Một số ý kiến về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm hại tình dục trẻ em
MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI DO XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM
Nguyễn Hữu Thuận, Nguyễn Chí Cường, Tô Thái Nhật Linh*
Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh
GVHD: ThS. Đoàn Trọng Chỉnh
TÓM TẮT
Trong phạm vi bài viết này, nhóm tác giả phân tích quy định pháp luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại bồi thường thiệt hại do xâm hại tình dục trẻ em. Đồng thời, qua đó cũng nêu
lên một số bất cập và góp phần kiến nghị hoàn thiện những quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người xâm hại tình dục trẻ em. Xâm hại
tình dục đối với trẻ em đang là một vấn đề nhức nhối của xã hội Việt Nam trong thời gian
gần đây. Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như ngày nay thì liên tục có những vụ
việc xâm hại tình dục trẻ em bị phát hiện và xử lý. Biết rõ những hành vi xâm hại ảnh hưởng
nghiêm trọng đến xã hội là vậy, nhưng việc xác định được trách nhiệm của người gây thiệt
hại và nghĩa vụ bồi thường của người gây thiệt hại thì vẫn còn nhiều hạn chế. Từ đó, có thể
thấy được vấn đề này quan trọng đối với xã hội nói chung và cuộc sống của chúng ta. Trong
phạm vi bài viết này nhóm tác giả phân tích thực trạng áp dụng quy định pháp luật về bồi
thường thiệt hại (BTTH) do xâm hại tình dục trẻ em theo quy định Bộ luật Dân sự (BLDS)
2015, từ đó kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề này.
Từ khóa: bồi thường thiệt hại, căn cứ phát sinh, nạn nhân, trẻ em, xâm hại tình dục.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Có thể thấy rằng, vấn đề xâm hại tình dục đối với trẻ em đang là một vấn đề nhức nhối trong
xã hội thời gian gần đây. Căn cứ theo: khoản 8 Điều 4 Luật Trẻ em 2016 “Xâm hại tình dục
trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào
các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ
em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức”. Trẻ em bị
xâm hại tình dục là một trong những nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt được pháp luật bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em, là đối tượng cần sự bảo vệ của toàn xã hội. Hiện nay, nhóm
trẻ bị xâm hại tình dục ngày càng diễn biến phức tạp cả về quy mô và cách thức thực hiện.
Xâm hại tình dục trẻ em đang là vấn nạn trên toàn Việt Nam, hậu quả mà các em phải gánh
chịu có thể có những tổn thất về sức khỏe thể chất và tinh thần, làm giảm khả năng học tập,
hòa nhập xã hội và thậm chí có thể hủy hoại các em, ảnh hưởng đến việc trở thành con
người tốt, trở thành cha mẹ tốt trong tương lai nhà nước ta đã có nhiều biện pháp để phòng
chống, giảm thiểu và nhằm đẩy lùi hiện tượng xâm hại tình dục trẻ em. Qua đó công tác bảo
vệ trẻ em hiện nay còn gặp phải những rào cản, khó khăn như: khâu phát hiện và báo cáo
số vụ xâm hại trẻ em còn chưa kịp thời, Luật pháp về bảo vệ trẻ em còn nhiều khoảng trống,
thiếu cụ thể. Tuy nhiên, so với những thiệt hại mà các nạn nhân phải hứng chịu thì vẫn chưa
1996
được nhận sự bồi thường thỏa đáng với những thiệt hại mất mát mà nạn nhân phải chịu.
Thấy rõ những hành vi xâm hại ảnh hưởng nghiêm trọng đến xã hội là vậy, nhưng việc xác
định được trách nhiệm của người gây thiệt hại và nghĩa vụ bồi thường của người gây thiệt
hại thì vẫn còn nhiều hạn chế, tính răn đe đối với người phạm tội chưa được cứng rắn. Từ
đó, có thể thấy được vấn đề xâm hại tình dục trẻ em rất quan trọng đối với xã hội và cần có
những quy định rõ ràng cụ thể nhằm xác định hành vi và trách nhiệm bồi thường đối với
hành vi xâm hại tình dục trẻ em.
2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
Về nguyên tắc BTTH: Điều 585 BLDS 2015: thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ
và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền,
bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều
lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH: theo khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 “Người nào có
hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích
hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật
này, luật khác có liên quan quy định khác”. Như vậy, căn cứ xác định trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng là “hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại”. Thiệt hại ảnh hưởng trực tiếp
đến người bị xâm hại. Thiệt hại về tinh thần (tổn thất về tinh thần) được hiểu là tình trạng
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng
bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, bị giảm
sút hoặc mất uy tín, bị xa lánh, bị hiểu nhầm, buồn phiền, mất mát về tình cảm. Hành vi trái
pháp luật là hành vi xử sự cụ thể của con người thực hiện thông qua hành động hoặc không
hành động trái với quy định của pháp luật. Nhận thấy rằng, hành vi xâm hại tình dục trẻ em
thể hiện rõ được mức độ vi phạm bởi đối tượng vi phạm tác động đến nạn nhân và gây ra
hậu quả. Chính vì thế, hành vi trái pháp luật cũng được xem là một trong những điều kiện
làm phát sinh quan hệ pháp luật và một trong những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt do xâm hại tình dục trẻ em. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi
trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại. Hành vi
xâm hại tình dục trẻ em sẽ là hành vi có lỗi cố ý vì hành vi này của đối tượng gây hại trực
tiếp đến sức khỏe danh dự, nhân phẩm của trẻ em bị xâm hại.
Về phương thức BTTH: căn cứ khoản 1 Điều 585 BLDS 2015 có quy định “Các bên có thể
thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực
hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác”. Căn cứ Điều 3 BLDS 2015 thỏa thuận là nguyên tắc đặc trưng và cơ
bản của pháp luật dân sự thì các chủ thể trong quan hệ dân sự có quyền tự thỏa thuận với
nhau về mức bồi thường, thời gian bồi thường và số lần bồi thường nếu những thỏa thuận
đó không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Những thiệt hại khi nạn
nhân bị xâm hại tình dục được ước tính bằng những giá trị hiện vật mà cụ thể ở đây là tiền
và tiền trong trường hợp này sẽ được dùng nhằm mục đích giải quyết hậu quả khi hành vi
xâm hại tình dục gây ra bởi cá nhân có hành vi xâm phạm. Căn cứ tại khoản 3 Điều 585
BLDS 2015 “Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên
gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi
mức bồi thường”. Khi mức bồi thường mà bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại không thỏa
thuận được hoặc mức bồi thường ấn định không còn phù hợp với thực tiễn do nguyên nhân
1997
nào đó. Nên các bên muốn được đáp ứng mức bồi thường thích hợp thì có quyền yêu cầu
Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi và quy định lại mức bồi
thường khác.
Thiệt hại về tinh thần là những thiệt về tính mạng, sức khỏe danh dự và nhân phẩm. Những
thiệt hại này sẽ được bồi thường bởi người gây ra hành vi xâm hại hoặc người giám hộ bồi
thường cho nạn nhân, người được thụ hưởng số tiền bồi thường sẽ do người thân hoặc nạn
nhân thụ hưởng theo quy định của BLDS 2015. Căn cứ theo quy định tại các Điều 590, 591
và 592 trong BLDS 2015, khi nạn nhân bị xâm hại dẫn đến phát sinh thiệt hại tinh thần sẽ
được bảo vệ theo những quy định này: Về sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy
tín. Do sức khỏe bị xâm phạm; do tính mạng bị xâm phạm; do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị
xâm phạm. Như vậy, khi tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm thì
thiệt hại tinh thần sẽ được xác định và người bị thiệt hại được một khoản tiền khác để bù
đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Về nguyên tắc, mức bồi thường bù đắp tổn
thất về tinh thần do các bên tự thỏa thuận. Tuy nhiên, nếu các bên không thỏa thuận được
thì thực hiện như sau: đối với trường hợp tính mạng bị xâm phạm thì mức bồi thường tối đa
không quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (khoản 2 Điều 591 BLDS 2015);
mức bồi thường hiện nay tăng so với mức cũ tối đa không quá 60 tháng lương cơ sở. Mức
lương cơ sở hiện nay (áp dụng từ 01/07/2018) theo Nghị định 72/2018/NĐ-CP là 1.390.000
đồng. Đối với trường hợp sức khỏe bị xâm phạm thì mức bồi thường tối đa không quá 50 lần
mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (khoản 2 Điều 590 BLDS 2015). Mức này cao hơn
so với mức cũ tối đa không quá 30 tháng lương cơ sở. Đối với trường hợp thiệt hại do danh
dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm thì mức bồi thường tối đa không quá 10 lần mức lương
cơ sở do Nhà nước quy định (khoản 2 Điều 592 BLDS 2015) [5].
3 THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ
3.1 Thực trạng
Trong những năm gần đây, những vụ việc về xâm hại tình dục trẻ em nổi trên các mặt báo
ngày càng nhiều các vụ việc xâm hại tình dục trẻ em ngày càng trở nên phức tạp và đa
dạng. “Theo thống kê của Bộ Lao động thương binh xã hội (LĐT XH), mỗi năm, Việt Nam
có khoảng 2.000 trẻ em bị xâm hại được phát hiện, trong đó trẻ em bị xâm hại tình dục
chiếm hơn 60%. Những hành vi, vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em chỉ khi chạm ngưỡng hình
sự mới bị phát hiện, xử lý cho nên con số nói trên chỉ là phần nổi của tảng băng chìm”.
Trong đó, trẻ em bị xâm hại tình dục bởi người thân trong gia đình chiếm tỷ lệ cao là 21,3%;
gần 60% số trẻ em bị xâm hại bởi người quen, hàng xóm. Ước tính, khoảng 68,4% số trẻ em
từ 1-14 tuổi phải chịu ít nhất một hình phạt thể chất hoặc tâm lý bởi các thành viên trong gia
đình.[6]
Đoàn giám sát của Quốc hội cho biết, theo Báo cáo của Chính phủ, giai đoạn từ ngày
01/01/2015 đến ngày 30/06/2019, có 8.442 vụ xâm hại trẻ em được phát hiện, xử lý, với
8.709 trẻ em bị xâm hại. Trong các vụ xâm hại này thì phổ biến nhất, để lại hậu quả nặng nề,
gây bức xúc dư luận nhất là xâm hại tình dục, chiếm 75,4% tổng số vụ xâm hại trẻ em.
Nhiều địa phương, số vụ xâm hại tình dục trẻ em chiếm trên 90% như: Cần Thơ, Hậu Giang,
Kiên Giang, Đồng Nai...[7]
Qua giám sát cho thấy, còn nhiều trường hợp trẻ em bị xâm hại nhưng chưa được phát hiện
kịp thời, đầy đủ để xử lý, nhất là các hành vi bạo lực gây tổn hại về thể chất và tinh thần cho
1998
trẻ em; đồng thời công tác theo dõi, thống kê tình hình trẻ em bị xâm hại chưa được quan
tâm đúng mức, dẫn đến, số vụ xâm hại trẻ em được phát hiện và xử lý nêu trong các báo
cáo chưa phản ánh đầy đủ tình hình thực tế. Mỗi năm cả nước có trên 1.200 trẻ em báo cáo
bị xâm hại tình dục. Theo báo cáo của Tòa án nhân dân Tối cao, trong 5 năm từ 2013-2018,
tòa tiếp nhận 8.254 vụ xâm hại tình dục trẻ em [8].
Trong ngày 05/01/2018, tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân huyện An Phú đưa ra xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 47/2017/HSST ngày 07/11/2017 theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 191/2017/QĐXXST-HS ngày 18/12/2017 đối với bị cáo Lê Thanh L về tội dâm ô
đối với trẻ em. Căn cứ các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015. Về
trách nhiệm dân sự: công nhận sự thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại của bị hại và bị
cáo tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh L bồi thường cho người bị hại là Nguyễn Thị K T (đại diện
hợp pháp là bà Võ Thị Mỹ L) số tiền là 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng). Do đã
nộp trước 1.000.000 đồng. Bị cáo chỉ phải nộp thêm số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi
triệu đồng).
Dù đã có những quy định của pháp luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm hại
tình dục trẻ em gây ra. Tuy nhiên, trong việc thực thi trách nhiệm bồi thường thiệt hại trên
thực tế lại gặp rất nhiều khó khăn do vướng mắc trong việc xác định trách nhiệm bồi thường,
chứng minh thiệt hại, thời gian thu thập thông tin, số liệu về tổng mức thiệt hại mất quá nhiều
thời gian, kèm theo đó là các biện pháp chế tài còn chưa thật sự nghiêm khắc,… Bên cạnh
đó, pháp luật dân sự không có quy định chi tiết về vấn đề bồi thường thiệt hại do hành vi
xâm hại tình dục trẻ em gây ra. Sau đây là một số vấn đề bất cập:
Cách thức xác định thiệt hại về sức khỏe, tinh thần: đối với thiệt hại về sức khỏe được quy
định tại khoản 1 Điều 590 BLDS 2015 thì mặc dù có thiệt hại về sức khỏe do hậu quả của
xâm hại tình dục trẻ em đã đến cơ sở y tế, bệnh viện chữa trị nhưng việc thu thập chứng cứ
để chứng minh thiệt hại không phải là điều dễ dàng bởi các thủ tục và trình tự thủ tục khá
phức tạp, cũng như trình độ hiểu biết của người bị thiệt hại còn thấp nên việc chứng minh
thiệt hại về sức khỏe, tinh thần, còn gặp nhiều khó khăn làm cho người bị thiệt hại từ bỏ việc
đòi lại quyền lợi của mình.
Đối với thiệt hại về sức khỏe ảnh hưởng đến tinh thần được quy định tại khoản 2 Điều 590
BLDS 2015 thì làm thế nào để tính toán được thiệt hại về tinh thần và chứng cứ để chứng
minh có thiệt hại về tinh thần cho người thiệt hại. Bù đắp tổn thất có đồng nghĩa với bồi
thường toàn bộ, bởi bù đắp tổn thất về tinh thần chỉ mang tính ước lượng chứ không xác
định được toàn bộ và cũng chưa có luật quy định chi tiết, rõ ràng. Ngoài việc tòa án chỉ ấn
định một khoản tiền tương ứng trong trường hợp có bù đắp tổn thất về tinh thần.
Về mức bồi thường và quy định về phương thức chi trả tiền bồi thường: căn cứ tại khoản 3
Điều 585 BLDS 2015: “Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt
hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền khác thay đổi mức bồi thường”. Nhưng, mức bồi thường có thể thay đổi có khả
năng được thực hiện trong trường hợp bồi thường nhiều lần (hàng tháng hoặc hàng năm).
Nếu bồi thường thiệt hại trong trường hợp bồi thường toàn bộ một lần thì có được áp dụng
thay đổi mức bồi thường không? Trên thực tế, mức bồi thường mà người bị ảnh hưởng
được nhận đã khá thấp so với những thiệt hại mà họ phải gánh chịu do xâm hại tình dục
trẻ em gây ra. Đối với phương thức chi trả tiền bồi thường mà doanh nghiệp áp dụng là
phương thức nào, trình tự áp dụng ra sao để vừa công bằng, chính xác cũng như đảm bảo
1999
quyền lợi của chủ thể bị thiệt hại nếu có di chứng về sau hay đối với các trường hợp có
thể có di chứng về sau.
3.2 Kiến nghị
Từ những bất cập nêu trên, dưới góc độ nghiên cứu bài báo này nhóm tác giả nhận thấy các
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần phải có sự đổi mới và quy định cụ thể trong việc bồi
thường thiệt hại do xâm hại tình dục trẻ em để phù hợp với Bộ luật Dân sự như sau:
- Chính vì những quy định bồi thường này mang tính chung nên dẫn đến tình trạng
kháng cáo do nhận thấy thiếu sự thỏa đáng, phù hợp với những thiệt hại do con, em
mình phải chịu. Từ những căn cứ nêu trên nhóm tác giả nhận thấy cơ quan Nhà nước
cần có những quy định riêng về mức bồi thường do hành xâm hại tình dục trẻ em,
ngoài ra mức bồi thường đối với những hành vi xâm hại tình dục cần phải đẩy lên mức
tối đa tùy theo những thiệt hại nạn nhân phải chịu. Do đó, kiến nghị cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền cần ban hành quy định cụ thể về hành vi xâm hại tình dục và đưa ra
những căn cứ và quy định cụ thể về những dấu hiệu và trách nhiệm phải bồi thường
đối với hành vi xâm hại tình dục.
- -Cách thức xác định thiệt hại về sức khỏe, tinh thần: cần ban hành nghị định hướng
dẫn chi tiết về hình thức xác định thiệt hại về sức khỏe, tinh thần, tài sản, tính mạng
đối với những thiệt hại mà người xâm hại tình dục trẻ em gây ra đối với người bị thiệt
hại. Bởi vì, thiệt hại về sức khỏe tinh thần là thiệt hại mang tính chất đặc thù, cũng
không dễ để xác định thiệt hại này, vì loại thiệt hại này không được biểu hiện một cách
trực tiếp, ngay lập tức mà cần phải trải qua một khoảng thời gian thì nó mới có biểu
hiện và hậu quả mà nó để lại sẽ ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng trong suốt một thời
gian dài về sau.
- Quy định về giám định thiệt hại đối với sức khỏe, tinh thần, cơ chế trách nhiệm cần có
quy định rõ ràng về trình tự, phương thức, cơ chế cũng như cơ quan thực hiện, thời
gian thu thập tài liệu, chứng cứ giám định cần phải được thực hiện nhanh chóng và
trong thời gian ngắn nhằm tạo cơ sở pháp lý cho những người bị thiệt hại bảo vệ
quyền lợi của mình.
- Quy định về vấn đề thay đổi mức bồi thường và phương thức bồi thường cần phải
được cụ thể hóa, và chỉ rõ đối với những phương thức bồi thường (một lần, nhiều lần),
cũng như phương thức thể hiện những mức bồi thường đó, nhằm đảm bảo quyền lợi
của người bị thiệt hại.
- Ngoài ra, với tính chất nghiêm trọng của hành vi xâm hại tình dục bên cạnh việc bổ
sung các quy định về vấn đề giám định hay vấn đề thay đổi mức bồi thường, nhóm tác
giả nhận thấy cần bổ sung những quy định trong việc hỗ trợ điều tra và phát hiện các
vụ việc xâm hại tình dục trẻ em một cách triệt để như sau:
Cần bổ sung các quy định về mức thưởng và mức phạt đối với hành vi che giấu
không tố giác. Bởi vì, hành vi xâm hại tình dục trẻ em có cách thức phạm tội rất đặc
biệt nên đối với hoạt động điều tra việc phối hợp đưa lời khai, tố giác tội phạm là
yếu tố rất quan trọng trong việc định hướng điều tra vì vậy nhóm tác giả nhận thấy
cần có những quy định mới nhằm thúc đẩy các cá nhân, tổ chức phối hợp điều tra
một cách nhanh chóng và triệt để.
2000
Việc đưa ra mức thưởng thưởng đối với những cá nhân, tổ chức là điều cần thiết,
đối với việc trao thưởng có thể thông qua việc trao bằng khen hoặc tuyên dương...
Để góp phần lan tỏa đến cộng đồng, nâng cao nhận thức đối với mọi người, quan
trọng hơn hết là góp phần hỗ trợ việc điều tra một cách nhanh chóng và triệt để vấn
đề xâm hại tình dục trẻ em.
- Cần tăng cường tập huấn cho các cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử loại tội
phạm xâm hại tình dục trẻ em. Trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án xâm hại tình
dục trẻ em, việc xác định độ tuổi nạn nhân, thu thập chứng cứ; sự dàn xếp, thỏa thuận
giữa người thực hiện hành vi và chủ thể bị xâm hại thông qua yếu tố vật chất, điều tra
viên thiếu kinh nghiệm, có yếu tố nước ngoài… là rất phức tạp và gặp nhiều khó khăn
vì là án nhạy cảm, khả năng phối hợp còn nhiều bất cập. Do đó, cần triển khai mở các
lớp bồi dưỡng, tập huấn cho các cán bộ làm công tác này. Nội dung của lớp bồi
dưỡng, tập huấn cần tập trung vào các dấu hiệu của tội phạm, các thủ đoạn phạm tội,
kinh nghiệm đấu tranh chống tội phạm tình dục trẻ em. Cần đưa vào chương trình
giảng dạy của các cơ sở đào tạo trường, học viện, các bài giảng về tội phạm xâm hại
tình dục trẻ. Tăng cường công tác phòng ngừa, kiểm soát đối với các đối tượng
có nguy cơ cao[9].
Bên cạnh đó, Nghị định số 167/2013 NĐ-CP của Chính phủ (Thư viện Pháp luật, 2013) quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống
tệ nạn xã hội cần nghiên cứu sửa đổi để đáp ứng được sự thay đổi của thực tiễn đời sống
để xử phạt với các hành vi quấy rối tình dục đối với trẻ em nếu hành vi quấy rối tình dục
chưa được coi là tội phạm. Công tác giám sát thực thi pháp luật về phòng, chống xâm hại
tình dục trẻ em cần thực hiện tốt, đồng thời, cần khẩn trương tiến hành rà soát và giám sát
việc thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ trẻ em và phòng, chống xâm hại tình dục trẻ
em để có những con số thống kê xác định được nguyên nhân và diễn biến của tội phạm xâm
hại tình dục trẻ em, từ đó tìm ra căn nguyên phạm tội, đặc điểm tội phạm sẽ giúp chúng ta
phòng ngừa tội phạm đạt kết quả cao hơn và sẽ hoàn thiện hệ thống pháp luật tốt hơn[10].
Các hoạt động truyền thông phổ biến pháp luật và buổi giáo dục tiếp tục được triển khai rộng
khắp trên các phương tiện thông tin đại chúng với các nội dung về quyền được trợ giúp
pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý nói chung và hướng đến các đối tượng đặc thù (trẻ
em, người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, người bị buộc tội thuộc hộ cận
nghèo,...).
4 KẾT LUẬN
Trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khoản 1 Điều 20 “Mọi người có quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra
tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể,
sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”. Điều này gắn liền với mỗi công dân không thể
tách rời, thay thế hay chuyển giao cho người khác, không ai được quyền xâm phạm đến tính
mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của người. Hiến pháp Việt Nam 2013 khoản 1 Điều 37
quy định “Trẻ em được Nhà nước, gia đình, xã hội bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và được
tham gia vào các vấn đề của trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm
dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”.
2001
Việc hoàn thiện và phát triển pháp luật nói chung và những quy định về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do xâm hại tình dục có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ trẻ em
trước những hành vi xâm hại đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm. Trong đó quan
trọng hơn hết, đó chính là việc nâng cao nhận thức của mọi người trong việc quan tâm chăm
sóc bảo vệ trẻ em trước những hành vi trái pháp luật và nhằm tạo tính nghiêm khắc, răn đe,
nhắc nhở người dân trong việc tuân thủ pháp luật. Đặc biệt nghiên cứu còn chỉ ra những hạn
chế trong việc áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm hại
đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hiến pháp 2013.
[2] Bộ luật Dân Sự 2015.
[3] Luật Trẻ em 2016.
[4] Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy
định của “ ộ luật dân sự 2015” về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và Điều 604,
“ ộ luật Dân sự 2015”.
[5] Nghị Định 72/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 Quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ,
công chức, viên chức và lực lượng vữ trang.
[6] Những vụ việc xâm hại tình dục trẻ em: Cần vào cuộc xử lý nghiêm minh; 19/03/2019;
nghiem-minh-663377.ldo
[7] Hơn 8.400 vụ trẻ em bị xâm hại mới chỉ là “phần nổi của tảng băng”; Thứ hai,
phan-noi-cua-tang-bang-553648.html
[8] Hơn 1.200 trẻ bị xâm hại tình dục mỗi năm, Bộ Y tế ban hành hướng dẫn chăm sóc;
y-te-ban-hanh-huong-dan-cham-soc-20200910082417796.htm
[9] Đề xuất giải pháp hành động phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động
[10] Pháp luật về phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em ở Việt Nam hiện nay: Một số kiến
nghị hoàn thiện 06/01/2020
mID=54
2002
Bạn đang xem tài liệu "Một số ý kiến về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm hại tình dục trẻ em", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_y_kien_ve_trach_nhiem_boi_thuong_thiet_hai_do_xam_hai.pdf

