Thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM 1  
Vũ Công Giao*  
Vũ Thành Cự**  
Phạm Thị Yến***  
* PGS.TS. Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.  
** Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.  
*** ThS. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Tham nhũng là “giặc nội xâm”2, là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế  
độ, là tác nhân chính dẫn đến làm giảm hiệu quả quản lý của bộ máy nhà  
nước3. Chính vì vậy, kể từ khi bắt đầu Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước  
(1986), vấn đề đấu tranh phòng, chống tham nhũng luôn được Đảng và Nhà  
nước quan tâm. Trong mấy năm gần đây, cuộc chiến chống tham nhũng  
ở nước ta đã giành được những thành tựu, thể hiện qua việc đưa ra xét xử  
nhiều vụ án tham nhũng lớn mà trong đó nhiều quan chức cấp cao đã bị kết  
án4 - điều chưa từng có trước đây. Tuy nhiên, tình trạng tham nhũng ở nước  
ta hiện vẫn còn khá phổ biến và gây nhiều bức xúc trong xã hội5. Trong  
phạm vi bài viết này, các tác giả phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, những  
thách thức đặt ra đối với việc thu hồi tài sản tham nhũng và đề xuất giải pháp  
nâng cao hiệu quả của việc thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.  
Từ khóa: Tham nhũng, tài sản  
tham nhũng, thu hồi tài sản tham  
nhũng.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 15/3/2021  
: 27/3/2021  
: 29/3/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Corruption is the "internal invaders", the threat to the survival of the regime,  
the main factor leading to the reduction of the management efficiency of the  
state apparatus. Therefore, since the beginning of the comprehensive national  
reform (1986), fights against corruption have always got concerns by both the  
Party and the State. In recent years, the fights against corruption in our country  
have gained significant achievements, as evidenced by the trial of many major  
corruption cases in which several high-position officials have been sentenced,  
which is an unprecedented phenomenon. However, corruption in our country  
is still quite common and causes great frustrations in society. Within the scope  
Keywords: Corruption, corrupted  
assets, recovery of corrupted  
assets.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 15 Mar. 2021  
: 27 Mar. 2021  
: 29 Mar. 2021  
Approved  
of this article, the authors provide an analysis of the political ground and legal  
123  
45  
basis, the challenges posed to the recovery of corrupted assets, and also solu-  
tions to improve the efficiency of the recovery of corrupted assets in Vietnam.  
1 Bài viết có sử dụng kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp bộ: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoàn thiện  
pháp luật giải quyết xung đột lợi ích và thu hồi tài sản tham nhũng trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam  
hiện nay” do GS.TS. Phan Trung Lý làm Chủ nhiệm.  
2 LêHiệp.Tổngbíthư, Chủtịchnước:“Lợiíchnhóm, thamnhũnglàgiặcnộixâmvôcùngnguyhiểm”,https://thanhnien.  
vn/thoi-su/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-loi-ich-nhom-tham-nhung-la-giac-noi-xam-vo-cung-nguy-hiem-1225373.html.  
3 Quốc Anh, “Tham nhũng trở thành nguy cơ chính đe dọa sự tồn vong chế độ”, https://dantri.com.vn/xa-hoi/  
tham-nhung-tro-thanh-nguy-co-chinh-de-doa-su-ton-vong-che-do-20151224222419406.htm.  
4
10 vụ án lớn về kinh tế, tham nhũng và các vụ án điển hình được đưa ra xét xử trong năm 2018, Tạp  
nhung-va-cac-vu-an-dien-hinh-duoc-dua-ra-xet-xu-trong-nam-2018.  
5 An Nguyễn, Bộ Công an: Tội phạm về kinh tế, tham nhũng vẫn nghiêm trọng, https://baodautu.vn/bo-cong-  
an-toi-pham-ve-kinh-te-tham-nhung-van-nghiem-trong-d121993.html.  
Số 07(431) - T4/2021  
15  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
1. Quan niệm về tài sản, tài sản tham nhũng  
và thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam  
Tuy nhiên, trong thực tế, xung quanh khái  
niệm “tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng”,  
ở Việt Nam hiện vẫn còn những quan điểm  
khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, tài  
sản có nguồn gốc từ hành vi tham nhũng là tài  
sản không trực tiếp có được do thực hiện các  
hành vi bị xem là tội phạm tham nhũng, mà  
có được do lợi dụng chức vụ, quyền hạn hay  
lạm quyền trong khi thi hành công vụ để gây  
ảnh hưởng đối với người khác; do giả mạo  
trong công tác; do đưa hối lộ, môi giới hối  
lộ của người có chức vụ, quyền hạn để giải  
quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị  
hoặc địa phương; do lợi dụng chức vụ, quyền  
hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước..9.  
Quan điểm thứ hai cho rằng, tài sản có nguồn  
gốc từ hành vi tham nhũng gồm các loại tài  
sản có được từ hành vi tham nhũng nhưng  
đã được người thực hiện hành vi tham nhũng  
và người khác hợp pháp hóa để đầu tư trực  
tiếp vào sản xuất kinh doanh, biến tiền “bẩn”  
thành tiền “sạch” (gọi là rửa tiền), hay để trả  
các khoản nợ, vay cũ tại các ngân hàng, các cơ  
quan, tổ chức, cá nhân; kể cả để dùng vào mục  
đích từ thiện như xây bệnh viện, trường học,  
đình, chùa, miếu mạo10.  
1.1.Quan niệm về tài sản, tài sản tham  
nhũng ở Việt Nam  
Ở Việt Nam, có nhiều cách định nghĩa ít  
nhiều khác nhau về “tài sản”. Theo Đại từ  
điển tiếng Việt: “Tài sản là của cải vật chất  
dùng để sản xuất hoặc tiêu dùng”6; còn theo  
Từ điển Luật học: “Tài sản là các vật có  
giá trị bằng tiền và là đối tượng của quyền  
tài sản và các lợi ích vật chất khác”7. Cuốn  
Thuật ngữ pháp lý giải thích cụ thể hơn: “Tài  
sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá  
được bằng tiền và các quyền về tài sản. Tài  
sản có hai loại: bất động sản và động sản”8.  
Về mặt pháp lý, Điều 105 Bộ luật Dân  
sự (BLDS) năm 2015 quy định: “Tài sản là  
vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài  
sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất  
động sản và động sản có thể là tài sản hiện  
có và tài sản hình thành trong tương lai”.  
Cũng từ góc độ pháp lý, khoản 1 Điều 3  
Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN)  
năm 2018 quy định: “Tham nhũng là hành  
vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi  
dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Kết  
hợp giữa các khái niệm tài sản và tham  
nhũng, khoản 3 Điều 3 Luật PCTN năm  
2018 nêu ra định nghĩa về tài sản tham  
nhũng: “Tài sản tham nhũng là tài sản có  
được từ tham nhũng, tài sản có nguồn gốc  
từ tham nhũng”.  
Như vậy, có thể thấy rằng, ở Việt Nam,  
quan điểm về tài sản tham nhũng vẫn chưa cụ  
thể và có xu hướng hẹp hơn so với nhận thức  
chung của cộng đồng quốc tế. Cụ thể, theo  
khoản d Điều 2 Công ước của Liên hợp quốc  
về chống tham nhũng (UNCAC)11, tài sản [tài  
sản tham nhũng] “… có nghĩa là mọi loại  
tài sản, vật chất hay phi vật chất, động sản  
6 Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008, tr.1417.  
7 Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa; Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội 2006, tr.685.  
8 Nguyễn Mạnh Hùng, Thuật ngữ pháp lý, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.384.  
9 Đinh Văn Quế, “Thu hồi tài sản tham nhũng - Thực trạng và giải pháp”, tham luận tại Hội thảo “Thu hồi tài  
sản tham nhũng - Thực trạng và giải pháp”, do Ban Nội chính Trung ương tổ chức, tháng 4/2014.  
10  
Bùi Minh Thanh, “Thu hồi tài sản tham nhũng trong hoạt động điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra,  
Bộ Công an”, tham luận tại Hội thảo “Thu hồi tài sản tham nhũng - Thực trạng và giải pháp”, do Ban Nội  
chính Trung ương tổ chức, tháng 4/2014.  
11https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Cong-uoc-chong-tham-nhung-cua-Lien-Hop-quoc-  
09-12-2003-94971.aspx.  
16  
Số 07(431) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
hay bất động sản, hữu hình hay trừu tượng,  
và các văn bản pháp lý hay giấy tờ chứng  
minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản  
đó”. Ngoài ra, theo Điều 31 UNCAC, tài sản  
tham nhũng là những “tài sản có nguồn gốc  
từ tội phạm được quy định theo Công ước này  
hoặc tài sản có giá trị tương đương với giá trị  
của tài sản do phạm tội mà có” (khoản 1(a))  
và “tài sản, trang thiết bị hay công cụ khác  
được sử dụng hoặc sẽ được sử dụng để thực  
hiện hành vi phạm tội quy định theo Công  
ước này” (khoản 1(b)), và “thu nhập hoặc các  
lợi ích khác có được từ tài sản do phạm tội  
mà có, từ tài sản được biến đổi hoặc chuyển  
đổi từ tài sản do phạm tội mà có hoặc từ tài  
sản mà trong đó lẫn lộn một phần là tài sản  
do phạm tội mà có …” (khoản 6). Như vậy,  
theo các quy định này của UNCAC, tài sản  
tham nhũng có thể là hữu hình hoặc vô hình,  
có được một cách trực tiếp từ hành vi tham  
nhũng, hoặc gián tiếp thông qua hành vi rửa  
tiền tham nhũng. Tương tự, Tổ chức Hợp tác  
kinh tế và Phát triển (OECD) định nghĩa tài  
sản bị đánh cắp (stolen asset) là tiền bạc, của  
cải, hoặc các tài sản khác tích lũy được thông  
qua hành vi tham nhũng, trong đó bao gồm  
hối lộ, tham ô, biển thủ tài sản hoặc ngân quỹ,  
kinh doanh nhờ ảnh hưởng và lạm dụng chức  
năng trong khu vực công12.  
trường hợp tài sản có nguồn gốc từ hành vi  
phạm tội mà không còn tồn tại, không thể  
xác định hoặc giá trị đã giảm đáng kể so với  
ban đầu, khoản 5 Điều 31 UNCAC khuyến  
nghị hình thức “tịch thu phần giá trị được  
xác định là có từ tài sản do phạm tội mà  
có”. Theo đó, hình phạt tiền được cho là  
tương đương với giá trị của tài sản do phạm  
tội mà có sẽ được Tòa án cân nhắc sau khi  
đánh giá khả năng thanh toán của bị cáo.  
Đây là cách xử lý linh hoạt và triệt để. Ưu  
điểm của phương thức tịch thu này là ở chỗ,  
kể cả khi kẻ phạm tội đã “nhanh tay” tẩu tán  
tất cả tài sản của mình cho người khác thì  
bên thứ ba có được khối tài sản trên (cố ý  
hay ngay tình) vẫn có thể bị tịch thu13. Tuy  
nhiên, phương thức này hiện chưa được áp  
dụng ở Việt Nam, dẫn đến bế tắc trong việc  
thu hồi tài sản của nhiều vụ án tham nhũng  
lớn, khi mà tài sản tham nhũng đã bị tẩu tán  
hầu hết14.  
2. Cơ sở chính trị, pháp lý của việc thu  
hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam  
2.1. Cơ sở chính trị  
Trong hệ thống chính trị của nước ta hiện  
nay, việc giải quyết các vấn đề xã hội lớn  
đều cần phải dựa trên nền tảng quan điểm  
định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam.  
Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất coi trọng  
công tác PCTN, thể hiện qua các văn kiện  
của Đảng, trong đó bao gồm các Văn kiện  
Đại hội đại biểu toàn quốc, các nghị quyết  
của Ban Chấp hành Trung ương và các chỉ  
thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư…  
1.2. Quan niệm về thu hồi tài sản tham  
nhũng ở Việt Nam  
Hiện nay, ở Việt Nam, do chưa có quy  
định cụ thể về tài sản tham nhũng nên quan  
điểm về cách thức thu hồi tài sản tham nhũng  
cũng chưa được hiểu một cách thống nhất.  
Các quy định trong pháp luật hiện hành của  
Việt Nam về vấn đề này chưa rõ ràng và hẹp  
so với các tiêu chuẩn quốc tế. Ví dụ, đối với  
Xét riêng về vấn đề thu hồi tài sản tham  
nhũng, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc  
lần thứ XI của Đảng yêu cầu phải “Xử lý  
12  
14/11/2014.  
13 Hướng dẫn lập pháp về thực thi Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng.  
14 Ví dụ như xem Tài sản vụ ông Đinh La Thăng: Còn hơn 900 tỷ chưa thu hồi, https://vietnamnet.vn/vn/thoi-  
su/chong-tham-nhung/tai-san-vu-ong-dinh-la-thang-con-hon-900-ty-chua-thu-hoi-485827.html.  
Số 07(431) - T4/2021  
17  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
đúng pháp luật, kịp thời, công khai cán  
bộ tham nhũng; tịch thu sung công tài sản  
tham nhũng, tài sản có nguồn gốc từ tham  
nhũng”15.NghịquyếtTrungương3(khóaX)  
nhấn mạnh, trong công tác PCTN, cần:  
“Chú trọng thu hồi tài sản tham nhũng; áp  
dụng chính sách khoan hồng đối với những  
người phạm tội nhưng có thái độ thành  
khẩn, đã bồi thường thiệt hại hoặc khắc  
phục hậu quả kinh tế, hợp tác tốt với cơ  
quan chức năng; nghiên cứu sửa đổi pháp  
luật hình sự theo hướng khoan hồng hơn đối  
với những người đưa hoặc người nhận hối  
lộ nhưng đã tự giác khai báo và nộp lại tài  
sản trước khi bị phát hiện; chú trọng tới các  
chế tài phạt tiền nhằm tăng khả năng thu  
hồi tài sản tham nhũng”16. Để thể chế hóa  
các quan điểm đó thành các quy định của  
pháp luật, Kết luận Hội nghị Trung ương 5  
(khóa XI) đã yêu cầu các cơ quan chức năng  
“Sửa đổi pháp luật hình sự theo hướng tăng  
hình thức phạt tiền, miễn hoặc giảm hình  
phạt khác đối với những đối tượng có hành  
vi tham nhũng nhưng đã chủ động khai báo,  
khắc phục hậu quả”17.  
phải bồi thường theo quy định của pháp  
luật (khoản 2).  
Theo quy định của Điều 92 Luật PCTN  
năm 2018, người có hành vi tham nhũng  
giữ bất kỳ chức vụ, vị trí công tác nào đều  
phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định  
của pháp luật, kể cả người đã nghỉ hưu, thôi  
việc, chuyển công tác (khoản 1). Hình thức  
xử lý có thể là kỷ luật, xử phạt vi phạm hành  
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự  
tùy theo mức độ vi phạm (khoản 2). Tuy  
nhiên, người có hành vi tham nhũng đã chủ  
động khai báo trước khi bị phát giác, tích  
cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp  
phần hạn chế thiệt hại, tự giác nộp lại tài sản  
tham nhũng, khắc phục hậu quả của hành  
vi tham nhũng thì được xem xét giảm hình  
thức kỷ luật, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,  
miễn hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình  
sự (khoản 4).  
Cũng liên quan đến vấn đề thu hồi tài  
sản tham nhũng, Điều 91 Luật PCTN năm  
2018 quy định, trên cơ sở điều ước quốc  
tế mà Việt Nam là thành viên, các cơ quan  
có thẩm quyền của Việt Nam hợp tác với  
các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài  
trong kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản,  
tịch thu hoặc thu hồi tài sản tham nhũng  
và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu, người  
quản lý hợp pháp. Luật cũng giao cho Viện  
Kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan trung  
ương về hợp tác quốc tế thu hồi tài sản tham  
nhũng trong tố tụng hình sự; tiếp nhận, xử  
2.2. Cơ sở pháp lý  
Điều 93 Luật PCTN năm 2018 nêu ra hai  
nguyên tắc: Tài sản tham nhũng phải được  
thu hồi, trả lại cho chủ sở hữu, người quản  
lý hợp pháp hoặc tịch thu theo quy định của  
pháp luật (khoản 1) và Thiệt hại do hành vi  
tham nhũng gây ra phải được khắc phục;  
người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại  
15 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, https://cpv.ctu.edu.vn/vn-bn-  
quy-nh/36-trung-ng/135-vn-kin-i-hi-i-biu-toan-quc-ln-th-xi-ca-ng-cng-sn-vit-nam.  
16 Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 21/8/2006, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X)  
dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-x/nghi-quyet-so-04-nqtw-ngay-  
2182006-hoi-nghi-lan-thu-ba-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-x-ve-tang-cuong-su-lanh-dao-602.  
17 Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/5/2012, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về  
việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCHTW (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng  
ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xi/ket-luan-so-21-kltw-ngay-2552012-hoi-nghi-lan-thu-5-ban-chap-  
hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve-viec-tiep-tuc-thuc-hien-554.  
18  
Số 07(431) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
lý yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự của  
nước ngoài về thu hồi tài sản tham nhũng và  
đề nghị nước ngoài thực hiện yêu cầu tương  
trợ tư pháp hình sự về thu hồi tài sản tham  
nhũng của Việt Nam; còn Thanh tra Chính  
phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và cơ quan  
nhà nước khác có liên quan, trong phạm vi  
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách  
nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân  
tối cao trong hợp tác quốc tế về thu hồi tài  
sản tham nhũng.  
Bộ luật này quy định về quyền của chủ sở  
hữu đối với tài sản; xác định quyền của  
chủ sở hữu trong việc đòi lại các tài sản bị  
chiếm đoạt bất hợp pháp; đòi bồi thường  
thiệt hại về tài sản do hành vi xâm phạm  
gây ra; nghĩa vụ hoàn trả tài sản do chiếm  
hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không  
có căn cứ pháp luật. Như vậy, trong các  
trường hợp tài sản bị chiếm đoạt bất hợp  
pháp; bị thiệt hại do hành vi xâm phạm  
trái pháp luật gây ra (trong đó có hành  
vi tham nhũng); bị chiếm hữu, sử dụng,  
được lợi không có căn cứ pháp luật (trong  
đó có những tài sản có nguồn gốc từ tham  
nhũng), thì chủ sở hữu có quyền đề nghị  
cơ quan có thẩm quyền áp dụng các quy  
định của BLDS để đòi lại các tài sản đó và  
đòi bồi thường thiệt hại về tài sản do hành  
vi xâm phạm gây ra.  
Bên cạnh Luật PCTN, vấn đề thu hồi tài  
sản tham nhũng còn được quy định trong  
một số văn bản pháp luật khác như:  
- Bộ luât Hình sự (BLHS) năm 2015  
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm  
2017 quy định về thu hồi tài sản nói chung,  
thu hồi tài sản tham nhũng nói riêng, được  
thể hiện trong các quy định về áp dụng hình  
phạt tiền, tịch thu tài sản và các biện pháp  
tư pháp đối với các tội phạm, trong đó có tội  
phạm tham nhũng.  
- Cũng như BLDS năm 2015, Bộ luật Tố  
tụng dân sự (TTDS) năm 2015 không bao  
hàm quy định riêng về thu hồi tài sản tham  
nhũng, mà quy định về trình tự, thủ tục,  
thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan  
chức năng trong việc phát hiện, xử lý các tài  
sản trong các vụ án dân sự; các biện pháp  
khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự…  
Những quy định này có thể được áp dụng  
cho việc thu hồi tài sản (trong đó có tài sản  
tham nhũng) trong các vụ án dân sự.  
- Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) năm  
2015 không bao hàm quy định riêng về thu  
hồi tài sản tham nhũng. Việc thu hồi tài sản  
tham nhũng có thể được thực hiện như đối  
với các trường hợp thu hồi tài sản khác. Đối  
với bị can, bị cáo phạm các tội mà BLHS  
quy định có thể tịch thu tài sản hoặc phạt  
tiền cũng như đối với người phải chịu trách  
nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định  
của pháp luật thì Bộ luật TTHS quy định  
cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng thực  
hiện việc kê biên tài sản. Đây là những biện  
pháp nhằm bảo đảm cho việc thi hành các  
quyết định của Tòa án về phạt tiền, tịch thu  
tài sản, buộc bồi thường thiệt hại trong các  
vụ án hình sự nói chung (trong đó có các vụ  
án tham nhũng) được thuận lợi.  
- Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã  
được sửa đổi, bổ sung một số điều năm  
2014 cũng không có quy định riêng cho  
việc thu hồi tài sản tham nhũng. Tuy nhiên,  
việc thu hồi tài sản tham nhũng trong thi  
hành án dân sự có thể được thực hiện như  
các trường hợp thi hành án thu hồi tiền, tài  
sản khác. Trong vấn đề này, Luật Thi hành  
án dân sự có các quy định liên quan đến  
việc thi hành bản án, quyết định của Tòa  
án về dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài  
sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính,  
xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết  
- Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015  
không bao hàm các quy định trực tiếp về  
thu hồi tài sản tham nhũng. Tuy nhiên,  
Số 07(431) - T4/2021  
19  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
định dân sự trong bản án, quyết định về vụ  
án hình sự.  
của người ra quyết định thanh tra trong việc  
quyết định thu hồi tiền, tài sản bị chiếm  
đoạt, sử dụng trái phép hoặc bị thất thoát  
do hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng  
thanh tra gây ra. Những quy định này cũng  
được áp dụng với tài sản tham nhũng.  
- Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012  
quy định về các biện pháp phòng ngừa, phát  
hiện, ngăn chặn, xử lý tổ chức, cá nhân có  
hành vi hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản  
do phạm tội mà có và hợp tác quốc tế về  
phòng, chống rửa tiền. Trong trường hợp  
các đối tượng tham nhũng có hành vi hợp  
pháp hóa nguồn gốc, dịch chuyển các tài  
sản do phạm tội mà có thì có thể áp dụng  
các quy định của Luật Phòng, chống rửa  
tiền để thu hồi tài sản đó.  
- Luật Tương trợ tư pháp năm 2007  
quy định về nguyên tắc, thẩm quyền, trình  
tự, thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp về  
dân sự, hình sự; và trách nhiệm của các  
cơ quan nhà nước Việt Nam trong tương  
trợ tư pháp. Đây là căn cứ pháp lý để các  
cơ quan có thẩm quyền thực hiện các hoạt  
động tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với  
các nước, trong đó có các hoạt động liên  
quan đến việc thu hồi tài sản tham nhũng  
ở nước ngoài.  
- Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã  
được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017  
quy định về trách nhiệm của các tổ chức tín  
dụng trong việc phòng, chống rửa tiền; hợp  
tác với các cơ quan chức năng trong công  
tác điều tra về hoạt động rửa tiền. Đây là  
những quy định có tác dụng phòng ngừa và  
phát hiện việc chuyển tài sản tham nhũng;  
giúp cho việc phát hiện, thu giữ tài sản tham  
nhũng được thuận lợi.  
3. Những thách thức mà Việt Nam đang  
phải đối mặt trong việc thu hồi tài sản  
tham nhũng  
Mặc dù công cuộc đấu tranh PCTN nói  
chung, thu hồi tài sản tham nhũng nói riêng  
đã có cơ sở chính trị, pháp lý khá toàn diện  
và vững chắc; song hiện nay, việc thu hồi tài  
sản tham nhũng vẫn còn nhiều thách thức  
đặt ra.  
- Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2015  
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm  
2019 quy định mục đích kiểm toán là: Phục  
vụ việc kiểm tra, giám sát của Nhà nước  
trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và  
tài sản nhà nước; góp phần thực hành tiết  
kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng  
phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm  
pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân  
sách, tiền và tài sản nhà nước.  
- Thách thức về mặt tội phạm học  
Ở Việt Nam, chủ thể của tội phạm tham  
nhũng, đặc biệt là tham nhũng lớn, thường là  
những người có chức vụ, quyền hạn; có trình  
độ học vấn và chuyên môn nhất định, am  
hiểu pháp luật, có khả năng nhận biết những  
khoảng trống của hệ thống pháp luật để thực  
hiện hành vi phạm tội. Những chủ thể này  
cũng thường có điều kiện tạo dựng được  
nhiều mối quan hệ có khả năng “che chắn”,  
“bảo vệ” cho hành vi sai phạm, thường có  
sự chuẩn bị chu đáo khi phạm tội; khi thực  
hiện xong chủ động xóa hết mọi dấu vết, tiêu  
hủy giấy tờ, chứng từ, hóa đơn, sổ sách, che  
giấu, tẩu tán tài sản tham nhũng. Thời gian  
- Luật Thanh tra năm 2010 quy định về  
thẩm quyền của Trưởng đoàn thanh tra hành  
chính, thanh tra chuyên ngành và người ra  
quyết định thanh tra hành chính, thanh tra  
chuyên ngành trong việc yêu cầu tạm giữ  
tiền, đồ vật, phong tỏa tài khoản để phục  
vụ cho việc thanh tra cũng như ngăn chặn  
hành vi tẩu tán tài sản của đối tượng thanh  
tra. Luật này cũng quy định thẩm quyền  
20  
Số 07(431) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
gần đây, các vụ tham nhũng lớn ở Việt Nam  
thường được thưc hiện trong một quy trình  
khép kín, liên quan đến nhiều người nhưng  
có sự liên kết, bao che, thống nhất về mặt lợi  
ích; vì vậy, trong nhiều vụ án rất khó cá thể  
hóa trách nhiệm hình sự khi có hiện tượng  
tham nhũng tập thể; các đối tượng bằng nhiều  
hình thức đã chuyển tài sản chung thành tài  
riêng của một nhóm người có liên quan.  
suy giảm và sự phổ biến của tham nhũng  
trong nhiều thập kỷ dẫn đến tâm lý “sống  
chung với tham nhũng”, “chấp nhận tham  
nhũng” trong một bộ phận khá lớn người  
dân - làm cho các hành vi tham nhũng và  
việc che giấu tài sản tham nhũng ít bị phát  
hiện và tố cáo. Tất cả những điều này tạo ra  
một môi trường xã hội không thuận lợi cho  
PCTN nói chung, cho việc thu hồi tài sản  
tham nhũng nói riêng.  
Mức độ khó khăn đối với các cơ quan  
tư pháp còn cao hơn do việc kiểm soát tài  
sản, thu nhập và thu hồi tài sản tham nhũng  
thiếu hiệu quả nên nhiều đối tượng phạm  
tội có tâm lý sẵn sàng chấp nhận hình phạt  
để thụ hưởng tài sản tham nhũng. Những  
đối tượng này thường không chịu hợp tác  
với các cơ quan tố tụng để có thể che giấu,  
tẩu tán tài sản tham nhũng. Bên cạnh đó,  
do chính sách hình sự chưa thực sự hợp lý,  
dẫn đến tình trạng người phạm tội cho là  
dù có khai nhận, nộp lại tài sản tham nhũng  
thì vẫn có thể phải chịu mức án cao nên họ  
chấp nhận hình phạt, không chịu khai báo,  
che giấu tài sản tham nhũng để người thân  
trong gia đình hưởng lợi.  
- Thách thức về mặt pháp lý  
Như đã đề cập ở trên đây, vấn đề thu  
hồi tài sản tham nhũng, mặc dù đã được đề  
cập trong nhiều văn bản pháp luật, song xét  
về nội dung, hệ thống pháp luật về thu hồi  
tài sản tham nhũng vẫn còn nhiều khoảng  
trống, thiếu cụ thể; công tác giải thích,  
hướng dẫn thực thi pháp luật của cơ quan  
có thẩm quyền chưa kịp thời gây khó khăn  
cho việc xác định tài sản tham nhũng, cũng  
như việc thu hồi tài sản tham nhũng.  
4. Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham  
nhũng ở Việt Nam hiện nay  
Để nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản  
tham nhũng, Việt Nam cần vận dụng kinh  
nghiệm của một số nước trong vấn đề này  
nhằm hoàn thiện khung chính sách, pháp  
luật hiện hành của mình, cụ thể như sau:  
- Thách thức về mặt xã hội  
Ở nước ta, kể từ khi bắt đầu Công cuộc  
đổi mới toàn diện đất nước (năm 1986),  
mặc dù thanh toán qua tài khoản đã dần trở  
lên quen thuộc hơn, song thói quen sử dụng  
tiền mặt trong thanh toán vẫn còn rất phổ  
biến, đặc biệt là trong các giao dịch dân sự.  
Văn hóa sử dụng tiền mặt đã ăn sâu bén  
rễ trong xã hội trong khi cơ chế kiểm soát  
tài sản, thu nhập, quản lý các giao dịch dân  
sự ở Việt Nam hiện còn khá lỏng lẻo; hệ  
thống ngân hàng chưa hoàn thành vai trò  
kiểm soát dòng tiền trong nền kinh tế, mức  
độ minh bạch tài sản còn thấp và hệ thống  
đăng ký tài sản mới đang được phát triển;  
những giá trị liêm chính trong xã hội bị  
Thứ nhất, cần có chiến lược toàn diện  
và quyết tâm mạnh mẽ trong thu hồi tài  
sản tham nhũng  
Kinh nghiệm các quốc gia cho thấy,  
những trở ngại về thể chế tác động nhiều  
nhất đến hiệu quả các biện pháp thu hồi tài  
sản tham nhũng. Những trở ngại này thể  
hiện ở chiến lược thu hồi tài sản thiếu toàn  
diện và quyết tâm chính trị thiếu mạnh mẽ,  
nhất quán. Trong trường hợp đó, việc thu  
hồi tài sản sẽ không được coi là vấn đề ưu  
tiên trong PCTN và không được cung cấp  
Số 07(431) - T4/2021  
21  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
đầy đủ những nguồn nhân lực và tài chính  
cũng như công cụ pháp lý cần thiết để triển  
khai hiệu quả.  
nhập của cán bộ, công chức, viên chức theo  
hướng thực chất, có kiểm tra, xác minh và  
công khai rộng rãi để người dân giám sát.  
Nhà nước cũng cần xây dựng cơ chế kiểm  
soát hiệu quả tài sản trong xã hội nói chung  
để từ đó xác định được tài sản tham nhũng,  
tài sản được hình thành từ tài sản tham  
nhũng, tạo điều kiện cho việc thu hồi tài sản  
tham nhũng.  
Như đã phân tích ở trên, trong khoảng 10  
năm gần đây, Việt Nam đã có những nhận  
thức rõ ràng hơn về vai trò quan trọng của  
công tác thu hồi tài sản tham nhũng, nhưng  
cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có chính  
sách và chiến lược toàn diện, với những  
mục tiêu rõ ràng và lộ trình thực hiện cụ  
thể trong vấn đề này. Vì vậy, để bảo đảm  
sự thành công của việc thu hồi tài sản tham  
nhũng, Việt Nam cần khắc phục những  
hạn chế đó, và cần tạo sự phối hợp đồng  
bộ, thống nhất giữa các cơ quan chức năng  
cùng hành động với quyết tâm truy tìm và  
thu hồi tài sản tham nhũng tới cùng, hiện  
thực hóa thông điệp mà các tổ chức quốc tế  
đã đề xuất đó là: “không có bến đỗ nào có  
thể coi là an toàn cho những kẻ tham nhũng  
và tài sản phi pháp của chúng”.  
Thứ ba, xây dựng cơ chế thu hồi tài  
sản tham nhũng không dựa trên kết án  
hình sự  
Để nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản  
tham nhũng, Việt Nam nên vận dụng kinh  
nghiệm về thu hồi tài sản không dựa trên  
kết án hình sự mà nhiều nước trên thế giới  
đã áp dụng, trong đó bao gồm các vấn đề  
sau: (1) Giảm nghĩa vụ chứng minh trong  
thu hồi tài sản đối với những tội phạm (đã  
được quy định trong UNCAC và UNTOC);  
(2) Chuyển nghĩa vụ chứng minh nguồn gốc  
hợp pháp của tài sản cho người bị tình nghi  
phạm tội sau khi cơ quan có thẩm quyền có  
bằng chứng đáng tin cậy cho rằng tài sản  
này có nguồn gốc bất hợp pháp; (3) Cho  
phép tịch thu tài sản không dựa trên phán  
quyết hình sự hoặc khi không chứng minh  
được tội phạm; (4) Cho phép thực hiện một  
cách trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định thu  
hồi tài sản không dựa trên phán quyết của  
Tòa án nước ngoài; (5) Cho phép phong tỏa  
hoặc thu hồi tài sản hợp pháp thay thế có giá  
trị tương đương với tài sản thất thoát; (6)  
Công nhận và thi hành phần dân sự trong  
quyết định, bản án của Tòa án nước ngoài,  
đặc biệt liên quan đến tịch thu, hoàn trả tài  
sản do phạm tội mà có.  
Thứ hai, tăng cường kiểm soát tài sản,  
thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn  
Kinh nghiệm của cộng đồng quốc tế cho  
thấy kiểm soát tài sản, thu nhập tốt là một  
trong những điều kiện tiên quyết để thực  
hiện các biện pháp thu hồi tài sản tham  
nhũng. Kiểm soát tài sản, thu nhập, mà thể  
hiện trước hết qua việc thực hiện minh bạch  
về tài sản, thu nhập của người có chức vụ,  
quyền hạn giúp các cơ quan chức năng phân  
biệt được đâu là tài sản có nguồn gốc hợp  
pháp và đâu là tài sản có nguồn gốc không  
hợp pháp, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp  
cho phù hợp.  
Ở Việt Nam thời gian qua, việc thực hiện  
minh bạch tài sản, thu nhập của người có  
chức vụ, quyền hạn còn mang tính hình  
thức, hiệu quả thấp. Vì vậy, để nâng cao  
hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, Việt  
Nam cần khắc phục hạn chế này, mà trước  
hết cần cải cách việc kê khai tài sản, thu  
Thứ tư, hình sự hóa hành vi làm giàu  
bất chính  
Hiện tại, Việt Nam đang gặp những khó  
khăn trong việc xác định và xử lý những tài  
sản của công chức nhà nước tăng lên một  
22  
Số 07(431) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
cách đáng kể so với thu nhập chính đáng  
của họ mà không chứng minh được một  
cách hợp lý về nguồn gốc của việc tăng lên  
đó. Điều 20 của UNCAC quy định: Mỗi  
Quốc gia thành viên sẽ áp dụng các biện  
pháp lập pháp và các biện pháp cần thiết  
khác nhằm quy định là tội phạm, nếu được  
thực hiện một cách cố ý, hành vi làm giàu  
bất chính, nghĩa là việc tài sản của một  
công chức tăng đáng kể so với thu nhập  
hợp pháp của công chức mà công chức này  
không giải thích được một cách hợp lý về lý  
do tăng đáng kể như vậy. Đây là quy định  
mà Việt Nam có thể xem xét áp dụng để  
giải quyết khó khăn nêu trên. Điều đó là bởi  
việc xác lập tội danh làm giàu bất chính có  
nghĩa là chuyển một phần nghĩa vụ chứng  
minh để cá nhân phải chứng minh tính hợp  
pháp đối với tài sản của họ. Nếu giải thích  
được tài sản đã được thủ đắc một cách hợp  
pháp thì sẽ không bị tịch thu. Khi áp dụng  
quy tắc đảo ngược trách nhiệm chứng minh,  
các đối tượng có liên quan phải chứng minh  
tính hợp pháp của tài sản thuộc quyền sở  
hữu của họ.  
Việt Nam cần: (1) Thực hiện nghiêm các  
quy định của Luật Phòng, chống rửa tiền  
năm 2012; (2) Thực hiện đầy đủ các biện  
pháp chống rửa tiền được quy định trong các  
điều ước và chuẩn mực quốc tế (bao gồm  
UNCAC và các khuyến nghị của Lực lượng  
đặc nhiệm Tài chính về chống rửa tiền); (3)  
Thực hiện các khuyến nghị của Sáng kiến  
StAR18 liên quan đến những người có thế  
lực chính trị, buộc các trung tâm tài chính  
phải: Áp dụng các biện pháp kiểm tra thông  
tin khách hàng đối với tất cả những người  
có thế lực chính trị, là công dân của nước  
sở tại hoặc công dân nước ngoài; yêu cầu  
kê khai về chủ sở hữu hưởng lợi; yêu cầu  
kê khai thu nhập và tài sản; tiến hành rà  
soát định kỳ về các khách hàng là những  
người có thế lực chính trị và không giới hạn  
thời gian quy định một cá nhân được coi là  
người có thế lực chính trị.  
Thứ sáu, hoàn thiện quy định về phong  
tỏa, kê biên, thu giữ và trả lại tài sản do  
phạm tội mà có  
Việc phong tỏa, kê biên, thu giữ và trả lại  
tài sản do phạm tội mà có gắn liền với hoạt  
động của các tổ chức tín dụng. Đây là biện  
pháp phòng, chống rửa tiền theo khuyến  
nghị của các tổ chức quốc tế và khu vực và  
cả điều ước quốc tế về lĩnh vực này19.  
Thứ năm, áp dụng có hiệu quả các biện  
pháp phòng, chống rửa tiền  
Mặc dù Việt Nam đã có Luật Phòng,  
chống rửa tiền từ năm 2012, song các biện  
pháp phòng, chống rửa tiền như kiểm tra  
thông tin khách hàng hoặc báo cáo giao dịch  
đáng ngờ chưa được thực hiện hiệu quả, các  
cơ quan và tổ chức tài chính chưa thực hiện  
được vai trò kiểm soát sự luân chuyển của  
các tài sản bị thất thoát tới các trung tâm  
tài chính. Để khắc phục những hạn chế đó,  
Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc áp dụng các  
biện pháp này còn nhiều bất cập. Để khắc  
phục hạn chế này, Việt Nam cần nghiên cứu  
bổ sung quy định cụ thể việc kê biên tài sản,  
phong tỏa tài khoản tại các ngân hàng, các  
tổ chức tín dụng mà áp dụng đối với người  
18 StAR (Stolen Asset Recovery Initiative - Sáng kiến thu hồi tài sản thất thoát – là chương trình hợp tác giữa  
Nhóm Ngân hàng thế giới và Văn phòng Liên hợp quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC) hỗ trợ các hoạt  
động của quốc tế nhằm chấm dứt tình trạng bao che tham nhũng. StAR phối hợp với các nước đang phát triển  
và trung tâm tài chính trong ngăn chặn rửa tiền liên quan đến tham nhũng và tạo điều kiện cho việc thu hồi các  
19 Thanh tra Chính phủ (2014), Một số kinh nghiệm quốc tế về công tác phòng, chống tham nhũng, Tái bản lần  
hai, Nxb. Lao động, tr. 268-269.  
Số 07(431) - T4/2021  
23  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
có hành vi phạm tội, qua đó để bảo đảm việc  
thu hồi tài sản. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng  
cần nghiên cứu, bổ sung quy định về trình  
tự, thủ tục phong tỏa, kê biên, thu giữ và trả  
lại tài sản do phạm tội mà có trong trường  
hợp yêu cầu này do Tòa án nước ngoài ban  
hành trong Bộ luật TTHS. Ngoài ra, Việt  
Nam cũng cần xây dựng những công cụ hỗ  
trợ cho quá trình xác định và phong tỏa tài  
sản, bao gồm việc xây dựng và duy trì hệ  
thống cơ sở dữ liệu công khai sẵn có về tài  
sản các hồ sơ công ty, giấy tờ nhà đất và hồ  
sơ của các tổ chức phi lợi nhuận; xây dựng  
cơ sở dữ liệu thông tin ngân hàng ở cấp độ  
quốc gia trong đó bao gồm những thông  
tin về tài khoản, tên của những chủ sở hữu  
hưởng lợi và những người được ủy quyền.  
hiện kịp thời các yêu cầu tương trợ tư pháp  
của Việt Nam.  
Thứ tám, gia nhập Nhóm Đơn vị tình  
báo tài chính Egmont  
Để khẳng định sự quan trọng của việc  
hợp tác quốc tế trong chống hoạt động rửa  
tiền và tài trợ khủng bố, một nhóm các đơn  
vị tình báo (FIUs) của một số nước đã gặp  
nhau tại Egmont Arenberg Palace, Bussels  
của Bỉ và quyết định thành lập mạng lưới  
thông tin của các FIUs để thúc đẩy hợp tác  
quốc tế. Hiện nay, mạng lưới này được biết  
đến là Nhóm Egmont FIUs. Nhóm này có  
nhiệm vụ thúc đẩy sự phát triển các FIUs để  
hợp tác trong các lĩnh trao đổi thông tin, đào  
tạo và chia sẻ chuyên gia.  
Ở Việt Nam, ngày 12/6/2014, Thủ  
tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định  
số 35/2014/QĐ-TTg quy định chức năng,  
nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của  
Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng,  
trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.  
Trong cơ cấu tổ chức của Cơ quan Thanh tra  
giám sát ngân hàng có Cục Phòng, chống  
rửa tiền. Cục này có chức năng, nhiệm vụ  
tương đương với FIUs của Việt Nam. Tuy  
nhiên, Việt Nam vẫn cần xây dựng thêm các  
đầu mối (đơn vị) ở cơ quan trung ương đảm  
nhận chức năng, nhiệm vụ giống một FIUs,  
đồng thời, chỉ định một trong các đầu mối  
này gia nhập vào Nhóm Đơn vị tình báo tài  
chính Egmont.  
Thứ bảy, tăng cường hợp tác quốc tế  
trong thu hồi tài sản tham nhũng  
Hiện nay, ngoài Hiệp định Tương trợ tư  
pháp về hình sự với các nước ASEAN và các  
Hiệp định Tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn  
độ với Hàn Quốc, hầu hết các hiệp định tương  
trợ tư pháp khác mà Việt Nam đã ký kết đều  
không có quy định về thu hồi tài sản phạm tội.  
Luật Tương trợ tư pháp hiện thiếu chế định về  
thu hồi tài sản và chưa xác định rõ vấn đề thu  
hồi tài sản phạm tội có thuộc phạm vi tương  
trợ tư pháp về hình sự hay không.  
Do vậy, Việt Nam cần ưu tiên áp dụng  
các hiệp định, thỏa thuận đã ký kết có nội  
dung thu hồi tài sản tham nhũng. Việt Nam  
cũng cần tiếp tục tham gia, ký kết các hiệp  
định tương trợ tư pháp song phương trong  
lĩnh vực hình sự và dẫn độ tội phạm với các  
nước nhằm tạo cơ sở pháp lý, cơ chế phối  
hợp trong xử lý các vụ tham nhũng có yếu  
tố nước ngoài; tăng cường vai trò của các cơ  
quan đầu mối trung ương trong tương trợ tư  
pháp hình sự; thường xuyên trao đổi, đôn  
đốc các cơ quan tố tụng nước ngoài thực  
Thứ chín, hoàn thiện quy định liên  
quan đến thu hồi tài sản  
- Sửa đổi Luật PCTN năm 2018 theo  
hướng mở rộng hơn nội hàm khái niệm  
“tài sản tham nhũng”, “thu hồi tài sản tham  
nhũng”. Theo đó, tài sản tham nhũng còn  
bao gồm các tài sản phái sinh từ hành vi  
tham nhũng (tài sản của Nhà nước, của  
24  
Số 07(431) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
xã hội, của cá nhân bị thiệt hại do hành vi  
tham nhũng gây ra) hoặc tài sản có được  
do áp dụng các chế tài đối với người có  
hành vi tham nhũng (chế tài dân sự, chế  
tài hành chính, chế tài hình sự); thu hồi tài  
sản tham nhũng là hoạt động của cơ quan  
nhà nước có thẩm quyền nhằm thu hồi tài  
sản do người có hành vi tham nhũng chiếm  
đoạt, tài sản có nguồn gốc từ hành vi tham  
nhũng, tài sản phái sinh từ hành vi tham  
nhũng hoặc tài sản thu được từ việc áp  
dụng các chế tài đối với người có hành vi  
tham nhũng.  
bồi thường thiệt hại để quyết định có hay  
không ra lệnh kê biên tài sản bảo đảm cho  
thi hành án.  
- Sửa đổi Bộ luật TTDS năm 2015 theo  
hướng: bổ sung quy định về quyền, nghĩa  
vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức được  
giao quản lý tài sản thuộc sở hữu nhà nước  
trong việc khởi kiện vụ án dân sự để đòi lại  
những tài sản thuộc quyền quản lý của cơ  
quan, tổ chức mình nhưng bị hành vi tham  
nhũng xâm phạm, để trả về cho Nhà nước;  
bổ sung chế tài đối với những người có trách  
nhiệm nhưng không thực hiện trách nhiệm  
khởi kiện, chứng minh tài sản bị hành vi  
tham nhũng xâm hại, gây ra; bổ sung quy  
định về sở hữu tài sản nhằm ngăn chặn có  
hiệu quả việc hợp pháp hóa quyền sở hữu  
đối với tài sản tham nhũng thông qua các  
giao dịch dân sự.  
- Sửa đổi BLHS năm 2015 theo hướng:  
bắt buộc trong xử lý tội phạm tham nhũng  
phải áp dụng hình phạt bổ sung nhằm thu  
hồi đủ giá trị tài sản bị thiệt hại do hành  
vi phạm tội gây ra; tăng mức hình phạt  
tiền, giảm hình phạt tù có thời hạn và các  
hình phạt khác đối với những đối tượng có  
hành vi tham nhũng nhưng đã chủ động  
khai báo, khắc phục hậu quả, nhằm giúp  
tăng khả năng thu hồi tài sản tham nhũng;  
không chỉ người phạm tội mới có nghĩa vụ  
trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường  
thiệt hại mà bất kỳ ai đang chiếm hữu  
không có căn cứ pháp luật cũng phải thực  
hiện nghĩa vụ trên.  
- Sửa đổi Luật Tương trợ tư pháp năm  
2007 theo hướng: bổ sung quy định về thu  
hồi tài sản và xác định rõ vấn đề thu hồi tài  
sản do phạm tội mà có thuộc phạm vi tương  
trợ tư pháp về hình sự; bổ sung quy định về  
thẩm quyền, trình tự, thủ tục hợp tác quốc  
tế trong việc đề nghị các cơ quan có thẩm  
quyền nước ngoài xác minh, phong tỏa,  
thu giữ, chuyển giao tài sản tham nhũng có  
nguồn gốc từ Việt Nam ở nước ngoài về cho  
Nhà nước Việt Nam; bổ sung quy định về  
thực hiện ủy thác hoặc lệnh của cơ quan có  
thẩm quyền nước ngoài về xác minh, phong  
tỏa, thu giữ, tịch thu tài sản tham nhũng có  
nguồn gốc từ nước ngoài.  
- Sửa đổi Bộ luật TTHS năm 2015 theo  
hướng: trình tự, thủ tục nhằm bảo đảm thu  
hồi tài sản tham nhũng như là một thủ tục  
đặc biệt; bổ sung biện pháp phong tỏa tài  
khoản tại ngân hàng; bổ sung quy định cụ  
thể về thủ tục kê biên; cho phép cơ quan  
điều tra được áp dụng các biện pháp điều  
tra đặc biệt với một số loại tội, trong đó có  
các tội về tham nhũng như: ghi âm, nghe  
điện thoại, kiểm tra thư tín, tài khoản ngân  
hàng...; bổ sung thẩm quyền của Tòa án  
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử có quyền  
xác minh tài sản trong trường hợp người  
phạm tội sẽ phải trả lại tài sản, sẽ phải  
- Nghiên cứu xây dựng Luật Đăng ký tài  
sản để tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân  
có tài sản đều phải kê khai, đăng ký nhằm  
tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý nhà  
nước đối với tài sản trong toàn quốc; qua đó  
hỗ trợ cho việc thi hành án thu hồi tài sản  
tham nhũng thuận lợi hơn  
Số 07(431) - T4/2021  
25  
pdf 11 trang Thùy Anh 15040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthu_hoi_tai_san_tham_nhung_o_viet_nam.pdf