Cách thức xây dựng và sử dụng tình huống điển hình trong giảng dạy học phần luật hình sự

TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 48/2021  
CÁCH THỨC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TÌNH HUỐNG  
ĐIỂN HÌNH TRONG GIẢNG DẠY HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰ  
DƢƠNG THỊ HỒNG THUẬN  
Ngày nhận bài: 04/08/2021  
Ngày phản biện: 12/08/2021  
Ngày đăng bài: 30/09/2021  
Tóm tắt:  
Abstract:  
Sử dụng tình huống điển hình trong  
Using typical cases in teaching  
giảng dạy học phần Luật Hình sự Việt Nam Vietnamese Criminal Law module is a highly  
là hình thức dạy học có tính thực tiễn cao, practical form of teaching. This will be able to  
giúp sinh viên tăng cường tính chủ động, help students enhance their initiative, creativity,  
sáng tạo, năng lực tự học và vận dụng tri thức self-study capacity and ability to apply  
vào công việc thực tiễn. Bài viết này, tác giả theoretical knowledge into practical working  
giới thiệu và phân tích một số phương pháp situations. In this article, the author  
cần áp dụng trong giảng dạy về Luật Hình sự introduces and analyzes a some methods that  
Việt Nam, qua đó đề xuất quy trình xây dựng need to be applied in teaching Vietnamese  
và cách thức sử dụng tình huống điển hình góp Criminal Law, thereby proposing the  
phần nâng cao chất lượng đào tạo ngành Luật.  
constructing process and how to use typical  
cases to contribute to improving the quality of  
law training.  
Từ khóa:  
Keywords:  
Xây dựng tình huống điển hình, sử dụng  
Constructing typical cases, using typical  
tình huống điển hình, phương pháp giảng dạy, cases, teaching methods, Criminal Law module.  
học phần Luật Hình sự.  
1. Đặt vấn đề  
Luật Hình sự Việt Nam 1 và Luật Hình sự Việt Nam 2 là hai học phần được thiết kế trên  
cơ sở phân tích làm rõ các quy phạm pháp luật hình sự kết hợp vận dụng vào giải quyết các  
vụ việc thực tế; là học phần bắt buộc trong chương trình đào tạo cử nhân luật của hầu hết các  
cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam hiện nay. Học phần này xác định đối tượng để giảng dạy đối  
với sinh viên là những vấn đề liên quan đến tội phạm và hình phạt. Theo đó, học phần Luật  
Hình sự Việt Nam 1 đề cập đến những vấn đề chung liên quan đến tội phạm và hình phạt như  
các nguyên tắc, khái niệm, đặc điểm, phân loại về tội phạm, các giai đoạn thực hiện tội phạm,  
ThS., Trường Đại học Quảng Bình; Email: [email protected]  
122  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
các căn cứ hợp pháp của hành vi gây thiệt hại, khái niệm và mục đích của hình phạt, hệ thống  
các loại hình phạt... Học phần Luật Hình sự Việt Nam 2 đề cập đến các tội phạm cụ thể cũng  
như các hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đó. Để xác định được là có hay không có  
tội phạm xảy ra, xác định là tội phạm gì và hình phạt áp dụng như thế nào, đòi hỏi sinh viên  
phải nắm vững các quy định của pháp luật hình sự. Mặt khác, sinh viên phải có kỹ năng để  
phân tích, lập luận, đánh giá và áp dụng quy định của pháp luật hình sự đối với các vụ án cụ  
thể. Đây là quá trình đi tìm sự phù hợp giữa các tình tiết, dấu hiệu từ những vụ án trên thực tế  
với các quy phạm pháp luật hình sự. Vì thế, để giải quyết các vấn đề mang tính thực tiễn cần  
phải dựa trên cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và để làm sáng tỏ vấn đề, chứng minh cho lý luận,  
quy phạm đó là đúng, là phù hợp thì phải vận dụng vào giải quyết các tình huống thực tiễn.  
Như vậy, phương pháp giảng dạy học phần này cần có sự kết hợp linh hoạt giữa các  
phương pháp giảng dạy khác nhau. Trong đó, việc học tập thông qua các tình huống được  
đánh giá là một phương pháp giảng dạy và học tập hiệu quả trong đào tạo ngành Luật. Sinh  
viên cần liên hệ thực tiễn trong quá trình học tập để vận dụng giải quyết các vụ án hình sự cụ  
thể cũng như rèn luyện kỹ năng làm việc ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Chính vì lẽ  
đó, việc xây dựng và sử dụng tình huống điển hình trong giảng dạy học phần Luật Hình sự  
Việt Nam là vô cùng quan trọng và thực sự cần thiết để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo  
ngành Luật nói chung và giảng dạy học phần Luật Hình sự Việt Nam nói riêng.  
Trong bài viết này, tình huống điển hình được hiểu là những tình huống được xây dựng  
dựa trên bản án, vụ việc thực tế và hình thành những vấn đề cần giải quyết phù hợp với nội  
dung bài học để khi nghiên cứu tình huống đ  người học sẽ c  cái nhìn cơ bản nhất về nội  
dung được giảng dạy trên lớp, làm nền tảng để nghiên cứu những vấn đề pháp lý nâng cao.  
2. Một số phƣơng pháp cần áp dụng trong giảng dạy học phần Luật Hình sự Việt  
Nam 1, 2  
Khi giảng dạy học phần Luật Hình sự Việt Nam, nên áp dụng linh hoạt nhiều phương  
pháp khác nhau phù hợp với mỗi bài học, tiết học. Trong đó, chú trọng đến các phương pháp:  
thuyết trình tích cực, làm việc nhóm, nghiên cứu tình huống điển hình phù hợp, hỏi đáp  
Socrates, đóng vai và phiên tòa giả định.  
2.1. Phƣơng pháp thuyết trình tích cực  
Thuyết trình là phương pháp giảng dạy truyền thống, cơ bản và quan trọng được sử  
dụng để chủ động truyền đạt một khối lượng kiến thức trong một khoảng thời gian nhất định  
cho một số lượng người nghe. Tuy nhiên, phương pháp truyền đạt một chiều này dễ dẫn đến  
sự thụ động của sinh viên trong quá trình học tập. Vì vậy, để thực hiện phương pháp thuyết  
trình thành công, giúp sinh viên tiếp thu được khối lượng kiến thức lớn trong một khoảng thời  
gian ngắn và duy trì sự chú ý trong suốt quá trình nghe thuyết trình thì cần thuyết trình bằng  
nhiều cách thức khác nhau. Hiện nay, việc cải tiến phương pháp thuyết trình đã được “thực  
123  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 48/2021  
hiện bằng nhiều cách khác nhau như: cách mở đầu bài giảng, cách trình bày, giọng nói, ngôn  
ngữ cơ thể, cách kết nối, củng cố và kết thúc bài giảng… Đồng thời, giảng viên cũng sử dụng  
các phương tiện hỗ trợ cho việc thuyết trình như: bảng viết, tài liệu phân phát, máy chiếu  
(LCD projector), máy tính, video clip”1. Ví dụ, liên quan đến những nội dung trình bày, người  
học được xem những đoạn clip ngắn. Ngoài việc phục vụ cho giảng dạy, các phương tiện hỗ  
trợ này còn có tác dụng tránh sự nhàm chán, thu hút sự quan tâm của người học. Thực tế cho  
thấy, người học khá hứng thú trong việc theo dõi các video clip, kết quả là sau khi xem xong,  
người học ngay lập tức có sự liên hệ với bài học để trả lời các câu hỏi giảng viên đặt ra (gắn  
với nội dung video), đồng thời cũng có những câu hỏi mong muốn được giảng viên làm rõ  
hơn đối với kiến thức bài học mà nếu không được xem nội dung video thì sinh viên khó có thể  
hình dung được.  
Đối với học phần Luật Hình  
sự Việt Nam 1, 2, một cách hiệu  
quả nữa để truyền đạt kiến thức là  
vừa thuyết trình vừa sơ đồ hóa nội  
dung trình bày thông qua dùng  
bảng viết hoặc máy tính và LCD  
Projector (sử dụng phần mềm  
Powerpoint). Các sơ đồ thường có  
nội dung là các khái niệm pháp lý  
được liên kết với nhau, các cách  
phân loại, các yếu tố cấu thành tội  
phạm, phân tích các hành vi phạm  
tội, các dấu hiệu định tội được mô tả trong cấu thành tội phạm đặt trong sự tương quan với  
tình tiết định tội thể hiện trong những ví dụ minh hoạ/tình huống thực tế... Việc sử dụng sơ đồ  
để thể hiện nội dung thuyết trình sẽ tạo thuận lợi cho sinh viên trong việc ghi chép bài giảng,  
giúp cho sinh viên hiểu rõ và nắm vững các kiến thức cơ bản trong mối liên hệ của chúng  
cũng như liên hệ với tình huống/vụ án thực tế. Đồng thời, qua đó, sinh viên sẽ xây dựng được  
các thang bậc lập luận pháp lý chặt chẽ, vững chắc từ những hiểu biết mang tính hệ thống đó.  
Ví dụ: Sơ đồ dưới đây được sử dụng để minh họa cho trường hợp phạm tội liên tục  
được đề cập trong nội dung bài giảng học phần Luật Hình sự Việt Nam 1 (Chương 6. Mặt  
khách quan của tội phạm).  
Như vậy, để phương pháp thuyết giảng có hiệu quả, giảng viên nên trực quan hóa bài  
giảng bằng các phương tiện hiện đại để duy trì sự chú ý tối đa của sinh viên. Ngoài ra, cũng  
không nên sử dụng đơn thuần phương pháp thuyết giảng mà nên kết hợp với các phương pháp  
1 Trần Thị Ngọc Sương (2010), Một số phương pháp giảng dạy học phần Công pháp quốc tế trong chương trình  
đào tạo ngành Quốc tế học tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng, Tạp chí Khoa học và Công nghệ,  
Đại học Đà Nẵng, số 5, tr.190-198.  
124  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
giảng dạy khác như hỏi đáp, làm việc nhóm, giảng dạy bằng tình huống, đóng vai và phiên tòa  
giả định.  
2.2. Phƣơng pháp làm việc nhóm  
Phương pháp này đòi hỏi sinh viên phải tăng cường khả năng tư duy độc lập và trao đổi  
lẫn nhau trong nhóm, giúp cho việc tiếp thu kiến thức chính xác và nhanh chóng hơn. Giảng  
viên đóng vai trò là người tổ chức hoạt động nhóm (chia nhóm, giao nhiệm vụ, theo dõi và  
đánh giá kết quả làm việc của các nhóm…). Có thể chia nhóm theo nhiều cách: các nhóm  
cùng làm một công việc như nhau, mỗi nhóm nhận một phần việc cụ thể trong tổng thể nhiệm  
vụ chung được đặt ra, mỗi nhóm phải cạnh tranh với nhau trên cơ sở trả lời câu hỏi,… và “các  
thành viên đều phải làm việc và đóng góp cho báo cáo chung của cả nhóm sẽ được trình bày  
với thời gian khoảng 10 phút và thảo luận xoay quanh chủ đề đó”2.  
Giảng viên nên chia lớp học thành các nhóm đa dạng thành phần về giới tính, khả năng  
và trình độ để bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong quá trình làm việc chung. Giảng viên cần có  
cách thức quản lý nhóm, lập thời gian biểu cụ thể cho việc hoàn thành công việc và có cách  
thức đánh giá rõ ràng, khách quan, công bằng.  
Ví dụ: Phương pháp làm việc nhóm được áp dụng để giảng dạy nội dung “Các căn cứ  
hợp pháp của hành vi gây thiệt hại” (Chương 11 - học phần Luật Hình sự Việt Nam 1).  
Cách thức tổ chức: Giảng viên chia lớp thành 4 nhóm (đối với lớp học có từ 20 - 30  
sinh viên):  
- Nhóm 1: Tìm hiểu khái niệm, điều kiện của phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn  
phòng vệ chính đáng.  
- Nhóm 2: Tìm hiểu khái niệm, điều kiện của tình thế cấp thiết và vượt quá yêu cầu của  
tình thế cấp thiết.  
- Nhóm 3: So sánh phòng vệ chính đáng với tình thế cấp thiết.  
- Nhóm 4: Theo dõi phần trình bày của 3 nhóm trên và đưa ra nhận xét, đánh giá.  
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu tình huống điển hình phù hợp  
Trong phương pháp này, thay vì chỉ giảng về lý luận và đưa ra ví dụ minh họa để yêu  
cầu sinh viên nắm bắt nội dung, giảng viên sẽ tái hiện hoặc xây dựng các tình huống điển hình  
phù hợp dựa trên bản án/vụ việc thực tế, có các vấn đề cần giải quyết phù hợp với nội dung  
tình huống kèm theo để yêu cầu sinh viên phân tích, đánh giá và đưa ra hướng giải quyết trên  
cơ sở vận dụng kiến thức và kinh nghiệm của mình. Vì vậy, phương pháp này có tác dụng  
tăng cường sự hiểu biết và khả năng áp dụng lý thuyết vào thực tế của sinh viên, nâng cao các  
kỹ năng xử lý và phân tích thông tin, các kỹ năng phân tích, đánh giá giải pháp cho vấn đề.  
2 Trần Thăng Long (2019), Sử dụng phương pháp giảng dạy tích cực đối với các môn chuyên ngành Luật - kinh  
nghiệm áp dụng cho môn Luật Quốc tế, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 2 (123), tr.74-80.  
125  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 48/2021  
Mặt khác, phương pháp này còn có tác dụng phát triển các kỹ năng giao tiếp, khuyến khích sự  
sáng tạo, đổi mới để tìm giải pháp cho vấn đề, tăng sự quan tâm, yêu thích của sinh viên đối  
với học phần.  
Cách thức thực hiện:  
Bước 1: Giảng viên phát tài liệu tình huống hoặc trình chiếu Powerpoint.  
Bước 2: Giảng viên phân nhóm, yêu cầu sinh viên tìm hiểu tình huống để nắm bắt được  
chính xác vấn đề được nêu ra, quyết định của cơ quan xét xử và lý do của các quyết định đó  
hoặc trên cơ sở nội dung tình huống, giảng viên đưa ra các vấn đề yêu cầu sinh viên giải quyết  
(Hoạt động này có thể diễn ra tại lớp).  
Bước 3: Sinh viên làm việc theo nhóm và nộp bài viết tóm tắt (Hoạt động này có thể  
diễn ra tại lớp).  
Bước 4: Giảng viên tổ chức cho các nhóm trình bày kết quả giải quyết tình huống của  
nhóm, tổ chức thảo luận và tổng kết cho cả lớp (có thể diễn ra tại lớp hoặc vào buổi học tiếp theo).  
2.4. Phƣơng pháp Socrates  
Phương pháp Socrates là việc sử dụng một loạt các câu hỏi đặc trưng, có nguyên tắc để  
bóc tách, truy tìm các tư tưởng ẩn chứa trong câu trả lời. Thông qua việc hỏi đáp liên hoàn,  
người được hỏi sẽ dần nhận ra các lỗ hổng trong lập luận của mình, từ đó hiểu sâu sắc hơn về  
bản chất vấn đề và tự rút ra bài học cho bản thân3. Phương pháp Socrates thường được sử  
dụng trong bài thi vấn đáp và bài giảng ở các trường Luật. Phương pháp này là cách thảo luận  
đặc trưng của việc giảng dạy các học phần pháp luật, khác với phương pháp thuyết giảng và  
giảng dạy theo nhóm vốn thích hợp với nhiều học phần. Ví dụ, sinh viên được yêu cầu diễn  
giải một lập luận do tòa án đưa ra đối với một vụ việc cụ thể để đảm bảo đã chuẩn bị bài trước  
và có kiến thức cơ bản về vụ việc đó. Sau đó, giảng viên hỏi sinh viên có đồng ý với lập luận  
đó của Tòa án không và đưa ra những lý lẽ để bác lại lập luận của sinh viên, buộc sinh viên  
phải kiên trì bảo vệ lập trường của mình.  
Mục đích chính của phương pháp Socrates trong các học phần pháp luật, trong đó có  
Luật Hình sự Việt Nam là nhằm khai thác các tình huống khó của luật và cung cấp cho sinh  
viên kỹ năng tư duy cần thiết cho nghề nghiệp sau này. Giảng viên có thể thay đổi thực tế của  
vụ việc để sinh viên có thể đưa ra kết quả khác. Phương pháp này khuyến khích sinh viên  
vượt ra ngoài phạm vi của việc ghi nhớ các sự kiện của vụ việc và thay vào đó tập trung vào  
việc áp dụng các quy định pháp luật vào các vụ việc tương tự. Để làm được điều đó, sinh viên  
buộc phải có trách nhiệm với việc học của mình, phải chuẩn bị kỹ lưỡng cho buổi học và học  
tập một cách chủ động, tích cực. Đây là một phương pháp thực sự hữu ích cho việc giảng dạy  
3 Xem thêm: https://zim.vn/phuong-phap-socratic-va-ung-dung-trong-viec-phat-trien-tu-duy-phan-bien/, truy cập  
ngày 10/7/2021.  
126  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
các học phần pháp luật. Giảng viên có thể sử dụng thiết bị trình chiếu để có thể dễ dàng theo  
dõi quá trình hỏi đáp, vận dụng linh hoạt và kết hợp áp dụng thêm phương pháp này trong  
một số tiết học đối với học phần Luật Hình sự Việt Nam.  
Ví dụ, vận dụng phương pháp Socrates khi giảng dạy nội dung “Các tội xâm phạm sức  
khoẻ của con người” (thuộc Chương 2- học phần Luật Hình sự Việt Nam 2) để yêu cầu sinh  
viên trình bày quan điểm về quyết định của Tòa án trong tình huống sau đây: Tình và Trí là  
anh em họ, cả hai chơi bài tại nhà Tình. Trí xin Tình thuốc lá nhưng Tình không cho nên hai  
bên xảy ra cãi cọ rồi xô xát. Ấm ức, Trí về nhà lấy hai con dao quay lại nhà Tình. Thấy Tình  
đang đứng trước sân, Trí ném con dao về phía Tình nhưng không trúng. Tình bỏ chạy vào  
nhà, Trí tiếp tục cầm con dao còn lại đuổi theo Tình, đến trước cửa buồng ngủ nhà Tình thì  
đuổi kịp. Trí giơ dao tấn công thì Tình dùng ghế nhựa chống trả làm văng dao. Mặc dù được  
nhiều người can ngăn nhưng Trí vẫn xông vào đè Tình xuống đất. Khi đang vật lộn, Trí ngồi  
lên bụng Tình, mặt đối mặt khống chế và tiếp tục đánh Tình. Tình chống trả bằng cách dùng  
tay ôm cổ Trí kéo xuống rồi cắn vào môi của Trí. Kết quả, Trí bị vết sẹo sứt môi dưới phải,  
gây ảnh hưởng thẩm mỹ, sức khỏe của Trí bị giảm do thương tích gây nên là 15%. Tòa án  
nhân dân huyện T xử phạt Tình chín tháng cải tạo không giam giữ về tội cố ý gây thương tích  
quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS 2015.  
Cách thức thực hiện:  
Bước 1: Giảng viên yêu cầu một sinh viên diễn giải lại tình huống và quyết định của  
Tòa án.  
Bước 2: Giảng viên hỏi sinh viên có đồng ý với quyết định đó của Tòa án không.  
Bước 3: Giảng viên căn cứ câu trả lời của sinh viên để đưa ra các lý lẽ phản bác lại ý  
kiến của sinh viên, buộc sinh viên phải đưa ra các lý lẽ để bảo vệ cho quan điểm của mình  
hoặc qua đó sinh viên nhận thấy kỹ năng tư duy pháp lý, kỹ năng lập luận của mình còn hạn  
chế để tiếp tục trau dồi. Ví dụ, trong một buổi thảo luận tại lớp đã diễn ra cuộc hỏi đáp giữa  
giảng viên và sinh viên liên quan đến tình huống trên như sau:  
Giảng viên: Có đồng ý với quyết định của Tòa án nhân dân huyện T xử phạt Tình về tội  
Cố ý gây thương tích không? Tại sao?  
Sinh viên: Đồng ý. Bởi vì, Tình đã cố ý kéo cổ Trí xuống rồi cắn vào môi của Trí, kết  
quả Trí bị sứt môi dưới phải, sức khỏe của Trí bị giảm do thương tích gây nên là 15%,  
thỏa mãn tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại khoản 1, Điều 134 BLHS 2015- Tội cố ý gây  
thương tích.  
Giảng viên: Có phải cứ cố ý gây thương tích và thỏa mãn tỷ lệ tổn thương cơ thể nêu tại  
Điều 134 BLHS 2015 thì đều cấu thành tội cố ý gây thương tích không?  
Sinh viên: Có thể không bị coi là tội phạm nếu thuộc vào một trong những trường hợp  
loại trừ trách nhiệm hình sự như phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, gây thiệt hại trong  
khi bắt giữ người phạm tội…  
127  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 48/2021  
Giảng viên: Việc Trí dùng dao rượt đuổi Tình, liên tục tấn công Tình như đè Tình  
xuống đất, ngồi lên bụng Tình để khống chế và tiếp tục đánh Tình thì liệu Tình có đang ở  
trong tình trạng không lối thoát không?  
Sinh viên: Vậy thì có thể Tình đang ở trong tình trạng không lối thoát.  
Giảng viên: Nếu Tình đang ở trong tình trạng không lối thoát thì hành vi của Trí có  
nguy hiểm và đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của Tình không?  
Sinh viên: Hành vi của Trí là nguy hiểm và đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe  
của Tình.  
Giảng viên: Vậy, hành vi chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm  
phạm lợi ích chính đáng của mình để bảo vệ mình có được pháp luật cho phép không?  
Sinh viên: Nếu việc chống trả lại của Tình là cần thiết để bảo vệ tính mạng, sức khoẻ  
của Tình thì được pháp luật cho phép và được coi là không phạm tội.  
(tiếp tục quá trình hỏi và trả lời)  
Lặp lại quá trình này đủ lâu, sinh viên sẽ nhận ra rằng hiểu biết ban đầu của mình  
còn nhiều hạn chế và trở nên sâu sắc hơn rất nhiều sau quá trình đối thoại vận dụng phương  
pháp Socrates.  
2.5. Phƣơng pháp đóng vai và phiên tòa giả định  
Phương pháp đóng vai và phiên tòa giả định là những phương pháp dạy học tích cực và  
có hiệu quả cao. Phương pháp này hướng đến “ba mục tiêu giáo dục: khả năng nhận thức  
(phân tích), các kỹ năng thực hành (chuẩn bị cho việc xét xử, hỏi đáp chứng cứ, trình bày các  
sự kiện và lập luận pháp lý, kỹ năng đàm phán, biện hộ trước cơ quan xét xử) và đặc tính cảm  
xúc trong việc tư vấn hay tranh tụng”4.  
Nếu như trong phương pháp giảng dạy bằng tình huống điển hình phù hợp đã trình bày  
ở trên, sinh viên giữ vai trò là bên thứ ba đứng ngoài sự việc để phân tích đánh giá thì ở hai  
phương pháp đóng vai và phiên tòa giả định, sinh viên phải đặt mình vào vị trí một bên liên  
quan (bên bị cáo, bên bị hại, bên cơ quan tiến hành tố tụng) trong một vụ việc cho trước.  
Thông qua việc đóng vai những nhân vật có thật hoặc giả định để giải quyết các tình huống  
“có vấn đề”, sinh viên sẽ được rèn luyện kỹ năng giao tiếp và cách ứng phó, xử lý các tình  
huống có thể gặp trong tương lai. Mặc dù để đạt được mục đích này phải tốn nhiều thời gian  
và công sức, song đây là biện pháp rất tốt để cung cấp cho sinh viên kinh nghiệm thực tiễn  
trong quá trình học tập, giúp sinh viên hình dung rõ hơn việc áp dụng các kiến thức vào công  
việc thực tế sau này. Bởi vậy, việc áp dụng mô hình “phiên tòa giả định đang dần trở nên phổ  
biến, thu hút sự quan tâm của nhiều sinh viên Luật”5.  
4 Trần Thị Ngọc Sương (2010), tlđd, tr.190-198.  
5 Trần Việt Dũng, Nguyễn Chí Hằng Hải (2014) Áp dụng mô hình phiên tòa giả định trong giảng dạy kiến thức  
và kỹ năng pháp lý cho sinh viên Luật, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 2 (81), tr.74-80.  
128  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
Để thực hiện việc giảng dạy bằng phương pháp đóng vai, giảng viên cần chuẩn bị tình  
huống điển hình, phân vai, tổ chức việc đóng vai và tổng kết bài học cho sinh viên. Yêu cầu  
quan trọng để thực hiện tốt phương pháp này là tình huống phải sát với thực tiễn (sử dụng tình  
huống thật), khả năng diễn xuất, vận dụng kiến thức phù hợp với đối tượng sinh viên nhất  
định. Sẽ rất hiệu quả nếu sử dụng video để ghi lại toàn bộ quá trình “diễn án” vì sinh viên có  
thể xem lại cách trình bày lập luận, nhận rõ thái độ, cảm xúc của bản thân trong quá trình thực  
hiện tình huống, hiểu được những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân cũng như của các bạn.  
Đồng thời, các nội dung được ghi lại trong video cũng sẽ tạo điều kiện cho giảng viên đưa ra  
nhận xét và tổng kết hoạt động một cách chi tiết, đầy đủ hơn.  
Đối với việc thực hiện giảng dạy bằng phương pháp phiên tòa giả định, phương pháp  
này có thể sử dụng ở học phần Luật Hình sự Việt Nam 2 nhưng phải có sự kết hợp với một số  
kiến thức của học phần Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam. Do đó, giảng viên có thể lựa chọn  
tình huống cung cấp cho sinh viên, phân vai (bị cáo, bị hại, luật sư, kiểm sát viên, thẩm phán,  
thư ký…) và cung cấp cho sinh viên một số kiến thức về tố tụng hình sự liên quan cần thiết  
cho việc thực hiện phiên tòa giả định (vì lúc này sinh viên chưa được học học phần Luật Tố  
tụng hình sự Việt Nam) hoặc yêu cầu sinh viên tự nghiên cứu, tìm hiểu để thực hiện phiên tòa  
giả định, qua đó giảng viên nhận xét, đánh giá về cả quá trình thực hiện phiên tòa giả định của  
sinh viên tại lớp, làm nền tảng cho sinh viên học tiếp học phần Luật Tố tụng hình sự Việt  
Nam ở học kỳ tiếp theo.  
Ví dụ: Áp dụng phương pháp đóng vai và phiên tòa giả định để tổ chức phiên tòa về  
một vụ án phạm tội “giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”.  
Cách thức tổ chức:  
Bước 1: Giảng viên giới thiệu về tình huống và chia lớp thành 5 nhóm: nhóm bị cáo,  
nhóm bị hại, nhóm luật sư, nhóm đại diện Viện kiểm sát (kiểm sát viên) và nhóm hội đồng xét  
xử (các thẩm phán của Tòa án và Hội thẩm nhân dân). Ở bước này giảng viên cũng cần làm rõ  
cho sinh viên về nhiệm vụ và quyền hạn của các bên trong quá trình tiến hành tố tụng, thẩm  
quyền xét xử,… hoặc để cho sinh viên tự nghiên cứu, tìm hiểu để thực hiện phiên tòa giả định  
như đã đề cập ở trên.  
Bước 2: Phân phát tài liệu có liên quan cho các bên (Các nhóm có thể nghiên cứu tài  
liệu ở nhà).  
Bước 3: Thực hiện vai diễn (có thể quay video hoặc diễn thực tế tại lớp).  
Bước 4: Giảng viên nhận xét, đánh giá, tổng kết tại lớp.  
Trên đây là một số phương pháp cần được áp dụng trong việc giảng dạy học phần Luật  
Hình sự Việt Nam 1, 2 trong chương trình đào tạo ngành Luật. Đối với học phần Luật Hình sự  
Việt Nam 1, giảng viên chủ yếu sử dụng các phương pháp thuyết giảng, giảng dạy theo nhóm  
và giảng dạy bằng tình huống điển hình phù hợp. Sau đó, ở học phần Luật Hình sự Việt Nam 2,  
129  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 48/2021  
khi sinh viên đã đạt đến một trình độ cao hơn về kiến thức và kỹ năng phân tích, lập luận các  
vấn đề pháp lý, giảng viên nên áp dụng tất cả năm phương pháp đã nêu, đặc biệt là phương  
pháp hỏi đáp theo phong cách Socrates, đóng vai hay phiên tòa giả định (phương pháp này nên  
tiếp tục được sử dụng ở học phần Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam để đạt hiệu quả cao hơn).  
Các phương pháp giảng dạy nói trên ngoài áp dụng cho học phần Luật Hình sự cũng có  
thể vận dụng linh hoạt áp dụng giảng dạy đối với các học phần pháp luật khác.  
3. Quy trình xây dựng tình huống điển hình  
Dựa trên những phương pháp giảng dạy cần áp dụng đối với học phần Luật Hình sự đề  
cập ở trên, đòi hỏi giảng viên phải tự xây dựng cho học phần mình đảm nhận bộ tình huống  
điển hình để chủ động, linh hoạt và sử dụng đúng với mục đích của chính giảng viên trong  
quá trình giảng dạy học phần đó. Các tình huống được xây dựng nhằm áp dụng các quy phạm  
pháp luật hình sự vào giải quyết một vấn đề nào đó và qua quá trình đó giúp sinh viên tiếp thu  
kiến thức một cách hiệu quả nhất và sát với thực tiễn nhất. Vì vậy, quy trình xây dựng tình  
huống điển hình của giảng viên có thể thực hiện theo 03 bước như sau:  
Bước 1: Chuẩn bị xây dựng tình huống, gồm:  
- Xác định chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ để xây dựng tình huống.  
- Lập kế hoạch cho việc xây dựng tình huống.  
- Thu thập, lựa chọn thông tin từ các nguồn thông tin dữ liệu:  
+ Đối với phương pháp đóng vai và phiên tòa giả định, tình huống vụ án được sử dụng  
nên lấy từ các bản án.  
+ Đối với tình huống sử dụng trong các phương pháp giảng dạy khác, nguồn để xây  
dựng tình huống có thể từ bất kỳ các nguồn thông tin dữ liệu khác nhau như: bản án đã có  
hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, kết luận điều tra (như quyết định khởi tố vụ án hoặc  
quyết định không khởi tố vụ án...), cáo trạng của Viện kiểm sát, từ các phương tiện thông tin  
đại chúng hoặc bất kỳ kênh thông tin nào mà giảng viên có thể khai thác được.  
Bước 2: Xây dựng tình huống, gồm:  
- Viết tình huống, gồm:  
+ Viết phác thảo tình huống (còn gọi là viết nháp).  
+ Viết chi tiết tình huống, gồm phần mô tả tình huống và hình thành vấn đề cần giải  
quyết (còn gọi là câu hỏi). Cụ thể là: Trên cơ sở nguồn thông tin dữ liệu đã được lựa chọn, mô  
tả các sự kiện, các tình tiết, chủ thể thực hiện hành vi phạm tội và các chủ thể có liên quan  
(thực hiện mã hóa hoặc thay đổi họ tên, các thông tin liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia  
đình để bảo đảm không vi phạm quy định về bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo hướng dẫn  
tại Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP ngày 17/02/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân  
dân tối cao về việc công bố bản án, quyết định trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án và  
130  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
Công văn số 144/TANDTC-PC ngày 04 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân tối cao về  
việc thi hành Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP); sau khi mô tả tình huống thì tiến hành viết  
câu hỏi giải quyết tình huống.  
- Tự kiểm tra tình huống và chỉnh sửa để đảm bảo yêu cầu đặt ra.  
- Làm đáp án cho tình huống (định hướng giải quyết).  
Bước 3: Hoàn thiện tình huống, gồm:  
- Sử dụng tình huống để giảng dạy thử nghiệm trên lớp cho sinh viên: sử dụng tình  
huống giảng dạy thử trong một số buổi học trên lớp như giờ thảo luận, làm bài tập, sử dụng để  
minh họa trong khi thuyết giảng; sử dụng trong giờ kiểm tra để kiểm chứng tình huống với  
đáp án đã xây dựng;  
- Hỏi ý kiến giảng viên bộ môn;  
- Sửa chữa để hoàn thiện tình huống.  
Việc xây dựng tình huống luôn bắt đầu từ nội dung kiến thức cần truyền đạt tới sinh  
viên. Nội dung kiến thức này có thể là một khái niệm nào đó giảng viên muốn sinh viên nắm  
bắt được và phân biệt được với những khái niệm khác hay cũng có thể là một nguyên tắc pháp  
lý cùng với những quy định của pháp luật thực định giảng viên muốn sinh viên hiểu và áp  
dụng được vào thực tiễn. Dựa trên những kiến thức này, giảng viên xây dựng nên những vấn  
đề mà thông thường chính là những câu hỏi xuất phát từ bản thân kiến thức cần sinh viên tiếp  
thu. Việc giải quyết vấn đề này có thể đòi hỏi trước tiên phải giải quyết một số vấn đề nhỏ  
khác và nếu vậy những vấn đề nhỏ cũng phải được xác định. Trên cơ sở các vấn đề và tiểu  
vấn đề, giảng viên sẽ xây dựng các tình tiết sự kiện để hình thành một tình huống điển hình  
hoàn chỉnh. Nếu có những vụ án, vụ việc liên quan tới những nội dung kiến thức pháp luật mà  
giảng viên đang muốn sinh viên tìm hiểu thì giảng viên có thể lấy tình tiết của vụ án, vụ việc  
đó rồi điều chỉnh tình tiết sự kiện cho phù hợp với yêu cầu của mình.  
Việc xây dựng được tình huống điển hình phù hợp là một công đoạn quan trọng trong  
quá trình giảng dạy luật. Bởi vậy, một tình huống điển hình đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu  
sau: (1) Tình huống đó phải là một vụ việc thực tế; (2) Vụ việc phải điển hình và phải chuyển  
tải được nội dung của bài giảng hoặc vấn đề cần người học nắm được; (3) Vụ việc không quá  
phức tạp, đòi hỏi phải đọc, tìm kiếm tài liệu và sự chuẩn bị với thời gian quá dài; (4) Người  
học cần phải năng động, tích cực.  
Ngoài ra, giảng viên có thể linh hoạt trong cách thiết kế tình huống để một tình huống  
có thể được sử dụng nhiều lần với những tình tiết thêm vào nhằm mở rộng phạm vi kiến thức  
pháp lý có liên quan để sinh viên tìm hiểu. Và dĩ nhiên, những kiến thức mở rộng thêm phải  
phù hợp với nội dung của bài học.  
4. Cách thức sử dụng và giải quyết vấn đề đặt ra trong tình huống điển hình  
Trước khi triển khai tình huống trên lớp, giảng viên có thể đưa nội dung lý thuyết,  
những vấn đề pháp lý liên quan đến giải quyết bài tập tình huống cho sinh viên nghiên cứu  
131  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 48/2021  
hoặc chỉ đưa ra các đề mục nghiên cứu và giới thiệu các nguồn để sinh viên tự tìm và nghiên  
cứu tài liệu trước.  
Cách thức tiến hành như sau:  
Bước 1: Giảng viên giới thiệu tình huống. Tình huống có thể được thể hiện bằng một  
trong số các hình thức như: trình chiếu Powerpoint, in sẵn trên giấy phát cho từng sinh  
viên/nhóm hoặc do sinh viên được phân công đóng vai trước lớp thực hiện. Giảng viên cần  
mô tả kỹ tình huống, đặt ra câu hỏi định hướng về vấn đề cần giải quyết6.  
Bước 2: Sinh viên nghiên cứu và giải quyết vấn đề đặt ra trong tình huống. Giảng viên  
phân chia lớp học thành các nhóm với số lượng mỗi nhóm từ 06 đến 10 sinh viên (tùy theo số  
lượng sinh viên lớp học). Sinh viên nghiên cứu cá nhân đối với bài tập tình huống bằng cách  
đọc kỹ tình huống để nắm bắt tình hình thực tế vụ việc đang diễn ra. Sau đó, các nhóm tiến  
hành thảo luận nhóm, nghiên cứu tình huống để đưa ra các tình tiết mấu chốt trong tình huống,  
mô tả được các vấn đề cần giải quyết và phân tích được nguyên nhân của vấn đề. Từ đó, các  
nhóm căn cứ vào các câu hỏi được đặt ra trong tình huống và cùng nhau thảo luận để tìm ra  
hướng giải quyết hợp lý nhất; khi thảo luận sinh viên cần đưa ra quan điểm của mình về tình  
huống dựa trên cơ sở lý luận từ những quy định của pháp luật gắn liền với những tình tiết, dấu  
hiệu liên quan thể hiện trong tình huống.  
Ở phần này, giảng viên phải ấn định thời gian mà sinh viên phải hoàn thành việc giải  
quyết các vấn đề trong tình huống. Thời gian này tùy vào từng tình huống với tính chất mức  
độ phức tạp khác nhau để giảng viên quy định thời gian giải quyết phù hợp. Việc ấn định thời  
gian giải quyết vấn đề này, giúp sinh viên chủ động và tập trung tư duy giải quyết tình huống.  
Khi xây dựng tình huống, việc định hướng giải quyết vấn đề được giảng viên nêu lên  
một cách cụ thể, rõ ràng, tuy nhiên, trong thực tiễn giảng dạy, định hướng giải quyết vấn đề  
được giảng viên kết luận sau khi sinh viên đưa ra hướng giải quyết của mình đối với tình  
huống. Đối với sinh viên, đây là bước rất quan trọng, quyết định kết quả giải quyết các vấn đề  
của tình huống có chính xác, phù hợp hay không. Kết quả này phụ thuộc vào kiến thức và kỹ  
năng áp dụng quy phạm pháp luật hình sự của sinh viên. Sinh viên phải chỉ ra được căn cứ  
pháp lý dùng để giải quyết tình huống. Căn cứ pháp lý là cơ sở để chứng minh sự nghiên cứu  
một cách nghiêm túc, khoa học và logic đúng pháp luật. Mỗi tình tiết, dấu hiệu có trong vụ án  
mà người học chọn làm mấu chốt để giải quyết tình huống luôn thể hiện sự phù hợp để khẳng  
định vấn đề hoặc không phù hợp để phủ định vấn đề đã được gợi mở trong các câu hỏi liên  
quan đến tình huống. Trên cơ sở căn cứ pháp lý, sinh viên phải tư duy và lập luận theo hướng  
phù hợp và chính xác nhất.  
Bước 3: Sinh viên các nhóm báo cáo kết quả thảo luận. Kết quả thảo luận nhóm được  
viết trên giấy hoặc trình chiếu Powerpoint. Đại diện các nhóm sẽ trình bày kết quả nội dung  
6 Xem thêm: Nguyễn Thị Minh Phượng, Phạm Thị Thúy (tái bản 2020), Cẩm nang phương pháp sư phạm, Nxb  
Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr.192.  
132  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
của nhóm thảo luận. Giảng viên và các nhóm còn lại lắng nghe quan điểm, lập luận và kết quả  
của nhóm báo cáo. Sau đó, các thành viên khác trong nhóm có thể bổ sung thêm và các nhóm  
khác có thể đặt câu hỏi trao đổi với nhóm báo cáo hoặc đưa ra quan điểm phản bác, tranh luận  
với nhóm báo cáo để làm rõ hơn các nội dung và tạo được sự liên kết giữa các nhóm cũng như  
tăng sự hứng thú cho sinh viên.  
Bước 4: Giảng viên kết luận, đánh giá đối với cách tiếp cận và giải quyết vấn đề trong  
tình huống của sinh viên. Giảng viên phải đưa ra sự đánh giá, nhận xét đối với bài làm hoặc  
cách trình bày, lập luận của sinh viên; phải nêu ra những kết quả mà sinh viên đã đạt được và  
chưa đạt được khi giải quyết tình huống. Giảng viên công bố đáp án đối với các câu hỏi đã  
nêu trong tình huống cụ thể, cũng như đưa ra hướng hoàn thiện về kiến thức và kỹ năng của  
sinh viên đối với việc giải quyết vấn đề của tình huống.  
Bên cạnh triển khai tình huống trên lớp với cách thức tiến hành như trên, giảng viên  
cũng có thể giao bài tập tình huống để sinh viên chuẩn bị ở nhà và trình bày trên lớp hoặc  
phân vai để sinh viên thực hiện theo phương pháp đóng vai và phiên tòa giả định.  
Như vậy, trình bày một tình huống cần phải thực hiện theo một trình tự nhất định làm  
nền tảng ban đầu để sinh viên sau khi ra trường có thể áp dụng vào thực tiễn giải quyết các vụ  
án hình sự, đồng thời giúp sinh viên đạt được các kỹ năng cơ bản, đó là: kỹ năng tư duy pháp  
lý, kỹ năng tra cứu văn bản và kỹ năng lập luận.  
5. Kết luận  
Việc xây dựng và sử dụng tình huống trong giảng dạy không phải là vấn đề mới ở Việt  
Nam, nhưng cách thức xây dựng và sử dụng tình huống đó như thế nào là vấn đề đã, đang và  
tiếp tục cần được các nhà khoa học trao đổi, nghiên cứu để tìm ra phương án phù hợp và hiệu  
quả nhất, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo luật ở Việt Nam hiện nay. Với kinh nghiệm  
giảng dạy học phần Luật Hình sự thông qua việc kết hợp sử dụng linh hoạt các tình huống  
điển hình trong quá trình giảng dạy cùng với việc tham khảo ý kiến của một số nhà khoa học,  
chúng tôi cho rằng cần chú trọng đến việc đào tạo các kỹ năng thực hành dựa trên tình huống  
thực tế song song với việc dạy kiến thức luật thực định, giúp người học có cảm giác “trải  
nghiệm” nghề nghiệp ngay tại nhà trường và có khả năng thích ứng với công việc ngay khi  
bắt đầu làm việc.  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2017), Nghị quyết số 03/2017/NQ-  
HĐTP ngày 17/02/2017 về việc công bố bản án, quyết định trên Cổng thông tin điện tử của  
Tòa án.  
2. Nguyễn Thị Thanh Mai (2011), Xây dựng và sử dụng tình huống trong dạy học pháp luật  
ở trường trung học phổ thông, Luận án tiến sĩ Giáo dục học, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam.  
133  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 48/2021  
3. Nguyễn Thị Minh Phượng, Phạm Thị Thúy (tái bản 2020), Cẩm nang phương pháp  
sư phạm, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.  
4. Trần Việt Dũng, Nguyễn Chí Hằng Hải (2014) Áp dụng mô hình phiên tòa giả định  
trong giảng dạy kiến thức và kỹ năng pháp lý cho sinh viên luật, Tạp chí Khoa học pháp lý  
5. Trần Thăng Long (2019), Sử dụng phương pháp giảng dạy tích cực đối với các môn  
chuyên ngành Luật - kinh nghiệm áp dụng cho môn Luật Quốc tế, Tạp chí Khoa học pháp lý  
Việt Nam, số 2 (123).  
6. Trần Thị Ngọc Sương (2010), Một số phương pháp giảng dạy học phần Công pháp  
quốc tế trong chương trình đào tạo ngành Quốc tế học tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại  
học Đà Nẵng, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 5.  
7. Tòa án nhân dân tối cao (2017), Công văn số 144/TANDTC-PC ngày 04/7/2017 về  
việc thi hành Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP.  
bien/, truy cập ngày 10/7/2021.  
134  
pdf 13 trang Thùy Anh 14060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cách thức xây dựng và sử dụng tình huống điển hình trong giảng dạy học phần luật hình sự", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcach_thuc_xay_dung_va_su_dung_tinh_huong_dien_hinh_trong_gia.pdf