Giáo trình Tâm lý học hướng nghiệp (Phần 2)

CHƯƠNG 4. MỘT SỐ YẾU TỐ TÂM LÝ CÁ NHÂN TRONG  
HỌAT ĐỘNG CHỌN NGHỀ.  
1. Nhận thức nghề và họat động chọn nghề  
N hận thức là cơ sở của hoạt động và hành động nhận thức là một  
mặt cấu thành nên tâm lý con người. Khi có nhận thức con người mới thu  
được những tri thức chân thực về thế giới khách quan. Có tri thức, con  
người có thể tiến hành hoạt động cải tạo thế giới có kết quả. N hận thức  
nghề là một trong những thành phần cơ bản của xu hướng nghề nghiệp.  
Đó là: N hận thức nghề, tình cảm nghề và hành động chọn nghề. Cả ba  
thành phần này tác động với nhau tạo nên kết quả chọn nghề của học sinh  
về nghề này mà không phải nghề khác. Xuất phát từ nhận thức nghề, có  
những tri thức về nghề, về những đòi hỏi khách quan của nghề đối với  
người làm nghề đó để đối chiếu với những phNm chất tâm lý cá nhân, tìm  
ra sự phù hợp là một quá trình khó khăn và phức tạp. Không phải học sinh  
nào cũng có sự hiểu biết đầy đủ về nghề để có quyết định chọn nghề phù  
hợp với sự hiểu biết đó, tức là nhận thấy mình có thể hoạt động tốt trong  
nghề sau này:  
E. A. Klimov (4 - tr. 139) đã chỉ ra 10 nguyên nhân dẫn đến sai lầm  
trong chọn nghề thì có 3 nguyên nhân về nhận thức nghề. Đó là không biết  
phân tích những năng lực và động cơ của mình, không hiểu hoặc không  
đánh giá đúng mức những đặc điểm về thể lực, những đặc điểm cơ bản  
của mình khi chọn nghề, không hiểu những công việc cơ bản và trình độ  
của nó trong lúc lựa chọn nghề.  
Trong 8 nguyên nhân mà tác giả Phạm Tất Dong (14 - tr. 80) đưa ra  
cũng có 3 nguyên nhân về nhận thức nghề: 1. Bị hấp dẫn bởi vẻ bên ngoài  
120  
của nghề, thiếu hiểu biết về nội dung lao động của nghề đó. 2. không đánh  
giá đúng năng lực lao động của bản thân nên lúng túng khi chọn nghề. 3.  
Thiếu sự hiểu biết về thể lực và sức khỏe của bản thân, lại không có đầy  
đủ thông tin về những chống chỉ định y học trong các nghề.  
Tác giả N guyễn Quý Hòa (26) cũng nhận xét: Đa số học sinh tốt  
nghiệp PTTH trong khi quyết định lựa chọn ngành này hay ngành khác  
thường chưa có những hiểu biết về cơ cấu các ngành học... Học sinh chưa  
có được những thông tin cần thiết về kế hoạch tuyển sinh, về nhu cầu cán  
bộ các ngành và các vùng trong đất nước, cũng như không hiểu được đầy  
đủ các yêu cầu cụ thể, rõ ràng.  
Qua ý kiến của các tác giả cho thấy nhận thức về nghề nghiệp có  
ảnh hưởng quan trọng đến lựa chọn nghề. N hận thức về nghề là cơ sở, là  
kim chỉ nam cho hành động chọn nghề. N hận thức về nghề càng sâu sắc  
và chín chắn bao nhiêu sẽ càng làm cho người ta khi đã chọn nghề sẽ trân  
trọng và tha thiết yêu nghề mình chọn bấy nhiêu. Chính nhận thức sâu sắc  
đầy đủ về nghề sẽ hình thành nên tình cảm về nghề, sẽ là tiêu đề, là điều  
kiện cơ bản giúp cho cá nhân sáng tạo trong nghề, đóng góp ngày càng  
nhiều cho xã hội. Chọn nghề mà hiểu biết quá ít, thậm chí không hiểu biết  
một chút gì về nghề sẽ thành trở ngại lớn cho hoạt động cá nhân tạo nên  
sự bi quan miễn cưỡng trong lao động, day dứt trong cuộc sống, nhiều khi  
dẫn đến tình trạng bỏ nghề vì không hoạt động có hiệu quả trong nghề  
mình định chọn.  
N hư vậy, nhận thức đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc về nghề nghiệp sẽ có  
tác dụng thúc đNy hành động chọn nghề của học sinh phù hợp với nguyện  
vọng, khả năng của mình giúp cho học sinh có nhu cầu nâng cao hiểu biết  
về nghề ngày một phong phú hơn, sâu sắc hơn, hình thành nên tình cảm  
121  
bền vững với nghề, tạo điều kiện để con người cống hiến hết sức mình cho  
lợi ích xã hội và lợi ích bản thân.  
2. Nguyện vọng nghề nghiệp  
Trong quá trình sống và hoạt động con người không chỉ sống với  
hiện tại, thỏa mãn với hiện tại mà luôn hướng tới tương lai, ai cũng mong  
muốn đón chờ ở tương lai tốt đẹp. N guyện vọng được hiểu như là hiện  
tượng tâm lý của một người hay một số người hướng tới đối tượng nào đó  
trong hiện thực khách quan mà tương lai sẽ vươn tới được nhằm thỏa mãn  
một hay một số nhu cầu nào đó của một người hay nhiều người.  
N hư vậy, nguyện vọng được xem như là hình ảnh về cuộc sống  
tương lai thôi thúc con người tích cực hoạt động để thực hiện nó nhằm  
thỏa mãn nhu cầu. Mà "nhu cầu theo bản chất của nó luôn hướng tới  
tương lai chứ không phải hướng về quá khứ" (5 - tr. 81). N guyện vọng  
xuất hiện như là kết quả tương lai của hoạt động nó vạch ra phương hướng  
cho hoạt động thôi thúc hoạt động của con người, nó chính là đối tượng  
của nhu cầu.  
Trong cuộc sống nguyện vọng con người có nhiều mức độ khác  
nhau tùy thuộc vào mức độ ý thức của cá nhân, cá nhân càng ý thức đầy  
đủ rõ ràng về hình ảnh tương lai mà hình ảnh này lai được xây dựng trên  
cơ sở hiện thực thì khả năng thực hiện nguyện vọng càng lớn. N guyện  
vọng có được thực hiện hay không còn phải có những điều kiện khách  
quan và chủ quan nhất định. Để nguyện vọng được thực hiện con người  
phải ý thức được đầy đủ những điều kiện này, đồng thời con người phải  
tích cực hoạt động.  
122  
N guyện vọng nghề nghiệp là sự xác định vị trí xã hội mà cá nhân  
mong muốn vươn tới trên cơ sở nhu cầu và hứng thú của mình. N guyện  
vọng nghề nghiệp không chỉ liên quan với nhu cầu hưởng thụ của cá nhân  
mà còn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố. Ví dụ: Sự hiểu biết sâu sắc của  
cá nhân về nội dung, về vai trò và ý nghĩa của nghề nghiệp, yêu cầu của  
hoạt động nghề nghiệp đối với cá nhân, đối với xã hội. Mặt khác, sự hiểu  
biết sâu sắc đầy đủ và chi tiết về thế giới lao động và đặc thù nghề nghiệp  
tạo điều kiện giúp cho cá nhân đối chiếu, phân tích so sánh những tiêu  
chuNn của xã hội, của nghề nghiệp với năng lực và nhu cầu hứng thú của  
bản thân, từ đó hình thành nên nguyện vọng nghề nghiệp phù hợp. Mức  
độ nguyện vọng nghề nghiệp của học sinh cao hay thấp còn phù thuộc vào  
cả hoàn cảnh cụ thể khi lựa chọn nghề, dư luận xã hội về ngành nghề, sự  
đãi ngộ về ngành nghề và trình độ phát triển trí tuệ của mỗi cá nhân.  
3. Hứng thú nghề nghiệp  
E. M. Chevlov cho rằng: "Hứng thú là động lực quan trọng nhất  
trong việc nắm vững tri thức, mở rộng học vấn làm giàu nội dung của đời  
sống tâm lý con người. Thiếu hứng thú, hoặc hứng thú mờ nhạt, cuộc sống  
của con người sẽ trở nên ảm đạm và nghèo nàn. Đối với con người như  
vậy thể hiện đặc trưng nhất ở họ là sự buồn chán (7 - tr. 206).  
Hứng thú đối với nghề nghiệp thể hiện thái độ của con người đối  
với một hoặc một số nghề xác định, biểu hiện thái độ của con người muốn  
làm quen tìm hiểu những nghề đó, là động lực thúc đNy người ta chọn  
nghề và là nguồn gốc cơ bản của lòng yêu nghề, niềm vui nghề nghiệp.  
N . C. Krúpxkaia trong bài "Lựa chọn nghề" đã viết "chỉ khi nào  
nghề nghiệp tạo cho nó tâm hồn, khi ở con người có hứng thú tới công  
việc nó đang làm, khi nó bị cuồn hút vào công việc - Chỉ khi đó nó có thể  
123  
nâng cao tối đa xu hướng hoạt động của mình, không kể đến sự mệt mỏi"  
(73 - tr. 381).  
Hứng thú nghề nghiệp được biểu hiện trong ý thức về giá trị của  
nghề và sự cuốn hút cảm xúc đối với người đó, được biểu hiện trong sự  
say mê đối với quá trình lao động và học tập nhằm hoàn thiện, nâng cao  
trình độ học vấn chung và tay nghề của mình. Bởi vậy việc phát triển  
hứng thú nghề có ý nghĩa xã hội lớn lao (77 - tr. 60).  
Hứng thú tới nghề này hay nghề khác được đặc trưng bởi sự hiểu  
biết bản chất dấu hiệu của nghề, chỉ khi đó hứng thú của con người mới  
trở nên kiên định. Chính vì vậy quá trình hình thành hứng thú nghề gắn  
liền với việc tạo nên những điều kiện để học sinh làm quen với mặt bản  
chất của nghề (đặc trưng lao động, nội dung lao động, điều kiện lao  
động...).  
Thành phần cơ bản của sự phát triển hứng thú là tính tích cực có ý  
thức đối với nghề. Do đó nghiên cứu hứng thú nghề còn là kết quả của sự  
hình thành nhân cách. Song hứng thú không phải lúc nào cũng phát triển  
theo chiều hướng tốt. Không ít học sinh không đủ tình yêu lao động, nhiều  
em còn cho rằng không cần thiết phải tập trung vào một hành động cụ thể,  
không biết tiến hành công việc từ đầu tới cuối, thiếu hứng thú với nghề đã  
chọn.  
Hứng thú nghề nghiệp có tác dụng thúc đNy con người tìm tòi sáng  
tạo trong lao động, đi sâu vào mọi hoạt động có liên quan tới nghề nghiệp  
mà mình yêu thích. Hứng thú góp phần mở rộng tầm hiểu biết và tăng  
cường hiệu suất hoạt động của con người. Hứng thú mang lại cho bản thân  
họ những khoái cảm trong hoạt động, do vậy hứng thú gắn liền với biểu  
hiện qua những xúc cảm và tình cảm của con người. Khi người ta hứng  
124  
thú và có tình yêu sẽ làm cho con người say sưa nhiệt tình trong công tác,  
sáng tạo và thu được những kết quả tốt đẹp trong hoạt động nghề.  
Sự lựa chọn nghề nghiệp là một trong những quyết định quan trọng  
nhất của cuộc sống con người, do vậy nếu ở con người hình thành nên  
những hứng thú tích cực trong hoạt động thì hứng thú sẽ trở thành động cơ  
mạnh mẽ thúc đNy việc lựa chọn nghề nghiệp đúng đắn.  
Tóm lại: Việc xây dựng một kế hoạch về tương lai được phát triển  
trên cơ sở hứng thú sẽ có tác dụng tích cực trong quá trình hoạt động  
chuNn bị cho nghề nghiệp cũng như trong hoạt động nghề sau này.  
4. Động cơ chọn nghề  
Trong đời sống của con người, mọi hành vi và hoạt động của họ đều  
được quy định bởi những động cơ nhất định và chính các động cơ này đã  
đem lại cho hoạt động của con người một ý nghĩa nhất định. Theo P. N .  
Lêonchiev "Cái gì được phản ánh trong đầu con người, thúc đNy hoạt  
động và hướng hoạt động vào việc thỏa mãn một nhu cầu nhất định thì gọi  
là động cơ hoạt động ấy". (32 - tr. 126).  
Động cơ chọn nghề của mỗi cá nhân là cái thúc đNy cá nhân, chi  
phối mọi hoạt động của cá nhân vươn tới sự xác định cho mình một nghề  
nghiệp nào đó. Trong chừng mực nhất định khi xác định được động cơ  
chọn nghề của mỗi cá nhân, chúng ta có thể dự đoán trước chiều hướng  
hoạt động của cá nhân trong nghề đó và hơn nữa có thể dự đoán được cả  
hiệu quả trong hoạt động nghề của họ.  
N . T. Calugin chia các loại động cơ chọn nghề như sau: (69 - tr.  
155).  
125  
- Theo bề ngoài có thể chia động cơ chọn nghề thành 6 nhóm sau:  
1) Động cơ chung; 2) Sự lãng mạn nghề nghiệp; 3) Động cơ có đặc tính  
nhận thức; 4) Động cơ nhấn mạnh giá trị xã hội của nghề nghiệp: 5) Dựa  
vào gương sáng; 6) Lựa chọn không có động cơ.  
- Theo đặc tính tất cả các động cơ có thể phân chia thành 4 nhóm:  
1) Động cơ mà sự hợp lý của lựa chọn được chứng minh một cách rõ ràng  
và có bằng chứng của xu hướng hoạt động lao động đó; 2) Động cơ không  
rõ ràng, luận chứng không đầy đủ; 3) Động cơ không tin tưởng, thiếu luận  
chứng; 4) Hoàn toàn không có động cơ được luận chứng.  
Sự lựa chọn nghề của học sinh bao giờ cũng được một hệ thống  
động cơ nhất định thúc đNy. N hững động cơ này thường bắt nguồn từ  
những nhu cầu, hứng thú riêng của mỗi người, sự lựa chọn nghề nghiệp  
của mỗi cá nhân có thể xuất phát từ những động cơ bên trong có quan hệ  
trực tiếp với nội dung và quá trình thực hiện hoạt động nghề nghiệp. Đông  
cơ bên trong có vai trò quan trọng thúc đNy con người vươn lên những  
mục tiêu nhất định để thỏa mãn tâm lý đối với hoạt động nghề nghiệp. N ó  
là tiền đề cơ bản cho một hoạt động có mục đích giúp cho cá nhân sử dụng  
có hiệu quả những năng lực và kinh nghiệm của mình để hoàn thành tốt  
hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp đã chọn. N hững động cơ bên trong  
có thể là trình độ kiến thức khoa học kỹ thuật của nghề đó, năng lực, sở  
trường về nghề đó, việc hiểu được ý nghĩa xã hội, giá trị xã hội của nghề.  
Mặt khác, việc lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên cũng có thể xuất phát  
từ động cơ bên ngoài đó là những tác động khách quan đến cá nhân trong  
những tình huống cụ thể. N hững động cơ bên ngoài thường tạo ra sự lựa  
chọn nghề nghiệp một cách thụ động và chỉ góp phần nhất định trong việc  
thúc đNy con người hoạt động. N hững động cơ bên ngoài đó là chọn nghề  
vì được gần nhà, được ở thành phố, do lời khuyên gia đình, bạn bè... Tuy  
126  
nhiên, việc kết hợp hài hòa giữa các loại động cơ là cần thiết, nó sẽ mang  
lại những kết quả nhất định trong hoạt động nghề nghiệp của cá nhân. Vì  
thế việc xác định được động cơ chọn nghề của thanh niên học sinh và giúp  
cho họ có được những động cơ chọn nghề đúng đắn là một nhiệm vụ khá  
quan trọng trong công tác hướng nghiệp của nhà trường PTTH.  
Động cơ bên ngoài: Đó là những tác động khách quan đến các em  
trong những tình huống cụ thể, những động cơ này thường tạo ra sự lựa  
chọn nghề nghiệp một cách thụ động nhưng nó cũng thúc đNy con người  
hoạt động. N hững động cơ bên ngoài của việc lựa chọn có thể là: Do học  
nghề đó dễ kiếm việc ở thành phố, nghề đó có điều kiện nâng cao trình độ  
tri thức, do điểm chuẩn vào trường thấp, do nghề đó được xã hội đánh giá  
cao, do học nghề đó sẽ tìm được việc làm dễ hơn, do nghề đó sau này dễ  
kiếm tiền …  
Động cơ bên trong: thúc đNy sự lựa chọn nghề nghiệp của học sinh  
là rất quan trọng, bởi nó quan hệ trực tiếp với nội dung, với quá trình hoạt  
động nghề nghiệp, nó thúc đNy con người vươn tới đạt những mục tiêu  
nhất định, thoả mãn nhu cầu đòi hỏi bên trong của mỗi cá nhân, tạo ra  
được tâm lý sẵn sàng trong hoạt động nghề nghiệp. N ó giúp con người  
hoạt động có mục đích và xử lý có hiệu quả những năng lực và kinh  
nghiệm của mình vào trong hoạt động nghề nghiệp. N hững động cơ bên  
trong ấy có thể là: hiểu được ý nghĩa xã hội của nghề, chuẩn bị năng lực  
kiến thức và tích luỹ kinh nghiệm liên quan đến nghề, có sự chuẩn bị tốt  
cho nghề nghiệp tương lai trên cơ sở hiểu được giá trị của nghề, do bản  
thân có hứng thú với nghề, do bản thân yêu nghề. Để mang lại kết quả tốt  
trong việc lựa chọn nghề cũng như trong hoạt động nghề nghiệp, thì việc  
kết hợp hài hoà giữa các động cơ là điều rất cần thiết và việc xác định  
động cơ chọn nghề ở mỗi cá nhân có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc  
127  
hình thành và phát triển nhân cách cũng như việc quyết định lựa chọn con  
đường mà mỗi cá nhân đi.  
5. Tính cách và nghề nghiệp  
Trước những tác động của thế giới khách quan, bao giờ mỗi cá nhân  
cũng có những hành vi ứng xử thể hiện thái độ riêng của anh ta đối với  
những tác động đó. Trong trường hợp sự phản ứng của cá nhân mang tính  
nhất quán, tương đối ổn định và bền vững với hệ thống thái độ và hành vi  
tương ứng, đặc trưng cho cá nhân ở nhiều khí cạnh được gọi là nét tính  
cách. Với mỗi cá nhân có nhiều nét tính cách khác nhau, và những nét tính  
cách này được tổ hợp với nhau theo 1 kiểu đặc biệt được gọi là tính cách.  
Tính cách là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, bao gồm nhiều  
thuộc tính tâm lý riêng biệt của cá nhân đó được kết hợp lại với nhau một  
cách riêng biệt, biểu hiện hệ thống thái độ của nó với hiện thực và được  
thể hiện trong hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng tương ứng.  
Theo John Holland, ông chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa tính cách con  
người và nghề nghiệp. Một mặt con người có xu hướng “N gưu tầm ngưu,  
mã tầm mã” (hay còn gọi là tâm lý bầy đàn). Điều này được lý giải ra có  
nghĩa là, con người có xu hướng kết thân với những người có cùng tính  
cách với họ.Và điều này cũng tác động lên lựa chọn nghề nghiệp của mỗi  
người. Họ sẽ chọn những công việc ở những nơi mà họ cảm thấy xung  
quanh mình là những người giống mình. Mặt khác mỗi một loại nghề  
nghiệp đều có nội dung hoạt động mang tính đặc thù và không phải bất cứ  
ai cũng có thể đáp ứng được nếu không có những nét tính cách, phNm chất  
tâm lý phù hợp. Ví dụ đối với nghề marketing cần những người có nét tính  
cách nhanh nhẹn, hoạt bát, nhiệt tình, năng động…Còn đối với nghề thủ  
thư lại cần những người cNn thận, bình tĩnh, chu đáo, biết kiềm chế…  
128  
Theo lý thuyết của J.Holland, hầu như ai cũng có thể xếp vào một  
trong sáu kiểu tính cách sau trong xã hội:  
N gười thực tế (Realistic), N gười tìm tòi nghiên cứu (Investigative),  
N gười có tính nghệ sỹ (artist), N gười xã hội(social), N gười Lãnh  
đạo(enterprising), N gười Lề lối (conventional).  
Người Thực tế (Realistic)  
N ếu ngày còn bé, sở thích của bạn là những công việc tay chân hay  
hoàn thành các công việc cụ thể tỉ mỉ như dọn dẹp nhà cửa, sửa chữa cái  
này cái kia…thì có lẽ bạn là kiểu người thực tế. N gười thực tế luôn muốn  
nhìn thấy tận mắt kết quả công việc của mình, họ yêu thích những công  
việc tương đối nặng nhọc, phải di chuyển nhiều và thích thú khi được làm  
việc ở ngoài trời.  
Người tìm tòi nghiên cứu (Investigative)  
Đây là kiểu người luôn tìm hiểu lý do, tìm hiểu những gì diễn ra  
đằng sau sự việc, hiện tượng. N hững người này luôn đặt câu hỏi “Mọi  
việc diễn ra như thế nào nhỉ?”. Họ cũng thích giải quyết những vấn đề  
cụ thể, nhưng không phải theo cách của “người thực tế” mà bằng cách  
suy nghĩ phân tích trong đầu mình.  
Người nghệ sĩ (artist)  
Bản thân từ “nghệ sĩ” đã gợi cho người ta nghĩ đến nghệ thuật, tuy  
nhiên đối với kiểu người nghệ sĩ thì không chỉ có thế. Đó là những người  
rất nhạy cảm và dễ xúc động, họ hành động và quyết định dựa vào trực  
giác nhiều hơn là phán đoán lý tính, nghĩa là chủ yếu dựa vào những gì họ  
cảm thấy. Đó cũng có thể là những người có tính cách rất độc đáo.  
Một điểm đặc trưng của kiểu người này là sự phong phú: N gười ở  
tuýp nghệ sĩ rất ưa thích hoạt động phong phú và thay đổi muôn hình  
muôn vẻ. Họ luôn tìm cách để tự bộc lộ mình - vẽ tranh, cắt dán, hát  
hò…Song họ cũng thích làm việc theo nhịp điệu của chính họ và do họ tự  
129  
đặt ra. Tất cả những yếu tố này chỉ ra rằng người nghệ sĩ là một nguồn  
sáng tạo vô tận.  
Người xã hội (social)  
N hững người trong nhóm này ưa thích các mối quan hệ xã hội,  
ngày bé họ thích được các bạn bè bao quanh. N hạy bén trước cảm xúc của  
người xung quanh, lúc nào họ cũng muốn tìm cách giúp đỡ và làm người  
khác vui. N goài ra họ có thể trở thành người lắng nghe tuyệt vời hay  
người cung cấp thông tin, chăm sóc, chỉ dẫn, tư vấn, hay đơn giản là  
người “warm up” không khí của một buổi tiệc.  
Người Lãnh đạo(enterprising)  
N hững người thuộc nhóm này có tố chất của một nhà lãnh đạo  
bẩm sinh! Họ luôn là người đưa ra quyết định và định hướng cho cả  
nhóm. Họ thích bộc lộ ý tưởng và đưa ra ý kiến giải quyết vấn đề. Họ luôn  
tràn đầy nhiệt huyết và thích những công việc có tính thử thách. Bên cạnh  
đó, đây cũng là những người rất quan tâm đến các yếu tố hình thức (đầu  
tóc, quần áo, phương tiện đi lại …).  
Người Lề lối (conventional)  
Bạn là một người cNn thận, chu đáo, thích công việc lặp đi lặp lại.  
Bạn có khả năng tổ chức, sắp xếp và làm việc có phương pháp cũng như  
quy tắc nhất định? Bạn thích những thứ rõ ràng, cụ thể, có thể dự báo  
trước? Vậy thì không nghi ngờ gì nữa, bạn có tính cách của một người  
thuộc tuýp lề lối.  
Và 6 kiểu tính cách sẽ phù hợp với 6 kiểu môi trường công việc, cụ  
thể  
Môi trường thực tế (Realistic)  
Môi trường nghiên cứu (Investigative)  
Môi trường sáng tạo (artist)  
Môi trường xã hội(social)  
130  
Môi trường Lãnh đạo(enterprising)  
Môi trường Tập quán (conventional).  
Môi trường thực tế (Realistic)  
N hững người có tính cách thực tế “chiếm lĩnh” (chiếm đa số) trong  
môi trường này. Trong môi trường làm việc này thường những người có  
tính cách thự tế chiếm số đông hơn những kiểu tính cách khác. Ví dụ tại  
một công trường thì sẽ có nhiều người Thực tế hơn hay là những người Xã  
hội hay N ghệ Sỹ.  
N hững người thực tế hay môi trường “ Thực tế”. Họ sẽ đánh giá cao  
những người có tính cách thực tế và những việc mang tính chất kỹ thuật -  
những người thích làm việc với công cụ, máy móc hay chăm vật nuôi…  
N hững nghề nghiệp sau đây thuộc về môi trường Thực tế:  
N ông dân  
Cảnh sát  
N gười làm rừng  
Kỹ sư máy bay ( flight engineer)  
Thợ điện  
Lính cứu hoả  
Phi công  
Thợ mộc  
Thợ máy  
Kỹ sư đầu máy  
Lái xe tải  
Thợ sửa  
khoá  
2 môi trường làm việc rất gần với môi trường Thực tế là môi trường  
Tập quán và môi trường N ghiên cứu. Môi trường Xã hội là môi trường  
khác biệt nhất với kiểu môi trường Thực tế.  
Môi trường nghiên cứu (Investigative)  
N hững người có tính cách N ghiên cứu chiếm lĩnh môi trường  
N ghiên cứu. Trong môi trường làm việc này thường những người có kiểu  
tính cách N ghiên cứu chiếm số đông hơn những kiểu tính cách khác. Ví  
dụ: N hững phòng thí nghiệm khoa học sẽ có nhiều người có tính cách  
nghiên cứu hơn những kiểu tính cách khác.  
N hững người nghiên cứu tạo ra môi trường N ghiên cứu. Tính cách  
đặc thù của những người phù hợp với môi trường này là cNn trọng, khoa  
131  
học và trí tuệ - những người có kỹ năng rất tốt trong việc giải quyết công  
việc khoa học và toán học.  
N hững nghề nghiệp thuộc nhóm N ghiên cứu:  
N hà hóa học  
N hà toán học  
N hà khí tượng học  
N hà nghiên cứu sinh vật học Bác sĩ nha khoa N hà trị liệu  
Bác sĩ thú y  
Kiến trúc sư  
Dược sĩ  
Kỹ sư chế tạo máy  
Giám định viên Kỹ sư điện máy  
Hai môi trường gần nhất với môi trường nghiên cứu là môi trường  
Thực tế và N ghệ sỹ. Môi trường Lãnh đạo là môi trường khác biệt nhất  
với môi trường N ghiên cứu.  
Môi trường làm việc Nghệ Sỹ.  
N hững người chiếm tính cách nghệ sỹ sẽ chiếm đa số trong môi  
trường N ghệ sỹ. Trong môi trường làm việc này thường những người có  
tính cách N ghệ sỹ chiếm số đông hơn những kiểu tính cách khác. Ví dụ,  
trong một nhóm nhạc sỹ, sẽ có nhiều người thuộc nhóm nghệ sỹ, hơn là  
người thuộc nhóm Tập quán.  
N hững người N ghệ sỹ sẽ tạo ra môi trường N ghệ sỹ. N hững phNm  
chất cần có của người thuộc môi trường này: Khả năng biểu cảm, độc đáo  
và độc lập - những người này có khả năng trong những công việc sáng tạo  
như: viết truyện, kịch, nghề thủ công, nhạc hay nghệ thuật.  
N hững nghề nghiệp thuộc nhóm này:  
Vũ công  
Biên tập sách  
Giáo viên mỹ thuật  
Diễn viên kịch  
Thiết kế thời trang  
Diễn viên  
Trang trí, thiết kế  
DJ (điều chỉnh âm thanh)  
N hạc sỹ  
N hà soạn nhạc  
Môi trường Xã hội  
N hững người có kiểu tính cách Xã hội sẽ chiếm đa số trong môi  
trường Xã hội. Trong môi trường làm việc này thường những người có  
132  
tính cách Xã hội chiếm số đông hơn những kiểu tính cách khác. N hững  
tính cách của môi trường này được coi trọng là: Tốt bụng, thân thiện và  
đáng tin cậy - những người làm tốt công việc như dạy học, tư vấn, y tá,  
cung cấp thông tin, và giải quyết các vấn đề xã hội .  
N hững nghề nghiệp thuộc nhóm này:  
Tư vấn  
N gười phát ngôn  
Y tá  
N hà hoạt động xã hội  
Vật lý trị liệu  
N hân viên nha khoa  
Giáo viên  
Thủ thư  
Huấn luyện viên thể thao  
Môi trường gần nhất: N ghệ sỹ và Lãnh đạo  
Môi trường khác nhất: Thực tế  
Môi trường Lãnh đạo  
N hững người có tính cách Lãnh đạo sẽ chiếm đa số trong môi  
trường Lãnh đạo. Trong môi trường làm việc này thường những người có  
tính cách Lãnh đạo chiếm số đông hơn những kiểu tính cách khác. N hững  
tính cách của môi trường này được coi trọng là: năng động, tham vọng và  
thân thiện - những người này phát huy khả năng nhất trong chính trị, có tài  
dẫn dắt và thể hiện ý tưởng.  
N hững nghề nghiệp thuộc nhóm này:  
N hà đấu giá; N hân viên bán hàng; N hân viên đại lý; N gười dẫn  
chương trình; ThNm phán; Luật sư; Quản lý; Quản lý bán hàng; Chủ nhà  
băng; Phát thanh viên truyền hình; Giám sát bán hàng; Giám đốc trại  
giam; Quản lý nhà hàng; Đại lý Bất động sản; Hiệu trưởng.  
Môi trường Tập quán  
N hững người có tính cách Lề lối sẽ chiếm lĩnh môi trường Tập  
quán. Trong môi trường làm việc này thường những người có kiểu tính  
cách Tập quán chiếm số đông hơn những kiểu tính cách khác.  
133  
N hững tính cách của môi trường làm việc này coi trọng là : biết tổ  
chức sắp xếp, rất giỏi lên kế hoạch- làm tốt các công việc ghi chép số liệu  
trong hệ thống hay trật tự.  
N hững nghề nghiệp thuộc nhóm này:  
Kế toán  
Thư ký  
N hân viên bưu điện  
Kiểm soát hàng dệt may N gười tính giờ  
N hân viên nhà sách  
N hân viên nhà băng  
N hân viên đánh máy  
Vận chuyển thư  
Bên cạch cách tiếp cận của Hollan, một hướng tiếp cận khác khi  
nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính cách, cá tính của con người với nghề  
nghiệp, trong đó người ta chia ra hai kiểu tính cách, gồm:  
Kiểu người hướng ngoại: Luôn có khuynh hướng tiếp cận với thế  
giới bên ngoài, muốn khám phá những sự kiện đang diễn ra xung quanh;  
tích cực, năng động, có xu hướng thích mạo hiểm; thường công khai bày  
tỏ ý kiến của mình; thích tiếp xúc, dễ làm quen và cũng dễ chia tay với  
mọi người; thích trao đổi quan điểm của mình với những người xung  
quanh; làm việc tốt trong môi trường tập thể.  
Kiểu người hướng nội: Có khuynh hướng thu hẹp trong thế giới nội  
tâm riêng của mình, ít có ấn tượng trước các yếu tố bên ngoài; thường gặp  
khó khăn khi tạo dựng những mối quan hệ mới, nên thường không có  
nhiều bạn bè, thích yên tĩnh, cố gắng bảo vệ mình trước tác động của  
những thông tin mới, có bề ngoài trầm tĩnh, thường ít nói; không thích  
những bất ngờ; làm việc tốt trong môi trường có một mình.  
Tuy nhiên, qua những tiêu chí ban đầu trên, không nên nghĩ rằng  
người hướng ngoại tốt hơn người hướng nội. N hững người hướng ngoại -  
chính từ những tính cách mạnh mẽ của mình - cũng có những điểm yếu  
riêng của họ: đó là tính cách dễ bị kích động, hời hợt trong tình cảm,  
thường ôm đồm, bao biện… N hững người hướng nội cũng có các đặc  
điểm như kiên định, khả năng tư duy sâu, có tình cảm và suy nghĩ sâu sắc.  
134  
Con người cũng khác nhau ở mức độ kích thích thần kinh  
(neurotism) - một phNm chất xác định độ bền vững tình cảm của họ.  
N gười có mức kích thích thần kinh cao thường dễ nổi nóng, ghen tức, rất  
dễ nhạy cảm, làm quen với hoàn cảnh mới khó khăn. N gười có mức kích  
thích thần kinh thấp thường có tính trầm tĩnh, ổn định, có lòng tự trọng  
cao và bình tĩnh trước các tình huống gây stress. Tuy nhiên, mỗi kiểu  
“neurotism” này cũng có những điểm mạnh và yếu riêng. N gười có mức  
kích thích cao thông thường có tính nhạy cảm, tốt bụng, dễ đồng cảm.  
Con người họ có thể so sánh như một cây vĩ cầm: chỉ cần chạm nhẹ có thể  
phát ra những âm thanh du dương. Còn người có mức kích thích thấp thì  
trong nhiều trường hợp được coi là “có da mặt dày”. Họ gợi nhớ đến hình  
ảnh cái trống: không cảm nhận được những lời gợi ý hay nói kháy, mà cần  
phải nói thẳng “vào trán” họ. N hưng những người như vậy lại có khả năng  
làm việc cao, có thể đứng vững trong bất cứ tình huống nào.  
Kết hợp loại cá tính (hướng nội, hướng ngoại) và mức độ kích thích  
thần kinh, bạn sẽ chọn ra được cho mình một nghề phù hợp:  
1. Nếu là người hướng nội và có mức kích thích thần kinh cao, bạn  
không nên chọn những nghề có liên quan đến những tiếp xúc thường  
xuyên và lâu dài với mọi người như kinh doanh, quản lý, sư phạm, bán  
hàng… Hãy chọn vị trí đằng sau chiếc bàn viết hay những nơi làm việc  
theo tính trực quan, ví như nghiên cứu, sáng tạo, thiết kế, tạo mẫu….  
2. Nếu là người hướng ngoại và có mức kích thích thần kinh cao, sẽ  
không thỏa đáng nếu bạn chọn các nghề liên quan đến điều khiển như phi  
công, tài xế, điều phối viên… Khi đó bạn sẽ buồn bực vì ít được giao tiếp  
với mọi người và dễ gây ra những sai lầm, hỏng hóc. Bạn cũng không nên  
chọn những nghề liên quan đến sản xuất dây chuyền vốn mang tính đơn  
điệu.  
135  
3. Nếu là người hướng nội và mức kích thích thần kinh thấp, bạn  
nên chọn nghề liên quan đến điều khiển nhưng tránh những công việc cần  
tiếp xúc với nhiều người (như lãnh đạo, quản lý, sư phạm, phóng viên,  
hoạt động xã hội…)  
4. Nếu là người hướng ngoại và mức kích thích thần kinh thấp, thì  
những vai trò như quản lý, lãnh đạo, sư phạm, thương gia… rất lý tưởng  
với bạn. Trong những lĩnh vực yêu cầu mức độ giao tiếp cao với mọi  
người, bạn sẽ luôn đạt được thành tích tốt.  
Dù ở bất kỳ cương vị nào và có tính cách gì, bạn chỉ cần nhớ một số  
tiêu chí sau: đừng nên vội vàng, cũng đừng nên kìm hãm bản thân mình;  
tìm cách giảm trạng thái căng thẳng bên trong; hãy nói chậm và không  
nên cao giọng, không nên hồi hộp trước khi sự kiện nào đó xảy ra; hãy rèn  
luyện sự tự tin của bản thân; luôn tự đánh giá mình từ vị thế của những  
người xung quanh, luôn cố gắng kiểm soát được hành vi của mình.  
6. Khí chất và nghề nghiệp  
Khí chất là thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, biểu hiện  
cường độ, tốc độ và nhịp độ của các hoạt động tâm lý, thể hiện sắc thái  
của hành vi, cử chỉ, các nói năng tương ứng của cá nhân. N hư vậy, khí  
chất nói lên hoạt động tâm lý của cá nhân là mạnh hay là yếu, nhanh hay  
chậm, bình thường hay thất thường…  
Khí chất có nguồn gốc từ kiểu hoạt động thần kinh cấp cao. Theo  
Palốp, con người có 4 kiểu hoạt động thần kinh cơ bản và tương ứng với  
nó là 4 kiểu khí chất gồm khí chất ưu tư (tương ứng với kiểu hoạt động  
thần kinh yếu (ức chế chiếm ưu thế)); khí chất bình thản (tương ứng với  
kiểu hoạt động thần kinh mạnh, cân bằng, không linh hoạt); khí chất nóng  
nảy (kiểu hoạt động thần kinh mạnh, không cân bằng (hưng phấn chiếm  
ưu thế); khí chất hăng hái (kiểu hoạt động thần kinh mạnh, cân bằng, linh  
136  
hoạt). Tương ứng với 4 kiểu khí chất là hệ thống hành vi tương ứng thể  
hiện thông qua cường độ, tốc độ, nhịp độ của hành vi trong quá trình hoạt  
động. Do đó, với mỗi cá nhân khi lựa chọn nghề cần lựa chọn các nghề  
với các dạng lao động phù hợp với đặc trưng của khí chất, điều này sẽ  
giúp cho anh ta thành công hơn trong công việc, giảm thiểu những rủi ro  
có thể gặp phải trong quá trình lao động.  
Chúng ta cùng nghiên cứu mối quan hệ giữa kiểu khí chất và loại  
nghề phù hợp.  
6.1. Khí chất ưu tư  
Cá nhân thuộc vào kiểu khí chất này nếu có chỉ số cao về tính  
hướng nội và tính không ổn định của thần kinh. Một vài đặc điểm về tính  
cách:  
- Ý nghĩ và cảm xúc tập trung nhiều vào nội tâm, ít quan tâm đến  
xung quanh và thiên về phân tích những tâm trạng của bản thân hơn là của  
người khác.  
- Là người rất dễ bi quan, hay lo âu. N hiều khi rất khắt khe với bản  
thân và với những người xung quanh.  
- Là người sống khá dè dặt vì vậy khó hòa đồng với mọi người.  
- Thao tác hơi chậm, đôi khi phản ứng một cách khó khăn vụng về,  
dễ có cảm giác mệt mỏi.  
- Hay bị lúng túng trong việc ứng xử với các cá nhân khác trong  
điều kiện và hoàn cảnh mới.  
137  
* Kiểu khí chất này sẽ phù hợp với các loại công việc sau: nghiên  
cứu, thủ thư, công việc có sự lặp đi lặp lại trong các nhà máy và văn  
phòng hoặc công việc về sáng tạo trong nghệ thuật và quảng cáo.  
6.2.Khí chất bình thản  
N gười có kiểu khí chất này có chỉ số cao về tính hướng nội và tính  
ổn định của thần kinh. Một vài đặc điểm về tính cách.  
- Là một người trầm tính,luôn có cái nhìn chiếu sâu về người khác.  
- là người khá sâu sắc về tình cảm, dễ đồng cảm với mọi người (tuy  
nhiên không dễ dàng rung cảm ngay trước những biến cố trong đời sống),  
là người rất đáng tin, mọi người hay tâm sự với bạn.  
- Trong hành động không vội vàng hấp tấp, có căn cứ lý luận, kiên  
trì, làm đến cùng theo mục đích.  
- Là người ưa sự ngăn nắp,gọn gàng.  
* Công việc thích hợp: làm nghiên cứu, thủ thư, nhân viên văn  
phòng, luật sư, quản lí ngân hàng, kế toán.  
6.3. Khí chất nóng nảy  
Là người có chỉ số cao về tính hướng ngoại và tính không ổn định  
của thần kinh. Một vài đặc điểm về tính cách:  
Là người dễ bị kích động, không kiềm chế được bản thân (dễ có  
phản ứng gay gắt khi không đồng ý về một vấn đề nào đó)  
- Các trạng thái tâm lý (tâm trạng )diễn ra nhanh với cường độ  
mạnh nhưng cũng kết thúc nhanh chóng.  
138  
- Dễ đồng cảm, dễ thiết lập các mối quan hệ với mọi người nhưng  
khó có chiều sâu trong các mối quan hệ. Dễ làm mất lòng người khác vì  
không lắng nghe họ nói. Rất dễ bị tự ái.  
- Sống lạc quan và khá chủ động.  
* Công việc phù hợp: người hướng ngoại sẽ làm việc rất tốt trong  
các ngành dịch vụ như hướng dẫn viên du lịch, nhân viên bán hàng. Bạn  
cũng có thể làm tốt ở một số công việc mang tính sáng tạo về nghệ thuật  
hoặc quảng cáo.  
6.4. Khí chất hăng hái  
Là người có chỉ số cao về tính hướng ngoại và tính ổn định của thần  
kinh. Một vài đặc điểm về tính cách.  
- Là người rất dễ hòa đồng với mọi người. N ói nhiều và hay thổ lộ  
cảm xúc của mình với người xung quanh. Mặt khác cũng là người dễ cảm  
thông.  
- Luôn nhìn cuộc sống rất sống động và vui tươi.  
- Là người thẳng thắn kiên quyết, nói và làm đi đôi với nhau. Có  
khả năng lãnh đạo.  
* Công việc phù hợp: thích hợp với một số công việc: hướng dẫn  
viên, nhân viên bán hàng, cảnh sát, phi công, nhân viên marketing, hoặc  
các lĩnh vực về truyền thông.  
7. Năng lực và thiên hướng nghề  
Trong Tâm lý học, năng lực là một trong những vấn đề được quan  
tâm nghiên cứu bởi nó có ý nghĩa thực tiễn và lý luận to lớn bởi "sự phát  
139  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 108 trang Thùy Anh 13820 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Tâm lý học hướng nghiệp (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_tam_ly_hoc_huong_nghiep_phan_2.pdf