Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 12 - Năm 2021
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
VAI TRÒ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI ĐỐI VỚI VIỆC KIỆN TOÀN CÁC CHỨC DANH
TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TẠI KỲ HỌP THỨ NHẤT CỦA QUỐC HỘI KHÓA MỚI
XÁC LẬP TƯ CÁCH PHÁP LÝ CHO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
Số 12 (436)
Tháng 6/2021
BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC THƯƠNG MẠI SÁNG CHẾ - KINH NGHIỆM TỪ NHẬT BẢN
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
VAI TRÒ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI ĐỐI VỚI VIỆC KIỆN TOÀN CÁC CHỨC DANH
TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TẠI KỲ HỌP THỨ NHẤT CỦA QUỐC HỘI KHÓA MỚI
XÁC LẬP TƯ CÁCH PHÁP LÝ CHO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
Số 12 (436)
Tháng 6/2021
Mục lục Số 12/2021
BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC THƯƠNG MẠI SÁNG CHẾ
-
KINH NGHIỆM TỪ NHẬT BẢN
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Vai trꢀ cꢁa đꢂi biꢃu Quꢄc hꢅi đꢄi với viꢆc kiꢆn toꢇn cꢈc chꢉc
danh trong bꢅ mꢈy nhꢇ nước tꢂi kỳ họp thꢉ nhất cꢁa Quꢄc
hꢅi khóa mới
3
Nguyễn Thị Thanh
Thẩm quyền cꢁa Quꢄc hꢅi, Ủy ban Thường vụ Quꢄc hꢅi trong
viꢆc xử lý văn bản quy phꢂm phꢈp luật do cơ quan nhꢇ nước,
cꢈ nhân ở Trung ương ban hꢇnh
8
TS. Cao Vꢀ Minh
Xꢈc lập tư cꢈch phꢈp lý cho trí tuꢆ nhân tꢂo
14
20
Bùi Thị Hằng Nga - Nguyễn Thảo Linh
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
Hoꢇn thiꢆn cꢈc quy định cꢁa phꢈp luật về tꢂm giữ tiền,
đồ vật, giấy phép sử dụng trꢈi phꢈp luật trong hoꢂt đꢅng
thanh tra
Bùi Thị Hồng Phấn
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Hoꢇn thiꢆn cꢈc quy định cꢁa phꢈp luật về cꢈc chế đꢅ bảo hiꢃm
thất nghiꢆp ở nước ta hiꢆn nay
26
TS. Trương Thị Thu Hiền
Hoꢇn thiꢆn phꢈp luật trọng tꢇi ở Viꢆt Nam hiꢆn nay
TS. Nguyễn Thị Hoa
34
45
Tăng cường thực hiꢆn phꢈp luật về phꢀng, chꢄng tꢅi phꢂm mua
bꢈn người cꢁa lực lượng cảnh sꢈt hình sự công an cꢈc tỉnh Tây
Bắc hiꢆn nay
ThS. Ngô Thị Bích Thu
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Bảo hꢅ vꢇ khai thꢈc thương mꢂi sꢈng chế - Kinh nghiꢆm
từ Nhật Bản
57
Ảnh bìa: Chꢁ tịch Quꢄc hꢅi Vương Đình Huꢆ
thăm, chúc mừng Tꢂp chí Nghiên cꢉu lập
phꢈp nhân Ngꢇy Bꢈo chí cꢈch mꢂng Viꢆt Nam.
Ảnh: NCLP
TS. Phan Quốc Nguyên
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
VAI TRÒ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI ĐỐI VỚI VIỆC KIỆN TOÀN CÁC CHỨC DANH
TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TẠI KỲ HỌP THỨ NHẤT CỦA QUỐC HỘI KHÓA MỚI
XÁC LẬP TƯ CÁCH PHÁP LÝ CHO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
Số 12 (436)
Tháng 6/2021
Legis No 12/2021
BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC THƯƠNG MẠI SÁNG CHẾ
-
KINH NGHIỆM TỪ NHẬT BẢN
STATE AND LAW
The Roles of National Assembly deputies in electing and
endorsing Candidates for High Positions of State Apparatus at
the First Meeting Session of the new term of National Assembly
3
8
Nguyen Thi Thanh
The Competence of the National Assembly, the Standing
Committee of the National Assembly in handling the Legal
Documents issued by State Agencies and Individuals at the
Central Level
Dr. Cao Vu Minh
Establishment of Legal Eligibility for Artificial Intelligence
Bui Thi Hang Nga - Nguyen Thao Linh
14
20
DISCUSSION OF BILLS
Improvement of the Legal Regulations on Temporarily Seize
Money, Objects, and Licenses of Illegal Use under Inspection
Activities
Bui Thi Hong Phan
LEGAL PRACTICE
Improvement of Current Legal Regulations on Unemployment
Insurance in our Country
26
34
45
Dr. Truong Thi Thu Hien
Improvement of Current Legal Regulations on Arbitration in
Vietnam today
Dr. Nguyen Thi Hoa
Strengthening the Enforcement of the Law on Prevention and
Combat of Human Trafficking Crimes by the Criminal Police Force
of the Northwestern Provinces
LLM. Ngo Thi Bich Thu
FOREIGN EXPERIENCE
Protection and Commercial Exploitation of Patents -
Experience from Japan
57
Dr. Phan Quoc Nguyen
PRICE: 25.000VND
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
VAI TRꢀ CꢁA ĐꢂI BIꢃU QUꢄC HꢅI
ĐꢄI VỚI VIꢆC KIꢆN TOꢇN CꢈC CHꢉC DANH TRONG Bꢅ MꢈY NHꢇ NƯỚC
TꢂI KỲ HỌP THꢉ NHẤT CꢁA QUꢄC HꢅI KHÓA MỚI
Nguyꢀn Thꢁ Thanh
Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Ủy viên UBTVQH
Trương BBn Công tá đi iibu, Phó Trương BBn Tổ ́hứ́ Trung ương
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày về thẩm quyền của Quốc hội bầu,
phê chuẩn các chức danh của bộ máy nhà nước; quy trình Quốc hội bầu, phê
chuẩn các chức danh của bộ máy nhà nước; phân tích vai trò của đại biểu Quốc
hội trong thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước
về công tác nhân sự tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa mới nhằm cung cấp
thêm thông tin phục vụ các đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đặc biệt là các đại biểu
Quốc hội trúng cử lần đầu trong việc xem xét, quyết định các chức danh của bộ
máy nhà nước
Từ khóa: Đại biểu Quốc hội;
bầu, phê chuẩn chức danh trong
bộ máy nhà nước.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 15/6/2021
: 18/6/2021
: 21/6/2021
Article Infomation:
Abstract:
Within the scope of this article, the author presents the authority of the National
Assembly to elect and endorse the proposed candidates for the high positions of
the state apparatus; the process of the National Assembly electing and endorsing
the candidates for the high positions of the state apparatus; analysis of the role of
the National Assembly deputies in performing the function of deciding important
national issues in terms of personnel arrangements at the first meeting session
of the new term of the National Assembly in order to provide more information
to the National Assembly deputies, especially to those first time elected, in
aspects of appraisal and approval of the candidates for high positions of the state
apparatus.
Keywords: National Assembly
deputies, election, endorsement of
candidates for state apparatus.
Article History:
Received
Edited
: 15 Jun 2021
: 18 Jun 2021
: 21 Jun 2021
Approved
1. Về thẩm quyền của Quốc hội bầu, phê
chuẩn các chức danh của bộ máy nhà nước
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013
và Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi, bổ
sung năm 2020), 60 ngày trước khi Quốc
hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khóa mới phải
được bầu xong. Theo đó, kỳ họp thứ nhất
của Quốc hội khóa mới được triệu tập chậm
nhất là 60 ngày, kể từ ngày bầu cử đại biểu
Quốc hội. Một trong những nhiệm vụ quan
trọng của kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa
mới là xem xét, kiện toàn các chức danh của
bộ máy nhà nước. Cụ thể, Quốc hội bầu các
chức danh sau:
+ Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc
hội, Ủy viên UBTVQH theo đề nghị của
UBTVQH khóa trước;
1 Nghị quyết số 748/NQ - HĐBCQG ngày 10/6/2021 của Hội đồng Bầu cử quốc gia công bố kết quả và danh
sách những người trúng cử ĐBQH khóa XV: Trong tổng số 499 người trúng cử ĐBQH khóa XV có 295 người
(tỷ lệ 59,12%) là đại biểu trúng cử lần đầu.
Số 12(436) - T6/2021
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
+ Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm
Ủy ban của Quốc hội theo đề nghị của
UBTVQH khóa mới;
- Báo cáo thẩm tra trong trường hợp
pháp luật quy định: Đối chiếu với các quy
định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật cho thấy: Trình tự, thủ tục và hình
thức văn bản để Quốc hội kiện toàn các chức
danh trong bộ máy nhà nước không phải là
quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp
luật. Do vậy, hiện nay chưa đặt ra vấn đề có
báo cáo thẩm tra trong trường hợp Quốc hội
xem xét, quyết định công tác nhân sự.
+ Chủ tịch nước theo đề nghị của
UBTVQH khóa mới;
+ Phó Chủ tịch nước theo đề nghị của
Chủ tịch nước;
+ Thủ tướng Chính phủ theo đề nghị của
Chủ tịch nước;
+ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo
đề nghị của Chủ tịch nước;
- Hồ sơ về người được giới thiệu vào các
chức danh để Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn
(thường gắn liền với quy trình hồ sơ nhân
sự trong công tác cán bộ của Đảng) và các
tài liệu khác theo quy định của UBTVQH,
thường bao gồm các tài liệu: Sơ yếu lý lịch,
tiểu sử tóm tắt, bản kê khai tài sản... Trong
trường hợp có nhân sự được giới thiệu thêm
thì hồ sơ về người ứng cử do ĐBQH giới
thiệu thêm hoặc tự ứng cử do UBTVQH
quy định và phải được gửi tới UBTVQH
chậm nhất là 02 ngày trước phiên họp bầu
chức danh đó.
+ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao theo đề nghị của Chủ tịch nước;
+ Tổng Kiểm toán nhà nước, Tổng thư
ký Quốc hội theo đề nghị của UBTVQH;
Bên cạnh đó, Quốc hội phê chuẩn các
chức danh sau:
+ Thành viên Hội đồng Quốc phòng và
An ninh theo đề nghị của Chủ tịch nước;
+ Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng
và các thành viên khác của Chính phủ theo
đề nghị của Thủ tướng Chính phủ theo danh
sách đề cử chức vụ từng người.
2.2. Trình tự thủ tục
Căn cứ Nghị quyết số 102/2015/QH13
ngày 24/11/2015 về Nội quy kỳ họp Quốc hội,
Quốc hội kiện toàn chức danh của bộ máy nhà
nước được thực hiện theo trình tự sau:
2. Về quy trình Quốc hội bầu, phê chuẩn
các chức danh của bộ máy nhà nước
2.1. Hồ sơ trình Quốc hội về nhân sự
Hồ sơ trình Quốc hội về người được giới
thiệu vào các chức danh để Quốc hội bầu
hoặc phê chuẩn bao gồm:
Bước 1: Chủ thể có thẩm quyền đề nghị,
giới thiệu trình danh sách đề cử để Quốc hội
bầu hoặc phê chuẩn;
- Tờ trình của cơ quan, cá nhân có thẩm
quyền trình: Tùy thuộc vào chức danh được
giới thiệu để Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn
sẽ có chủ thể trình khác nhau. Tờ trình cần
thể hiện các nội dung sau: (i) căn cứ pháp
lý về thẩm quyền của cơ quan, cá nhân có
thẩm quyền trình; (ii) yêu cầu thực tế về
việc kiện toàn nhân sự; (iii) đề xuất nhân
sự để giữ chức danh (trong đó bao gồm các
thông tin cơ bản về nhân sự).
Bước 2: ĐBQH giới thiệu thêm hoặc
tự ứng cử vào chức danh do Quốc hội bầu
hoặc phê chuẩn (nếu có). Người được giới
thiệu ứng cử có quyền rút khỏi danh sách
người ứng cử;
Bước 3: ĐBQH thảo luận tại Đoàn; Chủ
tịch Quốc hội có thể họp với các Trưởng
Đoàn ĐBQH để trao đổi về các vấn đề có
liên quan (trong trường hợp bầu chức danh
4
Số 12(436) - T6/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
thể mời Chủ tịch nước tham dự để trao đổi
về các vấn đề có liên quan; trong trường hợp
phê chuẩn việc bổ nhiệm Phó Thủ tướng, bộ
trưởng và các thành viên của Chính phủ có
thể mời Thủ tướng Chính phủ tham dự để
trao đổi về các vấn đề có liên quan);
Do số lượng người tham gia bỏ phiếu
đông (tương ứng với số ĐBQH có mặt), để
tạo thuận lợi cho việc kiểm soát số phiếu
phát ra, số phiếu thu về, bảo đảm thời gian
của các phiên họp, việc phát phiếu bầu cho
các ĐBQH được thực hiện thông qua đại
diện của Đoàn ĐBQH (thông thường là Phó
Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách). Người
này sẽ nhận phiếu từ tổ giúp việc của Ban
Kiểm phiếu và phát phiếu tới các thành viên
trong Đoàn ĐBQH. Cách làm này tương
đối thuận lợi vì vị trí chỗ ngồi của ĐBQH
được sắp xếp theo Đoàn ĐBQH và sự chênh
lệch số lượng ĐBQH giữa các Đoàn ĐBQH
không lớn (giao động từ 6 - 9 ĐBQH, ngoại
trừ Đoàn thành phố Hà Nội, Thành phố
Hồ Chí Minh, tỉnh Thanh Hóa, tỉnh NghệAn).
Sau khi viết phiếu bầu, các ĐBQH sẽ
trực tiếp bỏ phiếu vào thùng phiếu.
Bước 4: UBTVQH báo cáo Quốc hội kết
quả thảo luận tại Đoàn ĐBQH. Nội dung
báo cáo thể hiện được ý kiến thảo luận tại
các Đoàn về nhân sự và ý kiến của cá nhân
ĐBQH (nếu có) về nhân sự. Trong trường
hợp, tại buổi thảo luận, các ĐBQH được
phát phiếu xin ý kiến về nhân sự thì trong
báo cáo của UBTVQH có thể nêu kết quả
phiếu xin ý kiến;
Bước 5: Chủ thể có thẩm quyền đề nghị,
giới thiệu báo cáo Quốc hội về việc giải
trình, tiếp thu ý kiến của ĐBQH (nếu có);
Bước 8: Ban Kiểm phiếu công bố kết
quả kiểm phiếu.
Ban kiểm phiếu công bố kết quả kiểm
phiếu theo nguyên tắc sau:
Bước 6: Thành lập Ban Kiểm phiếu.
Trường hợp biểu quyết bầu các chức danh
của bộ máy nhà nước, người được quá nửa
số phiếu hợp lệ tán thành so với tổng số đại
biểu Quốc hội và được nhiều phiếu tán thành
hơn thì trúng cử. Trường hợp cùng bầu một
chức danh mà nhiều người được số phiếu tán
thành ngang nhau và đạt quá nửa số phiếu
hợp lệ tán thành so với tổng số đại biểu Quốc
hội thì Quốc hội biểu quyết lại việc bầu chức
danh này trong số những người được số phiếu
hợp lệ tán thành ngang nhau. Trong số những
người được đưa ra biểu quyết lại, người được
số phiếu tán thành nhiều hơn là người trúng
cử; nếu biểu quyết lại mà nhiều người vẫn
được số phiếu tán thành ngang nhau thì người
nhiều tuổi hơn là người trúng cử.
Quốc hội bầu Ban Kiểm phiếu theo đề
nghị của Chủ tịch Quốc hội khóa trước. Ban
Kiểm phiếu sẽ thực hiện nhiệm vụ trong
suốt quá trình. Thành viên Ban Kiểm phiếu
không là người trong danh sách để Quốc
hội bầu, phê chuẩn.
Bước 7: ĐBQH biểu quyết bằng hình
thức bỏ phiếu kín.
Việc thiết lập phiếu căn cứ vào địa vị
pháp lý của chức danh được bầu hoặc phê
chuẩn. Trường hợp chức danh là người đứng
đầu hoặc là chủ thể duy nhất trong tổ chức
quyền lực nhà nước thì trong phiếu chỉ có
nhân sự được giới thiệu vào một chức danh.
Trường hợp các chức danh có địa vị pháp
lý tương đương nhau thì các nhân sự được
giới thiệu giữ các chức danh đó sẽ được ghi
chung một phiếu.
Việc phê chuẩn các chức danh của bộ
máy nhà nước phải được quá nửa tổng số
đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành;
Số 12(436) - T6/2021
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Bước 9: Quốc hội thảo luận, biểu quyết
thông qua nghị quyết bầu, phê chuẩn các
chức danh của bộ máy nhà nước.
danh ngoài danh sách đã được cơ quan
có thẩm quyền giới thiệu, đề nghị trình
Quốc hội. Quy định này bảo đảm quyền
tự do, dân chủ và công bằng về quyền,
nghĩa vụ của ĐBQH và phản ánh nguyên
tắc dân chủ, bình đẳng trong hoạt động
của Quốc hội nói riêng và của bộ máy
nhà nước nói chung.
Một quy trình sau khi hoàn tất các thủ
tục nhưng cần được thể hiện dưới hình
thức một văn bản pháp lý. Nghị quyết bầu,
phê chuẩn được Quốc hội thông qua chính
là căn cứ pháp lý để xác định địa vị pháp
lý, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của
nhân sự giữ chức danh.
Để thực hiện hiệu quả vai trò của mình,
các ĐBQH cần nghiên cứu kỹ, đầy đủ, bao
quát tiêu chuẩn, điều kiện và trình tự thủ tục
(bao gồm các quy định của Đảng và pháp
luật của Nhà nước) quyền đề cử và tự ứng
cử với một tinh thần trách nhiệm cao. Chỉ
khi đó, việc đề cử, tự ứng cử của ĐBQH
hiệu quả, thực chất.
3. Vai trò của ĐBQH trong việc kiện toàn
các chức danh của bộ máy nhà nước
Theo quy định của Luật Tổ chức Quốc
hội “ĐBQH là người đại diện cho ý chí,
nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu
cử ra mình và Nhân dân cả nước là người
thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực nhà
nước trong Quốc hội”2.
Vai trò của ĐBQH tại bước 3: Trong các
buổi thảo luận tại Đoàn ĐBQH, các ĐBQH
có cơ hội bày tỏ quan điểm cá nhân để làm
rõ hơn các vấn đề liên quan đến nhân sự
được giới thiệu vào các chức danh. Với
đặc thù trong công tác nhân sự, quy trình
này nhằm phát huy tính dân chủ, vừa bảo
đảm nguyên tắc tập trung, tạo sự đồng lòng,
thống nhất với các chức danh do Quốc hội
bầu hoặc phê chuẩn. Đây là các nhân sự chủ
chốt, nòng cốt của bộ máy nhà nước trong
một nhiệm kỳ. Do vậy, vấn đề trao đổi, thảo
luận có ý nghĩa quan trọng, không chỉ với
mục đích kiện toàn chức danh đó (thông
qua việc thực hiện bỏ phiếu tại bước 7), mà
còn củng cố niềm tin của Nhân dân và cử tri
với nhân sự đó.
Với tư cách là một bộ phận cấu thành
nên cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất,
ĐBQH trở thành cầu nối liên kết mối quan
hệ giữa chính quyền nhà nước với Nhân
dân. Do đó, ĐBQH phải đủ điều kiện, năng
lực, bản lĩnh để phát huy vai trò của mình
vào các hoạt động của Nhà nước. Cũng như
Quốc hội, vai trò của ĐBQH được thể hiện
ngay sau khi được cử tri tín nhiệm bầu là
đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri
để quyết định các vấn đề quan trọng của đất
nước, trong đó có việc bầu và phê chuẩn các
chức danh của bộ máy nhà nước.
Trong quy trình Quốc hội bầu, phê chuẩn
các chức danh của bộ máy nhà nước nêu
trên, vai trò của ĐBQH được thể hiện tại
bước 2, 3, 7, 9.
Để bảo đảm thực hiện tốt vai trò của
mình, các ĐBQH cần xem xét kỹ tiểu sử, lý
lịch nhân sự được giới thiệu. Bên cạnh hồ
sơ được gửi theo quy định, các ĐBQH cần
chủ động trong việc nắm bắt thông tin về
nhân sự. Thông qua các phương tiện truyền
thông, báo chí, dư luận của cử tri và hiệu quả
Vai trò của ĐBQH tại bước 2: ĐBQH
thực hiện quyền đại diện cho Nhân dân
tham gia vào hoạt động của Nhà nước để
giới thiệu hoặc tự ứng cử để giữ các chức
2 Khoản 1 Điều 21 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.
6
Số 12(436) - T6/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
hoạt động trong thời gian trước, kế hoạch
và khả năng hoàn thành kế hoạch trong thời
gian tới của nhân sự để đưa ra thông tin tới
các ĐBQH trong Đoàn cùng trao đổi, thảo
luận. Trong bước này, cần phát huy vai trò
của Trưởng Đoàn ĐBQH để định hướng nội
dung thảo luận, kiến nghị đề xuất và mấu
chốt là thống nhất quan điểm tập thể của
Đoàn ĐBQH.
danh. Do vậy, yêu cầu đặt ra để ĐBQH làm
tốt vai trò này là cần nắm rõ quy định về thể
thức văn bản, thông tin, số liệu để bảo đảm
tính chặt chẽ, hiệu quả về mặt hình thức của
Nghị quyết.
4. Kết luận
Vai trò của ĐBQH được thể hiện trực
tiếp ở 4 trên tổng số 9 bước liên quan đến
quy trình kiện toàn chức danh của bộ máy
nhà nước nhưng sự tham gia, theo dõi,
giám sát của ĐBQH phải được thể hiện
ở cả 9 bước. Để phát huy tốt vai trò của
mình, các ĐBQH phải thể hiện được trách
nhiệm, bản lĩnh, sự thẳng thắn, nhất quán
trong việc đưa ra nhận xét, quan điểm và
quyết định về nhân sự được giới thiệu giữ
chức danh của bộ máy nhà nước. ĐBQH
cần quan tâm đến chức năng, nhiệm vụ đã
được pháp luật quy định cho chức danh đó,
tìm hiểu về mối liên quan giữa các yếu tố
chủ quan của nhân sự với yêu cầu nhiệm
vụ của vị trí, chức danh, từ đó phân tích
khả năng hoàn thành nhiệm vụ sau khi
được Quốc hội bầu, phê chuẩn.
Việc kiện toàn chức danh của bộ máy
nhà nước thuộc thẩm quyền quyết định
của Quốc hội tuy được thực hiện tại một
thời điểm (kỳ họp Quốc hội) nhưng muốn
người giữ chức danh hoạt động hiệu quả,
chất lượng, có đóng góp tích cực vào hoạt
động chung của bộ máy nhà nước thì cần
phát huy vai trò của ĐBQH trong cả nhiệm
kỳ. Thông qua giám sát và các hoạt động
đại diện (tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, theo
dõi giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo)
và các kênh phản biện xã hội, ĐBQH cần
thể hiện vai trò xuyên suốt của mình bằng
quyền kiến nghị tới UBTVQH để đề nghị
xem xét miễn nhiệm, bãi nhiệm, lấy phiếu
tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm với những
người đã được Quốc hội bầu, phê chuẩn giữ
Vai trò của ĐBQH tại bước 7: Đây
là bước quan trọng trong việc quyết định
việc một nhân sự cụ thể có được giữ chức
danh trong bộ máy nhà nước hay không?
Với nguyên tắc miễn trừ và phương thức
bỏ phiếu kín, các ĐBQH có quyền tự do, tự
chủ để đưa ra ý kiến của mình chỉ bằng một
hành động: đồng ý hoặc không đồng ý.
Đểbảođảmthựchiệntốtvaitròcủamình,
các ĐBQH cần thể hiện bản lĩnh, chính
kiến thông qua hành vi bỏ phiếu. Theo quy
định, ĐBQH có quyền không thể hiện quan
điểm, chứng kiến của mình. Tuy nhiên, khi
đã thực hiện nhiệm vụ đại biểu, là người
đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân
dân và cử tri, có trách nhiệm thay mặt cử tri
tham gia vào các hoạt động của Nhà nước
thì ĐBQH “có trách nhiệm” thể hiện quan
điểm của mình trước những đề xuất của cơ
quan có thẩm quyền. Do vậy, trường hợp bỏ
phiếu kín, những phiếu không thể hiện quan
điểm được coi là phiếu không hợp lệ. Dưới
góc độ trách nhiệm chính trị với cử tri, đây
được xác định là việc ĐBQH đã không thực
hiện tốt vai trò của người đại diện của Nhân
dân, thay mặt Nhân dân quyết định lựa chọn
các chức danh của bộ máy nhà nước.
Vai trò của ĐBQH tại bước 9: Đây là
bước hoàn thiện về thủ tục để một nhân
sự cụ thể chính thức được giữ chức danh
của bộ máy nhà nước. Nghị quyết bầu, phê
chuẩn sẽ là căn cứ pháp lý gắn liền với quá
trình thực hiện nhiệm vụ của người giữ chức
chức danh của bộ máy nhà nước
Số 12(436) - T6/2021
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
THẨM QUYỀN CꢁA QUꢄC HꢅI, ꢁY BAN THƯỜNG VỤ QUꢄC HꢅI
TRONG VIꢆC XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHꢂM PHꢈP LUẬT
DO CƠ QUAN NHꢇ NƯỚC, Cꢈ NHÂN Ở TRUNG ƯƠNG BAN HꢇNH
Cao Vũ Minh*
*TS. Trường Đđi họ́ Luật TP. Hồ Chí Minh
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Văn bản quy phạm
pháp luật, thẩm quyền của
Quốc hội.
Theo quy định của pháp luật, khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật
thì phải bảo đảm tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm
pháp luật trong hệ thống pháp luật. Vấn đề có tính thực tiễn đặt ra là xử lý
như thế nào đối với những văn bản quy phạm pháp luật có khiếm khuyết
vì không tuân thủ yêu cầu của tính hợp pháp và tính hợp lý. Trong phạm vi
bài viết này, tác giả phân tích thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội trong việc xử lý văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà
nước, cá nhân ở Trung ương ban hành, đồng thời đề xuất hướng hoàn thiện.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 28/5/2021
: 08/6/2021
: 12/6/2021
Article Infomation:
Abstract:
Keywords: Legal documents,
authority of the National
Assembly.
According to the law, when promulgating legal documents, the legality
and consistency of legal documents must be ensured by the legal system.
The practical problem is how to handle legal documents with defects
because they do not comply with the requirements of legitimacy and
rationality. Within the scope of this article, the author provides analysis
of the authority of the National Assembly and Standing Committee of the
National Assembly in handling legal documents promulgated by central
state agencies and individuals, and also proposes recommendations for
further improvements.
Article History:
Received
Edited
: 28 May 2021
: 08 Jun 2021
: 12 Jun 2021
Approved
1. Xử lý văn bản quy phạm pháp luật do
cơ quan nhà nước, cá nhân ở Trung ương
ban hành
quyền, hình thức, thủ tục luật định, trong đó
có chứa quy tắc xử sự mang tính bắt buộc
chung để điều chỉnh các quan hệ xã hội phù
hợp với ý chí nhà nước và được Nhà nước
bảo đảm thực hiện1. VBQPPL có thể do cơ
quan nhà nước, cá nhân ở Trung ương hoặc
ở địa phương ban hành. VBQPPL một khi
được ban hành chỉ có thể trở thành bộ phận
hữu cơ của cơ chế điều chỉnh pháp luật khi
nội dung lẫn hình thức của chúng bảo đảm
cả tính hợp pháp và tính hợp lý2. Vấn đề có
1.1. Thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội trong việc xử lý văn
bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà
nước, cá nhân ở Trung ương ban hành
Về mặt lý luận, văn bản quy phạm pháp
luật (VBQPPL) là văn bản do cơ quan nhà
nước hoặc cá nhân của cơ quan nhà nước
ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm
1
Nguyễn Cửu Việt, “Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật (tiếp theo) và hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 51, năm 2005.
2
Cao Vũ Minh, “Tính hợp pháp và tính hợp lý trong quyết định quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân”,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 7, năm 2010.
8
Số 12(436) - T6/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
tính thực tiễn quan trọng đặt ra là xử lý như
thế nào đối với những văn bản quy phạm
pháp có khiếm khuyết vì không tuân thủ
yêu cầu của tính hợp pháp và tính hợp lý.
Pháp luật hiện hành quy định các biện
pháp xử lý khiếm khuyết của VBQPPL như
sau: đình chỉ, sửa đổi, bãi bỏ VBQPPL3.
Đình chỉ thi hành một VBQPPL là biện
pháp nhằm ngăn chặn ngay khả năng tiếp
tục gây ra những ảnh hưởng xấu của nó. Về
nguyên tắc, khi áp dụng quyền “đình chỉ”
thì VBQPPL vẫn còn tồn tại. VBQPPL bị
đình chỉ thì ngừng hiệu lực thi hành cho đến
khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền. Trường hợp cơ quan
nhà nước có thẩm quyền ra quyết định bãi
bỏ thì quyết định đó hết hiệu lực, nếu không
bãi bỏ thì quyết định tiếp tục có hiệu lực.
Như vậy, bãi bỏ VBQPPL là chế tài nghiêm
khắc nhất, dứt khoát nhất và rõ ràng nhất.
Trong khi đó, sửa đổi VBQPPL là việc cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ra một quyết
định khác để làm thay đổi tên quyết định
hoặc thay đổi một phần nội dung trong
khi vẫn giữ nguyên hiệu lực pháp lý của
VBQPPL bị sửa đổi. Sửa đổi VBQPPL đã
ban hành được áp dụng trong trường hợp
chủ thể có thẩm quyền tự sửa đổi quyết định
của mình. Tuy nhiên, trường hợp này không
thể xem là chế tài pháp lý. Ngoài ra, Luật
Ban hành VBQPPL năm 2015 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều năm 2020 (Luật
Ban hành VBQPPL) còn sử dụng thuật ngữ
“bổ sung”, “thay thế”. Tuy nhiên, thuật
ngữ “bổ sung”, “thay thế” không có nội
dung pháp lý mới, vì nó được bao hàm trong
quyền ban hành văn bản: ban hành một văn
bản hay một số quy phạm có thể để “bổ
sung”, “thay thế” văn bản, quy phạm cũ4.
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013,
Quốc hội bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước,
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH),
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của
Quốc hội (khoản 10 Điều 70). UBTVQH
đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái
với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ
văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn
bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết
của UBTVQH (khoản 4 Điều 74).
Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp
năm 2013, Điều 15 Luật Tổ chức Quốc hội
năm 2014 đã được sửa đổi, bổ sung một số
điều năm 2020 (Luật Tổ chức Quốc hội)
quy định: “1. Quốc hội bãi bỏ văn bản
của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan khác
do Quốc hội thành lập trái với Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội theo đề nghị
của UBTVQH; 2. Quốc hội bãi bỏ văn bản
của UBTVQH trái với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội theo đề nghị của Chủ
tịch nước”; Điều 51 quy định UBTVQH
đình chỉ hoặc theo đề nghị của Hội đồng
dân tộc, Ủy ban của Quốc hội hoặc đại biểu
Quốc hội đình chỉ việc thi hành văn bản của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, cơ quan khác do Quốc hội thành
lập trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết
của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định
việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất.
UBTVQH bãi bỏ hoặc theo đề nghị của Hội
đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội hoặc
đại biểu Quốc hội bãi bỏ văn bản của Chính
3 Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2020.
4 Nguyễn Cửu Việt, “Các yếu tố cấu thành thẩm quyền và tính hệ thống của thẩm quyền”, Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp số 9, năm 2005.
Số 12(436) - T6/2021
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân Luật Ban hành VBQPPL, Quốc hội bãi bỏ
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ
quan khác do Quốc hội thành lập trái với
pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH.
VBQPPL của Chủ tịch nước, UBTVQH,
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm
toán nhà nước trái với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội. Khoản 3 Điều 164
quy định UBTVQH đình chỉ việc thi hành
VBQPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Tổng Kiểm toán nhà nước trái với Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình
Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản
đó tại kỳ họp gần nhất. UBTVQH bãi bỏ
VBQPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Tổng Kiểm toán nhà nước trái với pháp
lệnh, nghị quyết của UBTVQH.
Như vậy, so với khoản 10 Điều 70 Hiến
pháp năm 2013, Điều 15 Luật Tổ chức Quốc
hội đã bổ sung thêm thẩm quyền của Quốc
hội trong việc bãi bỏ văn bản của cơ quan
khác do Quốc hội thành lập trái với Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. Tương
tự, so với khoản 4 Điều 74 Hiến pháp năm
2013, Điều 51 Luật Tổ chức Quốc hội đã bổ
sung thêm thẩm quyền của UBTVQH trong
việc đình chỉ văn bản của cơ quan khác do
Quốc hội thành lập trái với Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội và bãi bỏ văn bản
của cơ quan khác do Quốc hội thành lập trái
với pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH.
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013,
Luật Tổ chức Quốc hội, các cơ quan khác
do Quốc hội thành lập bao gồm: bộ, cơ quan
ngang bộ; Kiểm toán nhà nước; Hội đồng
bầu cử quốc gia; Ủy ban lâm thời; Ủy ban
dự thảo Hiến pháp. Trong các cơ quan khác
do Quốc hội thành lập nêu trên, người đứng
đầu bộ, cơ quan ngang bộ (Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ), Kiểm toán nhà
nước (Tổng Kiểm toán nhà nước) có thẩm
quyền ban hành VBQPPL5. Nếu VBQPPL
của do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang bộ ban hành trái với Hiến pháp, luật
và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên
sẽ bị Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi
Luật Ban hành VBQPPL năm 2015
không quy định thẩm quyền xử lý (đình chỉ,
bãi bỏ) của Quốc hội và UBTVQH đối với
các văn bản liên tịch như nghị quyết liên
tịch, thông tư liên tịch trái với Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh,
nghị quyết của UBTVQH. Vấn đề này
được điều chỉnh bởi Luật Hoạt động giám
sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân
(HĐND) năm 2015. Tuy nhiên, Luật Hoạt
hành hoặc bãi bỏ6. Theo khoản 2 Điều 164 động giám sát của Quốc hội và HĐND lại
5 Khoản 7 Điều 70 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ
tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân
tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán Nhà nước, người đứng đầu cơ quan
khác do Quốc hội thành lập”. Do đó, có thể khẳng định, “cơ quan khác do Quốc hội thành lập” và “người đứng
đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập” là hai khái niệm khác nhau và không thể đồng nhất.
6 Khoản 4 Điều 98 Hiến pháp năm 2013 và khoản 8 Điều 28 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều năm 2019 đều quy định: “Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ
văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà
nước cấp trên”.
10
Số 12(436) - T6/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
không quy định thẩm quyền của Quốc hội tổ chức, cá nhân có đề nghị trình bày. Sau
và UBTVQH trong việc xử lý thông tư liên
tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ nếu văn bản này
trái Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan
nhà nước cấp trên.
đó, đại diện cơ quan thẩm tra trình bày báo
cáo thẩm tra. Người đứng đầu cơ quan, cá
nhân đã ban hành VBQPPL có dấu hiệu trái
với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH
báo cáo, giải trình về vấn đề có liên quan.
UBTVQH thảo luận và ra nghị quyết về
việc xem xét VBQPPL. Trường hợp xác
định VBQPPL trái với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết
của UBTVQH thì UBTVQH quyết định
đình chỉ việc thi hành và trình Quốc hội
quyết định việc bãi bỏ một phần hoặc toàn
bộ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất. Trường
hợp văn bản trái pháp lệnh, nghị quyết của
UBTVQH thì UBTVQH bãi bỏ một phần
hoặc toàn bộ văn bản đó.
1.2. Thủ tục xử lý VBQPPL do cơ quan
nhà nước, cá nhân ở Trung ương ban hành
trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội; pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH
Theo quy định của khoản 2 Điều 14 Luật
Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND,
Quốc hội xem xét VBQPPL có dấu hiệu trái
với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội khi được UBTVQH hoặc Chủ tịch nước
đề nghị. Cụ thể, UBTVQH hoặc Chủ tịch
nước sẽ trình bày tờ trình. Sau đó, đại diện
cơ quan thẩm tra trình bày báo cáo thẩm
tra. Người đứng đầu cơ quan đã ban hành
VBQPPL có dấu hiệu trái với Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội sẽ báo cáo,
giải trình. Sau đó, Quốc hội thảo luận và ra
nghị quyết về việc xem xét VBQPPL có dấu
hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết.
Trường hợp khẳng định VBQPPL đó trái
với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội thì Quốc hội sẽ bãi bỏ một phần hoặc
toàn bộ văn bản đó.
Cũng theo quy định của Luật Hoạt
động giám sát của Quốc hội và HĐND,
UBTVQH sẽ tự mình xem xét khi phát hiện
VBQPPL có dấu hiệu trái với Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,
nghị quyết của UBTVQH. Ngoài ra, việc
xem xét VBQPPL của UBTVQH còn phát
sinh theo đề nghị của Hội đồng dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Chính
phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước,
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
2. Bất cập trong quy định của pháp luật
về xử lý văn bản quy phạm pháp luật do
cơ quan nhà nước, cá nhân ở Trung ương
ban hành
Thứ nhất, quy định về xử lý VBQPPL do
cơ quan nhà nước, cá nhân ở Trung ương
ban hành trái với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết
của UBTVQH còn tản mạn, chưa đầy đủ.
Như đã đề cập ở trên, có nhiều văn bản
luật quy định về vấn đề xử lý VBQPPL trái
với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH. Tuy
nhiên, các văn bản pháp luật hiện hành không
quy định chủ thể nào có thẩm quyền đình chỉ,
bãi bỏ “Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước,
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ”
trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội; pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH
cho dù Điều 26 Luật Ban hành VBQPPL quy
định: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
Nam, cơ quan Trung ương của tổ chức thành trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng
viên của Mặt trận. Cụ thể, đại diện cơ quan, Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng
Số 12(436) - T6/2021
11
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
cơ quan ngang bộ ban hành thông tư liên tịch
để quy định về việc phối hợp của các cơ quan
này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục tố
tụng và phòng, chống tham nhũng. Vì vậy,
trường hợp thông tư liên tịch này có dấu hiệu
trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH thì sẽ
không có cơ sở để xử lý.
nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, cơ quan Trung ương của tổ chức
thành viên của Mặt trận hoặc đại biểu Quốc
hội có quyền gửi đề nghị về VBQPPL có
dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết
của Quốc hội đến UBTVQH để trình Quốc
hội xem xét, quyết định. Trường hợp pháp
lệnh, nghị quyết của UBTVQH, nghị quyết
liên tịch giữa UBTVQH với Đoàn Chủ tịch
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội thì Chính phủ, Tòa
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan
Trung ương của tổ chức thành viên của Mặt
trận hoặc đại biểu Quốc hội có quyền gửi
đề nghị đến Chủ tịch nước để trình Quốc
hội xem xét, quyết định. Như vậy, trước khi
UBTVQH hoặc Chủ tịch nước chính thức
trình Quốc hội xem xét VBQPPL có dấu
hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết
của Quốc hội thì cũng phải có một chủ thể
có thẩm quyền gửi đề nghị đến UBTVQH
hoặc Chủ tịch nước. Có lẽ vì hệ thống hai
tầng “đề nghị” nên quyền bãi bỏ văn bản
của Quốc hội trở nên quá xa vời. Thực tế
là cho đến nay, Quốc hội chưa lần nào bãi
bỏ VBQPPL trái với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội.
Thứ hai, thủ tục xử lý đối với VBQPPL
do cơ quan nhà nước, cá nhân ở Trung
ương ban hành trái với Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị
quyết của UBTVQH còn phức tạp.
Khi phát hiện VBQPPL trái với Hiến
pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết, UBTVQH
sẽ tự mình đình chỉ, bãi bỏ VBQPPL này.
Trong trường hợp này, UBTVQH tự khởi
xướng việc xử lý VBQPPL trái với Hiến
pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết. Ngoài
ra, có những trường hợp UBTVQH không
phát hiện thì việc đình chỉ, bãi bỏ VBQPPL
dựa trên quyền đề nghị của những chủ
thể có thẩm quyền. Trong trường hợp thứ
nhất, quyền tự chủ thuộc về UBTVQH.
Trong khi đó, trường hợp thứ hai lại phụ
thuộc vào quyền đề nghị của chủ thể khác.
Không giống như UBTVQH, Quốc hội
bãi bỏ VBQPPL có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội khi
được UBTVQH hoặc Chủ tịch nước đề
nghị. Nói cách khác, việc bãi bỏ VBQPPL
có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội lại không phải là một
nội dung thuộc quyền chủ động hoàn toàn
của Quốc hội. Theo cách này thì quyền bãi
bỏ VBQPPL của Quốc hội chỉ được khởi
xướng khi có đề nghị của một trong hai chủ
thể là UBTVQH hoặc Chủ tịch nước.
Bên cạnh đó, một câu hỏi được đặt ra là
trường hợp chủ thể có thẩm quyền (Chính
phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
cơ quan Trung ương của tổ chức thành viên
của Mặt trận hoặc đại biểu Quốc hội…)
“gửi đề nghị” VBQPPL có dấu hiệu trái
với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội nhưng người có thẩm quyền kiến nghị
là UBTVQH hoặc Chủ tịch nước lại không
“nhận thấy” mâu thuẫn và không tiến hành
“đề nghị chính thức” thì giải quyết như thế
nào? Trong trường hợp này, vấn đề “đề nghị
Điều 14 Luật Hoạt động giám sát của
Quốc hội và HĐND quy định, Chủ tịch
nước, Chính phủ, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban
của Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà
12
Số 12(436) - T6/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
chính thức” sẽ không được tiến hành hay
vẫn có cơ chế giải quyết đặc thù khác? Các
quy định trong pháp luật hiện hành chưa trả
lời câu hỏi này.
Luật Ban hành VBQPPL theo hướng bổ
sung thẩm quyền của Quốc hội bãi bỏ thông
tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trái
với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội; bổ sung thẩm quyền của UBTVQH
đình chỉ thông tư liên tịch giữa Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán
nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang bộ trái với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết
định việc bãi bỏ, bãi bổ thông tư liên tịch
giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ trái với pháp lệnh,
nghị quyết của UBTVQH.
3. Hoàn thiện quy định của pháp luật về
xử lý văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền ở
Trung ương ban hành
Thứ nhất, thống nhất điều chỉnh việc xử
lý VBQPPL của cơ quan nhà nước, cá nhân
có thẩm quyền ở Trung ương ban hành
trong một văn bản luật nhằm khắc phục tình
trạng tản mạn cơ sở pháp lý.
Như đã trình bày, hiện nay, việc xử lý
VBQPPL khiếm khuyết được điều chỉnh
trong nhiều văn bản luật dẫn đến thực
trạng là khi phát sinh VBQPPL cần xử lý
thì Quốc hội, UBTVQH phải căn cứ vào
các văn bản khác nhau. Vì vậy, vấn đề cần
thiết đặt ra là cần thống nhất điều chỉnh việc
xử lý VBQPPL trong một văn bản luật cụ
thể. Theo tác giả, Luật Ban hành VBQPPL
được xem là “luật của luật”, là cơ sở pháp
lý cho việc ban hành, xử lý VBQPPL của
Việt Nam; vì vậy, cần thống nhất điều chỉnh
việc xử lý VBQPPL của cơ quan nhà nước,
cá nhân có thẩm quyền ở Trung ương ban
hành vào văn bản này.
Thứ ba, trong thời gian tới chúng ta cần
tiếp tục nghiên cứu triển khai thực hiện
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X của Đảng: “Xây dựng, hoàn thiện cơ
chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp
pháp trong các hoạt động và quyết định của
các cơ quan công quyền”7 và “xây dựng
cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến
pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp,
tư pháp”8. Bởi lẽ, hoạt động giám sát tối
cao của Quốc hội mang tính chất chính trị
vĩ mô và khác xa với việc phán quyết về
tính hợp pháp trong VBQPPL của các cơ
quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền ở
Trung ương ban hành - một hoạt động vốn
mang tính chất chính trị - pháp lý - kỹ thuật
vi mô9. Do đó, không nên đặt Quốc hội, cơ
quan quyết định chính sách vĩ mô, vào vị trí
cơ quan tài phán xem xét về tính hợp pháp
Thứ hai, bổ sung thẩm quyền xử lý
VBQPPL do cơ quan nhà nước, cá nhân ở
Trung ương ban hành trái với Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh,
nghị quyết của UBTVQH.
Để khắc phục bất cập về thẩm quyền xử
lý VBQPPL do cơ quan nhà nước, cá nhân
ở Trung ương ban hành trái với Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh,
nghị quyết của UBTVQH, tác giả cho rằng,
cần sửa đổi khoản 2 và khoản 3 Điều 164
trong VBQPPL
7 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, 2006, tr. 126.
8 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, 2006, tr. 127.
9
Trần Ngọc Đường, “Một số suy nghĩ về nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội”, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp số 7, năm 2009.
Số 12(436) - T6/2021
13
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
XꢈC LẬP TƯ CꢈCH PHꢈP LÝ CHO TRÍ TUꢆ NHÂN TꢂO
Bùi Thị Hằng Nga*
Nguyễn Thảo Linh**
* Giảng viên KhoB Luật Kinh tế, Trường Đđi họ́ Kinh tế - Luật.
** Sinh viên ngành Luật Thương mđi quố́ tế (K18502), Trường Đđi họ́ Kinh tế - Luật
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Mặc dù trí tuệ nhân tạo (AI) mới được quan tâm gần đây tại Việt Nam,
nhưng với những tiềm lực sẵn có, AI hứa hẹn sẽ phát triển vượt bậc trong
tương lai ở nước ta. Để tận dụng triệt để những lợi thế mà AI mang lại
cho nền kinh tế thì việc dự báo những thách thức về mặt pháp lý cũng
như trù liệu giải pháp giải quyết là việc nên làm. Theo đó, việc xác
định rõ tư cách pháp lý cho AI là vấn đề tiên quyết, tạo nền tảng thiết
lập khung pháp lý điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật phát sinh xung
quanh AI như quan hệ sở hữu, lao động, sở hữu trí tuệ...
Từ khóa: Trí tuệ nhân tạo, Tư
cách pháp lý.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 10/5/2021
: 22/5/2021
: 27/5/2021
Article Infomation:
Abstract:
Althoughartificialintelligence(AI)hasrecentlybeeninterestedinVietnam,
with the available potentials, it is expected to develop AI dramatically
in the future in our country. It is advisable to forecast legal challenges
as well as plan solutions to take full advantage of the advantages that
AI providing to the economy. Accordingly, clearly defining the legal
status for AI is a prerequisite, creating a foundation for establishing a
legal framework governing legal relationships arising around AI such as
ownership, employment, intellectual property etc.
Keywords: Artificial
Intelligence, legal eligibility.
Article History:
Received
Edited
: 10 May 2021
: 22 May 2021
: 27 May 2021
Approved
1. Trí tuệ nhân tạo và sự cần thiết xác lập
tư cách pháp lý cho trí tuệ nhân tạo
hiện tại, có rất nhiều định nghĩa về AI được
đưa ra nhưng chưa có một định nghĩa thống
nhất. Một số định nghĩa về AI được đưa ra
như sau:
1.1. Tổng quan về trí tuệ nhân tạo
“Trítuệnhântạo”(ArtificialIntelligence-
AI) được định nghĩa lần đầu vào năm 1955
bởi John McCarthy - nhà khoa học máy tính
và khoa học nhận thức của Hoa Kỳ. Theo
đó, AI là bộ môn khoa học và kỹ thuật chế
tạo máy thông minh1. Tính tới thời điểm
(i) AI là các hệ thống suy nghĩ (thông
minh) như con người2;
(ii) AI là các hệ thống suy nghĩ một cách
hợp lý3;
1 A Brief History of AI (2018), AITopics, retrieved on 17/01/2021, from <https://aitopics.org/misc/brief-history>.
2 Bellman (1978) định nghĩa: trí tuệ nhân tạo là tự động hóa các hoạt động phù hợp với suy nghĩ con người,
chẳng hạn các hoạt động ra quyết định, giải bài toán. Xem thêm R. E. Bellma (1978), An Introduction to
Artificial Intelligence: Can Computers Think?, Boyd & Fraser Publishing Company, San Francisco
3 Winston (1992) cho rằng trí tuệ nhân tạo là lĩnh vực nghiên cứu các tính toán để máy có thể nhận thức, lập
luận và hành động. Xem thêm P. H. Winston (1992), Artificial Intelligence (Third Edition), Addison-Wesley,
Reading, Massachusetts.
14
Số 12(436) - T6/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
(iii) AI là các hệ thống hành động, thông minh hơn nhiều so với trí thông minh của
con người8.
minh như con người4;
1.2. Sự cần thiết xác lập tư cách pháp lý
cho trí tuệ nhân tạo
(iv) AI là các hệ thống hành động một
cách hợp lý5.
Sau nhiều thập kỷ bị xếp vào hàng viễn
tưởng - những ý tưởng được cho là điên rồ
không thể thành hiện thực, AI giờ đây đã trở
thành một phần trong cuộc sống hiện đại của
chúng ta. Trong thực tiễn một số ứng dụng
AI có thể kể đến như: Nhận dạng chữ viết,
nhận dạng tiếng nói, dịch tự động, tìm kiếm
thông tin, khai phá dữ liệu và phát triển tri
thức, lái xe tự động, robot... Các lĩnh vực
sử dụng AI có hiệu quả và chất lượng tăng
lên rõ rệt, góp phần thay đổi sâu sắc nhiều
khía cạnh của cuộc sống. Tuy nhiên, việc
AI đang ngày càng có sức ảnh hưởng đến
mọi khía cạnh trong cuộc sống cũng tiềm ẩn
nhiều vấn đề mà hầu hết hệ thống pháp luật
các nước chưa có cơ chế giải quyết hoặc
giải quyết chưa triệt để. Đơn cử như AI có
thể tự mình sáng tạo nên những bức tranh9,
hiện thực này đặt ra dấu hỏi lớn trong việc
xác định bản quyền và quyền tác giả đối với
các tác phẩm đặc biệt này. Thêm vào đó, AI
tiềm ẩn nguy cơ vượt khỏi sự kiểm soát của
Hiểu một cách đơn giản, AI là một nhánh
của khoa học máy tính liên quan đến việc
xây dựng các máy móc thông minh có khả
năng thực hiện các tác vụ mang trí tuệ con
người6. Trí tuệ này tuy do con người tạo ra
nhưng có thể học hỏi, tư duy như con người.
AI được chia thành hai loại phổ biến
sau đây:
Thứ nhất, theo chức năng, AI được chia
thành 04 cấp độ: máy phản ứng (Reactive
machines), AI với bộ nhớ giới hạn (Limited
memory), AI gắn với lý thuyết về tâm trí
(Theory of mind) và cấp độ cao nhất: AI có
khả năng tự nhận thức (Self-awareness)7.
Thứ hai, theo khả năng tư duy – đây cũng
là cách phân loại phổ biến hơn khi AI được
chia thành 3 loại: Narrow AI, General AI và
Strong AI. Đối với Narrow AI, loại này chỉ
có thể giải quyết một công việc cụ thể trong
phạm vi được hướng dẫn. Với General AI,
trí tuệ nhân tạo này có thể thực hiện bất kỳ
nhiệm vụ sử dụng trí tuệ nào có độ chính con người, bởi lẽ các máy học có thể đạt
xác tương đương như con người. Ở cấp tới trình độ tự giải quyết vấn đề. Mặc dù ở
độ cao nhất - Strong AI, được coi là thông thời điểm hiện tại, AI mới chỉ dừng lại là
4
Rich và Knight (1991) cho rằng Trí tuệ nhân tạo là khoa học nghiên cứu xem làm thế nào để máy tính có
thể thực hiện những công việc mà hiện con người còn làm tốt hơn máy tính. Xem thêm E Rich & K Knight
E. Rich (1991), Artificial Intelligence (Second Edition), McGraw (Second Edition), McGraw-Hill New York
Hill, New York.
5 Thuộc nghiên cứu các hành vi thông minh mô phỏng các vật thể nhân tạo (Nilsson, 1998). Xem thêm N. J.
Nilsson (1998), Artificial Intelligence: A New Synthesis, Morgan Kaufmann, San Mateo, C lif in California..
6 What is Artificial Intelligence? How Does AI Work? (2016), retrieved on 17/01/2021, from <https://builtin.
com/artificial-intelligence>..
7 Arend Hintze (2016), Understanding the Four Types of Artificial Intelligence, Michigan State University,
Artificial-Intelligence.html>.
8 Kateryna Nekit, Vira Tokareva & Volodymyr Zubar (2020), “Artificial intelligence as a potential subject of
property and intellectual property relations”, Ius Humani Law Journal, vol 9 no 1, pp. 237-238.
9
Bức tranh “Chân dung của Edmond Belamy” được sáng tác bởi AI do nhóm 3 nghệ sĩ Pháp sở hữu. Xem
thêm: Is artificial intelligence set to become art’s next medium? (2018), retrieved on 19/01/2021, from <https://
www.christies.com/features/A-collaboration-between-two-artists-one-human-one-a-machine-9332-1.aspx>.
Số 12(436) - T6/2021
15
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
hệ thống máy móc với khả năng giới hạn,
nhưng trong tương lai, vấn đề xảy ra khi các
hệ thống có thể tự học để thực hiện những
nhiệm vụ mà không có định hướng hay giám
sát từ con người được một số nghiên cứu gọi
là sự tự trị10. Stephen Hawking - Nhà vật lý
người Anh, nhận định rằng: “Trí tuệ nhân
tạo có thể là một sự kiện (tốt) lớn nhất trong
lịch sử nhân loại, hoặc nó có thể là một sự
kiện tồi nhất mà chúng ta vẫn chưa biết”11.
Do đó, để quản lý, kiểm soát AI một cách
tối ưu và tận dụng triệt để lợi ích nó mang
lại thì việc dự trù, thiết lập khung pháp lý
điều chỉnh những vấn đề phát sinh liên quan
đến AI là điều cần thiết. Theo đó, việc cấp
bách đầu tiên cần giải quyết là “định vị” AI
trong hệ thống pháp luật.
trở thành “người lao động” thực thụ là hoàn
toàn có căn cứ. Do đó, sẽ là thiếu thuyết phục
nếu coi AI là một tài sản, công cụ hay sản
phẩm, chúng cần được trao tư cách pháp lý
và các quyền, nghĩa vụ tương ứng khi tham
gia vào các quan hệ xã hội. Mặt khác, do tồn
tại định kiến với AI, trên thực tế con người
đã có những hành động bạo lực đối với
những cỗ máy này. Trong tương lai khi AI
tiên tiến hơn, chúng có khả năng suy nghĩ
và hành động gần như con người thì việc đặt
ra cơ chế bảo vệ AI là cần thiết. Ngược lại,
trường hợp AI gây hại cho con người cũng
hoàn toàn có thể xảy ra. Vì vậy, việc xác định
tư cách pháp lý của AI sẽ là tiền đề để quản
lý, giám sát AI, tránh việc AI gây tổn hại đến
đời sống xã hội.
Khi AI đạt đến trình độ phát triển nhất
định, chúng không còn là những thực thể vô
tri vô giác, chúng có khả năng nhận thức, học
hỏi, tự đưa ra quyết định, có khả năng độc lập
sáng tạo. Nhu cầu của mọi người đối với các
cỗ máy thông minh ngày càng cao chính là
động lực thúc đẩy sự phát triển củaAI. Trong
tương lai, việc AI tham gia vào các quan hệ
xã hội cùng với các chủ thể khác là hoàn toàn
có thể, điều này sẽ làm phát sinh các quan hệ
pháp luật mới cần điều chỉnh. Điều gì sẽ xảy
ra khi một robot tích hợp AI thực hiện cách
hành vi gây hại cho con người, chế tài đối với
thực thể này như thế nào hay một khiAI tham
gia vào các quan hệ xã hội làm phát sinh các
vấn đề pháp lý thì sẽ được điều chỉnh như thế
nào? Điển hình là khả năng tham gia xác lập
quan hệ lao động củaAI. Năm 2018, Báo cáo
về thị trường việc làm của Diễn đàn Kinh
tế thế giới dự đoán, vào năm 2025, robot và
máy móc được điều khiển bởi AI sẽ thực
hiện phân nửa các chức năng sản xuất tại nơi
làm việc; ở viễn cảnh xa hơn, triển vọng AI
Trao tư cách pháp lý cho AI đồng nghĩa
với việc trao một số quyền nhất định tương
xứng với những đặc tính mà AI có và hỗ trợ
cho những đóng góp của nó trong xã hội.
Tuy nhiên, AI cần được xem xét như một chủ
thể mới trong quan hệ pháp luật chứ không
xếp nó vào nhóm chủ thể hiện có. Bởi lẽ, AI
mang những đặc điểm không đồng nhất với
các chủ thể của quan hệ pháp luật hiện tại:
mặc nhiên AI không mang đặc điểm của một
tổ chức, AI là một thực thể nhân tạo, không
phải thực thể tự nhiên như con người.
2. Quy định của pháp luật của một số
nước trên thế giới về tư cách pháp lý của
trí tuệ nhân tạo
Trên bình diện quốc tế, song song với
việc nghiên cứu phát triển và ứng dụng AI,
giải quyết các thách thức pháp lý mà AI
mang lại luôn là vấn đề mà các chính phủ và
giới học giả quan tâm. Nhiều nước trên thế
giới đã tiến hành nghiên cứu và có những
bước đi đáng kể trong việc xây dựng hành
10 European Group on Ethics in Science and New Technologies, Statement on Artificial Intelligence, Robotics
and “Autonomous” Systems, Luxembourg: Publications Office of the European Union, 2018.
11
Wil M. P. van der Aalst. (2016), Process Mining - Data Science in Action, 2nd edition, Springer.
16
Số 12(436) - T6/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội
liên quan đến AI12.
quyền tự chủ của robot được hỗ trợ bởi AI và
mức độ tham gia của bên thứ ba vào việc điều
khiển robot. Nghị Quyết “[...] lưu ý rằng, ít
nhất ở giai đoạn hiện tại, trách nhiệm phải
thuộc về con người chứ không phải robot”14;
theo đó, khi xung đột pháp lý phát sinh, robot
không thể chịu trách nhiệm về các hành động
và/hoặc không hành động mà trách nhiệm
sẽ thuộc về người dùng, nhà phát triển phần
mềm hoặc nhà sản xuất. Thêm vào đó, Nghị
quyết còn đưa các đề xuất “tạo một tình trạng
pháp lý cụ thể cho robot về lâu dài, để ít nhất
robot tự động tinh vi nhất có thể được thiết
lập như có tư cách của những cá nhân điện tử
chịu trách nhiệm giải quyết mọi thiệt hại mà
chúng có thể gây ra và có thể áp dụng nhân
cách điện tử15 (electronic personality) cho các
trường hợp robot đưa ra quyết định tự chủ
hoặc tương tác với các bên thứ ba một cách
độc lập”16.
Sự kiện đánh dấu cột mốc đầu tiên trong
lịch sử công nhận quyền công dân cho robot
trên thế giới là vào năm 2017, tại Ả Rập Xê
Út, quốc gia này đã trao quyền công dân cho
robot xã hội Sophia13. Theo David Hanson-
cha đẻ của robot này, Sophia được tạo ra
nhằm mục đích “lên tiếng về quyền của phụ
nữ” ở Ả Rập Xê Út. Hanson cũng tin rằng các
quyền của robot là tiền đề quan trọng để “trở
thành con người” - điều này là có khả năng
khi robot bắt đầu chia sẻ suy nghĩ có ý thức
với con người. Ông giải thích: “Nó không chỉ
đòi hỏi khả năng thể chất, mà còn là cảm giác
khao khát tự chủ, cũng như sự tò mò và nhận
thức về trạng thái của một người”.
Ngày 16/2/2017, Nghị viện châu Âu đã
thông qua Nghị quyết với các khuyến nghị đối
với Ủy ban về Quy tắc Luật Dân sự về robot
(Nghị Quyết). Nội dung của Nghị Quyết này
bao gồm việc xác định các loại hình sử dụng
AI, các vấn đề về trách nhiệm pháp lý, đạo
đức và cung cấp các quy tắc ứng xử cơ bản
cho các nhà phát triển, nhà điều hành và nhà
sản xuất trong lĩnh vực robot, các quy tắc
dựa trên ba định luật về công nghệ rô bốt của
Azimov (1942). Trong tương lai gần, Nghị
quyết xác định vấn đề quan trọng đầu tiên là
Ở Nga, trong quá trình sửa đổi Bộ luật Dân
sự (BLDS) Liên bang Nga, một dự thảo luật
về lĩnh vực robot có tên là “Robot-Agent” đã
được như là một chủ thể của quan hệ dân sự,
tham gia vào hoạt động dân sự theo quyết định
của chủ sở hữu và dựa trên các tính năng thiết
kế của nó17, bất kể quyền tự chủ của robot,
áp đặt tất cả trách nhiệm cho nhà phát triển,
người vận hành hoặc nhà sản xuất robot và
12 A. Atabekov, O. Yastrebov (2018), “Legal Status of Artificial Intelligence Across Countries: Legislation on
the Move”, European Research Studies Journal, XXI(4), pp.773-782.
13 Sophia là robot hình người được phát triển bởi Hansen Robotics Technology có trụ sở tại Hồng Kông, Trung
Quốc. Sophia xuất hiện lần đầu tiên vào tháng tư năm 2015 tại Liên hoan South By Southwest Texas, với cấu
thành từ ba phần: trí tuệ ở mức rất cơ bản để trả lời những câu hỏi đơn giản, khả năng diễn thuyết với tài liệu
được cung cấp sẵn và kết hợp thuật toán để ngắt nối câu từ sao cho hợp lý. Ngoài ra, còn có một hệ thống
sử dụng chatbot kết hợp với cơ khí, giúp Sophia có thể nhận dạng khuôn mặt, lắng nghe để lọc ra những “từ
khóa”, sau đó lựa chọn những câu trả lời được soạn sẵn để phát ngôn. Sophia chỉ có thể trả lời những câu hỏi
khi được kết nối với Internet, máy tính và chỉ giới hạn trong những thông tin mình có được.
14
European Parliament resolution of 16 February 2017 with recommendations to the Commission on Civil
Law Rules on Robotics (2015/2103(INL)), para 59(f), retrieved on 20/01/2021, from <https://eur-lex.europa.
eu/legal-content/EN/TXT/?uri=CELEX%3A52017IP0051>.
15 Xem tài liệu đã dẫn tại chú thích 15.
16 Xem tài liệu đã dẫn tại chú thích 15.
17 Xem tài liệu đã dẫn tại chú thích 19.
Số 12(436) - T6/2021
17
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
bao gồm các vấn đề về quyền đại diện của
robot trước tòa án, các cơ quan giám sát...18
Có thể thấy, sự phát triển mạnh mẽ của
AI chính là động lực thúc đẩy các nhà lập
pháp nghiên cứu, thiết lập khung pháp lý
điều chỉnh các vấn đề phát sinh mà AI mang
lại ở thời điểm hiện tại cũng như các thách
thức về mặt pháp lý trong tương lai. Một số
quốc gia trên thế giới đã có những động thái
tích cực trong việc giải quyết các vấn đề này.
Nhìn chung, về tư cách pháp lý của AI có 2
hướng giải quyết sau đây:
Thứ nhất, xét AI có các quyền và nghĩa
vụ như con người, nhưng phần lớn pháp luật
quốc gia và quốc tế đều không đi theo cách
tiếp cận này;
Thứ hai, coi AI là một đối tượng đặc biệt
trong hệ thống pháp luật với bản chất là một
công cụ, hoàn toàn không được trao các
quyền như con người.
và chuỗi ADN, là robot hội tụ rất nhiều công
nghệ như AI, dữ liệu lớn, vạn vật kết nối,
điện toán đám mây... Về khả năng, robot
này có thể trả lời được kiến thức về hầu hết
mọi lĩnh vực, có thể nhận dạng khuôn mặt,
nhận dạng hình ảnh và đo được nhịp tim của
người đối diện. Có thể nói, Trí Nhân chính
là thành công lớn của ngành khoa học AI
tại Việt Nam, hứa hẹn sự phát triển của AI
và ứng dụng rộng rãi của nó vào cuộc sống
trong tương lai19.
Tuy nhiên, bên cạnh chính sách phát
triển AI được chú trọng, nhưng việc dự liệu,
thiết lập khung pháp lý điều chỉnh các vấn
đề phát sinh liên quan đến AI lại chưa được
quan tâm đúng mức. Xét tổng thể, trong hệ
thống pháp luật của nước ta hiện nay, không
gian pháp lý điều chỉnh các quan hệ pháp
luật có sự tham gia của công nghệ còn hạn
hẹp, không thể xử lý được các vấn đề phát
sinh liên quan đến AI. Do đó, việc chuẩn
bị những giải pháp, kịch bản cụ thể trước
viễn cảnh AI phát triển mạnh tại Việt Nam
là hết sức cần thiết. Để có những giải pháp
tối ưu giải quyết các thách thức pháp lý mà
AI mang lại, theo xu hướng chung, việc đầu
tiên là xác định tư cách pháp lý cho AI.
Theo quy định của BLDS của nước ta, chủ
thể của quan hệ pháp luật là cá nhân, pháp
nhân20. DoAI là thực thể nhân tạo, không phải
thực thể tự nhiên như con người; do đó, không
thể gộp AI vào nhóm chủ thể là cá nhân; hiển
nhiên AI cũng không phải là tổ chức, không
mang các đặc điểm để được công nhận là
pháp nhân. Mặt khác, cũng không nên coi AI
chỉ là một công cụ. Bởi lẽ, trong tương lai,
3. Xác lập tư cách pháp lý cho trí tuệ nhân
tạo tại Việt Nam
Ở Việt Nam, AI được ứng dụng vào
nhiều lĩnh vực của đời sống và đạt được
những thành tựu đáng kể. Đặc biệt, vào
ngày 22/11/2020, trong khuôn khổ Diễn đàn
công nghệ giáo dục EDU 4.0, Người máy
Trí Nhân được ra mắt. Đây là người máy
“make in VietNam” đầu tiên. Trí Nhân ra
đời với mục đích giáo dục, hỗ trợ cho việc
dạy và học của giảng viên và học sinh, sinh
viên. Về cấu tạo, Trí Nhân là một robot nam
có kích thước của một người trưởng thành,
được in 3D với 5 giác quan và các yếu tố
mô phỏng sinh học như tim phổi nhân tạo
18 A.Atabekov, Oleg Aleksandrovich Yastrebov (2018), Legal status of artificial intelligence across countries:
Legislation on the move, European Research Studies Journal, Volume XXI, Issue 4, p. 778–779, retrieved
intelligence_across_countries_Legislation_on_the_move>.
19 Trí Nhân: Người máy AI “Make in Vietnam” lần đầu ra mắt (2020), Thông tin và Truyền thông, truy cập
2172125704.htm >.
20 Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự Việt Nam ban hành ngày 24/11/2015, Điều 1 đã quy định các chủ thể tham
gia vào các quan hệ dân sự phải là cá nhân hoặc pháp nhân.
18
Số 12(436) - T6/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
viễn cảnh AI tự mình tham gia vào các quan
hệ xã hội một cách độc lập là hoàn toàn có thể
xảy ra. Việc coi AI là tài sản, công cụ hay sản
phẩm là chưa phù hợp với trình độ phát triển
của AI. Từ các lập luận này, có thể thấy rằng,
giải pháp tối ưu nhất cho vấn đề là trao tư cách
pháp lý cho AI, coi nó là một chủ thể độc lập
với các chủ thể thực tại, từ đó xây dựng khung
pháp lý riêng điều chỉnh các vấn đề pháp lý
liên quan đến AI.
Khi thiết lập tư cách pháp lý cho AI, cần
xác lập tên gọi cho AI. Chúng tôi cho rằng,
AI là “cá nhân điện tử”. Đây là một cái tên
phù hợp vì có lý do sau:
Thứ nhất, AI là một thực thể nhân tạo,
không phải con người, hoạt động dựa trên
nguyên lý điện tử học.
Thứ hai, pháp luật Việt Nam hiện nay đã
ghi nhận khái niệm “cá nhân” cũng như có
nhiều khái niệm liên quan đến “điện tử”21, do
đó khái niệm cá nhân điện tử sẽ không gây
khó khăn nhiều cho việc giải thích và sử dụng.
Tuy nhiên, không phải bất cứ AI nào “sinh
ra” cũng được trao tư cách pháp lý, mà chỉ có
những AI phát triển đạt đến ngưỡng có thể tự
mình hoạt động độc lập không phụ thuộc vào
con người, cộng thêm với việc được tích hợp
trong cơ thể của một robot, thì AI đó mới có
thể được công nhận là một chủ thể mới của
quan hệ pháp luật. Do vậy, đi kèm với việc trao
tư cách pháp lý thì Nhà nước cần xây dựng
khung tiêu chuẩn đánh giá năng lực riêng cho
AI. Việc đánh giá khả năng của AI để công
nhận tư cách pháp lý cần phải có thời gian
quan sát, nghiên cứu cũng như tham khảo ý
kiến của các chuyên gia về các lĩnh vực công
nghệ để xây dựng bộ tiêu chuẩn và quy trình
giám định kèm theo. Khi được công nhận tư
cách pháp lý, AI sẽ được định dạng như một
chủ thể của quan hệ pháp luật. Tuy nhiên, do
AI không có đầy đủ nhận thức và khả năng
tư duy, chịu trách nhiệm như một thể nhân,
pháp nhân. Vì vậy, các quyền của AI cũng
phải bị giới hạn chứ không hoàn toàn giống
như các quyền của các chủ thể trong quan hệ
pháp luật hiện nay. Các quyền và nghĩa vụ này
sẽ bị giới hạn tương ứng với khả năng tham
gia vào quan hệ xã hội một cách độc lập của
AI. Song song đó là vấn đề trách nhiệm pháp
lý của AI, chúng tôi cho rằng, chúng ta cần
tham khảo Nghị quyết của Nghị viện châu
Âu22. Theo đó, trách nhiệm pháp lý phát sinh
từ AI sẽ thuộc về con người, cụ thể là chủ sở
hữu của cá nhân điện tử này vì các lý do sau:
thứ nhất, trong tương lai gần, AI không thể tự
chịu mọi trách nhiệm pháp lý cho những hành
động của mình mà chỉ có thể chịu trách nhiệm
giới hạn trong khả năng của nó; thứ hai, chủ
sở hữu AI, bên cạnh việc được hưởng lợi từ
các quyền tài sản của AI nên cũng phải đại
diện và chịu trách nhiệm choAI trong các vấn
đề phát sinh khác.
Hiện tại, việc xem xét đặt ra tư cách cho
AI có thể được xem là mới mẻ. Tuy nhiên,
trong tương lai nếu AI đáp ứng đủ điều kiện
thì cần được công nhận tư cách pháp lý. Do
đó, để chuẩn bị cho viễn cảnh AI phát triển
mạnh mẽ tại Việt Nam, việc nghiên cứu, xem
xét, đề ra các dự thảo luật điều chỉnh các vấn
đề có thể phát sinh là điều cần thiết
21 “Điện tử” xuất hiện trong các thuật ngữ pháp lý như “thương mại điện tử”, “tiền điện tử”. Điện tử thường
được hiểu là một không gian điện tử, không gian số lưu giữ giá trị của sự kiện, vật thể đang xác định. Ví dụ,
theo Dự thảo Nghị định quy định về thanh toán không dùng tiền mặt Điều 3 (12), tiền điện tử được xác định là
“giá trị tiền tệ lưu trữ trên các phương tiện điện tử”. Tương tự như vậy, “cá nhân điện tử” có thể được hiểu như
một cá nhân khác với cá nhân sinh học. Tính “cá nhân” của chủ thể này được thể hiện trên nền tảng số, trong
một không gian điện tử. Chính không gian điện tử thay thế cho cơ quan sinh học, sẽ mang vai trò chủ đạo, điều
khiển cá nhân có thể suy nghĩ, hành động. Tương tự với các cơ quan quan trọng của cá nhân tự nhiên khi xác
định sự sống - chết pháp lý, y học, là não và tim, là các cơ quan sinh học.
22 Neznamov, A., Naumov, V. (2017), Model Convention on Robotics and AI, retrieved on 21/01/2021, from
<http://robopravo.ru/matierialy_dlia_skachivaniia#ul-id-4-35>.
Số 12(436) - T6/2021
19
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 12 - Năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tap_chi_nghien_cuu_lap_phap_so_12_nam_2021.pdf

