Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trên lĩnh vực an ninh - quân sự (2012 - 2020)

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 3 (2020)  
QUAN HỆ VIỆT NAM - HOA KỲ  
TRÊN LĨNH VỰC AN NINH - QUÂN SỰ (2012 - 2020)  
1
2
Dương Quang Hiệp , Nguyễn Thị Thông  
1
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
2
Trường THPT Hoàng Hoa Thám, Gia Lai  
Ngày nhận bài: 9/11/2020; ngày hoàn thành phản biện: 4/12/2020; ngày duyệt đăng: 8/12/2020  
TÓM TẮT  
Trong giai đoạn 2012 – 2020, bất chấp sự thay đổi đảng phái cầm quyền ở Mỹ,  
quan hệ Việt Nam – Hoa trên lĩnh vực an ninh – quân sự đã có những bước phát  
triển hết sức quan trọng và đạt được nhiều thành tựu như: đối thoại quốc phòng,  
nâng cao năng lực Cảnh sát biển Việt Nam, hợp tác an ninh hàng hải, tăng cường  
các chuyến thăm của tàu chiến Mỹ đến Việt Nam, khắc phục hậu quả chiến  
tranh…. Đặc biệt nhất là sự kiện Mỹ xóa bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát  
thương đối với Việt Nam (23/5/2016) và việc Việt Nam lần đầu tiên tham gia cuộc  
tập trận Vành đai Thái Bình Dương (RIMPAC) (27/6 - 2/08/2018) đã cho thấy mối  
quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã thực sự bình thường hóa hoàn toàn. Trong nghiên  
cứu này, chúng tôi phân tích các thành tựu trong quan hệ an ninh – quân sự Việt  
Nam – Mỹ từ năm 2012 đến năm 2020. Từ đó, rút ra một số nhận xét về quan hệ  
Việt Nam – Mỹ trên lĩnh vực an ninh quân sự trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền  
trên Biển Đông đang có những diễn biến phức tạp hiện nay.  
Từ khóa: quan hệ Việt – Mỹ, an ninh – quân sự, hợp tác.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trên lĩnh vực an ninh quân sự đã được đặt ra và có  
nhiều tiến triển đáng kể trước khi chính quyền B.Obama lên nắm quyền (năm 2009),  
phù hợp với quá trình bình thường hóa quan hệ đã diễn ra từ năm 1995. Trước đây, hai  
nước đã tiến hành các cuộc đối thoại an ninh và quốc phòng và Hoa Kỳ đã thực hiện  
một số bước để mở đường cho sự hợp tác ngày càng phát triển, bao gồm việc thiết lập  
chương trình đào tạo và giáo dục quân sự quốc tế (IMET) với Việt Nam vào năm 2005  
và cho phép cung cấp (hạn chế) các mặt hàng quốc phòng cho Việt Nam cũng như hợp  
tác an ninh hàng hải, đối thoại cấp cao, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ  
91  
Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trên lĩnh vực an ninh - quân sự (2012 - 2020)  
thảm họa và hoạt động gìn giữ hòa bình. Tuy nhiên, lệnh cấm vũ khí sát thương của  
Hoa Kỳ đối với Việt Nam vẫn được duy trì là một rào cản lớn đối với hợp tác quốc  
phòng giữa hai nước; đồng thời ít nhiều tác động đến những lợi ích căn bản của Hoa  
Kỳ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền biển đảo  
ở Biển Đông ngày càng căng thẳng do chính sách bành trướng của Trung Quốc. Cùng  
với chính sách xoay trục châu Á của Hoa Kỳ, từ năm 2012 đến nay, quan hệ trên lĩnh  
vực an ninh quân sự giữa hai nước có nhiều tiến triển tích cực; góp phần bình thường  
hóa hoàn toàn mối quan hệ song phương cũng như làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam  
– Hoa Kỳ trong tình hình mới. Trong nghiên cứu này, chúng tôi phân tích mối quan hệ  
giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trên lĩnh vực an ninh quân sự trong nhiệm kỳ thứ hai của  
Tổng thống B.Obama và 4 năm cầm quyền của Tổng thống D.J.Trump vì đây là giai  
đoạn mà hợp tác an ninh quân sự giữa hai quốc gia có những bước tiến rất lớn.  
2. QUAN HỆ AN NINH QUÂN SỰ VIỆT NAM - HOA KỲ TRONG NHIỆM KỲ  
THỨ HAI CỦA TỔNG THỐNG B.OBAMA (2012 - 2016)  
Tiếp nối những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng thống  
B.Obama, từ sau năm 2012, quan hệ an ninh – quân sự Việt Nam - Mỹ có những tiến  
triển theo hướng cởi mở hơn, hợp đa dạng hơn. Hai bên đã tính đến những hợp tác có  
chiều sâu hơn về vấn đề an ninh quân sự, được thể hiện cả trong mặt quan hệ song  
phương, lẫn trong các cơ chế đa phương.  
Mở đầu cho những tiến triển trong quan hệ an ninh quân sự Việt Nam - Hoa  
Kỳ là sự kiện Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam do Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ,  
Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam dẫn đầu sang thăm hữu nghị  
chính thức Hợp chúng quốc Hoa Kỳ vào tháng 6/2013 theo lời mời của Đại tướng  
Martin E.Dempsey, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ. Hai bên  
khẳng định tiếp tục tăng cường hợp tác trong việc khắc phục hậu quả chiến tranh, đào  
tạo tiếng Anh; đồng thời đã bàn về tiếp tục triển khai quan hệ quốc phòng theo những  
thoả thuận đã ký kết, bao gồm trao đổi đoàn các cấp, đào tạo, trao đổi kinh nghiệm  
giữa các quân binh chủng.  
Để tăng cường hơn nữa quan hệ giữa hai nước, Chủ tịch nước Trương Tấn  
Sang thăm Hoa Kỳ vào tháng 7/2013. Trong thời gian thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch  
Trương Tấn Sang, hai nước quyết định xác lập quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ là Quan hệ  
đối tác toàn diện. Các nguyên tắc trong “quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ”  
được hai nước thống nhất, trong đó có “tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật  
pháp quốc tế, tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của  
nhau”. Chủ tịch Việt Nam Trương tấn Sang và Tổng thống Mỹ B.Obama cũng tuyên bố  
quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ được xác lập là nhằm “góp phần vào  
hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng của mỗi nước, trong khu vực và trên toàn  
92  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 3 (2020)  
(1)  
thế giới” . Hai bên nhất trí sẽ tiếp tục hợp tác về quốc phòng và an ninh, bày tỏ sự hài  
lòng đối với Bản ghi nhớ về thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương ký năm 2011  
và tái khẳng định cam kết triển khai đầy đủ Bản ghi nhớ, nhất trí mở rộng hợp tác  
cùng có lợi nhằm tăng cường năng lực trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn và ứng phó  
thiên tai. Hai nhà lãnh đạo cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy hợp tác  
trong các vấn đề an ninh phi truyền thống và nhất trí hợp tác chặt chẽ hơn nữa trong  
lĩnh vực chống khủng bố; tăng cường hợp tác thực thi pháp luật trên biển; đấu tranh  
chống tội phạm xuyên quốc gia, trong đó có chống cướp biển, buôn lậu ma túy, buôn  
bán người, buôn bán động vật hoang dã; ứng phó với tội phạm công nghệ cao và vấn  
đề an ninh mạng.  
Tiếp sau đó, trong chuyến thăm Việt Nam năm 2013, Ngoại trưởng Hoa Kỳ  
John Kerry đã nói rằng không có hai quốc gia nào “làm việc chăm chỉ hơn, làm nhiều  
hơn và làm tốt hơn để cố gắng xích lại gần nhau, thay đổi lịch sử và thay đổi tương  
(2)  
lai” như quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ. Trên cơ sở mối quan hệ ngày càng được thắt  
chặt giữa hai nước, Mỹ tuyên bố cam kết ban đầu sẽ hỗ trợ 32,5 triệu USD đối với các  
nước ở khu vực Đông Nam Á; trong đó, dành 18 triệu USD nhằm tăng cường năng lực  
cho lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam. Khoản hỗ trợ này bao gồm đào tạo về thực thi  
pháp luật hàng hải và cung cấp 5 tàu tuần tra mới nhằm cải thiện khả năng tuần tra  
của Việt Nam để nhanh chóng triển khai tìm kiếm cứu hộ, ứng phó với thiên tai và các  
(3)  
hoạt động khác . Cùng với sự tin tưởng lẫn nhau giữa hai nước ngày càng được tăng  
cường, những động thái được cho là giải quyết vấn đề di sản Chiến tranh Việt Nam  
cũng đã được hai bên xúc tiến và đạt được những thỏa thuận rất khả quan. Tháng  
8/2014, đoàn đại biểu cấp cao quân đội Hoa Kỳ do Đại tướng Martin Dempsey, Chủ  
tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ làm trưởng đoàn đã có chuyến thăm  
chính thức Việt Nam từ ngày 13 đến 16/8. Đây là lần đầu tiên Chủ tịch Hội đồng Tham  
mưu trưởng Liên quân Mỹ thăm chính thức Việt Nam. Trong dịp này, hai bên thống  
nhất phương hướng hợp tác, trong đó tập trung vào các lĩnh vực khắc phục hậu quả  
chiến tranh, tìm kiếm cứu nạn; cứu trợ thảm họa thiên tai; đào tạo, tăng cường chia sẻ  
thông tin, hợp tác thực thi pháp luật trên biển.  
Một sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ an ninh -  
quân sự Việt Nam - Hoa Kỳ là việc Mỹ chính thức tuyên bố dỡ bỏ một phần lệnh cấm  
(1)  
Tuyên bố chung Việt Nam - Hoa Kỳ nhân chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang  
tại  
(2)  
John Kerry, Remarks to Ho Chi Minh City Business Community and Fulbright Economic Teaching  
Program Participants, Ho Chi Minh City, Vietnam, 14 December 2013 tại https://2009-  
2017.state.gov/secretary /remarks/2013/12/218721.htm.  
(3)  
“Improving Maritime Security in Southeast Asia” tại http://editorials.voa.gov /a/improving-  
93  
Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trên lĩnh vực an ninh - quân sự (2012 - 2020)  
vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam. Tuyên bố này được đưa ra vào tháng 10/2014  
nhân dịp Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh tới thăm  
Mỹ. Ngoại trưởng Mỹ J.Kerry đã thông báo thay đổi chính sách để cho phép việc  
chuyển giao thiết bị quân sự, bao gồm vũ khí sát thương, vì mục đích đảm bảo an ninh  
hàng hải cho Việt Nam. Tuy thông báo của Mỹ không nêu rõ những loại vũ khí nào sẽ  
được dỡ bỏ cấm vận, song giới quan sát nhận định nhiều khả năng Washington sẽ cho  
phép xuất khẩu các loại khí tài như máy bay tuần tra P3 - Orion đã qua sử dụng do  
hãng Lockheed Martin sản xuất nhằm tăng cường năng lực giám sát trên biển cho Việt  
Nam. Lệnh cấm buôn bán vũ khí sát thương của Mỹ cho Việt Nam đã được thay đổi  
bởi những lợi ích chiến lược to lớn của Mỹ trong việc hỗ trợ các nước trong khu vực  
tăng cường năng lực của mình để có thể đáp ứng được những gì diễn ra trên biển vào  
thời điểm đó. Như vậy, việc dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam phục  
vụ mục đích an ninh hàng hải sẽ góp phần tăng cường hợp tác quốc phòng theo hướng  
có lợi cho cả hai nước. Các trang thiết bị mới sẽ hỗ trợ Việt Nam trong việc tuần tra và  
phòng thủ trên Biển Đông, giữa lúc những thách thức ngày càng gia tăng. Với thiện chí  
của Hoa Kỳ trong vấn đề nhạy cảm này đã mở đường cho hợp tác thương mại, trao đổi  
mua bán vũ khí, trang bị quốc phòng trong tương lai của hai nước.  
Năm 2015 ghi nhận một bước tiến quan trọng trong quan hệ hợp tác quốc  
phòng giữa hai nước với sự kiện ngày 07/7/2015, tại Washington D.C đã diễn ra lễ ký  
kết Bản ghi nhớ về gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và  
Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Nội dung chính của Bản ghi nhớ là thúc đẩy quan hệ quốc  
phòng song phương trên các lĩnh vực tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp  
quốc như tăng cường trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và kỹ năng hoạt động tại các phái  
bộ Liên hợp quốc, nâng cao năng lực của cá nhân và đơn vị trong huấn luyện tiền triển  
khai, hỗ trợ trang bị kỹ thuật cho lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc,  
giải ngân gói hỗ trợ xây dựng Trung tâm gìn giữ hòa bình Việt Nam và nâng cao khả  
1
năng tiếng Anh cho Quân đội Nhân dân Việt Nam ….  
Vào giữa năm 2015, hai nước đã ký kết Tuyên bố Tầm nhìn chung về quốc  
phòng Việt Nam - Hoa Kỳ tại Hà Nội và Tuyên bố Tầm nhìn chung về quan hệ quốc  
phòng định hướng hợp tác song phương. Định hướng hợp tác song phương trên cơ sở  
Bản ghi nhớ về thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương ký năm 2011, bao gồm hợp  
tác trong khắc phục hậu quả chiến tranh (tìm kiếm quân nhân mất tích, tẩy độc dioxin,  
rà phá bom mìn vật liệu nổ còn sót lại); trao đổi đoàn; đối thoại, tham vấn; trao đổi  
kinh nghiệm trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn, khắc phục thiên tai, tham gia các hoạt  
động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Đáng chú ý là Hoa Kỳ cam kết sẽ cung cấp  
một gói 18 triệu USD cho lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam để mua sắm những tàu  
(1)  
Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Đức Toàn (2015), Hợp tác Việt Nam - Hoa Kỳ về quốc phòng và  
giải quyết vấn đề “di sản” chiến tranh Việt Nam (1995 - 2015), Kỷ yếu hội thảo khoa học “20 năm  
quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: thành tựu và triển vọng “(1995 - 2015), Huế.  
94  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 3 (2020)  
tuần tra; đồng thời hỗ trợ, giúp đỡ Việt Nam xây dựng và phát triển Trung tâm huấn  
luyện gìn giữ hòa bình. Hai nước cũng cam kết sẽ đẩy mạnh thương mại quốc phòng,  
tiến tới cùng hợp tác sản xuất thiết bị quân sự trong tương lai.  
Có thể nói, trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục có những hành động làm gia  
tăng căng thẳng trên Biển Đông, qua đó ảnh hưởng lớn đến sự thay đổi của quan hệ  
quốc tế tại khu vực thì việc tăng cường quan hệ an ninh - quân sự Việt Nam - Hoa Kỳ  
cũng nhằm đối phó với những nguy cơ lớn đến từ Trung Quốc; việc thắt chặt quan hệ  
với Việt Nam của Hoa Kỳ còn giúp nước này kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc,  
bảo vệ quyền lợi của Mỹ tại khu vực này.  
Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam từ ngày 23 đến 25/5/2016, Tổng thống  
Barack Obama tuyên bố dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương với Việt Nam  
và nhấn mạnh quyết định dựa trên tiến trình hợp tác lâu dài trong quá trình bình  
thường hóa giữa hai quốc gia. Cấm vận vũ khí sát thương là một trong những di sản  
cuối cùng của Chiến tranh lạnh. Việt Nam luôn coi sự cấm vận vũ khí sát thương là sự  
bất bình thường dù quan hệ Việt - Mỹ đã được nâng cấp là Đối tác toàn diện. Obama  
biện minh cho quyết định này là một cách để “đảm bảo rằng Việt Nam được tiếp cận  
(1)  
với các thiết bị cần thiết để tự vệ” . Về nhiều mặt, quyết định này là sự kết thúc hợp lý  
của quá trình bình thường hóa giữa hai nước, cũng là khởi đầu của một chương mới  
(2)  
trong quan hệ địa chiến lược ở châu Á - Thái Bình Dương . Về lý thuyết, nó cho phép  
Việt Nam đa dạng hóa các nguồn thiết bị quân sự của mình. Tuy nhiên, Việt Nam có  
nhu cầu ngày càng tăng về thiết bị giám sát bao gồm máy bay tuần tra và trinh sát  
hàng hải cũng như thiết bị chỉ huy và kiểm soát, có thể được các nhà cung cấp quốc  
phòng Hoa Kỳ đáp ứng. Do vậy, tuyên bố bãi bỏ cấm vận này của Tổng thống  
B.Obama đánh dấu một cột mốc giúp thúc đẩy quan hệ song phương, mở ra triển vọng  
mới cho Việt Nam trong nhiệm vụ phòng thủ đất nước cũng như bảo đảm những lợi  
ích của Mỹ tại khu vực Biển Đông. Tuy vậy, việc dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vũ khí trên  
không đồng nghĩa với việc Việt Nam có thể mua bất cứ vũ khí gì của Mỹ, Mỹ sẽ cân  
nhắc từng đơn hàng cụ thể của Việt Nam. Cùng với đó, Mỹ sẽ tăng cường quan hệ với  
các quốc gia trong khu vực châu Á – TBD để khai thác tiềm năng kinh tế trong khu vực  
và xây dựng bức tường thành ngăn sự ảnh hưởng của Trung Quốc, chống lại tham  
vọng chiếm đoạt toàn bộ biển đảo trên Biển Đông của Trung Quốc.  
Như vậy, mối quan hệ an ninh quân sự Việt - Mỹ đã trải qua một bước chuyển  
biến lớn trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống B.Obama. Xây dựng mối quan hệ hợp  
( 1 )  
Rishi Iyengar, US Will Lift Embargo on Arms Sales to Vietnam, President Obama  
(2)  
Huong Le Thu, The Bilateral and Regional Significance of Obama’s Visit in Vietnam, CSIS PacNet  
visit-vietnam.  
95  
Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trên lĩnh vực an ninh - quân sự (2012 - 2020)  
tác trên lĩnh vực an ninh quân sự lại càng khó khăn gấp bội khi việc xây dựng lòng tin  
giữa hai cựu thù là không hề dễ dàng. Trên tất cả, quyết định tháo gỡ lệnh cấm bán vũ  
khí sát thương cho Việt Nam của Mỹ là sự báo hiệu về một kỷ nguyên mới trong quan  
hệ an ninh - quân sự giữa hai nước.  
3. QUAN HỆ AN NINH QUÂN SỰ VIỆT NAM - HOA KỲ DƯỚI THỜI TỔNG  
THỐNG D.TRUMP  
Ngay sau khi nhậm chức vào tháng 1 năm 2017, Tổng thống Trump đã ký một  
sắc lệnh hành pháp rút Hoa Kỳ khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).  
Đối với Việt Nam, tham gia TPP không chỉ có lợi về kinh tế mà còn có ý nghĩa về an  
ninh trong việc giảm sự phụ thuộc kinh tế của Việt Nam vào Trung Quốc. Việc Hoa Kỳ  
rút khỏi TPP dẫn đến nguy cơ gián tiếp làm chậm lại quan hệ hợp tác trên lĩnh vực an  
ninh quân sự giữa hai nước. Theo giới quan sát quốc tế, sau chín tháng tại vị đầu  
nhiệm kỳ và trong bối cảnh căng thẳng ngày càng tăng trong khu vực, có rất ít dấu  
(1)  
hiệu cho thấy D.Trump đang xây dựng một chiến lược cho châu Á . Cuộc khủng  
hoảng hạt nhân Bắc Triều Tiên đã thu hút hầu hết các sự chú ý của Washington khi nói  
đến châu Á - Thái Bình Dương. Những thuật ngữ “xoay trục”, “tái cân bằng” gần như  
không còn được nhắc tới trong nhiệm kỳ của Tổng thống D.Trump. Tuy nhiên, mối  
quan tâm của Mỹ tới khu vực rộng lớn hơn – khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương và vấn  
đề tự do hàng hải là không hề thay đổi; qua đó, chính sách của Mỹ đối với Việt Nam  
cũng không có nhiều khác biệt. Việc tuần tra trên Biển Đông và việc Thủ tướng  
Nguyễn Xuân Phúc trở thành lãnh đạo Đông Nam Á đầu tiên thăm Mỹ là những động  
thái tích cực, cho thấy Hoa Kỳ vẫn rất chú trọng đến vị trí địa chiến lược của khu vực  
châu Á - TBD. Bên cạnh đó, Mỹ cũng trở thành “khách hàng” thường xuyên của cảng  
dịch vụ quốc tế Cam Ranh kể từ khi cảng này bắt đầu đi vào hoạt động vào tháng  
3/2016. Điều này đã minh chứng cho sự quan tâm của Hoa Kỳ đối với quân cảng chiến  
lược này, đồng thời cũng cho thấy rằng, việc tăng cường hợp tác giữa hai nước trên  
lĩnh vực an ninh quân sự lúc này đã trở thành một nhu cầu thực tế và đã được hai quốc  
gia không ngừng coi trọng và thúc đẩy.  
Ngày 22/5/2017, tại Quảng Nam, Đại sứ Mỹ Ted Osius bàn giao 6 xuồng tuần  
tra Metal Shark 45-foot (tương đương 14 mét) cho Vùng 2 Cảnh sát biển (CSB) Việt  
Nam. Các xuồng tuần tra này sẽ hỗ trợ Vùng 2 CSB trong hoạt động tuần tra liên bờ  
biển và thực thi pháp luật về chống buôn lậu, buôn bán bất hợp pháp, cướp biển, cướp  
(2)  
tàu có vũ trang, đánh bắt cá bất hợp pháp . Mỹ và cộng đồng quốc tế cũng hưởng lợi  
(1)  
Le Thu Huong (2017), US-Vietnam relations under President Trump, Lowy Institute for  
International Policy, p.8.  
(2)  
US Delivers Six Patrol Vessels to Vietnam in Defense Boost tại  
96  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 3 (2020)  
từ sự ổn định trong khu vực, đó cũng là lý do mà phía Mỹ hỗ trợ cho lực lượng Cảnh  
sát biển Việt Nam. Đến ngày 25/5/2017, Hoa Kỳ đã bàn giao tàu tuần duyên trọng tải  
cao cho Cảnh sát biển Việt Nam tại buổi lễ ở Honolulu, Hawaii. Con tàu này sẽ được  
đổi tên thành CSB 8020, được Hoa Kỳ hỗ trợ Việt Nam thông qua Chương trình bán  
(1)  
trang bị quốc phòng dư thừa (EDA) . Chuẩn đô đốc Tuần duyên Hoa Kỳ Michael J.  
Haycock, Trợ lý tham mưu trưởng về quân dụng và cán bộ chuyên trách quân dụng,  
phát biểu: “Con tàu này mang một biểu tượng ý nghĩa và cụ thể về quan hệ đối tác  
toàn diện Hoa Kỳ - Việt Nam. Tuần duyên Hoa Kỳ vinh dự được chứng kiến con tàu  
này tiếp tục duy trì hòa bình và sự thịnh vượng toàn cầu khi trở thành một phần của  
Cảnh sát biển Việt Nam”.  
Bên cạnh đó, việc tàu chiến của Mỹ đã liên tục ghé thăm cảng Cam Ranh của  
Việt Nam cũng là những chỉ dấu cho thấy mối quan hệ an ninh quân sự giữa hai nước  
ngày càng thắt chặt. Vào tháng 10/2016, tàu USS. McCain và tàu ngầm USS.Frank  
Cable trở thành tàu hải quân Mỹ đầu tiên thăm cảng quốc tế Cam Ranh sau khi cảng  
này bắt đầu đi vào hoạt động. Ngày 5/7/2017, tàu khu trục USS Coronado (LCS-4) và  
tàu cứu hộ USNS Salvor (T-ARS-52) của Hải quân Mỹ đã cập cảng Cam Ranh, tham gia  
Chương trình giao lưu hải quân (NEA) thường niên lần thứ 8 giữa Hải quân Nhân dân  
(2)  
Việt Nam và Hải quân Mỹ . Chương trình NEA lần này tập trung vào các hoạt động  
trao đổi kỹ năng về quân y, cứu hộ trên biển, an ninh hàng hải và thực hành bộ quy tắc  
ứng xử cho những cuộc chạm trán ngoài ý muốn trên biển. Đây là lần đầu tiên hoạt  
động giao lưu giữa Hải quân Nhân dân Việt Nam và Hải quân Mỹ diễn ra tại Khánh  
Hòa kể từ khi chương trình này được thiết lập vào năm 2010. Hoạt động NEA được  
triển khai thường niên góp phần tăng cường hiểu biết, xây dựng niềm tin trên biển và  
củng cố quan hệ giữa Hải quân Mỹ và Hải quân Việt Nam.  
Về an ninh - quốc phòng, hợp tác quốc phòng Việt - Mỹ có những tiếp nối tốt  
đẹp trong 4 năm cầm quyền của Tổng thống D.Trump. Nhân chuyến công du Hoa Kỳ  
của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc ngày 31/5/2017, hai bên đã nhất trí tăng  
cường quan hệ quốc phòng và quân sự, đồng thời nhấn mạnh đến nhu cầu tôn trọng  
quyền tự do hàng không và hàng hải tại Biển Đông, chống mọi hành vi quân sự hóa  
khu vực. Dấu hiệu rõ ràng nhất về quyết tâm tăng cường và phát triển quan hệ quốc  
phòng và quân sự song phương được thể hiện trong Tuyên bố chung về Tăng cường  
đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ. Trong bản tuyên bố chung, hai nhà lãnh đạo đã  
nêu ra nhiều yếu tố cho thấy rõ mong muốn thúc đẩy mạnh mẽ hơn quan hệ quốc  
phòng, quân sự, theo chiều hướng Mỹ giúp Việt Nam nâng cao năng lực kiểm soát  
vùng biển của mình, Việt Nam sẵn sàng mua tàu tuần tra biển của Mỹ. Bên cạnh đó,  
(1)  
Chương trình EDA cung cấp thiết bị quân sự dư thừa cho đối tác và các quốc gia đồng minh  
của Hoa Kỳ để hỗ trợ các nỗ lực hiện đại hóa an ninh và quân đội của các nước này.  
(2)  
Phạm Thị Yên (2017), Quan hệ Việt - Mỹ dưới thời chính quyền Donald Trump: vấn đề và  
triển vọng, Châu Mỹ ngày nay, số 9 (234).  
97  
Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trên lĩnh vực an ninh - quân sự (2012 - 2020)  
hai bên cũng đã thảo luận về khả năng tàu sân bay Mỹ ghé thăm cảng Việt Nam. Hoa  
Kỳ cũng đề nghị và được Việt Nam chấp thuận việc cho quân đội Mỹ lưu trữ những  
thiết bị vật tư trên lãnh thổ Việt Nam để có thể sử dụng ngay khi cần thiết, trước tiên là  
các thiết bị nhân đạo. Riêng về vấn đề Biển Đông, Tổng thống D.Trump nhắc lại cam  
kết Mỹ sẽ bảo vệ quyền tự do hàng hải trên Biển Đông, phản đối mọi hoạt động nhằm  
quân sự hóa khu vực. Điều này đã tái khẳng định lập trường phản đối các hoạt động  
quân sự hóa khu vực. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh các bên cần kiềm chế, không có các  
hành động có thể gây gia tăng căng thẳng, như việc quân sự hóa các cấu trúc có tranh  
chấp. Tổng thống D.Trump nhấn mạnh Hoa Kỳ sẽ tiếp tục cho tàu và máy bay di  
chuyển và hoạt động tại bất kỳ nơi nào luật pháp cho phép. Dù không chỉ đích danh  
nước nào, nhưng nội dung lãnh đạo hai nêu lên trong bản tuyên bố chung có thể hiểu  
là về các hành vi của Trung Quốc.  
Đặc biệt, ngày 17/10/2017, tại Bộ Quốc phòng Mỹ đã diễn ra Đối thoại Chính  
sách Quốc phòng Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2017. Dẫn đầu đoàn đại biểu quốc phòng  
Việt Nam tham gia Đối thoại là Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc  
phòng. Về phía Hoa Kỳ, dẫn đầu phái đoàn tham gia Đối thoại là Tiến sĩ Joseph  
H.Felter, Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ phụ trách khu vực Nam và Đông Nam  
Á. Tham dự Đối thoại còn có Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Phạm Quang Vinh. Đối thoại  
Chính sách Quốc phòng Việt Nam - Hoa Kỳ 2017 đã cập nhật thông tin về những thách  
thức an ninh tại khu vực châu Á - TBD, bàn thảo các nội dung hợp tác để đẩy mạnh  
quan hệ quốc phòng song phương trong khuôn khổ quan hệ Đối tác toàn diện giữa Việt  
Nam và Hoa Kỳ. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh thông báo cho phía Hoa Kỳ biết Việt  
Nam mới khai trương Trung tâm Gìn giữ hòa bình tại Hà Nội, đánh giá tiềm năng hợp  
tác giữa hai Bộ Quốc phòng trong lĩnh vực quân y còn rất lớn, nhất là trong bối cảnh  
Việt Nam đang chuẩn bị triển khai Bệnh viện dã chiến cấp 2 tham gia lực lượng gìn giữ  
hòa bình Liên hợp quốc. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh đặc biệt đánh giá cao sự hợp  
tác song phương trong hoạt động tìm kiếm thông tin và hài cốt quân nhân của hai phía  
mất tích trong chiến tranh, coi đây là một điểm sáng trong hợp tác quốc phòng hai  
1
nước .  
Dấu ấn đậm nét nhất trong hợp tác an ninh - quân sự Việt - Mỹ trong nhiệm kỳ  
của Tổng thống D.Trump được thể hiện trong Tuyên bố chung Việt Nam - Hoa Kỳ  
nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống D.Trump (11-12/11/2017). Trên lĩnh vực  
an ninh - quân sự có những nội dung quan trọng, được lãnh đạo hai nước nhấn mạnh  
và khẳng định như: (1) cam kết làm sâu sắc hơn nữa hợp tác quốc phòng và quyết tâm  
chung đối phó với các thách thức an ninh khu vực; khẳng định Kế hoạch hành động về  
Hợp tác quốc phòng Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 2018 - 2020 nhằm thực thi Bản ghi  
(1)  
Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam - Hoa Kỳ 2017 tại https://vietnamnet.vn/vn/thoi-  
98  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 3 (2020)  
nhớ về Tăng cường hợp tác quốc phòng song phương năm 2011 và Tuyên bố Tầm nhìn  
chung về Quan hệ quốc phòng năm 2015; (2) cam kết làm sâu sắc hơn quan hệ trên cơ  
sở những Tuyên bố chung trước đây giữa hai nước; tôn trọng Hiến chương Liên hợp  
quốc và luật pháp quốc tế; tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế  
chính trị của nhau; (3), tiếp tục hợp tác để khắc phục các hậu quả chiến tranh; cam kết  
sẽ hợp tác với Việt Nam trong nỗ lực tìm kiếm tin tức của bộ đội Việt Nam bị mất tích  
trong chiến tranh; ủng hộ việc tăng cường quan hệ giữa nhân dân hai nước; (4) kêu gọi  
thực thi đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), và  
sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả, có tính ràng buộc về  
mặt pháp lý. Hai bên cũng kêu gọi tất cả các bên yêu sách ở Biển Đông làm rõ và thực  
thi những yêu sách hàng hải của mình phù hợp với luật pháp quốc tế, như được phản  
ánh trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, và thực hiện một cách thiện chí  
những trách nhiệm pháp lý quốc tế của mình trong quá trình quản lý và giải quyết  
tranh chấp. (5) thảo luận và hoan nghênh các sáng kiến nhằm duy trì hòa bình và thúc  
đẩy hợp tác phát triển tại Ấn Độ Dương – TBD, ủng hộ ASEAN đóng vai trò to lớn hơn  
trong ứng phó với các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống ở khu vực, làm  
sâu sắc hơn quan hệ Đối tác Chiến lược Hoa Kỳ - ASEAN trên cơ sở các nguyên tắc  
(1)  
nêu trong Tuyên bố Sunnylands 2016 .  
Có thể nói, chuyến thăm của Tổng thống D.Trump đến Hà Nội, tuy chỉ là  
chuyến thăm sau khi dự Hội nghị APEC năm 2017, song đặt trong bối cảnh tình hình  
châu Á - TBD có nhiều diễn biến hết sức phức tạp thì việc lựa chọn Việt Nam là nước  
đầu tiên ở Đông Nam Á cho chuyến thăm chính thức sau khi nhậm chức của Tổng  
thống D.Trump là một việc làm cho thấy sức ảnh hưởng cũng như vai trò của Việt  
Nam đối với Hoa Kỳ ngày càng lớn; do vậy, đây là một sự kiện đặc biệt quan trọng đối  
với quan hệ hai nước. Đây cũng là cơ sở để thấy rằng, trong nhiệm kỳ của mình, Tổng  
thống D.Trump sẽ tiếp tục xem Việt Nam là một nhân tố không thể thiếu trong chiến  
lược của mình ở khu vực châu Á - TBD, đặc biệt là vấn đề kiềm chế sự bành trướng và  
các hành động gây hấn ở Biển Đông của Trung Quốc, ảnh hưởng đến quyền lợi cũng  
như vị thế của Hoa Kỳ tại khu vực này.  
Tiếp sau đó, trong Tuyên bố chung vào tháng 11 năm 2017, Tổng thống Mỹ  
D.Trump và Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đại Quang đã tuyên bố Tầm nhìn chung về  
tương lai của một khu vực Ấn Độ Dương - TBD tự do và rộng mở, hai bên khẳng định  
dựa trên cam kết chung để tăng cường hợp tác quốc phòng và quyết tâm chung để xử  
lý các thách thức an ninh khu vực.  
(1)  
Nguyễn Thúy Quỳnh (2017), Những nét chính trong tuyên bố chung Việt Nam - Hoa Kỳ,  
Châu Mỹ ngày nay, số 11 (236)  
99  
Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trên lĩnh vực an ninh - quân sự (2012 - 2020)  
Tầm nhìn chung này tiếp tục được củng cố bởi các chuyến thăm Việt Nam của  
Bộ trưởng Quốc phòng J.Mattis vào tháng 1/2018, chuyến thăm thứ hai từ ngày 16 -  
17/10/2018 chỉ trong vòng một năm cho thấy tầm quan trọng ngày càng tăng trong hợp  
tác về quốc phòng, an ninh giữa hai nước. Trọng tâm chuyến thăm này là khu xử lý  
chất độc da cam dioxin - nơi quân đội Mỹ chứa chất diệt cỏ trong thời kỳ chiến tranh.  
Việc làm này nhằm tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ trong việc đóng góp cho hoạt  
động tẩy rửa dioxin - một bước quan trọng nữa trong việc xử lý các hậu quả chiến  
tranh để lại. Ngoài ra, phía Mỹ cũng kỳ vọng đẩy mạnh hơn hợp tác quốc phòng song  
phương, trong đó có việc thường xuyên thực hiện nhiều chuyến thăm hải quân  
hơn. Những chuyến thăm này đã khẳng định cam kết của Tổng thống Trump và các  
nhà lãnh đạo Việt Nam đối với Kế hoạch Hành động về Hợp tác Quốc phòng mới, kéo  
dài ba năm, từ năm 2018 đến 2020.  
Một minh chứng nữa cho sự phát triển quan hệ an ninh - quân sự Việt Nam -  
Hoa Kỳ là vào tháng 3 năm 2018, tàu sân bay USS Carl Vinson đã tới Đà Nẵng trong  
một chuyến thăm lịch sử kéo dài bốn ngày. USS Carl Vinson là tàu sân bay đầu tiên  
của Hoa Kỳ ghé thăm Việt Nam sau Chiến tranh Việt Nam, và cùng với hai tàu chiến  
cùng 6.000 binh sĩ đi kèm, tạo nên sự hiện diện quân sự lớn nhất của Mỹ tại Việt Nam  
(1)  
kể từ thời điểm đó . Điều quan trọng hơn, chuyến thăm cũng cho thấy hai nước đã  
cảm thấy “thoải mái” hơn 8 năm trước (trong cuộc ghé thăm của tàu USS George  
Washington neo ngoài khơi Đà Nẵng) khi tiến hành các hoạt động hợp tác quốc phòng  
cấp cao, quy mô lớn. Đây là một kết quả tự nhiên nhưng không hề dễ dàng có được từ  
nỗ lực liên tục của hai bên nhằm vun đắp cho quan hệ quốc phòng song phương trong  
suốt 10 năm qua. Chuyến thăm trên cũng có ý nghĩa quan trọng trong khuôn khổ chiến  
lược quốc phòng tại khu vực châu Á - TBD của Hoa Kỳ.  
Tiếp đó, từ 27/6 đến 2/08/2018, Việt Nam lần đầu tiên tham gia cuộc tập trận  
(2)  
Vành đai TBD (RIMPAC) , sau khi tham dự với tư cách quan sát viên vào các năm  
2012 và 2016. Trước đó, Việt Nam đã từng được mời làm quan sát viên cuộc tập trận  
RIMPAC 2012, năm đó, Việt Nam cử 6 sĩ quan đến quan sát hoạt động diễn tập quân y  
trong khuôn khổ cuộc tập trận này. Việc Mỹ mời Việt Nam tham gia RIMPAC là một  
bước phát triển mới trong quan hệ quân sự giữa hai quốc gia.  
Mặc dù đạt được những thành tựu đáng kể, nhưng quan hệ Việt - Mỹ trên lĩnh  
vực an ninh quân sự vẫn tồn tại những rào cản và thách thức. Cho đến hiện nay, nhân  
(
1
)
US and Vietnam Need to Build on Momentum of Carrier Visit” tại  
(2)  
RIMPAC là chương trình tập trận hải quân quốc tế lớn nhất thế giới, do Hoa Kỳ cùng các  
đồng minh và đối tác tổ chức hai năm một lần xung quanh quần đảo Hawaii và Nam  
California, quy tụ hải quân của 26 quốc gia, huy động 47 chiến hạm, 5 tàu ngầm, 18 lực lượng  
đổ bộ, hơn 200 máy bay và 25.000 binh sĩ.  
100  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 3 (2020)  
quyền vẫn luôn luôn là vấn đề mà Hoa Kỳ lấy làm lý do để gây trở ngại trong việc hợp  
tác với Việt Nam. Hợp tác quốc phòng và an ninh - mặc dù có những bước tiến ấn  
tượng - vẫn chưa được như kỳ vọng của Mỹ. Kể từ khi dỡ bỏ lệnh cấm vũ khí sát  
thương, Việt Nam đã không thực hiện bất kỳ hoạt động mua vũ khí nào do Mỹ sản  
xuất. Vì hơn 80% thiết bị quân sự của Việt Nam là từ Nga, nên sẽ là một thách thức  
(1)  
đáng kể nếu đưa vũ khí của Mỹ vào các hệ thống hiện có . Ngoài ra, vũ khí và thiết bị  
do Nga sản xuất được coi là rẻ hơn so với các đối tác Mỹ. Một trở ngại khác là vị thế  
của Việt Nam theo Đạo luật trừng phạt chống đối thủ của Mỹ năm 2017, theo đó Hoa  
Kỳ áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với các nước mua vũ khí và thiết bị quân sự từ  
Nga. Mặc dù cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ J.Mattis đã đề nghị Quốc hội miễn trừ  
trách nhiệm đối với Việt Nam nhưng quyết định cuối cùng vẫn chưa được đưa ra.  
Trong Sách trắng quốc phòng năm 2019, Việt Nam một lần nữa kiên trì nguyên  
(2)  
tắc “Ba không” nhưng cũng đồng thời chủ trương tăng cường và mở rộng hợp tác  
quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách  
thức an ninh chung. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể,  
Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với  
mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh  
thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có  
(3)  
lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế . Đây là lần đầu tiên Việt Nam  
dành chỗ cho việc giải thích nguyên tắc “ba không” của mình, điều này sẽ mở đường  
cho Việt Nam làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác quốc phòng với Hoa Kỳ.  
4. KẾT LUẬN  
Trải qua 8 năm cầm quyền với hai đời tổng thống B.Obama (Đảng Dân chủ,  
nhiệm kỳ thứ hai, 2012 – 2016) và D.Trump (Đảng Cộng hòa, 2017 – 2020), trên tinh  
thần tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng sự khác  
biệt về thể chế chính trị, Việt Nam và Hoa Kỳ tiếp tục nỗ lực tăng cường đối thoại, thúc  
đẩy hợp tác, không ngừng củng cố lòng tin giữa hai quốc gia đã từng là cựu thù. Trên  
lĩnh vực hợp tác an ninh - quân sự, kế thừa và tiếp nối những kết quả của các đời tổng  
thống trước, chính quyền của Tổng thống B.Obama và của Tổng thống D.Trump đã có  
nhiều chính sách và hành động nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ với Việt Nam trên  
(1)  
Will We See a US-Vietnam Strategic Partnership? tại https://thediplomat.com/2020/07/will-  
(2)  
Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không  
cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác;  
không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế  
(3)  
Bộ Quốc phòng (2019), Quốc phòng Việt Nam 2019, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,  
tr.25.  
101  
Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trên lĩnh vực an ninh - quân sự (2012 - 2020)  
lĩnh vực vốn hết sức nhạy cảm này. Những rào cản trong quan hệ an ninh quân sự Việt  
Nam – Hoa Kỳ đã được gỡ bỏ bằng việc Mỹ bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát  
thương đối với Việt Nam, đây là một dấu ấn đậm nét và chưa từng có tiền lệ trong  
quan hệ giữa hai nước. Từ đó, các hoạt động hợp tác trên lĩnh vực an ninh quân sự  
giữa Việt Nam và Hoa Kỳ như đối thoại quốc phòng, nâng cao năng lực Cảnh sát biển  
Việt Nam, hợp tác an ninh hàng hải, tăng cường các chuyến thăm của tàu chiến Mỹ  
đến Việt Nam, khắc phục hậu quả chiến tranh ngày càng được chú trọng, thực chất và  
sâu sắc hơn. Đó chính là minh chứng rõ ràng, sống động của sự đúng đắn trong chính  
sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, cũng là một bộ phận quan trọng  
trong chính sách quay trở lại châu Á của Hoa Kỳ nhằm kiềm chế và ngăn chặn sự trỗi  
dậy và bành trướng của Trung Quốc. Trong bối cảnh Trung Quốc đang ngày càng gia  
tăng các hoạt động phi pháp nhằm chiếm trọn Biển Đông, ảnh hưởng xấu đến an ninh  
khu vực thì việc tăng cường hợp tác an ninh - quân sự với Hoa Kỳ - siêu cường số một  
thế giới - là điều cần thiết đối với Việt Nam. Kết quả của việc tăng cường quan hệ an  
ninh - quân sự với Hoa Kỳ sẽ góp phần nâng cao năng lực cho Việt Nam trong việc giữ  
vững toàn vẹn lãnh hải, lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc trên Biển Đông hiện nay./.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Bộ Quốc phòng (2019). Quốc phòng Việt Nam 2019, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.  
[2]. Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam - Hoa Kỳ 2017 tại https://vietnamnet.vn/vn/thoi-  
truy cập: 22/8/2020.  
[3]. Le Thu Huong (2017). US-Vietnam relations under President Trump, Lowy Institute for  
International Policy.  
[4]. Improving Maritime Security in Southeast Asia, website: http://editorials.voa.gov  
[5]. Rishi Iyengar (2016). US Will Lift Embargo on Arms Sales to Vietnam, President Obama  
lifted-hanoi-us-war/, ngày truy cập: 17/7/2020 .  
[6]. John Kerry (2013). Remarks to Ho Chi Minh City Business Community and Fulbright  
Economic Teaching Program Participants, Ho Chi Minh City, Vietnam, Website:  
12/8/2020.  
[7]. Nguyễn Thúy Quỳnh (2017). Những nét chính trong tuyên bố chung Việt Nam - Hoa Kỳ,  
Châu Mỹ ngày nay, số 11 (236).  
[8]. Huong Le Thu (2016). The Bilateral and Regional Significance of Obama’s Visit in Vietnam,  
regional-significa...’s-visit-vietnam, ngày truy cập: 18/7/2020.  
102  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 3 (2020)  
[9]. Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Đức Toàn (2015). Hợp tác Việt Nam - Hoa Kỳ về quốc phòng và  
giải quyết vấn đề “di sản” chiến tranh Việt Nam (1995 - 2015), Kỷ yếu Hội thảo khoa học “20  
năm quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: thành tựu và triển vọng “(1995 - 2015), Huế.  
[10]. Tuyên bố chung Việt Nam - Hoa Kỳ nhân chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Trương Tấn  
21/8/2020.  
[11]. US Delivers Six Patrol Vessels to Vietnam in Defense Boost, Website:  
boost/, ngày truy cập: 25/8/2020.  
[12]. US and Vietnam Need to Build on Momentum of Carrier Visit, Website:  
on-momentum-of-carrier-visit-by-le-hong-hiep, ngày truy cập: 27/8/2020.  
[13]. Phạm Thị Yên (2017). Quan hệ Việt - Mỹ dưới thời chính quyền Donald Trump: vấn đề và  
triển vọng, Châu Mỹ ngày nay, số 9 (234).  
[14]. Will We See a US-Vietnam Strategic Partnership?,  
ngày truy cập: 19/8/2020.  
VIETNAM – THE UNITED STATES RELATONS  
IN MILITARY AND SECURITY FIELD (2012 – 2020)  
1
2
Duong Quang Hiep , Nguyen Thi Thong  
1
University of Sciences, Hue University  
2
Hoang Hoa Tham High School, Gia Lai Province  
ABSTRACT  
In the period 2012 - 2020, Vietnam – U.S relations in security - military field have  
made significant achievements in spite of changing ruling party. These  
achievements include defense dialogues, capacity building of the Vietnam’s Coast  
Guard, maritime security cooperation, visits of American warships to Vietnam,  
overcoming the consequences of war…. That the US complete removal of the ban  
on lethal weapons against Vietnam (23/5/2016) and Vietnam's first participation in  
the exercise of the Pacific Rim (RIMPAC) (from June 27 to August 2, 2018) marked  
as complete normalization of Vietnam – U.S relationship and a milestone in the  
two countries military and security relations. This study analyzes the achievements  
103  
Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trên lĩnh vực an ninh - quân sự (2012 - 2020)  
in Vietnam – U.S security-military relations from 2012 to 2020 and based on which  
result draws some comments on Vietnam - US relations in the field of military -  
security in the context of disputes in the South China Sea getting more and more  
complicated  
Keyword: military – security, Vietnam - The United States relations, cooporation.  
Dương Quang Hiệp sinh ngày 28/3/1978 tại Thừa Thiên Huế. Ông nhận  
bằng Cử nhân năm 2000 tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế và  
bằng Thạc sĩ năm 2005 tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế. Năm  
2016, ông nhận bằng Tiến sĩ tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Hiện ông đang công tác tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học, Đại  
học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Lịch sử quan hệ quốc tế của Việt Nam hiện đại, Lịch  
sử và chính sách đối ngoại Mỹ, Lịch sử, văn hóa Mỹ Latinh.  
Nguyễn Thị Thông sinh ngày 15/11/1982 tại Gia Lai. Bà nhận bằng cử  
nhân năm 2004 tại Trường Đại học Quy Nhơn và bằng Thạc sĩ năm 2020  
tại trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. Hiện bà đang công tác tại  
trường THPT Hoàng Hoa Thám, Tp. Pleiku, Gia Lai.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Lịch sử quan hệ quốc tế của Việt Nam hiện đại, Lịch  
sử bang giao Việt Nam – Hoa Kỳ.  
104  
pdf 14 trang Thùy Anh 17520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trên lĩnh vực an ninh - quân sự (2012 - 2020)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_he_viet_nam_hoa_ky_tren_linh_vuc_an_ninh_quan_su_2012_2.pdf