Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật với việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Xuân Tế và tgk  
KỶ NIỆM 75 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH  
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (02-9-1945 – 02-9-2020)  
Lời Tòa soạn: Tại Lễ kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 – 19-5-2020),  
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đọc bài Diễn văn quan trọng. Đồng chí  
Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Thấm nhuần sâu sắc những di huấn của Chủ tịch Hồ  
Chí Minh, chúng ta cần phải tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng,… xây dựng  
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân””.  
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
VỚI VIỆC XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN  
VIỆT NAM CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN  
HO CHI MINH’S THOUGHTS ON THE STATE AND LAW,  
AND ON BUILDING AND COMPLETING THE STATE OF LAW OF THE PEOPLE,  
BY THE PEOPLE, FOR THE PEOPLE  
NGUYỄN XUÂN TẾ và ĐỖ THỊ CƯỜNG  
TÓM TẮT: Bài viết trình bày Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân, và vai trò  
của “thần linh pháp quyền” trong việc điều hành và quản lý xã hội. Đây là ngọn đuốc soi đường cho  
việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân trong giai đoạn cách mạng hiện nay.  
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước  
pháp quyền của dân, do dân, vì dân.  
ABSTRACT: The article presents Ho Chi Minh’s thoughts on the State of the people, by the  
people, for the people, and the role of “the rule of law” in governance and management of society.  
This is the torch that paves the way for building the State of law of the people, by the people, for  
the people in the current revolutionary period.  
Key words: Ho Chi Minh’s thoughts on the State and Law; building and completing the State of  
law of the people, by the people, for the people.  
dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt  
Nam của dân, do dân, vì dân trong giai đoạn  
cách mạng hiện nay.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người khai sinh  
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước  
dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.  
Việc nghiên cứu, nhận thức và vận dụng Tư  
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật  
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xây  
2. NỘI DUNG  
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của  
dân, do dân, vì dân  
 PGS.TS. Tổng Biên tập Tạp chí Khoa học, [email protected]  
 ThS. Trường Đại học Văn Lang, cuong.dt@vlu.edu.vn, Mã số: TCKH23-22-2020  
1
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 23, Tháng 9 - 2020  
dân Việt Nam, việc nước là việc chung, mỗi  
một người con Rồng cháu Tiên bất kể người già  
trẻ, gái trai, giàu nghèo, nòi giống, tôn giáo  
đều phải gánh một phần” [2].  
2.1.1. Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do  
dân, vì dân dựa trên nền tảng liên minh công -  
nông - trí thức, do giai cấp công nhân lãnh đạo  
Theo Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Nhà nước kiểu  
mới là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, do  
giai cấp công nhân lãnh đạo chủ yếu để tổ chức  
xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa.  
2.1.2. Nhà nước của dân là Nhà nước mà  
quyền lực từ nhân dân, thuộc về nhân dân, do  
nhân dân quyết định  
Ngay từ đầu thiết lập Nhà nước cách  
mạng, Hồ Chí Minh đã khẳng định Nhà nước  
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân  
chủ nhân dân phải đặt dưới sự lãnh đạo của giai  
cấp công nhân thông qua chính đảng của mình  
[5, tr.586]. Đó là nguyên tắc đầu tiên quyết  
định cho sự đứng vững và phát triển của Nhà  
nước cũng như của cách mạng Việt Nam. Sự  
lựa chọn và khẳng định nói trên của Hồ Chí  
Minh về vai trò lãnh đạo của giai cấp công  
nhân mà đội tiên phong của nó là Đảng Cộng  
sản đối với Nhà nước thể hiện sự kiên định và  
sáng suốt, nhạy bén nắm bắt được xu thế mới  
của thời đại là độc lập dân tộc gắn liền với chủ  
nghĩa xã hội và sứ mệnh lịch sử của giai cấp  
công nhân.  
Hồ Chí Minh quan niệm Nhà nước của  
dân là “tất cả quyền bính trong nước là của toàn  
thể nhân dân Việt Nam”. Nhân dân là gốc của  
nước, là chủ của quyền lực, bao nhiêu quyền  
hạn đều của dân. Do đó, chính quyền là đầy tớ  
của dân, công bộc của dân, chứ không phải là  
cha mẹ dân, cai trị dân như nhà nước của chế  
độ thực dân, phong kiến.  
Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước của dân là  
nhân dân thực hiện quyền dân chủ của mình,  
mà trước hết là nhân dân bầu ra Nhà nước,  
bầu ra chính quyền các cấp. Năm 1946, Quốc  
hội được thành lập qua Tổng tuyển cử, nhà  
nước hợp pháp ra đời, có tư cách của nó, vị trí  
của nó trên trường quốc tế, còn ở trong nước nó  
hoạt động có danh nghĩa, có hiệu lực và hiệu  
quả hơn một Chính phủ lâm thời. Vì thế, một  
ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập (02-9-  
1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc họp  
đầu tiên của Chính phủ đã đề xuất 6 điểm,  
trong đó có việc “đề nghị Chính phủ tổ chức  
càng sớm càng hay cuộc Tổng Tuyển cử với  
chế độ phổ thông đầu phiếu” [5, tr.8]. Có như  
thế nhân dân mới thực hiện được ý chí, nguyện  
vọng của mình.  
Theo Người, Nhà nước luôn mang bản  
chất của một giai cấp nhất định trong xã hội.  
Nhà nước Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh  
sáng lập mang bản chất giai cấp công nhân.  
Giai cấp công nhân Việt Nam mà bộ phận ưu tú  
nhất của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam, đại  
diện cho quyền lực và lợi ích của các tầng lớp,  
giai cấp trong xã hội Việt Nam hiện đại. Nhận  
thức được điều đó trong suốt quá trình xây  
dựng và củng cố Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí  
Minh luôn luôn khẳng định tư tưởng về đại  
đoàn kết dân tộc, về vai trò to lớn của quần  
chúng nhân dân đối với vận mệnh quốc gia.  
Cách mạng thành công, với cương vị là  
một nguyên thủ quốc gia, dòng tư tưởng chủ  
đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng một  
Nhà nước của dân, do dân, vì dân, dựa vào khối  
đại đoàn kết dân tộc do Đảng của giai cấp công  
nhân lãnh đạo, một Nhà nước ở đó “tất cả  
quyền bính trong nước là của toàn thể nhân  
Nhà nước của dân là Nhà nước không chỉ  
do dân tín nhiệm bầu ra, mà còn là dân phải  
kiểm soát Nhà nước. Người nhắc nhở: “Chính  
phủ ta là Chính phủ của nhân dân, chỉ có mục  
đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân.  
Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ đôn đốc,  
kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của  
mình là người đầy tớ trung thành tận tụy của  
nhân dân ta” [3, tr.221]. Muốn để dân kiểm tra,  
kiểm soát, Nhà nước phải có cách tổ chức  
thuận tiện, tránh cửa quyền, hách dịch, thực  
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Xuân Tế và tgk  
hiện quyền khiếu tố của nhân dân. Sinh thời,  
Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn: “Nạn lãng  
phí, tham ô là do bệnh quan liêu, mệnh lệnh  
trong công tác của các cấp lãnh đạo ở các cơ  
quan Nhà nước gây ra… Vì vậy, các cơ quan  
thanh tra Nhà nước chẳng những kiểm tra  
chống lãng phí, tham ô mà còn phải chống  
bệnh quan liêu, mệnh lệnh để giúp các cơ quan  
Nhà nước cải tiến công tác, giữ gìn kỷ luật,  
thực hành dân chủ, góp phần củng cố bộ máy  
Nhà nước…” [3, tr.228].  
nước. Nhà nước muốn điều hành, quản lý xã  
hội có hiệu lực, hiệu quả nhất định phải dựa  
vào lực lượng của dân, dựa vào sáng kiến và trí  
tuệ của dân. Nhà nước do dân trong Tư tưởng  
Hồ Chí Minh là dân tự làm, tự lo thông qua các  
mối quan hệ trong xã hội, qua các đoàn thể,  
chứ không phải Nhà nước bao cấp, lo thay cho  
dân. Chức năng của Nhà nước là quản lý, điều  
hành xã hội ở cấp vĩ mô, “Chính phủ chỉ giúp kế  
hoạch, cổ động” [6 tr.65] chứ không làm thay  
dân, làm cho dân thụ động, dân ỷ lại, chờ đợi.  
Chính vì vậy, Nhà nước do dân là Nhà  
nước tin dân. Nhà nước tin dân, dân tin Nhà  
nước thì việc gì cũng làm được “khó vạn lần  
dân liệu cũng xong”.  
Nhân dân không chỉ bầu ra mà có quyền  
kiểm soát, giám sát các đại biểu, có quyền bãi  
miễn họ. Ngay sau khi chính quyền nhân dân  
vừa thành lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh  
đã kêu gọi nhân dân hãy tham gia giám sát công  
việc của Chính phủ. Người viết “Từ ngày thành  
lập Chính phủ, trong nhân viên còn có nhiều  
khuyết điểm. Có người làm quan cách mạng chợ  
đen, chợ đỏ mưu vinh thân phì gia… Xin đồng  
bào hãy phê bình, giám sát công việc của Chính  
phủ”, đề xuất để Chính phủ xử lý [6, tr.641].  
2.1.3. Nhà nước do dân là Nhà nước tin dân,  
mọi lực lượng đều ở nơi dân, nhân dân sử  
dụng mọi quyền lực trong việc thiết lập, xây  
dựng và hoạt động của Nhà nước  
2.1.4. Nhà nước vì dân là Nhà nước tất cả để  
phục vụ nhân dân, có trách nhiệm đối với  
nhân dân, kính trọng nhân dân  
Tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước  
vì dân là phải phục vụ cuộc sống hằng ngày của  
dân, không có đặc quyền đặc lợi. Đây là tư  
tưởng mới mẻ, nhất quán, nổi bật trong cuộc  
đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện rõ  
trong những năm tháng bôn ba ở nước ngoài  
tìm đường cứu nước cũng như khi trở thành  
người đứng đầu Đảng và Nhà nước.  
Nhận thức rõ vai trò to lớn của quần chúng  
nhân dân không những trong sự nghiệp giải  
phóng dân tộc mà còn trong công cuộc bảo vệ  
và xây dựng xã hội mới, Hồ Chí Minh chủ  
trương xây dựng Nhà nước do dân, nghĩa là dân  
không chỉ lập ra Nhà nước mà còn phải tham  
gia công việc quản lý Nhà nước. Người nói  
“Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân,  
vì dân là chủ,…” [4, tr.95], “Chính quyền từ xã đến  
Chính phủ Trung ương do dân cử ra,…” [6,  
tr.698].  
Nhà nước vì dân là hệ quả tất yếu của Nhà  
nước của dân, do dân. Nhà nước vì dân tức là  
cơ quan nhà nước và cán bộ nhà nước phải lấy  
việc phục vụ dân làm mục đích. Hồ Chí Minh  
đã trả lời các nhà báo: “…Tôi tuyệt nhiên  
không muốn công danh phú quý chút nào. Bây  
giờ phải gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào  
ủy thác thì tôi phải gắng làm, cũng như một  
người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt  
trận,…” [5, tr.161]. Câu trả lời này có ý nghĩa  
thời sự rất sâu sắc.  
Nhà nước do dân là nhân dân sử dụng  
quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội  
đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu và chịu  
trách nhiệm trước nhân dân. Nhân dân phải sử  
dụng cơ quan quyền lực - người đại diện của  
mình để thực hành chức năng quản lý Nhà  
Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước vì dân là Nhà  
nước làm lợi cho dân. Người nhắc nhở: “Chúng  
ta phải hiểu rằng các cơ quan Chính phủ từ toàn  
quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân,  
nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không  
phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền  
3
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 23, Tháng 9 - 2020  
thống trị của Pháp - Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta  
phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, ta phải hết  
sức tránh” [6, tr.240].  
Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã nhận thức  
được vai trò của pháp luật trong điều hành và  
quản lý xã hội của Nhà nước. Thực chất của  
pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền.  
“Thần linh pháp quyền” gợi ta liên tưởng đến  
tác phẩm nổi tiếng “Tinh thần pháp luật” của  
Môngtexkiơ. Thần linh pháp quyền vừa nói lên  
tinh thần, tư tưởng pháp quyền xuyên suốt tổ  
chức và hoạt động của một Nhà nước vừa nói  
lên vị trí của pháp luật chi phối mọi tổ chức và  
hoạt động của Nhà nước như một vị “thần linh”  
trong tôn giáo mà tất cả phải tuân thủ. Theo Hồ  
Chí Minh, đó là chế độ “pháp trị”.  
Nhà nước vì dân không chỉ làm lợi cho dân,  
mà còn phải yêu dân, kính dân. “Chính ta phải yêu  
dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta” [6, tr.56-  
57]. Đó là một quan điểm thật mới mẻ [9, tr.60].  
Theo Người, Nhà nước vì dân là nhà nước  
mà mọi chủ trương, chính sách, mọi quy định  
của pháp luật từ Trung ương đến địa phương  
đều xuất phát từ lợi ích của dân: cả lợi ích trước  
mắt và lâu dài, cả lợi ích cá nhân, tập thể và xã  
hội trong sự kết hợp hài hòa. Do đó, Nhà nước  
vì dân là Nhà nước biết bảo vệ nhân dân,  
chống lại những tệ nạn vi phạm quyền dân chủ  
và lợi ích của nhân dân. Mọi cán bộ Nhà nước  
đều vì dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân,  
phải thật sự gương mẫu, thật sự trong sạch, phải  
“lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, thực hiện  
cần, kiệm, liêm, chính. Hồ Chí Minh khẳng định  
cần, kiệm, liêm, chính là tiêu chuẩn đạo đức của  
mỗi cán bộ cách mạng, công chức nhà nước.  
Nhà nước vì dân là Nhà nước phải có  
trách nhiệm và phải chịu trách nhiệm trước  
dân. Đối với Đảng và Chính phủ, Hồ Chí Minh  
không chỉ yêu cầu các quyền được đề ra trong  
Hiến pháp mà cao hơn nữa, Người nói: “nếu  
dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân  
rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt,  
Đảng và Chính phủ có lỗi” [7, tr.572].  
Hồ Chí Minh xem pháp luật như một  
phương tiện để xây dựng và củng cố Nhà nước.  
Nhà nước cần pháp luật để điều hành xã hội.  
Pháp luật đúng đắn sẽ tạo nên sự ổn định của  
Nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước vận hành  
đúng quỹ đạo, người dân dễ thực hiện quyền  
dân chủ của mình. Ý nghĩa sâu xa của tư tưởng  
này chính là nội dung, tính chất của dân chủ  
pháp luật.  
Hồ Chí Minh phát hiện ra bản chất của  
pháp luật và nêu bật ranh giới giữa pháp luật  
của Nhà nước ta với pháp luật của nhà nước tư  
sản. Người viết: “Luật pháp là vũ khí của một  
giai cấp thống trị dùng để trừng trị giai cấp  
chống lại mình; luật pháp cũ là ý chí của thực  
dân Pháp, không phải là ý chí chung của toàn  
thể nhân dân ta. Luật pháp cũ đặt ra để giữ gìn  
trật tự thật, nhưng trật tự ấy chỉ có lợi cho thực  
dân phong kiến, không phải có lợi cho toàn thể  
nhân dân đâu. Luật pháp đặt ra trước hết là để  
trừng trị, áp bức. Phong kiến đặt ra luật pháp là  
để trị nông dân. Tư bản đặt ra luật pháp để trị  
công nhân và nông dân lao động” [3, tr.185].  
Tư tưởng trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh  
khi nói về pháp luật tư sản hoàn toàn phù hợp  
với những luận điểm của C. Mác và Ph.  
Ăngghen khi phê phán về pháp luật và pháp  
quyền tư sản. C. Mác và Ph. Ăngghen viết  
“Pháp quyền của các ông chỉ là ý chí của giai  
cấp các ông được đề lên thành luật pháp, cái ý  
Nhà nước vì nhân dân, là Nhà nước sống  
trong lòng dân, công bằng với nhân dân, hoạt  
động vì lợi ích của nhân dân, đặt lợi ích của  
nhân dân lên trên hết. Đó là từ quan điểm vì con  
người, từ chủ nghĩa nhân văn cao cả trong Tư  
tưởng Hồ Chí Minh. Con người đó là nhân dân  
lao động nói chung, bao gồm công nhân, nông  
dân, trí thức và những người lao động khác.  
2.2. Quan điểm Hồ Chí Minh về Nhà nước  
và Pháp luật  
2.2.1. Vai trò “thần linh pháp quyền” của  
pháp luật trong điều hành, quản lý xã hội  
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Xuân Tế và tgk  
chí mà nội dung là do những điều kiện sinh hoạt  
vật chất của giai cấp các ông quyết định” [1,  
tr.619]. Còn luật pháp của Nhà nước ta, Chủ  
tịch Hồ Chí Minh xác định nó là ý chí của giai  
cấp công nhân và của dân tộc, nó bảo vệ quyền  
lợi cho hàng triệu người lao động. “Pháp luật  
của ta là pháp luật thật sự dân chủ vì nó bảo vệ  
quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao  
động” [3, tr.185-187]. Nó đấu tranh loại trừ áp  
bức bất công, thiết lập sự công bằng trên cơ sở  
một trật tự xã hội, nghĩ cho cùng thuộc về “lẽ ở  
đời”, “đạo làm người”.  
Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử chứng tỏ  
niềm tin sâu sắc của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí  
Minh vào nhân dân và lòng tin mãnh liệt của  
nhân dân vào Chủ tịch Hồ Chí Minh và lực  
lượng cách mạng do Người đứng đầu; đồng thời,  
cũng chứng tỏ ý thức sâu sắc của Người về tầm  
quan trọng của một Chính phủ dân cử hợp pháp,  
và quyết tâm biến nó từng bước thành một chính  
quyền của nhân dân vững mạnh.  
2.2.3. Nhà nước quản lý bằng Hiến pháp và  
Pháp luật, kết hợp với giáo dục đạo đức, nâng  
cao giác ngộ cho nhân dân  
Chính vì vậy mà Người nói rõ quan điểm  
của mình về cơ sở tư tưởng để định ra pháp luật  
là phải dựa hẳn vào lực lượng nhân dân, lực  
lượng lao động làm nền tảng để xây dựng Nhà  
nước, xây dựng xã hội. Vấn đề đó quy định bản  
chất và nội dung của pháp luật. Việc thiết lập  
trật tự của chế độ Dân chủ Cộng hòa; tổ chức  
quân đội cách mạng; thiết lập bộ máy kinh tế,  
trong đó tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc quyền  
sở hữu của nhân dân với tinh thần độc lập, tự  
chủ… Nhà nước quản lý bằng pháp luật có tác  
dụng thúc đẩy mọi hoạt động của đất nước phát  
triển cùng chiều để đạt mục tiêu dân giàu, nước  
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.  
2.2.2. Xây dựng Nhà nước hợp pháp, hợp hiến  
Với tầm hiểu biết sâu sắc về Nhà nước, về  
pháp luật, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây  
dựng Nhà nước hợp pháp, hợp hiến và đặt nền  
móng cho một Nhà nước pháp quyền Việt Nam.  
Thực chất đó là một Nhà nước được nhân dân  
thừa nhận bằng luật pháp, thực thi bằng pháp  
luật thực sự dân chủ.  
Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà  
nước mạnh, trước hết là một nhà nước thật sự  
đại biểu cho quyền lợi của nhân dân, thật sự do  
nhân dân lập ra, được nhân dân ủng hộ, vun  
đắp và chịu sự kiểm tra, kiểm sát của nhân dân.  
Đồng thời, phải là một Nhà nước tập trung, có  
bộ máy hành chính mạnh, được quản lý có hiệu  
lực, được điều hành bằng pháp luật và phải làm  
cho pháp luật có hiệu quả thực tế. Dân chủ và  
tập trung, dân chủ và pháp luật phải luôn đi đôi,  
gắn bó, nương tựa vào nhau. Mọi quyền dân  
chủ phải được thể chế hóa bằng hiến pháp,  
pháp luật và mọi công dân đều phải tuân theo  
hiến pháp, pháp luật. Pháp luật của ta là pháp  
luật thật sự dân chủ vì nó bảo vệ quyền tự do,  
dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động.  
Theo Người, một xã hội có trật tự kỷ  
cương, một nhà nước mạnh, có hiệu lực phải  
quản lý bằng pháp luật. Không quản lý nhà  
nước bằng pháp luật sẽ dẫn đến sơ hở, cán bộ  
dễ sinh lạm dụng quyền lực, vi phạm quyền  
dân chủ của dân, dễ xuất hiện hành vi xâm  
phạm quyền tự do dân chủ của công dân, của  
cộng đồng và xã hội, dẫn đến hỗn loạn, vô  
chính phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan  
tâm đến xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ  
mà trước hết là Hiến pháp. Người cho rằng nhà  
nước có luật pháp sẽ thúc đẩy và xác lập quyền  
làm chủ của nhân dân ngày càng cao. Đồng  
thời, thông qua pháp luật, bằng pháp luật đã tạo  
ra hoạt động quản lý nhà nước đi vào nền nếp.  
Xuất phát tư tưởng đó, như trên chúng tôi  
đã trình bày sau ngày công bố Tuyên ngôn độc  
lập, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Hồ  
Chí Minh đề xuất sáu nhiệm vụ cấp bách, trong  
đó có nhiệm vụ thứ ba là “Phải có một Hiến  
pháp dân chủ”, mặc dầu tình hình đất nước  
đang đứng trước muôn vàn khó khăn, Người  
vẫn đề nghị “tổ chức càng sớm càng hay cuộc  
Tổng tuyển cử”.  
5
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 23, Tháng 9 - 2020  
Khi xây dựng các đạo luật, Hồ Chí Minh  
đều lấy điểm xuất phát từ nguyện vọng và lợi  
ích của nhân dân. Người vẫn coi luật là ý chí  
chung của toàn dân, luật phải do nhân dân đóng  
góp ý kiến làm ra, mới đúng với cái nghĩa là  
“luật”. Trong cuốn Bàn về khế ước xã hội,  
G.Rútxô nói rằng: “Tất cả công lý là từ trời mà  
ra. Trời là nguồn gốc của công lý”. Còn Hồ  
Chí Minh lại xem công lý ở nơi dân. Vì dân sẽ  
tạo ra công lý xã hội, “quyền hành và lực lượng  
đều ở nơi dân” [6, tr.698]. Nói nhân dân là  
người làm ra luật, không có nghĩa là mọi người  
Việt Nam đều soạn thảo ra luật. Nhưng việc  
soạn thảo ấy nhất thiết phải có sự đóng góp ý  
kiến của nhân dân. Các bộ luật chỉ có thể do  
nhân dân hoàn thiện thì mới tạo nên sự vững  
bền của luật. Sau khi đã tham khảo ý kiến của  
nhân dân, các bộ phận chức năng có nhiệm vụ  
chỉnh lý lại, trình Quốc hội thông qua, rồi công  
bố để thực hiện trong cả nước. Lúc ấy, luật mới  
thật sự có tác dụng.  
“pháp trị” và “đức trị”. “Luật pháp phải dựa vào  
đạo đức”, nhưng “luật pháp phải bảo vệ đạo đức”.  
Đồng thời, “đức trị” nhằm khuyên người ta  
những việc nên làm, “pháp trị” là bắt buộc người  
ta phải tránh những việc nên tránh. “Đức trị” là trị  
nước bằng tình, bằng thuyết phục, bằng đạo lý;  
“pháp trị” là trị nước bằng đạo luật. “Đức trị” và  
“pháp trị” trong Tư tưởng Hồ Chí Minh không hề  
loại trừ nhau mà thống nhất bổ sung cho nhau.  
Người sử dụng “đức” để cảm hóa, ngăn cản  
những thói hư tật xấu, hạn chế thấp nhất “cái ác”  
nảy sinh ở mỗi con người. Song, nếu một ai đó  
phạm tội thì Người nghiêm trị theo pháp luật.  
Người từng nói “Không dùng xử phạt là không  
đúng”, song “chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng  
không nên”, “thưởng phạt phải nghiêm minh thì  
nhân dân mới yên ổn,…” [5, tr.163-164].  
Xây dựng và củng cố Nhà nước pháp  
quyền, yêu cầu mọi người tự giác sống và làm  
việc tuân thủ theo pháp luật là nội dung chủ  
đạo của Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước  
và pháp luật. Người nói “Pháp luật của ta là  
pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền  
tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động.  
Nhân dân ta hiện nay có tự do, tự do trong kỷ  
luật. Mỗi người có tự do của mình, nhưng phải  
tôn trọng tự do của người khác. Người nào sử  
dụng quyền tự do của mình quá mức mà phạm  
đến tự do của người khác là phạm pháp” [3,  
tr.178].  
Việc định ra luật pháp là rất quan trọng,  
song vấn đề quan trọng hơn là luật pháp ấy phải  
được toàn xã hội thi hành nghiêm túc, không  
trừ một ai. Nhà nước đề ra pháp luật, nhưng  
đồng thời nhà nước cũng phải hoạt động theo  
pháp luật, phải tuân thủ hiến pháp, không có  
trường hợp ngoại lệ. Việc thi hành pháp luật, cái  
quan trọng là phải đảm bảo tính vô tư, khách  
quan, công bằng, bình đẳng của mọi công dân  
trước pháp luật. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh  
đòi hỏi pháp luật của ta “phải thẳng tay trừng trị  
kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề  
nghiệp gì”. Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền  
của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét trong  
hoạt động của Chính phủ và của bản thân  
Người là người đứng đầu Nhà nước, đứng đầu  
Chính phủ. Người rất nghiêm khắc đòi hỏi bản  
thân mình và mọi tổ chức Đảng, chính quyền,  
quân đội, đoàn thể phải tuân thủ pháp luật,  
không một ai đứng ngoài, đứng trên pháp luật.  
Điều đặc sắc trong tư tưởng trị nước của Hồ  
Chí Minh là Người đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa  
2.2.4. Xây dựng Nhà nước và Pháp luật phù  
hợp với từng thời kỳ của cách mạng  
Thấm nhuần sâu sắc phép biện chứng duy  
vật của Chủ nghĩa Mác, cũng như tinh thần  
biện chứng trong Triết học phương Đông và  
phương Tây, Hồ Chí Minh hiểu rõ và đã thực  
hiện đúng tinh thần đó trong việc xây dựng Nhà  
nước và Pháp luật ở Việt Nam. Người luôn luôn  
quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước và hệ thống  
pháp luật không chỉ phù hợp với hoàn cảnh, đặc  
điểm lịch sử Việt Nam nói chung, mà còn phải phù  
hợp với từng giai đoạn cách mạng của đất nước.  
Hồ Chí Minh kiên định những vấn đề thuộc về  
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Xuân Tế và tgk  
bản chất, nguyên tắc cơ bản, sứ mệnh lịch sử của  
Nhà nước kiểu mới. Đó là tính giai cấp công  
nhân, tính dân tộc, tính nhân dân, tính quốc tế  
của nhà nước, những nguyên tắc cơ bản xây  
dựng nhà nước và pháp luật, tổ chức hoạt động  
của nhà nước, vai trò của nó trong việc bảo vệ  
nền độc lập của dân tộc, xây dựng chế độ mới xã  
hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.  
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tốt  
hơn, đầy đủ hơn quyền làm chủ của nhân dân.  
3. KẾT LUẬN  
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, việc nắm  
vững và phát triển những quan điểm tư tưởng cơ bản  
của Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng Nhà nước của  
dân, do dân, vì dân, xây dựng và hoàn thiện hệ thống  
pháp luật là hết sức quan trọng và cấp thiết. Việc xây  
dựng và hoàn thiện Nhà nước là một trong những  
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của tiến trình đổi mới  
đất nước, nhằm nâng cao năng lực quản lý của Nhà  
nước trong điều kiện mới. Để bảo đảm quyền lực  
Nhà nước thuộc về nhân dân thực hiện đúng Tư  
tưởng Hồ Chí Minh “dân là chủ” và “dân làm chủ”,  
chúng ta đã và đang nỗ lực phấn đấu xây dựng bộ  
máy Nhà nước trong sạch có hiệu lực tăng cường  
hiệu quả chỉ đạo, điều hành nhằm đưa đường lối, chủ  
trương, chính sách của Đảng vào cuộc sống. Từ kinh  
nghiệm xây dựng và hoàn thiện Nhà nước hơn bảy  
mươi lăm năm qua, chúng ta có đủ cơ sở tin tưởng  
rằng Đảng và nhân dân ta nhất định sẽ hoàn thiện  
Nhà nước ta theo hướng dân chủ, thật sự là Nhà nước  
pháp quyền của dân, do dân, vì dân để đẩy mạnh sự  
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực  
hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã  
hội công bằng, dân chủ và vănminh.  
Người linh hoạt trong việc giải quyết những  
vấn đề cụ thể của Nhà nước và Pháp luật, tức là phải  
thay đổi cho phù hợp với thực tế tình hình, từng giai  
đoạn, nhất là khi chuyển giai đoạn cách mạng. Đó là  
đổi mới theo tinh thần “cái gì cũ mà xấu thì phải  
bỏ,… cái gì mà không xấu nhưng phiền phức thì  
sửa đổi lại cho hợp lý, cái gì cũ mà tốt thì phải phát  
triển thuận lợi, cái gì mới mà hay thì phải làm”, “để  
tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”. Cách mạng  
chuyển biến, đòi hỏi phải có sự chuyển biến  
sâu sắc về tư tưởng và nhận thức, đòi hỏi phải  
có những chính sách, những biện pháp về công  
tác tổ chức phù hợp với tình hình mới. Người  
nhấn mạnh: Chúng ta phạm khuyết điểm,  
chúng ta sẽ sửa chữa, chúng ta có can đảm sửa  
chữa khuyết điểm, đó là biểu hiện một Đảng,  
một Nhà nước lành mạnh. Những thay đổi như  
vậy làm cho Nhà nước và Pháp luật phù hợp  
với tình hình thực tế, đóng vai trò tích cực, thúc  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia.  
[2] Hồ Chí Minh (1946), Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, Điều 1.  
[3] Hồ Chí Minh (1985), Nhà nước và pháp luật, Nxb Pháp luật, Hà Nội.  
[4] Hồ Chí Minh (1993), Về đạo đức, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[5] Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[6] Hồ Chí Minh (1993), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[7] Hồ Chí Minh (1993), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[8] Nguyễn Phú Trọng (2020), Tiếp tục đi theo con đường cách mạng vẻ vang của Chủ tịch Hồ Chí  
Minh, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nguyện kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp vĩ đại  
của Người, Tạp chí Cộng sản, Số 943, tháng 6.  
[9] Nguyễn Xuân Tế (1999), Tìm hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, Nxb  
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
Ngày nhận bài: 28-8-2020. Ngày biên tập xong: 01-9-2020. Duyệt đăng: 24-9-2020  
7
pdf 7 trang Thùy Anh 13800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật với việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftu_tuong_ho_chi_minh_ve_nha_nuoc_va_phap_luat_voi_viec_xay_d.pdf