Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 12 - Năm 2021

VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
VAI TRÒ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI ĐỐI VỚI VIỆC KIỆN TOÀN CÁC CHỨC DANH  
TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TẠI KỲ HỌP THỨ NHẤT CỦA QUỐC HỘI KHÓA MỚI  
XÁC LẬP TƯ CÁCH PHÁP LÝ CHO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO  
Số 12 (436)  
Tháng 6/2021  
BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC THƯƠNG MẠI SÁNG CHẾ - KINH NGHIỆM TỪ NHẬT BẢN  
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
VAI TRÒ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI ĐỐI VỚI VIỆC KIỆN TOÀN CÁC CHỨC DANH  
TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TẠI KỲ HỌP THỨ NHẤT CỦA QUỐC HỘI KHÓA MỚI  
XÁC LẬP TƯ CÁCH PHÁP LÝ CHO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO  
Số 12 (436)  
Tháng 6/2021  
Mục lục Số 12/2021  
BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC THƯƠNG MẠI SÁNG CHẾ  
-
KINH NGHIỆM TỪ NHẬT BẢN  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Vai trꢀ cꢁa đꢂi biꢃu Quꢄc hꢅi đꢄi với viꢆc kiꢆn toꢇn cꢈc chꢉc  
danh trong bꢅ mꢈy nhꢇ nước tꢂi kỳ họp thꢉ nhất cꢁa Quꢄc  
hꢅi khóa mới  
3
Nguyễn Thị Thanh  
Thẩm quyền cꢁa Quꢄc hꢅi, Ủy ban Thường vụ Quꢄc hꢅi trong  
viꢆc xử lý văn bản quy phꢂm phꢈp luật do cơ quan nhꢇ nước,  
cꢈ nhân ở Trung ương ban hꢇnh  
8
TS. Cao Vꢀ Minh  
Xꢈc lập tư cꢈch phꢈp lý cho trí tuꢆ nhân tꢂo  
14  
20  
Bùi Thị Hằng Nga - Nguyễn Thảo Linh  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Hoꢇn thiꢆn cꢈc quy định cꢁa phꢈp luật về tꢂm giữ tiền,  
đồ vật, giấy phép sử dụng trꢈi phꢈp luật trong hoꢂt đꢅng  
thanh tra  
Bùi Thị Hồng Phấn  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Hoꢇn thiꢆn cꢈc quy định cꢁa phꢈp luật về cꢈc chế đꢅ bảo hiꢃm  
thất nghiꢆp ở nước ta hiꢆn nay  
26  
TS. Trương Thị Thu Hiền  
Hoꢇn thiꢆn phꢈp luật trọng tꢇi ở Viꢆt Nam hiꢆn nay  
TS. Nguyễn Thị Hoa  
34  
45  
Tăng cường thực hiꢆn phꢈp luật về phꢀng, chꢄng tꢅi phꢂm mua  
bꢈn người cꢁa lực lượng cảnh sꢈt hình sự công an cꢈc tỉnh Tây  
Bắc hiꢆn nay  
ThS. Ngô Thị Bích Thu  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Bảo hꢅ vꢇ khai thꢈc thương mꢂi sꢈng chế - Kinh nghiꢆm  
từ Nhật Bản  
57  
Ảnh bìa: Chꢁ tịch Quꢄc hꢅi Vương Đình Huꢆ  
thăm, chúc mừng Tꢂp chí Nghiên cꢉu lập  
phꢈp nhân Ngꢇy Bꢈo chí cꢈch mꢂng Viꢆt Nam.  
Ảnh: NCLP  
TS. Phan Quốc Nguyên  
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
VAI TRÒ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI ĐỐI VỚI VIỆC KIỆN TOÀN CÁC CHỨC DANH  
TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TẠI KỲ HỌP THỨ NHẤT CỦA QUỐC HỘI KHÓA MỚI  
XÁC LẬP TƯ CÁCH PHÁP LÝ CHO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO  
Số 12 (436)  
Tháng 6/2021  
Legis No 12/2021  
BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC THƯƠNG MẠI SÁNG CHẾ  
-
KINH NGHIỆM TỪ NHẬT BẢN  
STATE AND LAW  
The Roles of National Assembly deputies in electing and  
endorsing Candidates for High Positions of State Apparatus at  
the First Meeting Session of the new term of National Assembly  
3
8
Nguyen Thi Thanh  
The Competence of the National Assembly, the Standing  
Committee of the National Assembly in handling the Legal  
Documents issued by State Agencies and Individuals at the  
Central Level  
Dr. Cao Vu Minh  
Establishment of Legal Eligibility for Artificial Intelligence  
Bui Thi Hang Nga - Nguyen Thao Linh  
14  
20  
DISCUSSION OF BILLS  
Improvement of the Legal Regulations on Temporarily Seize  
Money, Objects, and Licenses of Illegal Use under Inspection  
Activities  
Bui Thi Hong Phan  
LEGAL PRACTICE  
Improvement of Current Legal Regulations on Unemployment  
Insurance in our Country  
26  
34  
45  
Dr. Truong Thi Thu Hien  
Improvement of Current Legal Regulations on Arbitration in  
Vietnam today  
Dr. Nguyen Thi Hoa  
Strengthening the Enforcement of the Law on Prevention and  
Combat of Human Trafficking Crimes by the Criminal Police Force  
of the Northwestern Provinces  
LLM. Ngo Thi Bich Thu  
FOREIGN EXPERIENCE  
Protection and Commercial Exploitation of Patents -  
Experience from Japan  
57  
Dr. Phan Quoc Nguyen  
PRICE: 25.000VND  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
VAI TRꢀ CꢁA ĐꢂI BIꢃU QUꢄC HꢅI  
ĐꢄI VỚI VIꢆC KIꢆN TOꢇN CꢈC CHꢉC DANH TRONG Bꢅ MꢈY NHꢇ NƯỚC  
TꢂI KỲ HỌP THꢉ NHẤT CꢁA QUꢄC HꢅI KHÓA MỚI  
Nguyꢀn Thꢁ Thanh  
Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Ủy viên UBTVQH  
Trương BBn Công tá  đi iibu, Phó Trương BBn Tổ ́hứ́ Trung ương  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày về thẩm quyền của Quốc hội bầu,  
phê chuẩn các chức danh của bộ máy nhà nước; quy trình Quốc hội bầu, phê  
chuẩn các chức danh của bộ máy nhà nước; phân tích vai trò của đại biểu Quốc  
hội trong thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước  
về công tác nhân sự tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa mới nhằm cung cấp  
thêm thông tin phục vụ các đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đặc biệt là các đại biểu  
Quốc hội trúng cử lần đầu trong việc xem xét, quyết định các chức danh của bộ  
máy nhà nước  
Từ khóa: Đại biểu Quốc hội;  
bầu, phê chuẩn chức danh trong  
bộ máy nhà nước.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 15/6/2021  
: 18/6/2021  
: 21/6/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Within the scope of this article, the author presents the authority of the National  
Assembly to elect and endorse the proposed candidates for the high positions of  
the state apparatus; the process of the National Assembly electing and endorsing  
the candidates for the high positions of the state apparatus; analysis of the role of  
the National Assembly deputies in performing the function of deciding important  
national issues in terms of personnel arrangements at the first meeting session  
of the new term of the National Assembly in order to provide more information  
to the National Assembly deputies, especially to those first time elected, in  
aspects of appraisal and approval of the candidates for high positions of the state  
apparatus.  
Keywords: National Assembly  
deputies, election, endorsement of  
candidates for state apparatus.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 15 Jun 2021  
: 18 Jun 2021  
: 21 Jun 2021  
Approved  
1. Về thẩm quyền của Quốc hội bầu, phê  
chuẩn các chức danh của bộ máy nhà nước  
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013  
và Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi, bổ  
sung năm 2020), 60 ngày trước khi Quốc  
hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khóa mới phải  
được bầu xong. Theo đó, kỳ họp thứ nhất  
của Quốc hội khóa mới được triệu tập chậm  
nhất là 60 ngày, kể từ ngày bầu cử đại biểu  
Quốc hội. Một trong những nhiệm vụ quan  
trọng của kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa  
mới là xem xét, kiện toàn các chức danh của  
bộ máy nhà nước. Cụ thể, Quốc hội bầu các  
chức danh sau:  
+ Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc  
hội, Ủy viên UBTVQH theo đề nghị của  
UBTVQH khóa trước;  
1 Nghị quyết số 748/NQ - HĐBCQG ngày 10/6/2021 của Hội đồng Bầu cử quốc gia công bố kết quả và danh  
sách những người trúng cử ĐBQH khóa XV: Trong tổng số 499 người trúng cử ĐBQH khóa XV có 295 người  
(tỷ lệ 59,12%) là đại biểu trúng cử lần đầu.  
Số 12(436) - T6/2021  
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
+ Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm  
Ủy ban của Quốc hội theo đề nghị của  
UBTVQH khóa mới;  
- Báo cáo thẩm tra trong trường hợp  
pháp luật quy định: Đối chiếu với các quy  
định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm  
pháp luật cho thấy: Trình tự, thủ tục và hình  
thức văn bản để Quốc hội kiện toàn các chức  
danh trong bộ máy nhà nước không phải là  
quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp  
luật. Do vậy, hiện nay chưa đặt ra vấn đề có  
báo cáo thẩm tra trong trường hợp Quốc hội  
xem xét, quyết định công tác nhân sự.  
+ Chủ tịch nước theo đề nghị của  
UBTVQH khóa mới;  
+ Phó Chủ tịch nước theo đề nghị của  
Chủ tịch nước;  
+ Thủ tướng Chính phủ theo đề nghị của  
Chủ tịch nước;  
+ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo  
đề nghị của Chủ tịch nước;  
- Hồ sơ về người được giới thiệu vào các  
chức danh để Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn  
(thường gắn liền với quy trình hồ sơ nhân  
sự trong công tác cán bộ của Đảng) và các  
tài liệu khác theo quy định của UBTVQH,  
thường bao gồm các tài liệu: Sơ yếu lý lịch,  
tiểu sử tóm tắt, bản kê khai tài sản... Trong  
trường hợp có nhân sự được giới thiệu thêm  
thì hồ sơ về người ứng cử do ĐBQH giới  
thiệu thêm hoặc tự ứng cử do UBTVQH  
quy định và phải được gửi tới UBTVQH  
chậm nhất là 02 ngày trước phiên họp bầu  
chức danh đó.  
+ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối  
cao theo đề nghị của Chủ tịch nước;  
+ Tổng Kiểm toán nhà nước, Tổng thư  
ký Quốc hội theo đề nghị của UBTVQH;  
Bên cạnh đó, Quốc hội phê chuẩn các  
chức danh sau:  
+ Thành viên Hội đồng Quốc phòng và  
An ninh theo đề nghị của Chủ tịch nước;  
+ Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng  
và các thành viên khác của Chính phủ theo  
đề nghị của Thủ tướng Chính phủ theo danh  
sách đề cử chức vụ từng người.  
2.2. Trình tự thủ tục  
Căn cứ Nghị quyết số 102/2015/QH13  
ngày 24/11/2015 về Nội quy kỳ họp Quốc hội,  
Quốc hội kiện toàn chức danh của bộ máy nhà  
nước được thực hiện theo trình tự sau:  
2. Về quy trình Quốc hội bầu, phê chuẩn  
các chức danh của bộ máy nhà nước  
2.1. Hồ sơ trình Quốc hội về nhân sự  
Hồ sơ trình Quốc hội về người được giới  
thiệu vào các chức danh để Quốc hội bầu  
hoặc phê chuẩn bao gồm:  
Bước 1: Chủ thể có thẩm quyền đề nghị,  
giới thiệu trình danh sách đề cử để Quốc hội  
bầu hoặc phê chuẩn;  
- Tờ trình của cơ quan, cá nhân có thẩm  
quyền trình: Tùy thuộc vào chức danh được  
giới thiệu để Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn  
sẽ có chủ thể trình khác nhau. Tờ trình cần  
thể hiện các nội dung sau: (i) căn cứ pháp  
lý về thẩm quyền của cơ quan, cá nhân có  
thẩm quyền trình; (ii) yêu cầu thực tế về  
việc kiện toàn nhân sự; (iii) đề xuất nhân  
sự để giữ chức danh (trong đó bao gồm các  
thông tin cơ bản về nhân sự).  
Bước 2: ĐBQH giới thiệu thêm hoặc  
tự ứng cử vào chức danh do Quốc hội bầu  
hoặc phê chuẩn (nếu có). Người được giới  
thiệu ứng cử có quyền rút khỏi danh sách  
người ứng cử;  
Bước 3: ĐBQH thảo luận tại Đoàn; Chủ  
tịch Quốc hội có thể họp với các Trưởng  
Đoàn ĐBQH để trao đổi về các vấn đề có  
liên quan (trong trường hợp bầu chức danh  
4
Số 12(436) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ,  
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện  
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có  
thể mời Chủ tịch nước tham dự để trao đổi  
về các vấn đề có liên quan; trong trường hợp  
phê chuẩn việc bổ nhiệm Phó Thủ tướng, bộ  
trưởng và các thành viên của Chính phủ có  
thể mời Thủ tướng Chính phủ tham dự để  
trao đổi về các vấn đề có liên quan);  
Do số lượng người tham gia bỏ phiếu  
đông (tương ứng với số ĐBQH có mặt), để  
tạo thuận lợi cho việc kiểm soát số phiếu  
phát ra, số phiếu thu về, bảo đảm thời gian  
của các phiên họp, việc phát phiếu bầu cho  
các ĐBQH được thực hiện thông qua đại  
diện của Đoàn ĐBQH (thông thường là Phó  
Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách). Người  
này sẽ nhận phiếu từ tổ giúp việc của Ban  
Kiểm phiếu và phát phiếu tới các thành viên  
trong Đoàn ĐBQH. Cách làm này tương  
đối thuận lợi vì vị trí chỗ ngồi của ĐBQH  
được sắp xếp theo Đoàn ĐBQH và sự chênh  
lệch số lượng ĐBQH giữa các Đoàn ĐBQH  
không lớn (giao động từ 6 - 9 ĐBQH, ngoại  
trừ Đoàn thành phố Hà Nội, Thành phố  
Hồ Chí Minh, tỉnh Thanh Hóa, tỉnh NghệAn).  
Sau khi viết phiếu bầu, các ĐBQH sẽ  
trực tiếp bỏ phiếu vào thùng phiếu.  
Bước 4: UBTVQH báo cáo Quốc hội kết  
quả thảo luận tại Đoàn ĐBQH. Nội dung  
báo cáo thể hiện được ý kiến thảo luận tại  
các Đoàn về nhân sự và ý kiến của cá nhân  
ĐBQH (nếu có) về nhân sự. Trong trường  
hợp, tại buổi thảo luận, các ĐBQH được  
phát phiếu xin ý kiến về nhân sự thì trong  
báo cáo của UBTVQH có thể nêu kết quả  
phiếu xin ý kiến;  
Bước 5: Chủ thể có thẩm quyền đề nghị,  
giới thiệu báo cáo Quốc hội về việc giải  
trình, tiếp thu ý kiến của ĐBQH (nếu có);  
Bước 8: Ban Kiểm phiếu công bố kết  
quả kiểm phiếu.  
Ban kiểm phiếu công bố kết quả kiểm  
phiếu theo nguyên tắc sau:  
Bước 6: Thành lập Ban Kiểm phiếu.  
Trường hợp biểu quyết bầu các chức danh  
của bộ máy nhà nước, người được quá nửa  
số phiếu hợp lệ tán thành so với tổng số đại  
biểu Quốc hội và được nhiều phiếu tán thành  
hơn thì trúng cử. Trường hợp cùng bầu một  
chức danh mà nhiều người được số phiếu tán  
thành ngang nhau và đạt quá nửa số phiếu  
hợp lệ tán thành so với tổng số đại biểu Quốc  
hội thì Quốc hội biểu quyết lại việc bầu chức  
danh này trong số những người được số phiếu  
hợp lệ tán thành ngang nhau. Trong số những  
người được đưa ra biểu quyết lại, người được  
số phiếu tán thành nhiều hơn là người trúng  
cử; nếu biểu quyết lại mà nhiều người vẫn  
được số phiếu tán thành ngang nhau thì người  
nhiều tuổi hơn là người trúng cử.  
Quốc hội bầu Ban Kiểm phiếu theo đề  
nghị của Chủ tịch Quốc hội khóa trước. Ban  
Kiểm phiếu sẽ thực hiện nhiệm vụ trong  
suốt quá trình. Thành viên Ban Kiểm phiếu  
không là người trong danh sách để Quốc  
hội bầu, phê chuẩn.  
Bước 7: ĐBQH biểu quyết bằng hình  
thức bỏ phiếu kín.  
Việc thiết lập phiếu căn cứ vào địa vị  
pháp lý của chức danh được bầu hoặc phê  
chuẩn. Trường hợp chức danh là người đứng  
đầu hoặc là chủ thể duy nhất trong tổ chức  
quyền lực nhà nước thì trong phiếu chỉ có  
nhân sự được giới thiệu vào một chức danh.  
Trường hợp các chức danh có địa vị pháp  
lý tương đương nhau thì các nhân sự được  
giới thiệu giữ các chức danh đó sẽ được ghi  
chung một phiếu.  
Việc phê chuẩn các chức danh của bộ  
máy nhà nước phải được quá nửa tổng số  
đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành;  
Số 12(436) - T6/2021  
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Bước 9: Quốc hội thảo luận, biểu quyết  
thông qua nghị quyết bầu, phê chuẩn các  
chức danh của bộ máy nhà nước.  
danh ngoài danh sách đã được cơ quan  
có thẩm quyền giới thiệu, đề nghị trình  
Quốc hội. Quy định này bảo đảm quyền  
tự do, dân chủ và công bằng về quyền,  
nghĩa vụ của ĐBQH và phản ánh nguyên  
tắc dân chủ, bình đẳng trong hoạt động  
của Quốc hội nói riêng và của bộ máy  
nhà nước nói chung.  
Một quy trình sau khi hoàn tất các thủ  
tục nhưng cần được thể hiện dưới hình  
thức một văn bản pháp lý. Nghị quyết bầu,  
phê chuẩn được Quốc hội thông qua chính  
là căn cứ pháp lý để xác định địa vị pháp  
lý, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của  
nhân sự giữ chức danh.  
Để thực hiện hiệu quả vai trò của mình,  
các ĐBQH cần nghiên cứu kỹ, đầy đủ, bao  
quát tiêu chuẩn, điều kiện và trình tự thủ tục  
(bao gồm các quy định của Đảng và pháp  
luật của Nhà nước) quyền đề cử và tự ứng  
cử với một tinh thần trách nhiệm cao. Chỉ  
khi đó, việc đề cử, tự ứng cử của ĐBQH  
hiệu quả, thực chất.  
3. Vai trò của ĐBQH trong việc kiện toàn  
các chức danh của bộ máy nhà nước  
Theo quy định của Luật Tổ chức Quốc  
hội “ĐBQH là người đại diện cho ý chí,  
nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu  
cử ra mình và Nhân dân cả nước là người  
thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực nhà  
nước trong Quốc hội”2.  
Vai trò của ĐBQH tại bước 3: Trong các  
buổi thảo luận tại Đoàn ĐBQH, các ĐBQH  
có cơ hội bày tỏ quan điểm cá nhân để làm  
rõ hơn các vấn đề liên quan đến nhân sự  
được giới thiệu vào các chức danh. Với  
đặc thù trong công tác nhân sự, quy trình  
này nhằm phát huy tính dân chủ, vừa bảo  
đảm nguyên tắc tập trung, tạo sự đồng lòng,  
thống nhất với các chức danh do Quốc hội  
bầu hoặc phê chuẩn. Đây là các nhân sự chủ  
chốt, nòng cốt của bộ máy nhà nước trong  
một nhiệm kỳ. Do vậy, vấn đề trao đổi, thảo  
luận có ý nghĩa quan trọng, không chỉ với  
mục đích kiện toàn chức danh đó (thông  
qua việc thực hiện bỏ phiếu tại bước 7), mà  
còn củng cố niềm tin của Nhân dân và cử tri  
với nhân sự đó.  
Với tư cách là một bộ phận cấu thành  
nên cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất,  
ĐBQH trở thành cầu nối liên kết mối quan  
hệ giữa chính quyền nhà nước với Nhân  
dân. Do đó, ĐBQH phải đủ điều kiện, năng  
lực, bản lĩnh để phát huy vai trò của mình  
vào các hoạt động của Nhà nước. Cũng như  
Quốc hội, vai trò của ĐBQH được thể hiện  
ngay sau khi được cử tri tín nhiệm bầu là  
đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri  
để quyết định các vấn đề quan trọng của đất  
nước, trong đó có việc bầu và phê chuẩn các  
chức danh của bộ máy nhà nước.  
Trong quy trình Quốc hội bầu, phê chuẩn  
các chức danh của bộ máy nhà nước nêu  
trên, vai trò của ĐBQH được thể hiện tại  
bước 2, 3, 7, 9.  
Để bảo đảm thực hiện tốt vai trò của  
mình, các ĐBQH cần xem xét kỹ tiểu sử, lý  
lịch nhân sự được giới thiệu. Bên cạnh hồ  
sơ được gửi theo quy định, các ĐBQH cần  
chủ động trong việc nắm bắt thông tin về  
nhân sự. Thông qua các phương tiện truyền  
thông, báo chí, dư luận của cử tri và hiệu quả  
Vai trò của ĐBQH tại bước 2: ĐBQH  
thực hiện quyền đại diện cho Nhân dân  
tham gia vào hoạt động của Nhà nước để  
giới thiệu hoặc tự ứng cử để giữ các chức  
2 Khoản 1 Điều 21 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.  
6
Số 12(436) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
hoạt động trong thời gian trước, kế hoạch  
và khả năng hoàn thành kế hoạch trong thời  
gian tới của nhân sự để đưa ra thông tin tới  
các ĐBQH trong Đoàn cùng trao đổi, thảo  
luận. Trong bước này, cần phát huy vai trò  
của Trưởng Đoàn ĐBQH để định hướng nội  
dung thảo luận, kiến nghị đề xuất và mấu  
chốt là thống nhất quan điểm tập thể của  
Đoàn ĐBQH.  
danh. Do vậy, yêu cầu đặt ra để ĐBQH làm  
tốt vai trò này là cần nắm rõ quy định về thể  
thức văn bản, thông tin, số liệu để bảo đảm  
tính chặt chẽ, hiệu quả về mặt hình thức của  
Nghị quyết.  
4. Kết luận  
Vai trò của ĐBQH được thể hiện trực  
tiếp ở 4 trên tổng số 9 bước liên quan đến  
quy trình kiện toàn chức danh của bộ máy  
nhà nước nhưng sự tham gia, theo dõi,  
giám sát của ĐBQH phải được thể hiện  
ở cả 9 bước. Để phát huy tốt vai trò của  
mình, các ĐBQH phải thể hiện được trách  
nhiệm, bản lĩnh, sự thẳng thắn, nhất quán  
trong việc đưa ra nhận xét, quan điểm và  
quyết định về nhân sự được giới thiệu giữ  
chức danh của bộ máy nhà nước. ĐBQH  
cần quan tâm đến chức năng, nhiệm vụ đã  
được pháp luật quy định cho chức danh đó,  
tìm hiểu về mối liên quan giữa các yếu tố  
chủ quan của nhân sự với yêu cầu nhiệm  
vụ của vị trí, chức danh, từ đó phân tích  
khả năng hoàn thành nhiệm vụ sau khi  
được Quốc hội bầu, phê chuẩn.  
Việc kiện toàn chức danh của bộ máy  
nhà nước thuộc thẩm quyền quyết định  
của Quốc hội tuy được thực hiện tại một  
thời điểm (kỳ họp Quốc hội) nhưng muốn  
người giữ chức danh hoạt động hiệu quả,  
chất lượng, có đóng góp tích cực vào hoạt  
động chung của bộ máy nhà nước thì cần  
phát huy vai trò của ĐBQH trong cả nhiệm  
kỳ. Thông qua giám sát và các hoạt động  
đại diện (tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, theo  
dõi giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo)  
và các kênh phản biện xã hội, ĐBQH cần  
thể hiện vai trò xuyên suốt của mình bằng  
quyền kiến nghị tới UBTVQH để đề nghị  
xem xét miễn nhiệm, bãi nhiệm, lấy phiếu  
tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm với những  
người đã được Quốc hội bầu, phê chuẩn giữ  
Vai trò của ĐBQH tại bước 7: Đây  
là bước quan trọng trong việc quyết định  
việc một nhân sự cụ thể có được giữ chức  
danh trong bộ máy nhà nước hay không?  
Với nguyên tắc miễn trừ và phương thức  
bỏ phiếu kín, các ĐBQH có quyền tự do, tự  
chủ để đưa ra ý kiến của mình chỉ bằng một  
hành động: đồng ý hoặc không đồng ý.  
Đểbảođảmthựchiệntốtvaitròcủamình,  
các ĐBQH cần thể hiện bản lĩnh, chính  
kiến thông qua hành vi bỏ phiếu. Theo quy  
định, ĐBQH có quyền không thể hiện quan  
điểm, chứng kiến của mình. Tuy nhiên, khi  
đã thực hiện nhiệm vụ đại biểu, là người  
đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân  
dân và cử tri, có trách nhiệm thay mặt cử tri  
tham gia vào các hoạt động của Nhà nước  
thì ĐBQH “có trách nhiệm” thể hiện quan  
điểm của mình trước những đề xuất của cơ  
quan có thẩm quyền. Do vậy, trường hợp bỏ  
phiếu kín, những phiếu không thể hiện quan  
điểm được coi là phiếu không hợp lệ. Dưới  
góc độ trách nhiệm chính trị với cử tri, đây  
được xác định là việc ĐBQH đã không thực  
hiện tốt vai trò của người đại diện của Nhân  
dân, thay mặt Nhân dân quyết định lựa chọn  
các chức danh của bộ máy nhà nước.  
Vai trò của ĐBQH tại bước 9: Đây là  
bước hoàn thiện về thủ tục để một nhân  
sự cụ thể chính thức được giữ chức danh  
của bộ máy nhà nước. Nghị quyết bầu, phê  
chuẩn sẽ là căn cứ pháp lý gắn liền với quá  
trình thực hiện nhiệm vụ của người giữ chức  
chức danh của bộ máy nhà nước  
Số 12(436) - T6/2021  
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
THẨM QUYỀN CꢁA QUꢄC HꢅI, ꢁY BAN THƯỜNG VỤ QUꢄC HꢅI  
TRONG VIꢆC XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHꢂM PHꢈP LUẬT  
DO CƠ QUAN NHꢇ NƯỚC, Cꢈ NHÂN Ở TRUNG ƯƠNG BAN HꢇNH  
Cao Vũ Minh*  
*TS. Trường Đđi họ́ Luật TP. Hồ Chí Minh  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Văn bản quy phạm  
pháp luật, thẩm quyền của  
Quốc hội.  
Theo quy định của pháp luật, khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật  
thì phải bảo đảm tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm  
pháp luật trong hệ thống pháp luật. Vấn đề có tính thực tiễn đặt ra là xử lý  
như thế nào đối với những văn bản quy phạm pháp luật có khiếm khuyết  
vì không tuân thủ yêu cầu của tính hợp pháp và tính hợp lý. Trong phạm vi  
bài viết này, tác giả phân tích thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường  
vụ Quốc hội trong việc xử lý văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà  
nước, cá nhân ở Trung ương ban hành, đồng thời đề xuất hướng hoàn thiện.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 28/5/2021  
: 08/6/2021  
: 12/6/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Keywords: Legal documents,  
authority of the National  
Assembly.  
According to the law, when promulgating legal documents, the legality  
and consistency of legal documents must be ensured by the legal system.  
The practical problem is how to handle legal documents with defects  
because they do not comply with the requirements of legitimacy and  
rationality. Within the scope of this article, the author provides analysis  
of the authority of the National Assembly and Standing Committee of the  
National Assembly in handling legal documents promulgated by central  
state agencies and individuals, and also proposes recommendations for  
further improvements.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 28 May 2021  
: 08 Jun 2021  
: 12 Jun 2021  
Approved  
1. Xử lý văn bản quy phạm pháp luật do  
cơ quan nhà nước, cá nhân ở Trung ương  
ban hành  
quyền, hình thức, thủ tục luật định, trong đó  
có chứa quy tắc xử sự mang tính bắt buộc  
chung để điều chỉnh các quan hệ xã hội phù  
hợp với ý chí nhà nước và được Nhà nước  
bảo đảm thực hiện1. VBQPPL có thể do cơ  
quan nhà nước, cá nhân ở Trung ương hoặc  
ở địa phương ban hành. VBQPPL một khi  
được ban hành chỉ có thể trở thành bộ phận  
hữu cơ của cơ chế điều chỉnh pháp luật khi  
nội dung lẫn hình thức của chúng bảo đảm  
cả tính hợp pháp và tính hợp lý2. Vấn đề có  
1.1. Thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban  
Thường vụ Quốc hội trong việc xử lý văn  
bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà  
nước, cá nhân ở Trung ương ban hành  
Về mặt lý luận, văn bản quy phạm pháp  
luật (VBQPPL) là văn bản do cơ quan nhà  
nước hoặc cá nhân của cơ quan nhà nước  
ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm  
1
Nguyễn Cửu Việt, “Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật (tiếp theo) và hệ thống văn bản quy phạm  
pháp luật”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 51, năm 2005.  
2
Cao Vũ Minh, “Tính hợp pháp và tính hợp lý trong quyết định quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân”,  
Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 7, năm 2010.  
8
Số 12(436) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
tính thực tiễn quan trọng đặt ra là xử lý như  
thế nào đối với những văn bản quy phạm  
pháp có khiếm khuyết vì không tuân thủ  
yêu cầu của tính hợp pháp và tính hợp lý.  
Pháp luật hiện hành quy định các biện  
pháp xử lý khiếm khuyết của VBQPPL như  
sau: đình chỉ, sửa đổi, bãi bỏ VBQPPL3.  
Đình chỉ thi hành một VBQPPL là biện  
pháp nhằm ngăn chặn ngay khả năng tiếp  
tục gây ra những ảnh hưởng xấu của nó. Về  
nguyên tắc, khi áp dụng quyền “đình chỉ”  
thì VBQPPL vẫn còn tồn tại. VBQPPL bị  
đình chỉ thì ngừng hiệu lực thi hành cho đến  
khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà  
nước có thẩm quyền. Trường hợp cơ quan  
nhà nước có thẩm quyền ra quyết định bãi  
bỏ thì quyết định đó hết hiệu lực, nếu không  
bãi bỏ thì quyết định tiếp tục có hiệu lực.  
Như vậy, bãi bỏ VBQPPL là chế tài nghiêm  
khắc nhất, dứt khoát nhất và rõ ràng nhất.  
Trong khi đó, sửa đổi VBQPPL là việc cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền ra một quyết  
định khác để làm thay đổi tên quyết định  
hoặc thay đổi một phần nội dung trong  
khi vẫn giữ nguyên hiệu lực pháp lý của  
VBQPPL bị sửa đổi. Sửa đổi VBQPPL đã  
ban hành được áp dụng trong trường hợp  
chủ thể có thẩm quyền tự sửa đổi quyết định  
của mình. Tuy nhiên, trường hợp này không  
thể xem là chế tài pháp lý. Ngoài ra, Luật  
Ban hành VBQPPL năm 2015 đã được sửa  
đổi, bổ sung một số điều năm 2020 (Luật  
Ban hành VBQPPL) còn sử dụng thuật ngữ  
“bổ sung”, “thay thế”. Tuy nhiên, thuật  
ngữ “bổ sung”, “thay thế” không có nội  
dung pháp lý mới, vì nó được bao hàm trong  
quyền ban hành văn bản: ban hành một văn  
bản hay một số quy phạm có thể để “bổ  
sung”, “thay thế” văn bản, quy phạm cũ4.  
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013,  
Quốc hội bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước,  
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH),  
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án  
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối  
cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của  
Quốc hội (khoản 10 Điều 70). UBTVQH  
đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính  
phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân  
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái  
với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc  
hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ  
văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn  
bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,  
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân  
dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết  
của UBTVQH (khoản 4 Điều 74).  
Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp  
năm 2013, Điều 15 Luật Tổ chức Quốc hội  
năm 2014 đã được sửa đổi, bổ sung một số  
điều năm 2020 (Luật Tổ chức Quốc hội)  
quy định: “1. Quốc hội bãi bỏ văn bản  
của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng  
Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện  
kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan khác  
do Quốc hội thành lập trái với Hiến pháp,  
luật, nghị quyết của Quốc hội theo đề nghị  
của UBTVQH; 2. Quốc hội bãi bỏ văn bản  
của UBTVQH trái với Hiến pháp, luật, nghị  
quyết của Quốc hội theo đề nghị của Chủ  
tịch nước”; Điều 51 quy định UBTVQH  
đình chỉ hoặc theo đề nghị của Hội đồng  
dân tộc, Ủy ban của Quốc hội hoặc đại biểu  
Quốc hội đình chỉ việc thi hành văn bản của  
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án  
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân  
tối cao, cơ quan khác do Quốc hội thành  
lập trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết  
của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định  
việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất.  
UBTVQH bãi bỏ hoặc theo đề nghị của Hội  
đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội hoặc  
đại biểu Quốc hội bãi bỏ văn bản của Chính  
3 Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2020.  
4 Nguyễn Cửu Việt, “Các yếu tố cấu thành thẩm quyền và tính hệ thống của thẩm quyền”, Tạp chí Nghiên cứu  
lập pháp số 9, năm 2005.  
Số 12(436) - T6/2021  
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân Luật Ban hành VBQPPL, Quốc hội bãi bỏ  
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ  
quan khác do Quốc hội thành lập trái với  
pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH.  
VBQPPL của Chủ tịch nước, UBTVQH,  
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng  
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh  
án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng  
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm  
toán nhà nước trái với Hiến pháp, luật, nghị  
quyết của Quốc hội. Khoản 3 Điều 164  
quy định UBTVQH đình chỉ việc thi hành  
VBQPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính  
phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân  
tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,  
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,  
Tổng Kiểm toán nhà nước trái với Hiến  
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình  
Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản  
đó tại kỳ họp gần nhất. UBTVQH bãi bỏ  
VBQPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính  
phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân  
tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,  
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,  
Tổng Kiểm toán nhà nước trái với pháp  
lệnh, nghị quyết của UBTVQH.  
Như vậy, so với khoản 10 Điều 70 Hiến  
pháp năm 2013, Điều 15 Luật Tổ chức Quốc  
hội đã bổ sung thêm thẩm quyền của Quốc  
hội trong việc bãi bỏ văn bản của cơ quan  
khác do Quốc hội thành lập trái với Hiến  
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. Tương  
tự, so với khoản 4 Điều 74 Hiến pháp năm  
2013, Điều 51 Luật Tổ chức Quốc hội đã bổ  
sung thêm thẩm quyền của UBTVQH trong  
việc đình chỉ văn bản của cơ quan khác do  
Quốc hội thành lập trái với Hiến pháp, luật,  
nghị quyết của Quốc hội và bãi bỏ văn bản  
của cơ quan khác do Quốc hội thành lập trái  
với pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH.  
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013,  
Luật Tổ chức Quốc hội, các cơ quan khác  
do Quốc hội thành lập bao gồm: bộ, cơ quan  
ngang bộ; Kiểm toán nhà nước; Hội đồng  
bầu cử quốc gia; Ủy ban lâm thời; Ủy ban  
dự thảo Hiến pháp. Trong các cơ quan khác  
do Quốc hội thành lập nêu trên, người đứng  
đầu bộ, cơ quan ngang bộ (Bộ trưởng, Thủ  
trưởng cơ quan ngang bộ), Kiểm toán nhà  
nước (Tổng Kiểm toán nhà nước) có thẩm  
quyền ban hành VBQPPL5. Nếu VBQPPL  
của do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan  
ngang bộ ban hành trái với Hiến pháp, luật  
và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên  
sẽ bị Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi  
Luật Ban hành VBQPPL năm 2015  
không quy định thẩm quyền xử lý (đình chỉ,  
bãi bỏ) của Quốc hội và UBTVQH đối với  
các văn bản liên tịch như nghị quyết liên  
tịch, thông tư liên tịch trái với Hiến pháp,  
luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh,  
nghị quyết của UBTVQH. Vấn đề này  
được điều chỉnh bởi Luật Hoạt động giám  
sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân  
(HĐND) năm 2015. Tuy nhiên, Luật Hoạt  
hành hoặc bãi bỏ6. Theo khoản 2 Điều 164 động giám sát của Quốc hội và HĐND lại  
5 Khoản 7 Điều 70 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ  
tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân  
tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện  
kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán Nhà nước, người đứng đầu cơ quan  
khác do Quốc hội thành lập”. Do đó, có thể khẳng định, “cơ quan khác do Quốc hội thành lập” và “người đứng  
đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập” là hai khái niệm khác nhau và không thể đồng nhất.  
6 Khoản 4 Điều 98 Hiến pháp năm 2013 và khoản 8 Điều 28 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 đã được sửa  
đổi, bổ sung một số điều năm 2019 đều quy định: “Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ  
văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà  
nước cấp trên”.  
10  
Số 12(436) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
không quy định thẩm quyền của Quốc hội tổ chức, cá nhân có đề nghị trình bày. Sau  
và UBTVQH trong việc xử lý thông tư liên  
tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,  
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,  
Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ  
trưởng cơ quan ngang bộ nếu văn bản này  
trái Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan  
nhà nước cấp trên.  
đó, đại diện cơ quan thẩm tra trình bày báo  
cáo thẩm tra. Người đứng đầu cơ quan, cá  
nhân đã ban hành VBQPPL có dấu hiệu trái  
với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc  
hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH  
báo cáo, giải trình về vấn đề có liên quan.  
UBTVQH thảo luận và ra nghị quyết về  
việc xem xét VBQPPL. Trường hợp xác  
định VBQPPL trái với Hiến pháp, luật, nghị  
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết  
của UBTVQH thì UBTVQH quyết định  
đình chỉ việc thi hành và trình Quốc hội  
quyết định việc bãi bỏ một phần hoặc toàn  
bộ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất. Trường  
hợp văn bản trái pháp lệnh, nghị quyết của  
UBTVQH thì UBTVQH bãi bỏ một phần  
hoặc toàn bộ văn bản đó.  
1.2. Thủ tục xử lý VBQPPL do cơ quan  
nhà nước, cá nhân ở Trung ương ban hành  
trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc  
hội; pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH  
Theo quy định của khoản 2 Điều 14 Luật  
Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND,  
Quốc hội xem xét VBQPPL có dấu hiệu trái  
với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc  
hội khi được UBTVQH hoặc Chủ tịch nước  
đề nghị. Cụ thể, UBTVQH hoặc Chủ tịch  
nước sẽ trình bày tờ trình. Sau đó, đại diện  
cơ quan thẩm tra trình bày báo cáo thẩm  
tra. Người đứng đầu cơ quan đã ban hành  
VBQPPL có dấu hiệu trái với Hiến pháp,  
luật, nghị quyết của Quốc hội sẽ báo cáo,  
giải trình. Sau đó, Quốc hội thảo luận và ra  
nghị quyết về việc xem xét VBQPPL có dấu  
hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết.  
Trường hợp khẳng định VBQPPL đó trái  
với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc  
hội thì Quốc hội sẽ bãi bỏ một phần hoặc  
toàn bộ văn bản đó.  
Cũng theo quy định của Luật Hoạt  
động giám sát của Quốc hội và HĐND,  
UBTVQH sẽ tự mình xem xét khi phát hiện  
VBQPPL có dấu hiệu trái với Hiến pháp,  
luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,  
nghị quyết của UBTVQH. Ngoài ra, việc  
xem xét VBQPPL của UBTVQH còn phát  
sinh theo đề nghị của Hội đồng dân tộc, Ủy  
ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Chính  
phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm  
sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước,  
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt  
2. Bất cập trong quy định của pháp luật  
về xử lý văn bản quy phạm pháp luật do  
cơ quan nhà nước, cá nhân ở Trung ương  
ban hành  
Thứ nhất, quy định về xử lý VBQPPL do  
cơ quan nhà nước, cá nhân ở Trung ương  
ban hành trái với Hiến pháp, luật, nghị  
quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết  
của UBTVQH còn tản mạn, chưa đầy đủ.  
Như đã đề cập ở trên, có nhiều văn bản  
luật quy định về vấn đề xử lý VBQPPL trái  
với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;  
pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH. Tuy  
nhiên, các văn bản pháp luật hiện hành không  
quy định chủ thể nào có thẩm quyền đình chỉ,  
bãi bỏ “Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa  
án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát  
nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước,  
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ”  
trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc  
hội; pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH  
cho dù Điều 26 Luật Ban hành VBQPPL quy  
định: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện  
Nam, cơ quan Trung ương của tổ chức thành trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng  
viên của Mặt trận. Cụ thể, đại diện cơ quan, Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng  
Số 12(436) - T6/2021  
11  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
cơ quan ngang bộ ban hành thông tư liên tịch  
để quy định về việc phối hợp của các cơ quan  
này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục tố  
tụng và phòng, chống tham nhũng. Vì vậy,  
trường hợp thông tư liên tịch này có dấu hiệu  
trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;  
pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH thì sẽ  
không có cơ sở để xử lý.  
nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc  
Việt Nam, cơ quan Trung ương của tổ chức  
thành viên của Mặt trận hoặc đại biểu Quốc  
hội có quyền gửi đề nghị về VBQPPL có  
dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết  
của Quốc hội đến UBTVQH để trình Quốc  
hội xem xét, quyết định. Trường hợp pháp  
lệnh, nghị quyết của UBTVQH, nghị quyết  
liên tịch giữa UBTVQH với Đoàn Chủ tịch  
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt  
Nam có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật,  
nghị quyết của Quốc hội thì Chính phủ, Tòa  
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân  
tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung  
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan  
Trung ương của tổ chức thành viên của Mặt  
trận hoặc đại biểu Quốc hội có quyền gửi  
đề nghị đến Chủ tịch nước để trình Quốc  
hội xem xét, quyết định. Như vậy, trước khi  
UBTVQH hoặc Chủ tịch nước chính thức  
trình Quốc hội xem xét VBQPPL có dấu  
hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết  
của Quốc hội thì cũng phải có một chủ thể  
có thẩm quyền gửi đề nghị đến UBTVQH  
hoặc Chủ tịch nước. Có lẽ vì hệ thống hai  
tầng “đề nghị” nên quyền bãi bỏ văn bản  
của Quốc hội trở nên quá xa vời. Thực tế  
là cho đến nay, Quốc hội chưa lần nào bãi  
bỏ VBQPPL trái với Hiến pháp, luật, nghị  
quyết của Quốc hội.  
Thứ hai, thủ tục xử lý đối với VBQPPL  
do cơ quan nhà nước, cá nhân ở Trung  
ương ban hành trái với Hiến pháp, luật,  
nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị  
quyết của UBTVQH còn phức tạp.  
Khi phát hiện VBQPPL trái với Hiến  
pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết, UBTVQH  
sẽ tự mình đình chỉ, bãi bỏ VBQPPL này.  
Trong trường hợp này, UBTVQH tự khởi  
xướng việc xử lý VBQPPL trái với Hiến  
pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết. Ngoài  
ra, có những trường hợp UBTVQH không  
phát hiện thì việc đình chỉ, bãi bỏ VBQPPL  
dựa trên quyền đề nghị của những chủ  
thể có thẩm quyền. Trong trường hợp thứ  
nhất, quyền tự chủ thuộc về UBTVQH.  
Trong khi đó, trường hợp thứ hai lại phụ  
thuộc vào quyền đề nghị của chủ thể khác.  
Không giống như UBTVQH, Quốc hội  
bãi bỏ VBQPPL có dấu hiệu trái với Hiến  
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội khi  
được UBTVQH hoặc Chủ tịch nước đề  
nghị. Nói cách khác, việc bãi bỏ VBQPPL  
có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị  
quyết của Quốc hội lại không phải là một  
nội dung thuộc quyền chủ động hoàn toàn  
của Quốc hội. Theo cách này thì quyền bãi  
bỏ VBQPPL của Quốc hội chỉ được khởi  
xướng khi có đề nghị của một trong hai chủ  
thể là UBTVQH hoặc Chủ tịch nước.  
Bên cạnh đó, một câu hỏi được đặt ra là  
trường hợp chủ thể có thẩm quyền (Chính  
phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát  
nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy  
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,  
cơ quan Trung ương của tổ chức thành viên  
của Mặt trận hoặc đại biểu Quốc hội…)  
“gửi đề nghị” VBQPPL có dấu hiệu trái  
với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc  
hội nhưng người có thẩm quyền kiến nghị  
là UBTVQH hoặc Chủ tịch nước lại không  
“nhận thấy” mâu thuẫn và không tiến hành  
“đề nghị chính thức” thì giải quyết như thế  
nào? Trong trường hợp này, vấn đề “đề nghị  
Điều 14 Luật Hoạt động giám sát của  
Quốc hội và HĐND quy định, Chủ tịch  
nước, Chính phủ, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban  
của Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện  
kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà  
12  
Số 12(436) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
chính thức” sẽ không được tiến hành hay  
vẫn có cơ chế giải quyết đặc thù khác? Các  
quy định trong pháp luật hiện hành chưa trả  
lời câu hỏi này.  
Luật Ban hành VBQPPL theo hướng bổ  
sung thẩm quyền của Quốc hội bãi bỏ thông  
tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân  
tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân  
dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ  
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trái  
với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc  
hội; bổ sung thẩm quyền của UBTVQH  
đình chỉ thông tư liên tịch giữa Chánh án  
Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện  
kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán  
nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan  
ngang bộ trái với Hiến pháp, luật, nghị  
quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết  
định việc bãi bỏ, bãi bổ thông tư liên tịch  
giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,  
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,  
Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ  
trưởng cơ quan ngang bộ trái với pháp lệnh,  
nghị quyết của UBTVQH.  
3. Hoàn thiện quy định của pháp luật về  
xử lý văn bản quy phạm pháp luật của cơ  
quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền ở  
Trung ương ban hành  
Thứ nhất, thống nhất điều chỉnh việc xử  
lý VBQPPL của cơ quan nhà nước, cá nhân  
có thẩm quyền ở Trung ương ban hành  
trong một văn bản luật nhằm khắc phục tình  
trạng tản mạn cơ sở pháp lý.  
Như đã trình bày, hiện nay, việc xử lý  
VBQPPL khiếm khuyết được điều chỉnh  
trong nhiều văn bản luật dẫn đến thực  
trạng là khi phát sinh VBQPPL cần xử lý  
thì Quốc hội, UBTVQH phải căn cứ vào  
các văn bản khác nhau. Vì vậy, vấn đề cần  
thiết đặt ra là cần thống nhất điều chỉnh việc  
xử lý VBQPPL trong một văn bản luật cụ  
thể. Theo tác giả, Luật Ban hành VBQPPL  
được xem là “luật của luật”, là cơ sở pháp  
lý cho việc ban hành, xử lý VBQPPL của  
Việt Nam; vì vậy, cần thống nhất điều chỉnh  
việc xử lý VBQPPL của cơ quan nhà nước,  
cá nhân có thẩm quyền ở Trung ương ban  
hành vào văn bản này.  
Thứ ba, trong thời gian tới chúng ta cần  
tiếp tục nghiên cứu triển khai thực hiện  
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần  
thứ X của Đảng: “Xây dựng, hoàn thiện cơ  
chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp  
pháp trong các hoạt động và quyết định của  
các cơ quan công quyền”7 và “xây dựng  
cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến  
pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp,  
tư pháp”8. Bởi lẽ, hoạt động giám sát tối  
cao của Quốc hội mang tính chất chính trị  
vĩ mô và khác xa với việc phán quyết về  
tính hợp pháp trong VBQPPL của các cơ  
quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền ở  
Trung ương ban hành - một hoạt động vốn  
mang tính chất chính trị - pháp lý - kỹ thuật  
vi mô9. Do đó, không nên đặt Quốc hội, cơ  
quan quyết định chính sách vĩ mô, vào vị trí  
cơ quan tài phán xem xét về tính hợp pháp  
Thứ hai, bổ sung thẩm quyền xử lý  
VBQPPL do cơ quan nhà nước, cá nhân ở  
Trung ương ban hành trái với Hiến pháp,  
luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh,  
nghị quyết của UBTVQH.  
Để khắc phục bất cập về thẩm quyền xử  
lý VBQPPL do cơ quan nhà nước, cá nhân  
ở Trung ương ban hành trái với Hiến pháp,  
luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh,  
nghị quyết của UBTVQH, tác giả cho rằng,  
cần sửa đổi khoản 2 và khoản 3 Điều 164  
trong VBQPPL  
7 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, 2006, tr. 126.  
8 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, 2006, tr. 127.  
9
Trần Ngọc Đường, “Một số suy nghĩ về nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội”, Tạp chí  
Nghiên cứu lập pháp số 7, năm 2009.  
Số 12(436) - T6/2021  
13  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
XꢈC LẬP TƯ CꢈCH PHꢈP LÝ CHO TRÍ TUꢆ NHÂN TꢂO  
Bùi Thị Hằng Nga*  
Nguyễn Thảo Linh**  
* Giảng viên KhoB Luật Kinh tế, Trường Đđi họ́ Kinh tế - Luật.  
** Sinh viên ngành Luật Thương mđi quố́ tế (K18502), Trường Đđi họ́ Kinh tế - Luật  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Mặc dù trí tuệ nhân tạo (AI) mới được quan tâm gần đây tại Việt Nam,  
nhưng với những tiềm lực sẵn có, AI hứa hẹn sẽ phát triển vượt bậc trong  
tương lai ở nước ta. Để tận dụng triệt để những lợi thế mà AI mang lại  
cho nền kinh tế thì việc dự báo những thách thức về mặt pháp lý cũng  
như trù liệu giải pháp giải quyết là việc nên làm. Theo đó, việc xác  
định rõ tư cách pháp lý cho AI là vấn đề tiên quyết, tạo nền tảng thiết  
lập khung pháp lý điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật phát sinh xung  
quanh AI như quan hệ sở hữu, lao động, sở hữu trí tuệ...  
Từ khóa: Trí tuệ nhân tạo, Tư  
cách pháp lý.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 10/5/2021  
: 22/5/2021  
: 27/5/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Althoughartificialintelligence(AI)hasrecentlybeeninterestedinVietnam,  
with the available potentials, it is expected to develop AI dramatically  
in the future in our country. It is advisable to forecast legal challenges  
as well as plan solutions to take full advantage of the advantages that  
AI providing to the economy. Accordingly, clearly defining the legal  
status for AI is a prerequisite, creating a foundation for establishing a  
legal framework governing legal relationships arising around AI such as  
ownership, employment, intellectual property etc.  
Keywords: Artificial  
Intelligence, legal eligibility.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 10 May 2021  
: 22 May 2021  
: 27 May 2021  
Approved  
1. Trí tuệ nhân tạo và sự cần thiết xác lập  
tư cách pháp lý cho trí tuệ nhân tạo  
hiện tại, có rất nhiều định nghĩa về AI được  
đưa ra nhưng chưa có một định nghĩa thống  
nhất. Một số định nghĩa về AI được đưa ra  
như sau:  
1.1. Tổng quan về trí tuệ nhân tạo  
“Trítuệnhântạo”(ArtificialIntelligence-  
AI) được định nghĩa lần đầu vào năm 1955  
bởi John McCarthy - nhà khoa học máy tính  
và khoa học nhận thức của Hoa Kỳ. Theo  
đó, AI là bộ môn khoa học và kỹ thuật chế  
tạo máy thông minh1. Tính tới thời điểm  
(i) AI là các hệ thống suy nghĩ (thông  
minh) như con người2;  
(ii) AI là các hệ thống suy nghĩ một cách  
hợp lý3;  
1 A Brief History of AI (2018), AITopics, retrieved on 17/01/2021, from <https://aitopics.org/misc/brief-history>.  
2 Bellman (1978) định nghĩa: trí tuệ nhân tạo là tự động hóa các hoạt động phù hợp với suy nghĩ con người,  
chẳng hạn các hoạt động ra quyết định, giải bài toán. Xem thêm R. E. Bellma (1978), An Introduction to  
Artificial Intelligence: Can Computers Think?, Boyd & Fraser Publishing Company, San Francisco  
3 Winston (1992) cho rằng trí tuệ nhân tạo là lĩnh vực nghiên cứu các tính toán để máy có thể nhận thức, lập  
luận và hành động. Xem thêm P. H. Winston (1992), Artificial Intelligence (Third Edition), Addison-Wesley,  
Reading, Massachusetts.  
14  
Số 12(436) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
(iii) AI là các hệ thống hành động, thông minh hơn nhiều so với trí thông minh của  
con người8.  
minh như con người4;  
1.2. Sự cần thiết xác lập tư cách pháp lý  
cho trí tuệ nhân tạo  
(iv) AI là các hệ thống hành động một  
cách hợp lý5.  
Sau nhiều thập kỷ bị xếp vào hàng viễn  
tưởng - những ý tưởng được cho là điên rồ  
không thể thành hiện thực, AI giờ đây đã trở  
thành một phần trong cuộc sống hiện đại của  
chúng ta. Trong thực tiễn một số ứng dụng  
AI có thể kể đến như: Nhận dạng chữ viết,  
nhận dạng tiếng nói, dịch tự động, tìm kiếm  
thông tin, khai phá dữ liệu và phát triển tri  
thức, lái xe tự động, robot... Các lĩnh vực  
sử dụng AI có hiệu quả và chất lượng tăng  
lên rõ rệt, góp phần thay đổi sâu sắc nhiều  
khía cạnh của cuộc sống. Tuy nhiên, việc  
AI đang ngày càng có sức ảnh hưởng đến  
mọi khía cạnh trong cuộc sống cũng tiềm ẩn  
nhiều vấn đề mà hầu hết hệ thống pháp luật  
các nước chưa có cơ chế giải quyết hoặc  
giải quyết chưa triệt để. Đơn cử như AI có  
thể tự mình sáng tạo nên những bức tranh9,  
hiện thực này đặt ra dấu hỏi lớn trong việc  
xác định bản quyền và quyền tác giả đối với  
các tác phẩm đặc biệt này. Thêm vào đó, AI  
tiềm ẩn nguy cơ vượt khỏi sự kiểm soát của  
Hiểu một cách đơn giản, AI là một nhánh  
của khoa học máy tính liên quan đến việc  
xây dựng các máy móc thông minh có khả  
năng thực hiện các tác vụ mang trí tuệ con  
người6. Trí tuệ này tuy do con người tạo ra  
nhưng có thể học hỏi, tư duy như con người.  
AI được chia thành hai loại phổ biến  
sau đây:  
Thứ nhất, theo chức năng, AI được chia  
thành 04 cấp độ: máy phản ứng (Reactive  
machines), AI với bộ nhớ giới hạn (Limited  
memory), AI gắn với lý thuyết về tâm trí  
(Theory of mind) và cấp độ cao nhất: AI có  
khả năng tự nhận thức (Self-awareness)7.  
Thứ hai, theo khả năng tư duy – đây cũng  
là cách phân loại phổ biến hơn khi AI được  
chia thành 3 loại: Narrow AI, General AI và  
Strong AI. Đối với Narrow AI, loại này chỉ  
có thể giải quyết một công việc cụ thể trong  
phạm vi được hướng dẫn. Với General AI,  
trí tuệ nhân tạo này có thể thực hiện bất kỳ  
nhiệm vụ sử dụng trí tuệ nào có độ chính con người, bởi lẽ các máy học có thể đạt  
xác tương đương như con người. Ở cấp tới trình độ tự giải quyết vấn đề. Mặc dù ở  
độ cao nhất - Strong AI, được coi là thông thời điểm hiện tại, AI mới chỉ dừng lại là  
4
Rich và Knight (1991) cho rằng Trí tuệ nhân tạo là khoa học nghiên cứu xem làm thế nào để máy tính có  
thể thực hiện những công việc mà hiện con người còn làm tốt hơn máy tính. Xem thêm E Rich & K Knight  
E. Rich (1991), Artificial Intelligence (Second Edition), McGraw (Second Edition), McGraw-Hill New York  
Hill, New York.  
5 Thuộc nghiên cứu các hành vi thông minh mô phỏng các vật thể nhân tạo (Nilsson, 1998). Xem thêm N. J.  
Nilsson (1998), Artificial Intelligence: A New Synthesis, Morgan Kaufmann, San Mateo, C lif in California..  
6 What is Artificial Intelligence? How Does AI Work? (2016), retrieved on 17/01/2021, from <https://builtin.  
com/artificial-intelligence>..  
7 Arend Hintze (2016), Understanding the Four Types of Artificial Intelligence, Michigan State University,  
Artificial-Intelligence.html>.  
8 Kateryna Nekit, Vira Tokareva & Volodymyr Zubar (2020), “Artificial intelligence as a potential subject of  
property and intellectual property relations”, Ius Humani Law Journal, vol 9 no 1, pp. 237-238.  
9
Bức tranh “Chân dung của Edmond Belamy” được sáng tác bởi AI do nhóm 3 nghệ sĩ Pháp sở hữu. Xem  
thêm: Is artificial intelligence set to become art’s next medium? (2018), retrieved on 19/01/2021, from <https://  
www.christies.com/features/A-collaboration-between-two-artists-one-human-one-a-machine-9332-1.aspx>.  
Số 12(436) - T6/2021  
15  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
hệ thống máy móc với khả năng giới hạn,  
nhưng trong tương lai, vấn đề xảy ra khi các  
hệ thống có thể tự học để thực hiện những  
nhiệm vụ mà không có định hướng hay giám  
sát từ con người được một số nghiên cứu gọi  
là sự tự trị10. Stephen Hawking - Nhà vật lý  
người Anh, nhận định rằng: “Trí tuệ nhân  
tạo có thể là một sự kiện (tốt) lớn nhất trong  
lịch sử nhân loại, hoặc nó có thể là một sự  
kiện tồi nhất mà chúng ta vẫn chưa biết”11.  
Do đó, để quản lý, kiểm soát AI một cách  
tối ưu và tận dụng triệt để lợi ích nó mang  
lại thì việc dự trù, thiết lập khung pháp lý  
điều chỉnh những vấn đề phát sinh liên quan  
đến AI là điều cần thiết. Theo đó, việc cấp  
bách đầu tiên cần giải quyết là “định vị” AI  
trong hệ thống pháp luật.  
trở thành “người lao động” thực thụ là hoàn  
toàn có căn cứ. Do đó, sẽ là thiếu thuyết phục  
nếu coi AI là một tài sản, công cụ hay sản  
phẩm, chúng cần được trao tư cách pháp lý  
và các quyền, nghĩa vụ tương ứng khi tham  
gia vào các quan hệ xã hội. Mặt khác, do tồn  
tại định kiến với AI, trên thực tế con người  
đã có những hành động bạo lực đối với  
những cỗ máy này. Trong tương lai khi AI  
tiên tiến hơn, chúng có khả năng suy nghĩ  
và hành động gần như con người thì việc đặt  
ra cơ chế bảo vệ AI là cần thiết. Ngược lại,  
trường hợp AI gây hại cho con người cũng  
hoàn toàn có thể xảy ra. Vì vậy, việc xác định  
tư cách pháp lý của AI sẽ là tiền đề để quản  
lý, giám sát AI, tránh việc AI gây tổn hại đến  
đời sống xã hội.  
Khi AI đạt đến trình độ phát triển nhất  
định, chúng không còn là những thực thể vô  
tri vô giác, chúng có khả năng nhận thức, học  
hỏi, tự đưa ra quyết định, có khả năng độc lập  
sáng tạo. Nhu cầu của mọi người đối với các  
cỗ máy thông minh ngày càng cao chính là  
động lực thúc đẩy sự phát triển củaAI. Trong  
tương lai, việc AI tham gia vào các quan hệ  
xã hội cùng với các chủ thể khác là hoàn toàn  
có thể, điều này sẽ làm phát sinh các quan hệ  
pháp luật mới cần điều chỉnh. Điều gì sẽ xảy  
ra khi một robot tích hợp AI thực hiện cách  
hành vi gây hại cho con người, chế tài đối với  
thực thể này như thế nào hay một khiAI tham  
gia vào các quan hệ xã hội làm phát sinh các  
vấn đề pháp lý thì sẽ được điều chỉnh như thế  
nào? Điển hình là khả năng tham gia xác lập  
quan hệ lao động củaAI. Năm 2018, Báo cáo  
về thị trường việc làm của Diễn đàn Kinh  
tế thế giới dự đoán, vào năm 2025, robot và  
máy móc được điều khiển bởi AI sẽ thực  
hiện phân nửa các chức năng sản xuất tại nơi  
làm việc; ở viễn cảnh xa hơn, triển vọng AI  
Trao tư cách pháp lý cho AI đồng nghĩa  
với việc trao một số quyền nhất định tương  
xứng với những đặc tính mà AI có và hỗ trợ  
cho những đóng góp của nó trong xã hội.  
Tuy nhiên, AI cần được xem xét như một chủ  
thể mới trong quan hệ pháp luật chứ không  
xếp nó vào nhóm chủ thể hiện có. Bởi lẽ, AI  
mang những đặc điểm không đồng nhất với  
các chủ thể của quan hệ pháp luật hiện tại:  
mặc nhiên AI không mang đặc điểm của một  
tổ chức, AI là một thực thể nhân tạo, không  
phải thực thể tự nhiên như con người.  
2. Quy định của pháp luật của một số  
nước trên thế giới về tư cách pháp lý của  
trí tuệ nhân tạo  
Trên bình diện quốc tế, song song với  
việc nghiên cứu phát triển và ứng dụng AI,  
giải quyết các thách thức pháp lý mà AI  
mang lại luôn là vấn đề mà các chính phủ và  
giới học giả quan tâm. Nhiều nước trên thế  
giới đã tiến hành nghiên cứu và có những  
bước đi đáng kể trong việc xây dựng hành  
10 European Group on Ethics in Science and New Technologies, Statement on Artificial Intelligence, Robotics  
and “Autonomous” Systems, Luxembourg: Publications Office of the European Union, 2018.  
11  
Wil M. P. van der Aalst. (2016), Process Mining - Data Science in Action, 2nd edition, Springer.  
16  
Số 12(436) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội  
liên quan đến AI12.  
quyền tự chủ của robot được hỗ trợ bởi AI và  
mức độ tham gia của bên thứ ba vào việc điều  
khiển robot. Nghị Quyết “[...] lưu ý rằng, ít  
nhất ở giai đoạn hiện tại, trách nhiệm phải  
thuộc về con người chứ không phải robot”14;  
theo đó, khi xung đột pháp lý phát sinh, robot  
không thể chịu trách nhiệm về các hành động  
và/hoặc không hành động mà trách nhiệm  
sẽ thuộc về người dùng, nhà phát triển phần  
mềm hoặc nhà sản xuất. Thêm vào đó, Nghị  
quyết còn đưa các đề xuất “tạo một tình trạng  
pháp lý cụ thể cho robot về lâu dài, để ít nhất  
robot tự động tinh vi nhất có thể được thiết  
lập như có tư cách của những cá nhân điện tử  
chịu trách nhiệm giải quyết mọi thiệt hại mà  
chúng có thể gây ra và có thể áp dụng nhân  
cách điện tử15 (electronic personality) cho các  
trường hợp robot đưa ra quyết định tự chủ  
hoặc tương tác với các bên thứ ba một cách  
độc lập”16.  
Sự kiện đánh dấu cột mốc đầu tiên trong  
lịch sử công nhận quyền công dân cho robot  
trên thế giới là vào năm 2017, tại Ả Rập Xê  
Út, quốc gia này đã trao quyền công dân cho  
robot xã hội Sophia13. Theo David Hanson-  
cha đẻ của robot này, Sophia được tạo ra  
nhằm mục đích “lên tiếng về quyền của phụ  
nữ” ở Ả Rập Xê Út. Hanson cũng tin rằng các  
quyền của robot là tiền đề quan trọng để “trở  
thành con người” - điều này là có khả năng  
khi robot bắt đầu chia sẻ suy nghĩ có ý thức  
với con người. Ông giải thích: “Nó không chỉ  
đòi hỏi khả năng thể chất, mà còn là cảm giác  
khao khát tự chủ, cũng như sự tò mò và nhận  
thức về trạng thái của một người”.  
Ngày 16/2/2017, Nghị viện châu Âu đã  
thông qua Nghị quyết với các khuyến nghị đối  
với Ủy ban về Quy tắc Luật Dân sự về robot  
(Nghị Quyết). Nội dung của Nghị Quyết này  
bao gồm việc xác định các loại hình sử dụng  
AI, các vấn đề về trách nhiệm pháp lý, đạo  
đức và cung cấp các quy tắc ứng xử cơ bản  
cho các nhà phát triển, nhà điều hành và nhà  
sản xuất trong lĩnh vực robot, các quy tắc  
dựa trên ba định luật về công nghệ rô bốt của  
Azimov (1942). Trong tương lai gần, Nghị  
quyết xác định vấn đề quan trọng đầu tiên là  
Ở Nga, trong quá trình sửa đổi Bộ luật Dân  
sự (BLDS) Liên bang Nga, một dự thảo luật  
về lĩnh vực robot có tên là “Robot-Agent” đã  
được như là một chủ thể của quan hệ dân sự,  
tham gia vào hoạt động dân sự theo quyết định  
của chủ sở hữu và dựa trên các tính năng thiết  
kế của nó17, bất kể quyền tự chủ của robot,  
áp đặt tất cả trách nhiệm cho nhà phát triển,  
người vận hành hoặc nhà sản xuất robot và  
12 A. Atabekov, O. Yastrebov (2018), “Legal Status of Artificial Intelligence Across Countries: Legislation on  
the Move”, European Research Studies Journal, XXI(4), pp.773-782.  
13 Sophia là robot hình người được phát triển bởi Hansen Robotics Technology có trụ sở tại Hồng Kông, Trung  
Quốc. Sophia xuất hiện lần đầu tiên vào tháng tư năm 2015 tại Liên hoan South By Southwest Texas, với cấu  
thành từ ba phần: trí tuệ ở mức rất cơ bản để trả lời những câu hỏi đơn giản, khả năng diễn thuyết với tài liệu  
được cung cấp sẵn và kết hợp thuật toán để ngắt nối câu từ sao cho hợp lý. Ngoài ra, còn có một hệ thống  
sử dụng chatbot kết hợp với cơ khí, giúp Sophia có thể nhận dạng khuôn mặt, lắng nghe để lọc ra những “từ  
khóa”, sau đó lựa chọn những câu trả lời được soạn sẵn để phát ngôn. Sophia chỉ có thể trả lời những câu hỏi  
khi được kết nối với Internet, máy tính và chỉ giới hạn trong những thông tin mình có được.  
14  
European Parliament resolution of 16 February 2017 with recommendations to the Commission on Civil  
eu/legal-content/EN/TXT/?uri=CELEX%3A52017IP0051>.  
15 Xem tài liệu đã dẫn tại chú thích 15.  
16 Xem tài liệu đã dẫn tại chú thích 15.  
17 Xem tài liệu đã dẫn tại chú thích 19.  
Số 12(436) - T6/2021  
17  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
bao gồm các vấn đề về quyền đại diện của  
robot trước tòa án, các cơ quan giám sát...18  
Có thể thấy, sự phát triển mạnh mẽ của  
AI chính là động lực thúc đẩy các nhà lập  
pháp nghiên cứu, thiết lập khung pháp lý  
điều chỉnh các vấn đề phát sinh mà AI mang  
lại ở thời điểm hiện tại cũng như các thách  
thức về mặt pháp lý trong tương lai. Một số  
quốc gia trên thế giới đã có những động thái  
tích cực trong việc giải quyết các vấn đề này.  
Nhìn chung, về tư cách pháp lý của AI có 2  
hướng giải quyết sau đây:  
Thứ nhất, xét AI có các quyền và nghĩa  
vụ như con người, nhưng phần lớn pháp luật  
quốc gia và quốc tế đều không đi theo cách  
tiếp cận này;  
Thứ hai, coi AI là một đối tượng đặc biệt  
trong hệ thống pháp luật với bản chất là một  
công cụ, hoàn toàn không được trao các  
quyền như con người.  
và chuỗi ADN, là robot hội tụ rất nhiều công  
nghệ như AI, dữ liệu lớn, vạn vật kết nối,  
điện toán đám mây... Về khả năng, robot  
này có thể trả lời được kiến thức về hầu hết  
mọi lĩnh vực, có thể nhận dạng khuôn mặt,  
nhận dạng hình ảnh và đo được nhịp tim của  
người đối diện. Có thể nói, Trí Nhân chính  
là thành công lớn của ngành khoa học AI  
tại Việt Nam, hứa hẹn sự phát triển của AI  
và ứng dụng rộng rãi của nó vào cuộc sống  
trong tương lai19.  
Tuy nhiên, bên cạnh chính sách phát  
triển AI được chú trọng, nhưng việc dự liệu,  
thiết lập khung pháp lý điều chỉnh các vấn  
đề phát sinh liên quan đến AI lại chưa được  
quan tâm đúng mức. Xét tổng thể, trong hệ  
thống pháp luật của nước ta hiện nay, không  
gian pháp lý điều chỉnh các quan hệ pháp  
luật có sự tham gia của công nghệ còn hạn  
hẹp, không thể xử lý được các vấn đề phát  
sinh liên quan đến AI. Do đó, việc chuẩn  
bị những giải pháp, kịch bản cụ thể trước  
viễn cảnh AI phát triển mạnh tại Việt Nam  
là hết sức cần thiết. Để có những giải pháp  
tối ưu giải quyết các thách thức pháp lý mà  
AI mang lại, theo xu hướng chung, việc đầu  
tiên là xác định tư cách pháp lý cho AI.  
Theo quy định của BLDS của nước ta, chủ  
thể của quan hệ pháp luật là cá nhân, pháp  
nhân20. DoAI là thực thể nhân tạo, không phải  
thực thể tự nhiên như con người; do đó, không  
thể gộp AI vào nhóm chủ thể là cá nhân; hiển  
nhiên AI cũng không phải là tổ chức, không  
mang các đặc điểm để được công nhận là  
pháp nhân. Mặt khác, cũng không nên coi AI  
chỉ là một công cụ. Bởi lẽ, trong tương lai,  
3. Xác lập tư cách pháp lý cho trí tuệ nhân  
tạo tại Việt Nam  
Ở Việt Nam, AI được ứng dụng vào  
nhiều lĩnh vực của đời sống và đạt được  
những thành tựu đáng kể. Đặc biệt, vào  
ngày 22/11/2020, trong khuôn khổ Diễn đàn  
công nghệ giáo dục EDU 4.0, Người máy  
Trí Nhân được ra mắt. Đây là người máy  
“make in VietNam” đầu tiên. Trí Nhân ra  
đời với mục đích giáo dục, hỗ trợ cho việc  
dạy và học của giảng viên và học sinh, sinh  
viên. Về cấu tạo, Trí Nhân là một robot nam  
có kích thước của một người trưởng thành,  
được in 3D với 5 giác quan và các yếu tố  
mô phỏng sinh học như tim phổi nhân tạo  
18 A.Atabekov, Oleg Aleksandrovich Yastrebov (2018), Legal status of artificial intelligence across countries:  
Legislation on the move, European Research Studies Journal, Volume XXI, Issue 4, p. 778–779, retrieved  
intelligence_across_countries_Legislation_on_the_move>.  
19 Trí Nhân: Người máy AI “Make in Vietnam” lần đầu ra mắt (2020), Thông tin và Truyền thông, truy cập  
2172125704.htm >.  
20 Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự Việt Nam ban hành ngày 24/11/2015, Điều 1 đã quy định các chủ thể tham  
gia vào các quan hệ dân sự phải là cá nhân hoặc pháp nhân.  
18  
Số 12(436) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
viễn cảnh AI tự mình tham gia vào các quan  
hệ xã hội một cách độc lập là hoàn toàn có thể  
xảy ra. Việc coi AI là tài sản, công cụ hay sản  
phẩm là chưa phù hợp với trình độ phát triển  
của AI. Từ các lập luận này, có thể thấy rằng,  
giải pháp tối ưu nhất cho vấn đề là trao tư cách  
pháp lý cho AI, coi nó là một chủ thể độc lập  
với các chủ thể thực tại, từ đó xây dựng khung  
pháp lý riêng điều chỉnh các vấn đề pháp lý  
liên quan đến AI.  
Khi thiết lập tư cách pháp lý cho AI, cần  
xác lập tên gọi cho AI. Chúng tôi cho rằng,  
AI là “cá nhân điện tử”. Đây là một cái tên  
phù hợp vì có lý do sau:  
Thứ nhất, AI là một thực thể nhân tạo,  
không phải con người, hoạt động dựa trên  
nguyên lý điện tử học.  
Thứ hai, pháp luật Việt Nam hiện nay đã  
ghi nhận khái niệm “cá nhân” cũng như có  
nhiều khái niệm liên quan đến “điện tử”21, do  
đó khái niệm cá nhân điện tử sẽ không gây  
khó khăn nhiều cho việc giải thích và sử dụng.  
Tuy nhiên, không phải bất cứ AI nào “sinh  
ra” cũng được trao tư cách pháp lý, mà chỉ có  
những AI phát triển đạt đến ngưỡng có thể tự  
mình hoạt động độc lập không phụ thuộc vào  
con người, cộng thêm với việc được tích hợp  
trong cơ thể của một robot, thì AI đó mới có  
thể được công nhận là một chủ thể mới của  
quan hệ pháp luật. Do vậy, đi kèm với việc trao  
tư cách pháp lý thì Nhà nước cần xây dựng  
khung tiêu chuẩn đánh giá năng lực riêng cho  
AI. Việc đánh giá khả năng của AI để công  
nhận tư cách pháp lý cần phải có thời gian  
quan sát, nghiên cứu cũng như tham khảo ý  
kiến của các chuyên gia về các lĩnh vực công  
nghệ để xây dựng bộ tiêu chuẩn và quy trình  
giám định kèm theo. Khi được công nhận tư  
cách pháp lý, AI sẽ được định dạng như một  
chủ thể của quan hệ pháp luật. Tuy nhiên, do  
AI không có đầy đủ nhận thức và khả năng  
tư duy, chịu trách nhiệm như một thể nhân,  
pháp nhân. Vì vậy, các quyền của AI cũng  
phải bị giới hạn chứ không hoàn toàn giống  
như các quyền của các chủ thể trong quan hệ  
pháp luật hiện nay. Các quyền và nghĩa vụ này  
sẽ bị giới hạn tương ứng với khả năng tham  
gia vào quan hệ xã hội một cách độc lập của  
AI. Song song đó là vấn đề trách nhiệm pháp  
lý của AI, chúng tôi cho rằng, chúng ta cần  
tham khảo Nghị quyết của Nghị viện châu  
Âu22. Theo đó, trách nhiệm pháp lý phát sinh  
từ AI sẽ thuộc về con người, cụ thể là chủ sở  
hữu của cá nhân điện tử này vì các lý do sau:  
thứ nhất, trong tương lai gần, AI không thể tự  
chịu mọi trách nhiệm pháp lý cho những hành  
động của mình mà chỉ có thể chịu trách nhiệm  
giới hạn trong khả năng của nó; thứ hai, chủ  
sở hữu AI, bên cạnh việc được hưởng lợi từ  
các quyền tài sản của AI nên cũng phải đại  
diện và chịu trách nhiệm choAI trong các vấn  
đề phát sinh khác.  
Hiện tại, việc xem xét đặt ra tư cách cho  
AI có thể được xem là mới mẻ. Tuy nhiên,  
trong tương lai nếu AI đáp ứng đủ điều kiện  
thì cần được công nhận tư cách pháp lý. Do  
đó, để chuẩn bị cho viễn cảnh AI phát triển  
mạnh mẽ tại Việt Nam, việc nghiên cứu, xem  
xét, đề ra các dự thảo luật điều chỉnh các vấn  
đề có thể phát sinh là điều cần thiết  
21 “Điện tử” xuất hiện trong các thuật ngữ pháp lý như “thương mại điện tử”, “tiền điện tử”. Điện tử thường  
được hiểu là một không gian điện tử, không gian số lưu giữ giá trị của sự kiện, vật thể đang xác định. Ví dụ,  
theo Dự thảo Nghị định quy định về thanh toán không dùng tiền mặt Điều 3 (12), tiền điện tử được xác định là  
“giá trị tiền tệ lưu trữ trên các phương tiện điện tử”. Tương tự như vậy, “cá nhân điện tử” có thể được hiểu như  
một cá nhân khác với cá nhân sinh học. Tính “cá nhân” của chủ thể này được thể hiện trên nền tảng số, trong  
một không gian điện tử. Chính không gian điện tử thay thế cho cơ quan sinh học, sẽ mang vai trò chủ đạo, điều  
khiển cá nhân có thể suy nghĩ, hành động. Tương tự với các cơ quan quan trọng của cá nhân tự nhiên khi xác  
định sự sống - chết pháp lý, y học, là não và tim, là các cơ quan sinh học.  
22 Neznamov, A., Naumov, V. (2017), Model Convention on Robotics and AI, retrieved on 21/01/2021, from  
<http://robopravo.ru/matierialy_dlia_skachivaniia#ul-id-4-35>.  
Số 12(436) - T6/2021  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 66 trang Thùy Anh 11761 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 12 - Năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftap_chi_nghien_cuu_lap_phap_so_12_nam_2021.pdf