Thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM 1
Vũ Công Giao*
Vũ Thành Cự**
Phạm Thị Yến***
* PGS.TS. Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
** Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
*** ThS. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Tham nhũng là “giặc nội xâm”2, là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế
độ, là tác nhân chính dẫn đến làm giảm hiệu quả quản lý của bộ máy nhà
nước3. Chính vì vậy, kể từ khi bắt đầu Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước
(1986), vấn đề đấu tranh phòng, chống tham nhũng luôn được Đảng và Nhà
nước quan tâm. Trong mấy năm gần đây, cuộc chiến chống tham nhũng
ở nước ta đã giành được những thành tựu, thể hiện qua việc đưa ra xét xử
nhiều vụ án tham nhũng lớn mà trong đó nhiều quan chức cấp cao đã bị kết
án4 - điều chưa từng có trước đây. Tuy nhiên, tình trạng tham nhũng ở nước
ta hiện vẫn còn khá phổ biến và gây nhiều bức xúc trong xã hội5. Trong
phạm vi bài viết này, các tác giả phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, những
thách thức đặt ra đối với việc thu hồi tài sản tham nhũng và đề xuất giải pháp
nâng cao hiệu quả của việc thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Tham nhũng, tài sản
tham nhũng, thu hồi tài sản tham
nhũng.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 15/3/2021
: 27/3/2021
: 29/3/2021
Article Infomation:
Abstract:
Corruption is the "internal invaders", the threat to the survival of the regime,
the main factor leading to the reduction of the management efficiency of the
state apparatus. Therefore, since the beginning of the comprehensive national
reform (1986), fights against corruption have always got concerns by both the
Party and the State. In recent years, the fights against corruption in our country
have gained significant achievements, as evidenced by the trial of many major
corruption cases in which several high-position officials have been sentenced,
which is an unprecedented phenomenon. However, corruption in our country
is still quite common and causes great frustrations in society. Within the scope
Keywords: Corruption, corrupted
assets, recovery of corrupted
assets.
Article History:
Received
Edited
: 15 Mar. 2021
: 27 Mar. 2021
: 29 Mar. 2021
Approved
of this article, the authors provide an analysis of the political ground and legal
123
45
basis, the challenges posed to the recovery of corrupted assets, and also solu-
tions to improve the efficiency of the recovery of corrupted assets in Vietnam.
1 Bài viết có sử dụng kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp bộ: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoàn thiện
pháp luật giải quyết xung đột lợi ích và thu hồi tài sản tham nhũng trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
hiện nay” do GS.TS. Phan Trung Lý làm Chủ nhiệm.
2 LêHiệp.Tổngbíthư, Chủtịchnước:“Lợiíchnhóm, thamnhũnglàgiặcnộixâmvôcùngnguyhiểm”,https://thanhnien.
vn/thoi-su/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-loi-ich-nhom-tham-nhung-la-giac-noi-xam-vo-cung-nguy-hiem-1225373.html.
3 Quốc Anh, “Tham nhũng trở thành nguy cơ chính đe dọa sự tồn vong chế độ”, https://dantri.com.vn/xa-hoi/
tham-nhung-tro-thanh-nguy-co-chinh-de-doa-su-ton-vong-che-do-20151224222419406.htm.
4
10 vụ án lớn về kinh tế, tham nhũng và các vụ án điển hình được đưa ra xét xử trong năm 2018, Tạp
nhung-va-cac-vu-an-dien-hinh-duoc-dua-ra-xet-xu-trong-nam-2018.
5 An Nguyễn, Bộ Công an: Tội phạm về kinh tế, tham nhũng vẫn nghiêm trọng, https://baodautu.vn/bo-cong-
an-toi-pham-ve-kinh-te-tham-nhung-van-nghiem-trong-d121993.html.
Số 07(431) - T4/2021
15
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
1. Quan niệm về tài sản, tài sản tham nhũng
và thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam
Tuy nhiên, trong thực tế, xung quanh khái
niệm “tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng”,
ở Việt Nam hiện vẫn còn những quan điểm
khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, tài
sản có nguồn gốc từ hành vi tham nhũng là tài
sản không trực tiếp có được do thực hiện các
hành vi bị xem là tội phạm tham nhũng, mà
có được do lợi dụng chức vụ, quyền hạn hay
lạm quyền trong khi thi hành công vụ để gây
ảnh hưởng đối với người khác; do giả mạo
trong công tác; do đưa hối lộ, môi giới hối
lộ của người có chức vụ, quyền hạn để giải
quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị
hoặc địa phương; do lợi dụng chức vụ, quyền
hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước..9.
Quan điểm thứ hai cho rằng, tài sản có nguồn
gốc từ hành vi tham nhũng gồm các loại tài
sản có được từ hành vi tham nhũng nhưng
đã được người thực hiện hành vi tham nhũng
và người khác hợp pháp hóa để đầu tư trực
tiếp vào sản xuất kinh doanh, biến tiền “bẩn”
thành tiền “sạch” (gọi là rửa tiền), hay để trả
các khoản nợ, vay cũ tại các ngân hàng, các cơ
quan, tổ chức, cá nhân; kể cả để dùng vào mục
đích từ thiện như xây bệnh viện, trường học,
đình, chùa, miếu mạo10.
1.1.Quan niệm về tài sản, tài sản tham
nhũng ở Việt Nam
Ở Việt Nam, có nhiều cách định nghĩa ít
nhiều khác nhau về “tài sản”. Theo Đại từ
điển tiếng Việt: “Tài sản là của cải vật chất
dùng để sản xuất hoặc tiêu dùng”6; còn theo
Từ điển Luật học: “Tài sản là các vật có
giá trị bằng tiền và là đối tượng của quyền
tài sản và các lợi ích vật chất khác”7. Cuốn
Thuật ngữ pháp lý giải thích cụ thể hơn: “Tài
sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá
được bằng tiền và các quyền về tài sản. Tài
sản có hai loại: bất động sản và động sản”8.
Về mặt pháp lý, Điều 105 Bộ luật Dân
sự (BLDS) năm 2015 quy định: “Tài sản là
vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài
sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất
động sản và động sản có thể là tài sản hiện
có và tài sản hình thành trong tương lai”.
Cũng từ góc độ pháp lý, khoản 1 Điều 3
Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN)
năm 2018 quy định: “Tham nhũng là hành
vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi
dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Kết
hợp giữa các khái niệm tài sản và tham
nhũng, khoản 3 Điều 3 Luật PCTN năm
2018 nêu ra định nghĩa về tài sản tham
nhũng: “Tài sản tham nhũng là tài sản có
được từ tham nhũng, tài sản có nguồn gốc
từ tham nhũng”.
Như vậy, có thể thấy rằng, ở Việt Nam,
quan điểm về tài sản tham nhũng vẫn chưa cụ
thể và có xu hướng hẹp hơn so với nhận thức
chung của cộng đồng quốc tế. Cụ thể, theo
khoản d Điều 2 Công ước của Liên hợp quốc
về chống tham nhũng (UNCAC)11, tài sản [tài
sản tham nhũng] “… có nghĩa là mọi loại
tài sản, vật chất hay phi vật chất, động sản
6 Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008, tr.1417.
7 Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa; Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội 2006, tr.685.
8 Nguyễn Mạnh Hùng, Thuật ngữ pháp lý, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.384.
9 Đinh Văn Quế, “Thu hồi tài sản tham nhũng - Thực trạng và giải pháp”, tham luận tại Hội thảo “Thu hồi tài
sản tham nhũng - Thực trạng và giải pháp”, do Ban Nội chính Trung ương tổ chức, tháng 4/2014.
10
Bùi Minh Thanh, “Thu hồi tài sản tham nhũng trong hoạt động điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra,
Bộ Công an”, tham luận tại Hội thảo “Thu hồi tài sản tham nhũng - Thực trạng và giải pháp”, do Ban Nội
chính Trung ương tổ chức, tháng 4/2014.
11https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Cong-uoc-chong-tham-nhung-cua-Lien-Hop-quoc-
09-12-2003-94971.aspx.
16
Số 07(431) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
hay bất động sản, hữu hình hay trừu tượng,
và các văn bản pháp lý hay giấy tờ chứng
minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản
đó”. Ngoài ra, theo Điều 31 UNCAC, tài sản
tham nhũng là những “tài sản có nguồn gốc
từ tội phạm được quy định theo Công ước này
hoặc tài sản có giá trị tương đương với giá trị
của tài sản do phạm tội mà có” (khoản 1(a))
và “tài sản, trang thiết bị hay công cụ khác
được sử dụng hoặc sẽ được sử dụng để thực
hiện hành vi phạm tội quy định theo Công
ước này” (khoản 1(b)), và “thu nhập hoặc các
lợi ích khác có được từ tài sản do phạm tội
mà có, từ tài sản được biến đổi hoặc chuyển
đổi từ tài sản do phạm tội mà có hoặc từ tài
sản mà trong đó lẫn lộn một phần là tài sản
do phạm tội mà có …” (khoản 6). Như vậy,
theo các quy định này của UNCAC, tài sản
tham nhũng có thể là hữu hình hoặc vô hình,
có được một cách trực tiếp từ hành vi tham
nhũng, hoặc gián tiếp thông qua hành vi rửa
tiền tham nhũng. Tương tự, Tổ chức Hợp tác
kinh tế và Phát triển (OECD) định nghĩa tài
sản bị đánh cắp (stolen asset) là tiền bạc, của
cải, hoặc các tài sản khác tích lũy được thông
qua hành vi tham nhũng, trong đó bao gồm
hối lộ, tham ô, biển thủ tài sản hoặc ngân quỹ,
kinh doanh nhờ ảnh hưởng và lạm dụng chức
năng trong khu vực công12.
trường hợp tài sản có nguồn gốc từ hành vi
phạm tội mà không còn tồn tại, không thể
xác định hoặc giá trị đã giảm đáng kể so với
ban đầu, khoản 5 Điều 31 UNCAC khuyến
nghị hình thức “tịch thu phần giá trị được
xác định là có từ tài sản do phạm tội mà
có”. Theo đó, hình phạt tiền được cho là
tương đương với giá trị của tài sản do phạm
tội mà có sẽ được Tòa án cân nhắc sau khi
đánh giá khả năng thanh toán của bị cáo.
Đây là cách xử lý linh hoạt và triệt để. Ưu
điểm của phương thức tịch thu này là ở chỗ,
kể cả khi kẻ phạm tội đã “nhanh tay” tẩu tán
tất cả tài sản của mình cho người khác thì
bên thứ ba có được khối tài sản trên (cố ý
hay ngay tình) vẫn có thể bị tịch thu13. Tuy
nhiên, phương thức này hiện chưa được áp
dụng ở Việt Nam, dẫn đến bế tắc trong việc
thu hồi tài sản của nhiều vụ án tham nhũng
lớn, khi mà tài sản tham nhũng đã bị tẩu tán
hầu hết14.
2. Cơ sở chính trị, pháp lý của việc thu
hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam
2.1. Cơ sở chính trị
Trong hệ thống chính trị của nước ta hiện
nay, việc giải quyết các vấn đề xã hội lớn
đều cần phải dựa trên nền tảng quan điểm
định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất coi trọng
công tác PCTN, thể hiện qua các văn kiện
của Đảng, trong đó bao gồm các Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc, các nghị quyết
của Ban Chấp hành Trung ương và các chỉ
thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư…
1.2. Quan niệm về thu hồi tài sản tham
nhũng ở Việt Nam
Hiện nay, ở Việt Nam, do chưa có quy
định cụ thể về tài sản tham nhũng nên quan
điểm về cách thức thu hồi tài sản tham nhũng
cũng chưa được hiểu một cách thống nhất.
Các quy định trong pháp luật hiện hành của
Việt Nam về vấn đề này chưa rõ ràng và hẹp
so với các tiêu chuẩn quốc tế. Ví dụ, đối với
Xét riêng về vấn đề thu hồi tài sản tham
nhũng, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI của Đảng yêu cầu phải “Xử lý
12
14/11/2014.
13 Hướng dẫn lập pháp về thực thi Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng.
14 Ví dụ như xem Tài sản vụ ông Đinh La Thăng: Còn hơn 900 tỷ chưa thu hồi, https://vietnamnet.vn/vn/thoi-
su/chong-tham-nhung/tai-san-vu-ong-dinh-la-thang-con-hon-900-ty-chua-thu-hoi-485827.html.
Số 07(431) - T4/2021
17
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
đúng pháp luật, kịp thời, công khai cán
bộ tham nhũng; tịch thu sung công tài sản
tham nhũng, tài sản có nguồn gốc từ tham
nhũng”15.NghịquyếtTrungương3(khóaX)
nhấn mạnh, trong công tác PCTN, cần:
“Chú trọng thu hồi tài sản tham nhũng; áp
dụng chính sách khoan hồng đối với những
người phạm tội nhưng có thái độ thành
khẩn, đã bồi thường thiệt hại hoặc khắc
phục hậu quả kinh tế, hợp tác tốt với cơ
quan chức năng; nghiên cứu sửa đổi pháp
luật hình sự theo hướng khoan hồng hơn đối
với những người đưa hoặc người nhận hối
lộ nhưng đã tự giác khai báo và nộp lại tài
sản trước khi bị phát hiện; chú trọng tới các
chế tài phạt tiền nhằm tăng khả năng thu
hồi tài sản tham nhũng”16. Để thể chế hóa
các quan điểm đó thành các quy định của
pháp luật, Kết luận Hội nghị Trung ương 5
(khóa XI) đã yêu cầu các cơ quan chức năng
“Sửa đổi pháp luật hình sự theo hướng tăng
hình thức phạt tiền, miễn hoặc giảm hình
phạt khác đối với những đối tượng có hành
vi tham nhũng nhưng đã chủ động khai báo,
khắc phục hậu quả”17.
phải bồi thường theo quy định của pháp
luật (khoản 2).
Theo quy định của Điều 92 Luật PCTN
năm 2018, người có hành vi tham nhũng
giữ bất kỳ chức vụ, vị trí công tác nào đều
phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định
của pháp luật, kể cả người đã nghỉ hưu, thôi
việc, chuyển công tác (khoản 1). Hình thức
xử lý có thể là kỷ luật, xử phạt vi phạm hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
tùy theo mức độ vi phạm (khoản 2). Tuy
nhiên, người có hành vi tham nhũng đã chủ
động khai báo trước khi bị phát giác, tích
cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp
phần hạn chế thiệt hại, tự giác nộp lại tài sản
tham nhũng, khắc phục hậu quả của hành
vi tham nhũng thì được xem xét giảm hình
thức kỷ luật, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
miễn hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình
sự (khoản 4).
Cũng liên quan đến vấn đề thu hồi tài
sản tham nhũng, Điều 91 Luật PCTN năm
2018 quy định, trên cơ sở điều ước quốc
tế mà Việt Nam là thành viên, các cơ quan
có thẩm quyền của Việt Nam hợp tác với
các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
trong kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản,
tịch thu hoặc thu hồi tài sản tham nhũng
và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu, người
quản lý hợp pháp. Luật cũng giao cho Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan trung
ương về hợp tác quốc tế thu hồi tài sản tham
nhũng trong tố tụng hình sự; tiếp nhận, xử
2.2. Cơ sở pháp lý
Điều 93 Luật PCTN năm 2018 nêu ra hai
nguyên tắc: Tài sản tham nhũng phải được
thu hồi, trả lại cho chủ sở hữu, người quản
lý hợp pháp hoặc tịch thu theo quy định của
pháp luật (khoản 1) và Thiệt hại do hành vi
tham nhũng gây ra phải được khắc phục;
người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại
15 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, https://cpv.ctu.edu.vn/vn-bn-
quy-nh/36-trung-ng/135-vn-kin-i-hi-i-biu-toan-quc-ln-th-xi-ca-ng-cng-sn-vit-nam.
16 Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 21/8/2006, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X)
dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-x/nghi-quyet-so-04-nqtw-ngay-
2182006-hoi-nghi-lan-thu-ba-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-x-ve-tang-cuong-su-lanh-dao-602.
17 Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/5/2012, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về
việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCHTW (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xi/ket-luan-so-21-kltw-ngay-2552012-hoi-nghi-lan-thu-5-ban-chap-
hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve-viec-tiep-tuc-thuc-hien-554.
18
Số 07(431) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
lý yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự của
nước ngoài về thu hồi tài sản tham nhũng và
đề nghị nước ngoài thực hiện yêu cầu tương
trợ tư pháp hình sự về thu hồi tài sản tham
nhũng của Việt Nam; còn Thanh tra Chính
phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và cơ quan
nhà nước khác có liên quan, trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách
nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân
tối cao trong hợp tác quốc tế về thu hồi tài
sản tham nhũng.
Bộ luật này quy định về quyền của chủ sở
hữu đối với tài sản; xác định quyền của
chủ sở hữu trong việc đòi lại các tài sản bị
chiếm đoạt bất hợp pháp; đòi bồi thường
thiệt hại về tài sản do hành vi xâm phạm
gây ra; nghĩa vụ hoàn trả tài sản do chiếm
hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không
có căn cứ pháp luật. Như vậy, trong các
trường hợp tài sản bị chiếm đoạt bất hợp
pháp; bị thiệt hại do hành vi xâm phạm
trái pháp luật gây ra (trong đó có hành
vi tham nhũng); bị chiếm hữu, sử dụng,
được lợi không có căn cứ pháp luật (trong
đó có những tài sản có nguồn gốc từ tham
nhũng), thì chủ sở hữu có quyền đề nghị
cơ quan có thẩm quyền áp dụng các quy
định của BLDS để đòi lại các tài sản đó và
đòi bồi thường thiệt hại về tài sản do hành
vi xâm phạm gây ra.
Bên cạnh Luật PCTN, vấn đề thu hồi tài
sản tham nhũng còn được quy định trong
một số văn bản pháp luật khác như:
- Bộ luât Hình sự (BLHS) năm 2015
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm
2017 quy định về thu hồi tài sản nói chung,
thu hồi tài sản tham nhũng nói riêng, được
thể hiện trong các quy định về áp dụng hình
phạt tiền, tịch thu tài sản và các biện pháp
tư pháp đối với các tội phạm, trong đó có tội
phạm tham nhũng.
- Cũng như BLDS năm 2015, Bộ luật Tố
tụng dân sự (TTDS) năm 2015 không bao
hàm quy định riêng về thu hồi tài sản tham
nhũng, mà quy định về trình tự, thủ tục,
thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan
chức năng trong việc phát hiện, xử lý các tài
sản trong các vụ án dân sự; các biện pháp
khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự…
Những quy định này có thể được áp dụng
cho việc thu hồi tài sản (trong đó có tài sản
tham nhũng) trong các vụ án dân sự.
- Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) năm
2015 không bao hàm quy định riêng về thu
hồi tài sản tham nhũng. Việc thu hồi tài sản
tham nhũng có thể được thực hiện như đối
với các trường hợp thu hồi tài sản khác. Đối
với bị can, bị cáo phạm các tội mà BLHS
quy định có thể tịch thu tài sản hoặc phạt
tiền cũng như đối với người phải chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định
của pháp luật thì Bộ luật TTHS quy định
cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng thực
hiện việc kê biên tài sản. Đây là những biện
pháp nhằm bảo đảm cho việc thi hành các
quyết định của Tòa án về phạt tiền, tịch thu
tài sản, buộc bồi thường thiệt hại trong các
vụ án hình sự nói chung (trong đó có các vụ
án tham nhũng) được thuận lợi.
- Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều năm
2014 cũng không có quy định riêng cho
việc thu hồi tài sản tham nhũng. Tuy nhiên,
việc thu hồi tài sản tham nhũng trong thi
hành án dân sự có thể được thực hiện như
các trường hợp thi hành án thu hồi tiền, tài
sản khác. Trong vấn đề này, Luật Thi hành
án dân sự có các quy định liên quan đến
việc thi hành bản án, quyết định của Tòa
án về dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài
sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính,
xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết
- Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015
không bao hàm các quy định trực tiếp về
thu hồi tài sản tham nhũng. Tuy nhiên,
Số 07(431) - T4/2021
19
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
định dân sự trong bản án, quyết định về vụ
án hình sự.
của người ra quyết định thanh tra trong việc
quyết định thu hồi tiền, tài sản bị chiếm
đoạt, sử dụng trái phép hoặc bị thất thoát
do hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng
thanh tra gây ra. Những quy định này cũng
được áp dụng với tài sản tham nhũng.
- Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012
quy định về các biện pháp phòng ngừa, phát
hiện, ngăn chặn, xử lý tổ chức, cá nhân có
hành vi hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản
do phạm tội mà có và hợp tác quốc tế về
phòng, chống rửa tiền. Trong trường hợp
các đối tượng tham nhũng có hành vi hợp
pháp hóa nguồn gốc, dịch chuyển các tài
sản do phạm tội mà có thì có thể áp dụng
các quy định của Luật Phòng, chống rửa
tiền để thu hồi tài sản đó.
- Luật Tương trợ tư pháp năm 2007
quy định về nguyên tắc, thẩm quyền, trình
tự, thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp về
dân sự, hình sự; và trách nhiệm của các
cơ quan nhà nước Việt Nam trong tương
trợ tư pháp. Đây là căn cứ pháp lý để các
cơ quan có thẩm quyền thực hiện các hoạt
động tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với
các nước, trong đó có các hoạt động liên
quan đến việc thu hồi tài sản tham nhũng
ở nước ngoài.
- Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017
quy định về trách nhiệm của các tổ chức tín
dụng trong việc phòng, chống rửa tiền; hợp
tác với các cơ quan chức năng trong công
tác điều tra về hoạt động rửa tiền. Đây là
những quy định có tác dụng phòng ngừa và
phát hiện việc chuyển tài sản tham nhũng;
giúp cho việc phát hiện, thu giữ tài sản tham
nhũng được thuận lợi.
3. Những thách thức mà Việt Nam đang
phải đối mặt trong việc thu hồi tài sản
tham nhũng
Mặc dù công cuộc đấu tranh PCTN nói
chung, thu hồi tài sản tham nhũng nói riêng
đã có cơ sở chính trị, pháp lý khá toàn diện
và vững chắc; song hiện nay, việc thu hồi tài
sản tham nhũng vẫn còn nhiều thách thức
đặt ra.
- Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2015
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm
2019 quy định mục đích kiểm toán là: Phục
vụ việc kiểm tra, giám sát của Nhà nước
trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và
tài sản nhà nước; góp phần thực hành tiết
kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng
phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm
pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân
sách, tiền và tài sản nhà nước.
- Thách thức về mặt tội phạm học
Ở Việt Nam, chủ thể của tội phạm tham
nhũng, đặc biệt là tham nhũng lớn, thường là
những người có chức vụ, quyền hạn; có trình
độ học vấn và chuyên môn nhất định, am
hiểu pháp luật, có khả năng nhận biết những
khoảng trống của hệ thống pháp luật để thực
hiện hành vi phạm tội. Những chủ thể này
cũng thường có điều kiện tạo dựng được
nhiều mối quan hệ có khả năng “che chắn”,
“bảo vệ” cho hành vi sai phạm, thường có
sự chuẩn bị chu đáo khi phạm tội; khi thực
hiện xong chủ động xóa hết mọi dấu vết, tiêu
hủy giấy tờ, chứng từ, hóa đơn, sổ sách, che
giấu, tẩu tán tài sản tham nhũng. Thời gian
- Luật Thanh tra năm 2010 quy định về
thẩm quyền của Trưởng đoàn thanh tra hành
chính, thanh tra chuyên ngành và người ra
quyết định thanh tra hành chính, thanh tra
chuyên ngành trong việc yêu cầu tạm giữ
tiền, đồ vật, phong tỏa tài khoản để phục
vụ cho việc thanh tra cũng như ngăn chặn
hành vi tẩu tán tài sản của đối tượng thanh
tra. Luật này cũng quy định thẩm quyền
20
Số 07(431) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
gần đây, các vụ tham nhũng lớn ở Việt Nam
thường được thưc hiện trong một quy trình
khép kín, liên quan đến nhiều người nhưng
có sự liên kết, bao che, thống nhất về mặt lợi
ích; vì vậy, trong nhiều vụ án rất khó cá thể
hóa trách nhiệm hình sự khi có hiện tượng
tham nhũng tập thể; các đối tượng bằng nhiều
hình thức đã chuyển tài sản chung thành tài
riêng của một nhóm người có liên quan.
suy giảm và sự phổ biến của tham nhũng
trong nhiều thập kỷ dẫn đến tâm lý “sống
chung với tham nhũng”, “chấp nhận tham
nhũng” trong một bộ phận khá lớn người
dân - làm cho các hành vi tham nhũng và
việc che giấu tài sản tham nhũng ít bị phát
hiện và tố cáo. Tất cả những điều này tạo ra
một môi trường xã hội không thuận lợi cho
PCTN nói chung, cho việc thu hồi tài sản
tham nhũng nói riêng.
Mức độ khó khăn đối với các cơ quan
tư pháp còn cao hơn do việc kiểm soát tài
sản, thu nhập và thu hồi tài sản tham nhũng
thiếu hiệu quả nên nhiều đối tượng phạm
tội có tâm lý sẵn sàng chấp nhận hình phạt
để thụ hưởng tài sản tham nhũng. Những
đối tượng này thường không chịu hợp tác
với các cơ quan tố tụng để có thể che giấu,
tẩu tán tài sản tham nhũng. Bên cạnh đó,
do chính sách hình sự chưa thực sự hợp lý,
dẫn đến tình trạng người phạm tội cho là
dù có khai nhận, nộp lại tài sản tham nhũng
thì vẫn có thể phải chịu mức án cao nên họ
chấp nhận hình phạt, không chịu khai báo,
che giấu tài sản tham nhũng để người thân
trong gia đình hưởng lợi.
- Thách thức về mặt pháp lý
Như đã đề cập ở trên đây, vấn đề thu
hồi tài sản tham nhũng, mặc dù đã được đề
cập trong nhiều văn bản pháp luật, song xét
về nội dung, hệ thống pháp luật về thu hồi
tài sản tham nhũng vẫn còn nhiều khoảng
trống, thiếu cụ thể; công tác giải thích,
hướng dẫn thực thi pháp luật của cơ quan
có thẩm quyền chưa kịp thời gây khó khăn
cho việc xác định tài sản tham nhũng, cũng
như việc thu hồi tài sản tham nhũng.
4. Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham
nhũng ở Việt Nam hiện nay
Để nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản
tham nhũng, Việt Nam cần vận dụng kinh
nghiệm của một số nước trong vấn đề này
nhằm hoàn thiện khung chính sách, pháp
luật hiện hành của mình, cụ thể như sau:
- Thách thức về mặt xã hội
Ở nước ta, kể từ khi bắt đầu Công cuộc
đổi mới toàn diện đất nước (năm 1986),
mặc dù thanh toán qua tài khoản đã dần trở
lên quen thuộc hơn, song thói quen sử dụng
tiền mặt trong thanh toán vẫn còn rất phổ
biến, đặc biệt là trong các giao dịch dân sự.
Văn hóa sử dụng tiền mặt đã ăn sâu bén
rễ trong xã hội trong khi cơ chế kiểm soát
tài sản, thu nhập, quản lý các giao dịch dân
sự ở Việt Nam hiện còn khá lỏng lẻo; hệ
thống ngân hàng chưa hoàn thành vai trò
kiểm soát dòng tiền trong nền kinh tế, mức
độ minh bạch tài sản còn thấp và hệ thống
đăng ký tài sản mới đang được phát triển;
những giá trị liêm chính trong xã hội bị
Thứ nhất, cần có chiến lược toàn diện
và quyết tâm mạnh mẽ trong thu hồi tài
sản tham nhũng
Kinh nghiệm các quốc gia cho thấy,
những trở ngại về thể chế tác động nhiều
nhất đến hiệu quả các biện pháp thu hồi tài
sản tham nhũng. Những trở ngại này thể
hiện ở chiến lược thu hồi tài sản thiếu toàn
diện và quyết tâm chính trị thiếu mạnh mẽ,
nhất quán. Trong trường hợp đó, việc thu
hồi tài sản sẽ không được coi là vấn đề ưu
tiên trong PCTN và không được cung cấp
Số 07(431) - T4/2021
21
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
đầy đủ những nguồn nhân lực và tài chính
cũng như công cụ pháp lý cần thiết để triển
khai hiệu quả.
nhập của cán bộ, công chức, viên chức theo
hướng thực chất, có kiểm tra, xác minh và
công khai rộng rãi để người dân giám sát.
Nhà nước cũng cần xây dựng cơ chế kiểm
soát hiệu quả tài sản trong xã hội nói chung
để từ đó xác định được tài sản tham nhũng,
tài sản được hình thành từ tài sản tham
nhũng, tạo điều kiện cho việc thu hồi tài sản
tham nhũng.
Như đã phân tích ở trên, trong khoảng 10
năm gần đây, Việt Nam đã có những nhận
thức rõ ràng hơn về vai trò quan trọng của
công tác thu hồi tài sản tham nhũng, nhưng
cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có chính
sách và chiến lược toàn diện, với những
mục tiêu rõ ràng và lộ trình thực hiện cụ
thể trong vấn đề này. Vì vậy, để bảo đảm
sự thành công của việc thu hồi tài sản tham
nhũng, Việt Nam cần khắc phục những
hạn chế đó, và cần tạo sự phối hợp đồng
bộ, thống nhất giữa các cơ quan chức năng
cùng hành động với quyết tâm truy tìm và
thu hồi tài sản tham nhũng tới cùng, hiện
thực hóa thông điệp mà các tổ chức quốc tế
đã đề xuất đó là: “không có bến đỗ nào có
thể coi là an toàn cho những kẻ tham nhũng
và tài sản phi pháp của chúng”.
Thứ ba, xây dựng cơ chế thu hồi tài
sản tham nhũng không dựa trên kết án
hình sự
Để nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản
tham nhũng, Việt Nam nên vận dụng kinh
nghiệm về thu hồi tài sản không dựa trên
kết án hình sự mà nhiều nước trên thế giới
đã áp dụng, trong đó bao gồm các vấn đề
sau: (1) Giảm nghĩa vụ chứng minh trong
thu hồi tài sản đối với những tội phạm (đã
được quy định trong UNCAC và UNTOC);
(2) Chuyển nghĩa vụ chứng minh nguồn gốc
hợp pháp của tài sản cho người bị tình nghi
phạm tội sau khi cơ quan có thẩm quyền có
bằng chứng đáng tin cậy cho rằng tài sản
này có nguồn gốc bất hợp pháp; (3) Cho
phép tịch thu tài sản không dựa trên phán
quyết hình sự hoặc khi không chứng minh
được tội phạm; (4) Cho phép thực hiện một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định thu
hồi tài sản không dựa trên phán quyết của
Tòa án nước ngoài; (5) Cho phép phong tỏa
hoặc thu hồi tài sản hợp pháp thay thế có giá
trị tương đương với tài sản thất thoát; (6)
Công nhận và thi hành phần dân sự trong
quyết định, bản án của Tòa án nước ngoài,
đặc biệt liên quan đến tịch thu, hoàn trả tài
sản do phạm tội mà có.
Thứ hai, tăng cường kiểm soát tài sản,
thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn
Kinh nghiệm của cộng đồng quốc tế cho
thấy kiểm soát tài sản, thu nhập tốt là một
trong những điều kiện tiên quyết để thực
hiện các biện pháp thu hồi tài sản tham
nhũng. Kiểm soát tài sản, thu nhập, mà thể
hiện trước hết qua việc thực hiện minh bạch
về tài sản, thu nhập của người có chức vụ,
quyền hạn giúp các cơ quan chức năng phân
biệt được đâu là tài sản có nguồn gốc hợp
pháp và đâu là tài sản có nguồn gốc không
hợp pháp, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp
cho phù hợp.
Ở Việt Nam thời gian qua, việc thực hiện
minh bạch tài sản, thu nhập của người có
chức vụ, quyền hạn còn mang tính hình
thức, hiệu quả thấp. Vì vậy, để nâng cao
hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, Việt
Nam cần khắc phục hạn chế này, mà trước
hết cần cải cách việc kê khai tài sản, thu
Thứ tư, hình sự hóa hành vi làm giàu
bất chính
Hiện tại, Việt Nam đang gặp những khó
khăn trong việc xác định và xử lý những tài
sản của công chức nhà nước tăng lên một
22
Số 07(431) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
cách đáng kể so với thu nhập chính đáng
của họ mà không chứng minh được một
cách hợp lý về nguồn gốc của việc tăng lên
đó. Điều 20 của UNCAC quy định: Mỗi
Quốc gia thành viên sẽ áp dụng các biện
pháp lập pháp và các biện pháp cần thiết
khác nhằm quy định là tội phạm, nếu được
thực hiện một cách cố ý, hành vi làm giàu
bất chính, nghĩa là việc tài sản của một
công chức tăng đáng kể so với thu nhập
hợp pháp của công chức mà công chức này
không giải thích được một cách hợp lý về lý
do tăng đáng kể như vậy. Đây là quy định
mà Việt Nam có thể xem xét áp dụng để
giải quyết khó khăn nêu trên. Điều đó là bởi
việc xác lập tội danh làm giàu bất chính có
nghĩa là chuyển một phần nghĩa vụ chứng
minh để cá nhân phải chứng minh tính hợp
pháp đối với tài sản của họ. Nếu giải thích
được tài sản đã được thủ đắc một cách hợp
pháp thì sẽ không bị tịch thu. Khi áp dụng
quy tắc đảo ngược trách nhiệm chứng minh,
các đối tượng có liên quan phải chứng minh
tính hợp pháp của tài sản thuộc quyền sở
hữu của họ.
Việt Nam cần: (1) Thực hiện nghiêm các
quy định của Luật Phòng, chống rửa tiền
năm 2012; (2) Thực hiện đầy đủ các biện
pháp chống rửa tiền được quy định trong các
điều ước và chuẩn mực quốc tế (bao gồm
UNCAC và các khuyến nghị của Lực lượng
đặc nhiệm Tài chính về chống rửa tiền); (3)
Thực hiện các khuyến nghị của Sáng kiến
StAR18 liên quan đến những người có thế
lực chính trị, buộc các trung tâm tài chính
phải: Áp dụng các biện pháp kiểm tra thông
tin khách hàng đối với tất cả những người
có thế lực chính trị, là công dân của nước
sở tại hoặc công dân nước ngoài; yêu cầu
kê khai về chủ sở hữu hưởng lợi; yêu cầu
kê khai thu nhập và tài sản; tiến hành rà
soát định kỳ về các khách hàng là những
người có thế lực chính trị và không giới hạn
thời gian quy định một cá nhân được coi là
người có thế lực chính trị.
Thứ sáu, hoàn thiện quy định về phong
tỏa, kê biên, thu giữ và trả lại tài sản do
phạm tội mà có
Việc phong tỏa, kê biên, thu giữ và trả lại
tài sản do phạm tội mà có gắn liền với hoạt
động của các tổ chức tín dụng. Đây là biện
pháp phòng, chống rửa tiền theo khuyến
nghị của các tổ chức quốc tế và khu vực và
cả điều ước quốc tế về lĩnh vực này19.
Thứ năm, áp dụng có hiệu quả các biện
pháp phòng, chống rửa tiền
Mặc dù Việt Nam đã có Luật Phòng,
chống rửa tiền từ năm 2012, song các biện
pháp phòng, chống rửa tiền như kiểm tra
thông tin khách hàng hoặc báo cáo giao dịch
đáng ngờ chưa được thực hiện hiệu quả, các
cơ quan và tổ chức tài chính chưa thực hiện
được vai trò kiểm soát sự luân chuyển của
các tài sản bị thất thoát tới các trung tâm
tài chính. Để khắc phục những hạn chế đó,
Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc áp dụng các
biện pháp này còn nhiều bất cập. Để khắc
phục hạn chế này, Việt Nam cần nghiên cứu
bổ sung quy định cụ thể việc kê biên tài sản,
phong tỏa tài khoản tại các ngân hàng, các
tổ chức tín dụng mà áp dụng đối với người
18 StAR (Stolen Asset Recovery Initiative - Sáng kiến thu hồi tài sản thất thoát – là chương trình hợp tác giữa
Nhóm Ngân hàng thế giới và Văn phòng Liên hợp quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC) hỗ trợ các hoạt
động của quốc tế nhằm chấm dứt tình trạng bao che tham nhũng. StAR phối hợp với các nước đang phát triển
và trung tâm tài chính trong ngăn chặn rửa tiền liên quan đến tham nhũng và tạo điều kiện cho việc thu hồi các
19 Thanh tra Chính phủ (2014), Một số kinh nghiệm quốc tế về công tác phòng, chống tham nhũng, Tái bản lần
hai, Nxb. Lao động, tr. 268-269.
Số 07(431) - T4/2021
23
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
có hành vi phạm tội, qua đó để bảo đảm việc
thu hồi tài sản. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng
cần nghiên cứu, bổ sung quy định về trình
tự, thủ tục phong tỏa, kê biên, thu giữ và trả
lại tài sản do phạm tội mà có trong trường
hợp yêu cầu này do Tòa án nước ngoài ban
hành trong Bộ luật TTHS. Ngoài ra, Việt
Nam cũng cần xây dựng những công cụ hỗ
trợ cho quá trình xác định và phong tỏa tài
sản, bao gồm việc xây dựng và duy trì hệ
thống cơ sở dữ liệu công khai sẵn có về tài
sản các hồ sơ công ty, giấy tờ nhà đất và hồ
sơ của các tổ chức phi lợi nhuận; xây dựng
cơ sở dữ liệu thông tin ngân hàng ở cấp độ
quốc gia trong đó bao gồm những thông
tin về tài khoản, tên của những chủ sở hữu
hưởng lợi và những người được ủy quyền.
hiện kịp thời các yêu cầu tương trợ tư pháp
của Việt Nam.
Thứ tám, gia nhập Nhóm Đơn vị tình
báo tài chính Egmont
Để khẳng định sự quan trọng của việc
hợp tác quốc tế trong chống hoạt động rửa
tiền và tài trợ khủng bố, một nhóm các đơn
vị tình báo (FIUs) của một số nước đã gặp
nhau tại Egmont Arenberg Palace, Bussels
của Bỉ và quyết định thành lập mạng lưới
thông tin của các FIUs để thúc đẩy hợp tác
quốc tế. Hiện nay, mạng lưới này được biết
đến là Nhóm Egmont FIUs. Nhóm này có
nhiệm vụ thúc đẩy sự phát triển các FIUs để
hợp tác trong các lĩnh trao đổi thông tin, đào
tạo và chia sẻ chuyên gia.
Ở Việt Nam, ngày 12/6/2014, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 35/2014/QĐ-TTg quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của
Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng,
trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Trong cơ cấu tổ chức của Cơ quan Thanh tra
giám sát ngân hàng có Cục Phòng, chống
rửa tiền. Cục này có chức năng, nhiệm vụ
tương đương với FIUs của Việt Nam. Tuy
nhiên, Việt Nam vẫn cần xây dựng thêm các
đầu mối (đơn vị) ở cơ quan trung ương đảm
nhận chức năng, nhiệm vụ giống một FIUs,
đồng thời, chỉ định một trong các đầu mối
này gia nhập vào Nhóm Đơn vị tình báo tài
chính Egmont.
Thứ bảy, tăng cường hợp tác quốc tế
trong thu hồi tài sản tham nhũng
Hiện nay, ngoài Hiệp định Tương trợ tư
pháp về hình sự với các nước ASEAN và các
Hiệp định Tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn
độ với Hàn Quốc, hầu hết các hiệp định tương
trợ tư pháp khác mà Việt Nam đã ký kết đều
không có quy định về thu hồi tài sản phạm tội.
Luật Tương trợ tư pháp hiện thiếu chế định về
thu hồi tài sản và chưa xác định rõ vấn đề thu
hồi tài sản phạm tội có thuộc phạm vi tương
trợ tư pháp về hình sự hay không.
Do vậy, Việt Nam cần ưu tiên áp dụng
các hiệp định, thỏa thuận đã ký kết có nội
dung thu hồi tài sản tham nhũng. Việt Nam
cũng cần tiếp tục tham gia, ký kết các hiệp
định tương trợ tư pháp song phương trong
lĩnh vực hình sự và dẫn độ tội phạm với các
nước nhằm tạo cơ sở pháp lý, cơ chế phối
hợp trong xử lý các vụ tham nhũng có yếu
tố nước ngoài; tăng cường vai trò của các cơ
quan đầu mối trung ương trong tương trợ tư
pháp hình sự; thường xuyên trao đổi, đôn
đốc các cơ quan tố tụng nước ngoài thực
Thứ chín, hoàn thiện quy định liên
quan đến thu hồi tài sản
- Sửa đổi Luật PCTN năm 2018 theo
hướng mở rộng hơn nội hàm khái niệm
“tài sản tham nhũng”, “thu hồi tài sản tham
nhũng”. Theo đó, tài sản tham nhũng còn
bao gồm các tài sản phái sinh từ hành vi
tham nhũng (tài sản của Nhà nước, của
24
Số 07(431) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
xã hội, của cá nhân bị thiệt hại do hành vi
tham nhũng gây ra) hoặc tài sản có được
do áp dụng các chế tài đối với người có
hành vi tham nhũng (chế tài dân sự, chế
tài hành chính, chế tài hình sự); thu hồi tài
sản tham nhũng là hoạt động của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền nhằm thu hồi tài
sản do người có hành vi tham nhũng chiếm
đoạt, tài sản có nguồn gốc từ hành vi tham
nhũng, tài sản phái sinh từ hành vi tham
nhũng hoặc tài sản thu được từ việc áp
dụng các chế tài đối với người có hành vi
tham nhũng.
bồi thường thiệt hại để quyết định có hay
không ra lệnh kê biên tài sản bảo đảm cho
thi hành án.
- Sửa đổi Bộ luật TTDS năm 2015 theo
hướng: bổ sung quy định về quyền, nghĩa
vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức được
giao quản lý tài sản thuộc sở hữu nhà nước
trong việc khởi kiện vụ án dân sự để đòi lại
những tài sản thuộc quyền quản lý của cơ
quan, tổ chức mình nhưng bị hành vi tham
nhũng xâm phạm, để trả về cho Nhà nước;
bổ sung chế tài đối với những người có trách
nhiệm nhưng không thực hiện trách nhiệm
khởi kiện, chứng minh tài sản bị hành vi
tham nhũng xâm hại, gây ra; bổ sung quy
định về sở hữu tài sản nhằm ngăn chặn có
hiệu quả việc hợp pháp hóa quyền sở hữu
đối với tài sản tham nhũng thông qua các
giao dịch dân sự.
- Sửa đổi BLHS năm 2015 theo hướng:
bắt buộc trong xử lý tội phạm tham nhũng
phải áp dụng hình phạt bổ sung nhằm thu
hồi đủ giá trị tài sản bị thiệt hại do hành
vi phạm tội gây ra; tăng mức hình phạt
tiền, giảm hình phạt tù có thời hạn và các
hình phạt khác đối với những đối tượng có
hành vi tham nhũng nhưng đã chủ động
khai báo, khắc phục hậu quả, nhằm giúp
tăng khả năng thu hồi tài sản tham nhũng;
không chỉ người phạm tội mới có nghĩa vụ
trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường
thiệt hại mà bất kỳ ai đang chiếm hữu
không có căn cứ pháp luật cũng phải thực
hiện nghĩa vụ trên.
- Sửa đổi Luật Tương trợ tư pháp năm
2007 theo hướng: bổ sung quy định về thu
hồi tài sản và xác định rõ vấn đề thu hồi tài
sản do phạm tội mà có thuộc phạm vi tương
trợ tư pháp về hình sự; bổ sung quy định về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục hợp tác quốc
tế trong việc đề nghị các cơ quan có thẩm
quyền nước ngoài xác minh, phong tỏa,
thu giữ, chuyển giao tài sản tham nhũng có
nguồn gốc từ Việt Nam ở nước ngoài về cho
Nhà nước Việt Nam; bổ sung quy định về
thực hiện ủy thác hoặc lệnh của cơ quan có
thẩm quyền nước ngoài về xác minh, phong
tỏa, thu giữ, tịch thu tài sản tham nhũng có
nguồn gốc từ nước ngoài.
- Sửa đổi Bộ luật TTHS năm 2015 theo
hướng: trình tự, thủ tục nhằm bảo đảm thu
hồi tài sản tham nhũng như là một thủ tục
đặc biệt; bổ sung biện pháp phong tỏa tài
khoản tại ngân hàng; bổ sung quy định cụ
thể về thủ tục kê biên; cho phép cơ quan
điều tra được áp dụng các biện pháp điều
tra đặc biệt với một số loại tội, trong đó có
các tội về tham nhũng như: ghi âm, nghe
điện thoại, kiểm tra thư tín, tài khoản ngân
hàng...; bổ sung thẩm quyền của Tòa án
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử có quyền
xác minh tài sản trong trường hợp người
phạm tội sẽ phải trả lại tài sản, sẽ phải
- Nghiên cứu xây dựng Luật Đăng ký tài
sản để tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân
có tài sản đều phải kê khai, đăng ký nhằm
tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý nhà
nước đối với tài sản trong toàn quốc; qua đó
hỗ trợ cho việc thi hành án thu hồi tài sản
tham nhũng thuận lợi hơn
Số 07(431) - T4/2021
25
Bạn đang xem tài liệu "Thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thu_hoi_tai_san_tham_nhung_o_viet_nam.pdf

