Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của lưu học sinh Lào tại trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh
ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH
Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của lưu học sinh Lào
tại trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh
Cao Hải An
Phòng Tổ chức - Cán bộ, Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh
* Email: [email protected]
Tel: 0936.390.323
Tóm tắt
Từ khóa:
Lưu học sinh Lào hiện đang học tập tại trường Đại học Công
nghiệp Quảng Ninh phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá
trình học tập tại Việt Nam. Các em phải làm quen với ngôn ngữ
mới, môi trường sống mới, phương thức học tập mới, lượng kiến
thức ngày càng tăng... Điều này đã gây không ít những khó khăn
tâm lý cho lưu học sinh Lào trong quá trình học tập. Bài báo chỉ ra
thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của lưu học
sinh Lào tại trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh và đề xuất
các kiến nghị để giúp lưu học sinh Lào vượt qua khó khăn tâm lý
trong hoạt động học tập, đạt kết quả học tập và rèn luyện tốt hơn
trong nhà trường...
Khó khăn tâm lý; Khó khăn tâm lý
trong hoạt động học tập; Lưu học
sinh Lào; Tâm lý học.
từ đó có cơ sở đề ra các biện pháp để khắc phục
những KKTL trong HĐHT của LHS Lào; đồng
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cuộc sống của con người nói chung và của
sinh viên nói riêng là dòng chảy các hoạt động.
Trong đó, hoạt động học tập có vai trò rất quan
trọng đối với việc hình thành và phát triển nhân
cách của sinh viên. Đối với lưu học sinh Lào (LHS)
hiện đang học tập tại Việt Nam cũng vậy.
thời giúp các em ý thức đầy đủ về KKTL sẽ gặp
phải trong HĐHT, tự tìm ra cho bản thân cách
thức học tập hợp lý là việc làm rất cần thiết nhằm
góp phần nâng cao kết quả học tập của LHS Lào
khi học tập tại nhà trường.
2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
2.1. Khó khăn tâm lý
Khi bước vào ngưỡng cửa các trường Đại
học, dường như tất cả mọi thứ đối với lưu học
sinh Lào đều khác xa với môi trường sống và học
tập ở phổ thông: nội dung chương trình ngày
càng nhiều, phương pháp học tập đòi hỏi phải có
tính sáng tạo… Mặt khác, các em được tập trung
từ nhiều môi trường, hoàn cảnh sống khác nhau,
điều này đã gây ra những khó khăn tâm lý
(KKTL) cho các em. Những khó khăn này đối
với lưu học sinh Lào không hoàn toàn giống
nhau, có những bạn nhanh chóng dễ dàng vượt
qua, nhưng cũng có nhiều bạn tỏ ra lúng túng,
không lựa chọn được phương pháp, cách thức
học tập hợp lý.
Theo từ điển tiếng Việt: khó khăn có
nghĩa là sự trở ngại hoặc sự thiếu thốn.
Trong từ điển Anh - Việt thì từ
“hardship” hoặc từ “difficulty” đều được dùng
chỉ sự khó khăn, sự gay go, sự khắc nghiệt đòi
hỏi nhiều nỗ lực để khắc phục.
Như vậy, qua các từ điển nói trên khi bàn
về khó khăn, cho phép chúng ta hiểu khó khăn là
những sự gay go, sự khắc nghiệt, sự thiếu thốn...
gây ra những trở ngại đòi hỏi nhiều nỗ lực để
vượt qua.
Thực tiễn đã chứng minh, trong bất kỳ
hoạt động nào, con người cũng gặp phải những
KKTL làm cho hoạt động đó bị chệch hướng với
mục đích đã đề ra từ trước, điều này có ảnh
hưởng xấu đến kết quả của hoạt động. Những
khó khăn đó xuất hiện do các yếu tố mang tính
chất tiêu cực gây nên, được gọi chung là những
KKTL trong quá trình hoạt động của con người.
Các yếu tố gây nên KKTL bao gồm những yếu tố
Lưu học sinh Lào tham gia vào hoạt
động học tập (HĐHT) tại trường Đại học Công
nghiệp Quảng Ninh (ĐHCNQN) với những yêu
cầu mới như: ngôn ngữ mới, môi trường sống
mới, cách học mới, lượng tri thức ngày một tăng,
phương pháp giảng dạy mới... Điều này đã gây
không ít những KKTL cho LHS Lào trong quá
trình học tập. Việc tìm hiểu thực trạng KKTL
trong HĐHT của LHS Lào tại trường ĐHCNQN,
* HNKHCN Lần VI tháng 05/2020
196
ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH
bên ngoài (khách quan) và những yếu tố bên tới kết quả học tập mà còn ảnh hưởng trực tiếp
trong (chủ quan).[2]
Đối với hoạt động học tập, những yếu tố
tới sự phát triển nhân cách của người học.
Có nhiều quan điểm khác nhau bàn về
bên ngoài, được hiểu là những điều kiện, phương KKTL trong HĐHT, tuy nhiên, có một định
tiện hoạt động, môi trường gia đình, nhà trường, nghĩa được nhiều người thừa nhận là: KKTL
xã hội... là những yếu tố tác động đến quá trình trong HĐHT là một thuộc tính tâm lý của cá
học tập từ phía bên ngoài. Những yếu tố có ảnh nhân nảy sinh trong HĐHT, biểu hiện qua ba
hưởng gián tiếp tới tiến trình hoạt động học tập mặt: nhận thức - thái độ - hành vi.[1]. Cụ thể:
của người học.
* Về nhận thức: Trong tâm lý học, nhận
Những yếu tố bên trong, chính là những thức là một trong những thành tố quan trọng của
yếu tố xuất phát từ bản thân nội tại mỗi cá nhân đời sống tâm lý con người. Nhận thức giúp con
khi tham gia vào hoạt động, đó sự thiếu hiểu biết người hiểu biết được về các sự vật hiện tượng.
sâu sắc về hoạt động, vốn kinh nghiệm hạn chế. Thông thường nhận thức là sợi chỉ đỏ chỉ đạo
Việc thực hiện các thao tác không phù hợp trong xuyên suốt quá trình hành động của con người,
quá trình hoạt động... Các yếu tố bên trong là giúp con người bày tỏ thái độ và có hành vi
những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình tương ứng khi nhìn nhận, đánh giá thế giới khách
và kết quả hoạt động của con người.
quan. Chính do HĐHT là một hoạt động phức tạp
Từ đây tác giả đưa ra khái niệm về nên trong quá trình tham gia HĐHT con người
KKTL như sau: KKTL là toàn bộ những thuộc không phải lúc nào cũng nhận thức đúng. Những
tính của cá nhân, nảy sinh trong quá trình hoạt nhận thức chưa đúng, chưa hoàn chỉnh đã gây ra
động không phù hợp (gây cản trở) với những yêu nhiều KKTL dẫn đến “bước đi” sai lầm trong học
cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, làm tập của cá nhân. Những KKTL thường xuất hiện
ảnh hưởng xấu tới tiến trình và kết quả của hoạt trong quá trình học tập đó là:
động đó.
Sự nhận thức chưa đầy đủ về mục đích,
kế hoạch, nội dung, phương pháp học tập... dẫn
đến tình trạng người học còn lúng túng, thiếu tự
tin trong quá trình tiến hành HĐHT của bản thân.
Trong quá trình học tập nhiều khi chủ thể
đánh giá chưa đúng về năng lực học tập, chưa
xác định đúng điểm mạnh, điểm yếu của bản
thân. Từ đó dẫn đến việc xây dựng và nhận thức
về mục đích học, kế hoạch học và lựa chọn
phương pháp học tập chưa phù hợp. Khi tham gia
vào HĐHT nếu chủ thể đánh giá quá cao về
mình, sẽ dẫn đến sự tự cao, tự đại xem thường
người khác và xem thường chính quá trình học
tập. Ngược lại nếu họ đánh giá thấp về mình thì
sẽ dẫn đến sự mặc cảm tự ti, lo sợ làm ảnh hưởng
đến tiến trình và kết quả học tập.
2.2. Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập
Hoạt động học tập là hoạt động chủ yếu
của sinh viên. Nó là một loại hoạt động nhận
thức, là loại lao động trí óc căng thẳng có cường
độ cao. Đây là hoạt động đặc thù của con người
giúp con người hình thành và phát triển tâm lý,
nhân cách. Do vậy, trong quá trình tham gia vào
HĐHT chủ thể gặp rất nhiều KKTL đòi hỏi
người học phải huy động tối đa những phẩm chất
và năng lực tâm lý của bản thân mới mong có thể
khắc phục được những trở ngại, KKTL nhằm tiếp
cận được mục tiêu mà bản thân đã đề ra.
Thực tế đã chứng minh, người học dù ở
lứa tuổi nào khi tham gia vào HĐHT đều gặp
những trở ngại, KKTL. Sở dĩ có những hiện
tượng đó là do các yếu tố khách quan và yếu tố
chủ quan gây ra như ảnh hưởng của đời sống,
môi trường, cơ sở vật chất phục vụ cho học tập,
năng lực, vốn kinh nghiệp sống bị hạn chế của cá
nhân. Đặc biệt đối với những người khi chuyển
đổi cấp học, phải làm quen với môi trường học
tập mới thì những KKTL càng tăng lên nhiều lần.
Những KKTL đó không được phát hiện và tháo
gỡ kịp thời thì nó sẽ ảnh tiêu cực tới HĐHT của
cá nhân, làm cho cá nhân lo lắng, sợ hãi, xấu hổ...
và cứ thế họ sẽ bị xoáy sâu vào vòng luẩn quẩn
của sự bế tắc. Điều này không những ảnh hưởng
* Về xúc cảm - tình cảm: Đây là thái độ,
cảm xúc của con người thể hiện trong quá trình
học tập. Thông thường những người ít gặp KKTL
trong HĐHT là những người thường biết làm chủ
trạng thái cảm xúc bản thân, biểu hiện ở việc biết
kìm chế, biết tạo ra hứng thú, xúc cảm tích cực,
biết điều khiển, điều chỉnh các diễn biến tâm lý
của mình. Trên cơ sở đó, họ lựa chọn được
phương pháp học tập phù hợp với mục đích, nội
dung, yêu cầu của HĐHT nhằm đạt được kết quả
tốt nhất. Ngược lại những người gặp KKTL họ
thường có biểu hiện thiếu kìm chế cảm xúc, tình
cảm, lo lắng, thiếu tự tin trong học tập và nhiều
khi dẫn đến tình trạng thờ ơ với HĐHT.
* HNKHCN Lần VI tháng 05/2020
197
ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH
trong HĐHT của LHS Lào trường ĐHCNQN
* Về hành vi: Đây là “bộ mặt” của con
người, nói lên đời sống tâm lý của họ khi tham
gia vào HĐHT. Những người gặp KKTL trong
HĐHT thường có biểu hiện như: lúng túng, thiếu
tự tin, diễn đạt nội dung học tập thiếu tính chính
xác, các kỹ năng về học tập yếu kém, hay nói
khác đi là chưa biết cách vận dụng kỹ năng học
tập trong các khâu của HĐHT. Tất cả điều này sẽ
kéo theo những hành vi bộc phát, không làm chủ
được những hành vi của bản thân trong quá trình
học tập.
Tóm lại, KKTL trong HĐHT được biểu
hiện thông qua ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý
con người, đó là: nhận thức - thái độ - hành vi.
Ba mặt này có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn
nhau, là một chỉnh thể thống nhất tạo cấu trúc
tâm lý con người. Thông thường nếu nhận thức
đúng dẫn đến thái độ đúng, dẫn đến hành vi
đúng. Do vậy, trong quá trình học tập, muốn tháo
gỡ KKTL chủ thể cần chú ý quan tâm đến cả ba
mặt trên.
Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi
chia KKTL trong HĐHT của LHS Lào thành các
mức độ như sau:
- Khó khăn mức thấp (mức 1): Điểm
trung bình (ĐTB) từ 1 - 1,4.
- Khó khăn mức trung bình (mức 2):
Điểm trung bình từ 1.5 - 2.4.
- Khó khăn mức cao (mức 3): Điểm trung
bình từ 2.5 - 3.
T
T
1
2
3
Thứ
bậc
1
Các khâu trong HĐHT
ĐTB
Ghi chép, tiếp thu bài giảng
Ôn tập, hệ thống hóa
Chuẩn bị bài trước khi lên lớp
Tự học, sắp xếp thời gian học
tập
Làm việc độc lập với tài liệu
Chuẩn bị và tiến hành
seminar
2.9
2.7
2.1
3
7
4
2.4
2.6
2.5
2.8
6
4
5
2
5
6
7
Kiểm tra, đánh giá
TB
2.6
Kết quả bảng 1 cho thấy: Trong nhận thức,
LHS Lào trường ĐHCNQN gặp KKTL trong tất
các các khâu của HĐHT và gặp khó khăn ở mức
độ cao với ĐTB = 2.6. LHS Lào trường
ĐHCNQN gặp nhiều khó khăn ở khâu “Ghi chép
và tiếp thu bài giảng” (ĐTB = 2.9), “Kiểm tra,
đánh giá” (ĐTB = 2.8), “Ôn tập, hệ thống hóa”
(ĐTB = 2.7), “Làm việc độc lập với tài liệu”
(ĐTB = 2.6), “Chuẩn bị và tiến hành seminar”
(ĐTB = 2.5). Khi được hỏi ý kiến, nhiều bạn
LHS Lào cùng chung ý kiến khi cho rằng: LHS
Lào rất khó tiếp thu và ghi chép bài giảng của
giảng viên vì khả năng nghe và hiểu tiếng Việt
còn hạn chế”.
3.2. Thái độ của LHS Lào trường ĐHCNQN
khi gặp KKTL trong HĐHT
3. THỰC TRẠNG KKTL TRONG HĐHT
CỦA LHS LÀO TẠI TRƯỜNG ĐHCNQN
Để tìm hiểu về thái độ của LHS Lào,
chúng tôi đưa ra câu hỏi: “Khi gặp phải KKTL
trong HĐHT, bạn thường tỏ thái độ thế nào?”.
Chúng tôi đưa ra 3 mức độ: “Lo lắng”, “Bình
thường”, “Rất lo lắng” (xem bảng 2).
3.1. Nhận thức về KKTL trong HĐHT của
LHS Lào
Để tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi đã đặt
câu hỏi: “Theo bạn, LHS Lào có gặp phải KKTL
trong HĐHT hay không?” và “Bạn gặp KKTL
trong HĐHT ở mức độ nào?”. Kết quả thu được
cho thấy, 100% LHS Lào đều gặp phải KKTL
trong HĐHT với 91/91 trả lời “có” gặp KKTL
trong HĐHT. Đa số LHS Lào gặp khó khăn ở
mức độ “nhiều” (chiếm 97,8%), chỉ có 2/91 ý
kiến trả lời gặp KKTL ở mức độ “ít” trong
HĐHT, chiếm 2,2%.
Để tìm hiểu kỹ hơn về nhận thức của
LHS Lào về KKTL trong HĐHT, chúng tôi tiến
hành xem xét trên từng khâu của HĐHT với câu
hỏi: “Bạn hiểu các khâu của HĐHT dưới đây ở
mức độ nào?” Chúng tôi yêu cầu sinh viên trả lời
theo 3 mức độ: “Hiểu”, “Bình thường”, “Không
hiểu”. Kết quả thu được thể hiện ở bảng 1.
Bảng 2. Thái độ của LHS Lào khi gặp phải KKTL
trong các khâu của HĐHT
T
T
1
2
3
Thứ
bậc
1
Các khâu trong HĐHT
ĐTB
Ghi chép, tiếp thu bài giảng
Ôn tập, hệ thống hóa
Chuẩn bị bài trước khi lên lớp
Tự học, sắp xếp thời gian học
tập
Làm việc độc lập với tài liệu
Chuẩn bị và tiến hành
seminar
2.3
1.7
1.5
5
7
4
1.6
2.2
2.1
1.9
6
2
3
4
5
6
7
Kiểm tra, đánh giá
TB
1.9
Kết quả bảng 2 cho thấy: Phần lớn LHS
Lào trường ĐHCNQN đã có thái độ tích cực
trong việc giải quyết KKTL khi gặp phải ở các
khâu của HĐHT với ĐTB = 1.9. Kết quả này cho
Bảng 1. Nhận thức về KKTL qua các khâu
* HNKHCN Lần VI tháng 05/2020
198
ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH
của LHS Lào trên ba mặt
thấy, LHS Lào đã ý thức được những khó khăn
mà mình gặp phải trong quá trình học tập, từ đó
các em có ý thức cố gắng phấn đấu hơn, khắc
phục những khó khăn nhằm hoàn thành tốt nhiệm
vụ học tập.
Các mặt
Mức
độ KK
Tổng
hợp
Nhận thức
Thái độ
Hành vi
SL
70
%
76.9
SL
%
11
SL
85
%
93.4
SL
%
Cao
Trung
bình
Thấp
ĐTB
10
79
2
81
10
0
89
21
0
23.1
86.8
6
0
6.6
0
11
0
3.3. KKTL về kỹ năng tiến hành các khâu của
HĐHT của LHS Lào trường ĐHCNQN
0
2.2
2.6
1.9
2.9
2.5
Để tìm hiểu mức độ KKTL về kỹ năng tiến
hành các khâu của HĐHT, chúng tôi đã đưa ra
câu hỏi: “Trong các khâu của HĐHT dưới đây,
mức độ thành thục các kỹ năng của bạn được thể
hiện như thế nào?”. Chúng tôi đưa ra ba mức độ:
“Thuần thục”, “Chưa thuần thục”, “Chưa biết
cách” (xem bảng 3).
Kết quả bảng 4 cho thấy: Xét một cách
tổng thể trên cả ba mặt nhận thức - thái độ - hành
vi cho thấy 100% LHS Lào đều gặp phải KKTL
trong HĐHT ở mức độ cao với ĐTB = 2.5. Các
bạn LHS Lào gặp khó khăn nhất ở mặt hành vi
với ĐTB = 2.9, tiếp đến là mức độ khó khăn về
mặt nhận thức với ĐTB = 2.6. Khó khăn các bạn
ít gặp hơn cả là mặt thái độ, ĐTB = 1.9.
Bảng 3. Mức độ KKTL về kỹ năng tiến hành
4. NGUYÊN NHÂN GÂY RA KKTL TRONG
các khâu của HĐHT của LHS Lào trường ĐHCNQN
HĐHT CỦA LHS LÀO TRƯỜNG ĐHCNQN
T
T
1
2
3
Thứ
bậc
1
5
7
Các khâu trong HĐHT
ĐTB
Trong HĐHT ban đầu của LHS Lào, các
em mang theo cả cách học, thói quen học ở
trường phổ thông áp dụng vào HĐHT ở trường
Đại học nên các em đã gặp rất nhiều KKTL khi
tham gia vào hoạt động học tập. Ở trường phổ
thông, học sinh lĩnh hội tri thức đã được biên
soạn sao cho phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa
tuổi, nghĩa là chúng đã được sư phạm hóa cao;
còn ở Đại học, các em phải tiếp thu những kiến
thức cơ bản, hệ thống và có tính khoa học cao
của một khoa học nhất định. Do đó, việc chuyển
từ học tập ở phổ thông sang trường Đại học đã
gây ra những biến đổi mạnh mẽ của các điều kiện
thực hiện hoạt động. [3]
Ghi chép, tiếp thu bài giảng
Ôn tập, hệ thống hóa
Chuẩn bị bài trước khi lên lớp
Tự học, sắp xếp thời gian học
tập
Làm việc độc lập với tài liệu
Chuẩn bị và tiến hành
seminar
3.2
2.8
2.5
4
2.7
3.1
3.0
2.9
6
2
3
4
5
6
7
Kiểm tra, đánh giá
TB
2.9
Kết quả bảng 3 cho thấy: LHS khi tiến
hành các kỹ năng trong từng khâu của HĐHT đều
gặp phải những khó khăn ở mức độ cao với ĐTB
= 2.9. Mức độ khó khăn có sự không đồng đều
nhau, xếp theo một hệ thống thứ bậc nhất định,
trong đó LHS Lào gặp khó khăn cao trong việc
tiến hành kỹ năng “Ghi chép, tiếp thu bài giảng”
(ĐTB = 3.2), “Làm việc độc lập với tài liệu”
(ĐTB = 3.1) , “Chuẩn bị và tiến hành seminar”
(ĐTB = 3.0), “Kiểm tra, đánh giá” (ĐTB = 2.9),
“Kiểm tra, đánh giá” (ĐTB = 2.9), “Ôn tập, hệ
thống hóa” (ĐTB = 2.8), “Tự học, sắp xếp thời
gian học tập” (ĐTB = 2.7), “Chuẩn bị bài trước
khi lên lớp” (ĐTB = 2.5).
Khác hẳn với trường phổ thông, tài liệu
học tập ở trường Đại học không ngừng được thay
đổi, hoàn cảnh trong giảng đường, trong nhà
trường, ký túc xá… cũng có sự thay đổi. Tất cả
những thay đổi đó đã gây cho LHS Lào nhiều
KKTL làm cản trở đến việc học tập của các em.
Bên cạnh đó, vốn tiếng Việt, khả năng giao tiếp
bằng tiếng Việt hạn chế cũng gây ra cho các em
những KKTL nhất định trong quá trình học tập.
4.1. Nguyên nhân khách quan
Mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân
khách quan đến KKTL trong HĐHT của LHS
Lào được thể hiện ở bảng 5.
3.4. KKTL trong HĐHT của LHS Lào tại
trường ĐHCNQN
Qua kết quả ở bảng 5 cho thấy, KKTL
trong HĐHT của LHS Lào chịu nhiều ảnh hưởng
từ các nguyên nhân “Do phương pháp giảng dạy
của giảng viên chưa phù hợp” (ĐTB = 2.9), “Do
ít được hướng dẫn về phương pháp học tập”
(ĐTB = 2.8), “Do tính chất học tập ở trường Đại
học” (ĐTB = 2.7), “Do ảnh hưởng cách dạy cũ ở
Chúng tôi tiến hành tổng hợp mức độ
KKTL trong HĐHT của LHS Lào bằng việc tính
điểm trung bình chung ở từng khâu của HĐHT
trên cả ba mặt nhận thức, thái độ, hành vi về
KKTL trong HĐHT của LHS Lào và kết quả thu
được thể hiện ở bảng 4.
Bảng 4. Tổng hợp KKTL trong HĐHT
* HNKHCN Lần VI tháng 05/2020
199
ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH
TB
2.5
phổ thông” (ĐTB = 2.6), “Do thiếu sách, giáo
trình, tài liệu tham khảo” (ĐTB = 2.5).
Nguyên nhân chính gây nên KKTL trong
HĐHT của LHS Lào đó là “Do khả năng giao
tiếp bằng tiếng Việt hạn chế” (ĐTB = 3.1), “Do
vốn từ tiếng Việt chuyên ngành hạn chế” (ĐTB =
3.0), “Do rụt rè, nhút nhát, không chịu học hỏi”
(ĐTB = 2.9), “Do chưa quen với môi trường học
tập mới ở Đại học” (ĐTB = 2.8), “Do bản thân
chưa có phương pháp học tập phù hợp” (ĐTB =
2.6), “Do lực học của bản thân” (ĐTB = 2.5).
Khi được hỏi ý kiến, nhiều bạn LHS Lào cho biết,
khi học trên lớp thường xuyên không theo kịp bài
giảng của giảng viên nhưng cũng không dám hỏi
vì ngại đông người và sợ ảnh hưởng đến việc học
tập của các bạn sinh viên Việt Nam.
Để hiểu rõ hơn về kết quả này, chúng tôi
đã trao đổi với các giảng viên tham gia giảng dạy
LHS Lào và kết quả cho thấy, đa số các giảng
viên đều chưa có phương pháp hỗ trợ thêm cho
LHS Lào trong lớp mình dạy. LHS Lào học cùng
với các bạn sinh viên Việt Nam nên giảng viên
gặp khó khăn trong quá trình giảng dạy trên lớp
cũng như gây ra rất nhiều KKTL trong học tập
của LHS Lào.
Bảng 5. Nguyên nhân khách quan dẫn đến KKTL
trong HĐHT của LHS Lào trường ĐHCNQN
T
T
1
Các nguyên nhân khách
quan
Thứ
bậc
ĐTB
2.9
5. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Do phương pháp giảng dạy
của giảng viên chưa phù hợp
Do ít được hướng dẫn về
phương pháp học tập
Do ảnh hưởng cách dạy cũ ở
phổ thông
Do thiếu sách, giáo trình, tài
liệu tham khảo
Kiến thức tiếp thu trong ngày
là quá nhiều
Do lượng trị thức phải tiếp
thu trong nhà trường là quá
lớn
Do tính chất học tập ở trường
Đại học
1
2
4
5
7
5.1. Kết luận
2
3
4
5
6
- LHS Lào trường ĐHCNQN đều gặp
phải KKTL trong HĐHT ở cả ba mặt nhận thức,
thái độ, hành vi và ở mức độ cao.
2.8
2.6
- Có nhiều nguyên nhân khách quan và
chủ quan gây ra KKTL ảnh hưởng đến HĐHT
của LHS Lào, trong đó nguyên nhân chủ quan
“Do khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt hạn chế”,
“Do vốn từ vựng tiếng Việt chuyên ngành hạn
chế” và nguyên nhân khách quan “Do phương
pháp giảng dạy của giảng viên chưa phù hợp”,
“Do ít được hướng dẫn về phương pháp học tập”
ảnh hưởng nhiều nhất tới KKTL trong HĐHT
của LHS Lào.
2.5
1.8
2.3
2.7
6
3
7
TB
2.5
4.2. Nguyên nhân chủ quan
5.2. Kiến nghị
Mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân
chủ quan đến KKTL trong HĐHT của LHS Lào
được thể hiện ở bảng 6.
* Về phía nhà trường, khoa:
- Nhà trường, khoa cần nâng cao hứng thú
học tập của LHS Lào bằng công tác định hướng
cho LHS Lào về những hoạt động ở trường Đại
học, giúp các em có hiểu biết về trường, nghề
nghiệp để từ đó hình thành động cơ học tập, lý
tưởng nghề nghiệp, thế giới quan đúng đắn cho
LHS Lào.
- Nhà trường, khoa cần thường xuyên tổ
chức gặp mặt, đối thoại trực tiếp với LHS Lào,
lắng nghe tâm tư nguyện vọng, những khó khăn
mà các em gặp phải trong sinh hoạt, cũng như
trong học tập. Từ đó đưa ra những giải pháp kịp
thời nhằm giúp LHS Lào vượt qua khó khăn, yên
tâm học tập.
Bảng 6. Nguyên nhân chủ quan ảnh hưởng đến
KKTL trong HĐHT của LHS Lào
T
T
1
Thứ
bậc
6
Các nguyên nhân chủ quan
ĐTB
2.5
Do lực học của bản thân
Do chưa quen với môi trường
học tập mới ở Đại học
Do rụt rè, nhút nhát, không
chịu học hỏi
2
2.8
4
3
3
2.9
4
5
6
Do thiếu ý thức trong học tập
Do động cơ chọn nghề
Do bản thân chưa có phương
pháp học tập phù hợp
Do thiếu kinh nghiệm sống và
học tập một cách độc lập
Do khả năng giao tiếp bằng
tiếng Việt hạn chế
Do vốn từ vựng tiếng Việt
chuyên ngành hạn chế
2.0
1.8
8
9
2.6
2.1
3.1
3.0
5
7
1
2
- Nhà trường và khoa cần tìm hiểu kỹ về
đặc điểm tâm sinh lý của LHS Lào, trên cơ sở đó
xây dựng kế hoạch, sắp xếp lịch học, lịch thi sao
cho phù hợp, tránh dồn dập sẽ ảnh hưởng tới hoạt
động nhận thức và chất lượng học tập của LHS.
7
8
9
* HNKHCN Lần VI tháng 05/2020
200
ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH
- Nhà trường và khoa cần tổ chức nhiều
- Giảng viên phụ trách lớp (cố vấn học
các buổi hội thảo về học tập, đặc biệt là các buổi tập) cần bám sát, trao đổi thường xuyên với các
hội thảo, trao đổi kinh nghiệm về phương pháp em để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của LHS
học tập cho LHS để các em tìm ra phương pháp Lào. Đồng thời phối hợp với ban cán sự lớp, các
học tập hợp lý cho bản thân nhằm giảm bớt khó tổ chức giáo dục trong và ngoài nhà trường tổ
khăn và thích ứng nhanh với môi trường học tập chức nhiều hoạt động giáo dục, vui chơi, giải trí
Đại học; Có biện pháp hỗ trợ các em nâng cao … nhằm tạo điều kiện giúp các có cơ hội tìm
vốn từ vựng tiếng Việt chuyên ngành.
hiểu, trao đổi, học hỏi và tăng cường tình đoàn
- Nhà trường cần đầu tư mua sắm trang kết, tạo bầu không khí vui vẻ giúp các em giảm
thiết bị, sách, tài liệu học tập, đáp ứng nhu cầu bớt những khó khăn trong hoạt động học tập ở
đọc sách ngày càng cao và hạn chế những khó Đại học.
khăn mà LHS gặp phải trong hoạt động học tập.
- Nhà trường cần chỉ đạo các đoàn thể
* Về phía LHS Lào:
- Cần chủ động, tích cực trong hoạt động
trong nhà trường quan tâm hơn nữa, tổ chức các học tập cũng như trong các hoạt động khác nhằm
hoạt động ngoài giờ lên lớp, tạo điều kiện cho thiết lập các mối quan hệ và thích nghi với môi
LHS Lào có cơ hội thiết lập các mối quan hệ trường học tập ở Đại học.
mới, vui vẻ, hứng thú với môi trường sống và học
tập Đại học.
- Cần ý thức được tầm quan trọng của
hoạt động học tập, từ đó tích cực, chủ động, sáng
tạo trong hoạt động học tập nhằm hoàn thành tốt
* Về phía giảng viên:
- Giảng viên cần có sự quan tâm sâu sát nhiệm vụ học tập.
hơn đối với LHS Lào, tìm hiểu kỹ về đặc điểm
- Rèn luyện cho các kỹ năng tự học,
tâm sinh lý của LHS Lào, trên cơ sở đó biên soạn nghiên cứu khoa học và làm việc độc lập.
bài giảng, lựa chọn phương pháp, hình thức dạy
- Luôn luôn có tinh thần học hỏi, trao đổi
học phù hợp, đảm bảo tính vừa sức và sát đối kinh nghiệm với bạn bè, các anh chị khóa trước,
tượng trong dạy học.
- Bên cạnh nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn bản thân.
LHS Lào lĩnh hội hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ
thầy cô để tìm ra phương pháp học tập hợp lý cho
- Nâng cao nhận thức về khả năng tự học,
xảo; Giảng viên cần quan tâm chú trọng hơn nữa tự nghiên cứu, sự tích cực và tự giác trong quá
đến việc hướng dẫn LHS Lào cách thức (phương trình học tập.
pháp) lĩnh hội tri thức để từ đó hình thành cho
- Tham gia đầy đủ các hoạt động doàn
LHS Lào phương pháp tự học, tự nghiên cứu đáp thể do nhà trường, khoa… tổ chức. Tích cực rèn
ứng được yêu cầu và nhiệm vụ học tập ở môi luyện các kỹ năng của hoạt động và các phẩm
trường Đại học.
chất nhân cách nhằm hoàn thiện nhân cách của
- Giảng viên cần chú ý hơn nữa đến việc bản thân.
hình thành các kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với tri
- Sẵn sàng đón nhận thử thách, khó khăn
thức mà LHS Lào đã lĩnh hội và các kỹ năng và tích cực nỗ lực tìm cách khắc phục những khó
nghề nghiệp cho LHS.
khăn đó nhằm chuẩn bị tốt nhất cho nghề nghiệp
- Trong dạy học giảng viên cần chú trọng sau này.
sử dụng nghệ thuật, tính hài ước nhằm tạo bầu
không khí thoải mái, vui vẻ, thu hút LHS Lào
tích cực học tập. Đổi mới phương pháp dạy học
nhằm đảm bảo vai trò chủ đạo của giảng viên và
vai trò tự giác, tích cực, chủ động của sinh viên.
- Giảng viên cần thường xuyên kiểm tra
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Vũ Ngọc Hà (2003), “Một số trở ngại tâm lý
của trẻ khi vào học lớp 1”, Tạp chí Tâm lý học.
[2]. Lê Văn Hồng (chủ biên) - Nguyễn Văn
Thàng - Lê Ngọc Lan (1998), Tâm lý học lứa tuổi
và Tâm lý học sư phạm, NXB Đại học quốc gia,
Hà Nội.
nhắc nhở LHS thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập.
- Thông qua bài dạy, giảng viên cần chú
[3]. Nguyễn Thạc
(1992), Tâm lý học sư phạm Đại học, NXB Giáo
dục, Hà Nội.
-
Phạm Thành Nghị
ý đến việc giáo dục thái độ, động cơ học tập…
giúp các em có tâm thế đón nhận thử thách, khó
khăn và nỗ lực vượt qua nó.
* HNKHCN Lần VI tháng 05/2020
201
Bạn đang xem tài liệu "Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của lưu học sinh Lào tại trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
kho_khan_tam_ly_trong_hoat_dong_hoc_tap_cua_luu_hoc_sinh_lao.pdf

