.  
1 - Thức giấc/Tỉnh táo  
2 - Hơi buồn ngủ  
3 - Ngủ gật  
EAR ?  
>= 0.2  
< 0.2  
1
Duration (s) ?  
< 1  
≥ 4  
[1,2)  
[2,4)  
1
2
3
4
Hình 3. Mô hình ước lượng mức độ buồn ngủ  
3. Kỹ thuật đánh giá sự tập trung  
3.1. Đánh giá sự tập trung dựa vào mức độ buồn ngủ  
Dựa vào bảng 3, chúng tôi xây dựng thang độ đánh giá sự tập trung cho hệ thống của chúng  
tôi gồm 3 mức độ.  
257  
TNU Journal of Science and Technology  
Bảng 3. Mức độ tập trung  
226(07): 254 - 261  
ID  
1
2
Mức độ buồn ngủ  
Thức giấc/Tỉnh táo  
Hơi buồn ngủ  
Mức độ tập trung  
Tập trung cao  
Tập trung thấp  
Ngủ gật  
Cực kỳ buồn ngủ  
3
Hoàn toàn mất tập trung  
Do đây là hệ thống phân tích đánh giá sự tập trung của sinh viên, nên nhiệm vụ cần được thực  
hiện cả một quá trình, có nghĩa là hệ thống phải xem xét và đánh giá sinh viên từ lúc bắt đầu  
video cho đến kết thúc video. Không giống như các hệ thống khác như phát hiện ngủ gật trong  
lúc lái xe chẳng hạn, khi phát hiện tài xế mất tập trung, hệ thống cảnh báo và đưa ra kết luận tại  
thời điểm đó. Sở dĩ chúng tôi đặt ra điều kiện này bởi các lý do:  
(i)  
Giả sử tại khung hình 푓푟푎푚푒푖 sinh viên có thể mất tập trung nhưng sang đến  
khung hình 푓푟푎푚푒푘 thì sinh viên tập trung trở lại. Do đó, đánh giá sự tập trung của sinh viên dựa  
vào khung hình hiện tại là không phù hợp  
(ii)  
Trong quá trình học tập, sinh viên có thể có nhiều mức độ tập trung ở những thời  
điểm khác nhau. Vì vậy, dựa vào kết quả phân tích hiện tại để đánh giá cả quá trình học tập là  
không phù hợp.  
(iii)  
Sinh viên tập trung trong suốt quá trình học tập, nhưng tại khung hình cuối cùng  
có hành vi chớp mắt, hoặc trường hợp ngược lại. Do đó, hệ thống đánh giá dựa vào khung hình  
cuối cùng là thiếu chính xác.  
Chính vì vậy, chúng tôi đề xuất mô hình đánh giá sự tập trung bằng cách tính tổng thời gian  
của mỗi trạng thái (xem bảng 2), sau đó lập tỷ lệ mỗi trạng thái so với tổng thời lượng của video.  
Trạng thái nào chiếm tỷ lệ cao nhất thì sẽ quyết định mức độ tham gia của người học trong suốt  
quá trình học tập. Đây là phương pháp đề xuất của chúng tôi mang tính chủ quan, tuy nhiên kết  
quả từ hệ thống đưa ra rất phù hợp với những gì chúng tôi mong muốn đạt được.  
Cách đánh giá được trình bày chi tiết như sau:  
Giả sử quá trình tham gia học tập của sinh viên được mô phỏng như hình 4, gồm có nhiều  
trạng thái và xảy ra ở những thời điểm khác nhau:  
Tbegin  
Tend  
Hình 4. Mô phỏng trạng thái của quá trình học tập  
: Thời gian bắt đầu học  
: Thời gian kết thúc học  
1 - Thức giấc/Tỉnh táo  
Trong đó  
-
푇푏푒푔푖푛  
푇푒푛푑  
-
2 - Hơi buồn ngủ  
3 - Ngủ gật  
4 - Cực kỳ buồn ngủ  
Gọi 푡1 là tổng thời gian của mức độ 1 và 푡2, 푡3, 푡4 là tổng thời gian tương ứng cho các mức độ  
còn lại.  
Gọi 푟 , 푟2, 푟3, 푟 là các tỷ lệ tương ứng của các mức độ 푡1, 푡2, 푡3, 푡4.  
1
4
Tỷ lệ của các mức độ được xác định:  
258  
TNU Journal of Science and Technology  
226(07): 254 - 261  
푡1  
푡2  
푟 =  
푟2 =  
1
푇푏푒푔푖푛 − 푇푒푛푑  
푡3  
푇푏푒푔푖푛 − 푇푒푛푑  
푡4  
(2)  
(3)  
푟3 =  
푟 =  
4
푇푏푒푔푖푛 − 푇푒푛푑  
푇푏푒푔푖푛 − 푇푒푛푑  
Mức độ tập trung được xác định như sau  
Tập trung cao, 푥 = 푟  
1
Tập trung thấp, 푥 = 푟2  
x = MAX (푟 , 푟2, 푟3, 푟 ) = {  
1
4
Hoàn toàn mất tập trung, 푥 = 푟3|푟  
4
3.2. Thuật toán đánh giá sự tập trung  
Algorithm 1: đánh giá mức độ tập trung của sinh viên  
Input: DATA – Video sinh viên tham gia trong lớp học  
Output: LIST_STUDENT – Danh sách đánh giá mức độ tập trung của sinh viên  
Khởi tạo giá trị mảng lưu thời gian đóng/mở mắt của từng sinh viên: EBD {}  
while not at end of DATA do // đọc dữ liệu  
frame DATA.get_frame() // trích xuất khung hình  
faces detect_face(frame) // phát hiện các khuôn mặt trong khung hình  
for face_id in faces  
blink_duration detect_blink(face_id, pre_blink) // phát hiện đóng mở mắt  
// cập nhật thời gian của các mức độ buồn ngủ khi xảy ra đóng mắt  
if 1 ≤ blink_duration < 2 then  
퐸퐵퐷푓푎푐푒_푖푑.dg_2 += blink_duration // hơi buồn ngủ  
else if 2 ≤ blink_duration < 4 then  
퐸퐵퐷푓푎푐푒_푖푑.dg_3 += blink_duration // ngủ gật  
else if blink_duration ≥ 4 then  
퐸퐵퐷푓푎푐푒_푖푑.dg_4 += blink_duration // cực kỳ buồn ngủ  
end if  
end for  
end while  
for each data in EBD  
dg_2 푑푎푡푎푓푎푐푒_푖푑.dg_2 // tổng thời gian hơi buồn ngủ  
dg_3 푑푎푡푎푓푎푐푒_푖푑.dg_3 // tổng thời gian ngủ gật  
dg_4 푑푎푡푎푓푎푐푒_푖푑.dg_4 // tổng thời gian cực kỳ buồn ngủ  
dg_1 = TOTAL_TIME_VIDEO – (dg_2 + dg_3 + dg_4) // bình thường  
deegree MAX (dg_1, dg_2,  
dg_3 + dg_4) // sự tập trung  
dựa trên mức độ buồn ngủ cao  
nhất  
deegree LIST_STUDENT [data.face_id]  
end for  
*) Độ phức tạp của thuật toán  
-
-
-
Chi phí xác định thời gian đóng/mở mắt là T1 = O(n2)  
Chi phí xác định sự tập trung là : T2 = O(n)  
Vậy tổng chi phí thực hiện là: T = T1+T2 = O(n2)  
4. Thử nghiệm  
Chúng tôi thực nghiệm kiểm tra các mục tiêu chúng tôi đã đặt ra như: ước lượng mức độ buồn  
ngủ dựa trên hành vi đóng/mở mắt và cuối cùng là đánh giá sự tập trung dựa trên mức độ buồn  
259  
TNU Journal of Science and Technology  
226(07): 254 - 261  
ngủ. Video quay giờ học của một lớp sinh viên ngành kỹ thuật tại trường Đại học Lạc Hồng, tổng  
độ dài của video là 862.64s. Hình 5 là kết quả ước lượng mức độ buồn ngủ dựa trên hành vi đóng  
mở/mắt.  
(a) trạng thái đóng/mở mắt  
(b) ước lượng mức độ buồn ngủ  
Hình 5. Kết quả ước lượng mức độ buồn ngủ của sinh viên  
Thử nghiệm trong trường hợp này, chúng tôi đánh giá người học với tư thế ngồi, hướng đầu  
thẳng và hướng nhìn về phía giáo viên.  
Trong đó các chỉ số được hệ thống đo chi tiết từ hình 6 như sau:  
▪ Thức giấc/tỉnh táo: 813,99s  
▪ Hơi buồn ngủ: 19,22s  
▪ Ngủ gật: 9,65s  
chiếm 94,36%  
chiếm 2,23%  
chiếm 1,12%  
chiếm 2,29%  
▪ Cực kỳ buồn ngủ: 19,78s  
Giá trị cao nhất của các mức độ là 94,36% nên dựa vào bảng 3 hệ thống kết luận đối tượng tập  
trung cao trong giờ học xem hình 6.  
Hình 6. Kết quả đánh giá sự tập trung của sinh viên  
5. Kết luận  
Đánh giá chất lượng dạy và học luôn là vấn đề đặt ra trong đào tạo. Việc đánh giá chất lượng  
giảng dạy, một cách gián tiếp có thể thông qua việc đánh giá sự tập trung của người học, nhờ đó  
có thể giúp cho giáo viên có những điều chỉnh hợp lý để tăng hiệu quả giảng dạy của mình.  
Trong bài báo này chúng tôi đề xuất một kỹ thuật đánh giá sự tập trung của sinh viên trong  
giờ học nhờ ước lượng mức độ buồn ngủ dựa trên trạng thái đóng/mở của mắt. Kỹ thuật đã được  
cài đặt thử nghiệm và tỏ ra hiệu quả đối với các lớp học lý thuyết với quy mô trung bình của các  
ngành học kỹ thuật, với người học với tư thế ngồi, đầu thẳng và hướng nhìn về phía bục giảng.  
260  
TNU Journal of Science and Technology  
226(07): 254 - 261  
Trong các nghiên cứu tiếp theo, các hành vi liên quan đến chuyển động gật, lắc của đầu sẽ được  
chúng tôi quan tâm để làm tăng tính chính xác trong việc đánh giá sự tập trung của người học.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] D. Dinesh, A. Narayanan, and K. Bijlani, "Student analytics for productive teaching/learning,"  
International Conference on Information Science (ICIS), Kochi, India, 2016, pp. 97-102.  
[2] A. S. Won, J. N. Bailenson, and J. H. Janssen, "Automatic detection of nonverbal behavior predicts  
learning in dyadic interactions," IEEE Trans. Affect Comput, vol. 5, no. 2, pp. 112-125, 2014.  
[3] P. Goldberg, Ö. Sümer, K. Stürmer, W. Wagner, R. Göllner, P. Gerjets, E. Kasneci, and U. Trautwein,  
"Attentive or Not? Toward a Machine Learning Approach to Assessing Students’ Visible Engagement  
in Classroom Instruction," Springer, vol. 33, pp. 27-49, 2021.  
[4] X. Ma, M. Xu, Y. Dong, and Z. Sun, "Automatic Student Engagement in Online Learning Environment  
Based on Neural Turing Machine," International Journal of Information and Education Technology,  
vol. 11, no. 3, pp. 107-111, 2021.  
[5] T. S. Ashwin and R. M. R. Guddeti, "Unobtrusive Behavioral Analysis of Students in Classroom  
Environment Using Non-Verbal Cues," IEEE Access, vol. 7, pp. 1-7, 2019.  
[6] N. J. Butko, G. Theocharous, M. Philipose, and J. R. Movellan, "Automated facial affect analysis for  
one-on-one tutoring applications," In Automatic Face & Gesture Recognition and Workshops (FG  
2011), 2011 IEEE International Conference On, 2011, pp. 382–287.  
[7] J. Whitehill, Z. Serpell, Y.-C. Lin, A. Foster, and J. R. Movellan, "The faces of engagement: Automatic  
recognition of student engagement from facial expressions," IEEE Trans. Affect. Comput, vol. 5, no. 1,  
pp. 86-98, 2014.  
[8] R. A. Calvo and S. D’Mello, "Affect detection: An interdisciplinary review of models, methods, and  
their applications," IEEE Trans. Affect. Comput, vol. 1, no. 1, pp. 18-37, 2010.  
[9] M. Divjak and H. Bischof, "Eye blink based fatigue detection for prevention of computer vision  
syndrome," Proceedings of IAPR Conference on Machine Vision Applications (MVA), 2009, pp. 350-  
353.  
[10] J. Bidwell and H. Fuchs, "Classroom analytics: Measuring student engagement with automated gaze  
tracking," BehavRes Methods, 2011.  
[11] L. B. Krithika, "Student emotion recognition system (SERS) for e-learning improvement based on  
learner concentration metric," Procedia Computer Science, vol. 85, pp. 767-776, 2016.  
[12] S. Turabzadeh, H. Meng, R. M. Swash, and M. Pleya, "Facial expression emotion detection for real-  
time embedded systems," Technologies, vol. 6, no. 1, p. 17, 2018.  
[13] A. Kamath, A. Biswas, and V. Balasubramanian, "A Crowdsourced Approach to Student Engagement  
Recognition in E-learning Environments," IEEE Winter Conference on Applications of Computer  
Vision (WACV), 2016, pp. 1-9.  
[14] P. Sharma, M. Esengönül, S. R. Khanal, T. T. Khanal, V. Filipe, and M. J. C. S. Reis, "Student  
Concentration Evaluation Index in an E-learning Context Using Facial Emotion Analysis," Technology  
and Innovation in Learning, TECH-EDU, 2018, pp. 529-538.  
[15] D. M. Wiegand, J. McClafferty, S. E. McDonald, and R. J. Hanowski, "Development and Evaluation  
of a Naturalistic Observer Rating of Drowsiness Protocol," Final Report of the National Surface  
Transportation Safety Center for Excellence (NSTSCE), 2009.  
261  
pdf 8 trang Thùy Anh 17740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một kỹ thuật đánh giá sự tập trung của sinh viên dựa trên trạng thái đóng/mở của mắt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_ky_thuat_danh_gia_su_tap_trung_cua_sinh_vien_dua_tren_tr.pdf