Gian lận bảo hiểm nhân thọ và giải pháp phòng, chống gian lận
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
GIAN LẬN BẢO HIỂM NHÂN THỌ
VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG GIAN LẬN
Bạch Thị Nhã Nam*
* GV. Khoa luật, Trường đại học Kinh tế - Luật, Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích những vấn đề liên quan
đến gian lận bảo hiểm nhân thọ và đề xuất kiến nghị hoàn thiện quy định
của pháp luật về chế tài xꢀ lý vi phạm, xây dựng thiết chế chuyên trách
giám sát, ngăn ngừa đꢁng cơ và các ý đꢂ gian lận của các chủ thể tham
gia bảo hiểm; xꢀ lý hiệu quả, kịp thời các hành vi gian lận bảo hiểm đảm
bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ bảo hiểm.
Từ khóa: Gian lận bảo hiểm nhân
thọ, bảo hiểm.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 18/5/2021
: 13/6/2021
: 16/6/2021
Article Infomation:
Abstract:
Within the scope of this article, the author provides an analysis of
questionsrelatedtolifeinsurancefraudandproposesrecommendationsto
improve the legal provisions on sanctions for violations, recommendation
of establishment of a specialized supervision system to supervise and
prevent the motives and fraudulent intentions of the insurers, effectively
and promptly handle acts of insurance fraud to ensure the legitimate
rights and interests of the subjects in the insurance reactions.
Keywords: Fraud on life
insurance, insurance.
Article History:
Received
Edited
: 18 May 2021
: 13 Jun 2021
: 16 Jun 2021
Approved
1. Nhận diện gian lận bảo hiểm nhân thọ
thường hay chi trả sꢃ tiền bảo hiểm đꢃi với
những rủi ro được bảo hiểm tương ứng mức
phí bảo hiểm đã thu. Tuy nhiên, xuất phát từ
lòng tham của con người đꢃi với sꢃ tiền bꢂi
thường hay sꢃ tiền bảo hiểm mà DNBH có
thể chi trả khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra,
không ít người có những hành vi gian dꢃi,
thiếu thiện chí, và trái với thỏa thuận trong
hợp đꢂng nhằm kiếm lợi ích bất hợp pháp
trong quan hệ bảo hiểm. Chính vì vậy, việc
đưa ra định nghĩa và thꢃng nhất quan điểm
về gian lận bảo hiểm nhân thọ (BHNT) có
Kinh doanh bảo hiểm (KDBH) bao gꢂm
cả KDBH nhân thọ, là hoạt đꢁng của doanh
nghiệp bảo hiểm (DNBH) nhằm mục đích
sinh lợi; theo đó, DNBH chấp nhận rủi ro
của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên
mua bảo hiểm (BMBH) đóng phí bảo hiểm
để DNBH trả tiền bảo hiểm cho người thụ
hưởng hoặc bꢂi thường cho người được bảo
hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm1. Như vậy,
khi DNBH thu phí của BMBH thì DNBH
sẽ phải gánh chịu mꢁt mức trách nhiệm bꢂi
1 Khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 đã được sꢀa đổi, bổ sung năm 2010 và năm 2019 (Luật
KDBH).
18
Số 14(438) - T7/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
ý nghĩa quan trọng trong việc phòng, chꢃng
gian lận BHNT hiện nay.
bất hợp pháp khi tham gia vào quan hệ bảo
hiểm (chủ thể có thể là người mua bảo hiểm,
người được bảo hiểm, người thụ hưởng,
DNBH, thậm chí có thể là hành vi gian lận
của đại lý bảo hiểm và doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm). Vậy, những hành vi gian lận
xảy ra liên quan đến các nghĩa vụ pháp lý
ràng buꢁc ở giai đoạn tiền hợp đꢂng, giai
đoạn trước khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, hay
giai đoạn giải quyết khiếu nại bꢂi thường
có khả năng không bị truy cứu trách nhiệm
hình sự, liệu có cꢄn phải áp dụng các chế
tài pháp lý cꢄn thiết khác để ngăn ngừa các
hành vi này?
Dưới góc đꢁ ngôn ngữ học, theo Từ điển
Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, gian lận
được hiểu là “hành vi dꢃi trá, mánh khóe,
lừa lọc”2. Dưới góc đꢁ pháp lý, Luật Kinh
doanh bảo hiểm năm 2014 (Luật KDBH)
chưa quy định thế nào là gian lận bảo hiểm
hay gian lận BHNT. Tuy nhiên, Điều 213
Bꢁ luật Hình sự năm 2015 đã được sꢀa đổi,
bổ sung mꢁt sꢃ điều năm 2017 (BLHS)
quy định về tꢁi gian lận trong KDBH (tꢁi
danh mới được bổ sung). Tꢁi gian lận trong
KDBH được BLHS quy định theo hướng
liệt kê, bao gꢂm các hành vi: a) Thông đꢂng
với người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để
giải quyết bꢂi thường bảo hiểm, trả tiền bảo
hiểm trái pháp luật; b) Giả mạo tài liệu, cꢃ ý
làm sai lệch thông tin để từ chꢃi bꢂi thường,
trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm đã
xảy ra; c) Giả mạo tài liệu, cꢃ ý làm sai lệch
thông tin trong hꢂ sơ yêu cꢄu bꢂi thường,
trả tiền bảo hiểm; d) Tự gây thiệt hại về tài
sản, sức khỏe của mình để hưởng quyền lợi
bảo hiểm.
Trước đây, thuật ngữ trục lợi bảo hiểm
đã xuất hiện trong văn bản dưới luật cũng
hướng đến các hành vi lừa dꢃi, mang tính
chất cꢃ ý, nhằm thu lợi bất chính, có ý
nghĩa khá gꢄn gũi với gian lận bảo hiểm.
Khoản 4 Mục V Thông tư sꢃ 31/2004/TT-
BTC3 của Bꢁ Tài chính hướng dẫn thực
hiện Nghị định sꢃ 118/2003/NĐ-CP về xꢀ
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
KDBH quy định: “Trục lợi bảo hiểm là
hành vi cꢃ ý lừa dꢃi của tổ chức, cá nhân
nhằm thu lợi bất chính khi tham gia bảo
hiểm, bꢂi thường bảo hiểm, trả tiền bảo
hiểm và giải quyết khiếu nại bảo hiểm”.
Tuy nhiên, khái niệm “trục lợi bảo hiểm”
không được tiếp tục đề cập trong các văn
bản pháp luật về bảo hiểm hiện hành. Văn
bản xꢀ phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực KDBH cũng thiếu vắng khái niệm
“gian lận” bảo hiểm mà đề cập đến chế tài
xꢀ phạt đꢃi với hành vi gian dꢃi, giả mạo
tài liệu trong hꢂ sơ yêu cꢄu bꢂi thường, trả
tiền bảo hiểm4. Như vậy, có thể thấy rằng,
Quy định trên hướng đến những hành vi
bất hợp pháp nhằm mục đích chiếm đoạt sꢃ
tiền bảo hiểm từ DNBH, hoặc thụ hưởng
quyền lợi bảo hiểm không chính đáng trong
giai đoạn sau khi sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hành vi gian lận
trong bảo hiểm có thể xảy ra ở bất kỳ giai
đoạn nào của quá trình giao kết, thực hiện
hợp đꢂng hay khi có sự kiện bảo hiểm xảy
ra, hoặc khi tiến hành yêu cꢄu bꢂi thường
mà chủ thể tiến hành nhằm tìm kiếm lợi ích
2 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nxb. Đà Nẵng, 2003, tr.390.
3 Văn bản pháp luật này đã hết hiệu lực vào 01/7/2016.
4 Xem Điều 14 Nghị định sꢃ 98/2013/NĐ-CP về xꢀ phạt đꢃi với hành vi vi phạm các quy định về bꢂi thường
bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm. Nghị định sꢃ 98/2013/NĐ-CP ngày 28/8/2013 của Chính phủ quy định về xꢀ phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ sꢃ đꢃi với hành vi gian lận bảo hiểm
đã được sꢀa đổi, bổ sung năm 2018, 2019.
Số 14(438) - T7/2021
19
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
pháp luật KDBH hiện hành đang bỏ ngỏ
việc xác định thế nào là gian lận bảo hiểm.
Người mua bảo hiểm luôn có xu hướng
cung cấp thông tin theo hướng có lợi cho
mình, với mức phí bảo hiểm thấp nhưng
khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thì lại được
hưởng mức chi trả cao. Ví dụ điển hình
về cung cấp thông tin không chính xác
như: khai sai về tình trạng bệnh lý, nghề
nghiệp, nơi cư trú, đꢁ tuổi của người được
bảo hiểm - các yếu tꢃ có khả năng ảnh
hưởng đến việc đánh giá rủi ro của DNBH
và việc chấp nhận giao kết HĐBH. Đây
là hành vi dẫn đến khá nhiều tranh chấp
trong thực tiễn6.
Theo tác giả, để xác định hành vi nào
là gian lận bảo hiểm cꢄn xem xét các khía
cạnh sau đây:
- Về mục đích của việc gian lận bảo
hiểm: trục lợi cho cá nhân, tổ chức là đꢁng
cơ thúc đẩy cá nhân, tổ chức thực hiện hành
vi gian lận bảo hiểm nhằm thu lợi không
chính đáng;
- Về tính chất của hành vi: hành vi gian
lận được chủ thể thực hiện mꢁt cách cꢃ ý và
có tính chất gian dꢃi nhằm làm cho bên kia
tin rằng đấy là sự thật;
Thứ hai, giả mạo hꢂ sơ, tài liệu yêu cꢄu
bꢂi thường nhằm hưởng quyền lợi bảo
hiểm hoặc nhận chi trả sꢃ tiền bảo hiểm
của DNBH. Hành vi gian lận này có thể
bị xꢀ lý hành chính hoặc bị truy cứu trách
nhiệm hình sự tùy theo mức đꢁ, tính chất
của hành vi. Ví dụ: Người yêu cꢄu giải
quyết quyền lợi bảo hiểm không cung cấp
các thông tin về quá trình điều trị bệnh
trước lúc tꢀ vong, kê khai chung chung
về nguyên nhân tꢀ vong hay kê khai sai
khác thực tế như: chết do bệnh già, đꢁt tꢀ
tại nhà, chết không rõ nguyên nhân, chết
không có ai chứng kiến; hoặc các thông tin
về rủi ro xảy ra và thông tin về quá trình
cấp cứu, điều trị không logic giữa các giấy
tờ và chứng từ được cung cấp; hoặc yêu
cꢄu bꢂi thường cho các rủi ro xảy ra trong
hoàn cảnh đặc biệt: tự ngã, tai nạn xảy ra
trong đêm không có mặt của nhân chứng
nào… Hành vi gian lận cũng có thể diễn ra
trong trường hợp sau khi sự kiện bảo hiểm
- Về thời điểm xuất hiện: hành vi gian
lận có thể xuất hiện ở bất cứ giai đoạn nào
của mꢃi quan hệ bảo hiểm (đàm phán, giao
kết hợp đꢂng bảo hiểm, bꢂi thường bảo
hiểm, trả tiền bảo hiểm, giải quyết khiếu nại
bảo hiểm).
Tóm lại, có thể khẳng định rằng gian
lận bảo hiểm là hành vi cꢃ ý gian dꢃi của
các chủ thể tham gia vào quan hệ bảo hiểm,
nhằm tìm kiếm mꢁt lợi ích vật chất mà lẽ ra
mình không được hưởng hoặc nhằm hưởng
mꢁt lợi ích vật chất lớn hơn lợi ích mà mình
được hưởng mꢁt cách hợp pháp.
2. Một số hành vi gian lận trong bảo hiểm
nhân thọ trên thực tiễn
Thứ nhất, hành vi gian lận khi khai báo
không chính xác thông tin yêu cꢄu bảo
hiểm, do tình trạng thông tin bất cân xứng
giữa người mua bảo hiểm và DNBH5.
5 Xem thêm Bạch Thị Nhã Nam, Trách nhiệm cung cấp thông tin trong hợp đồng bảo hiểm giai đoạn tiền hợp
đồng, Tạp chí Khoa học Đại học Quꢃc gia Hà Nꢁi, Luật học, Vol. 36, Sꢃ 3 (2020) tr.74-84, https://js.vnu.edu.
vn/LS/article/view/4303.
6 Xem ví dụ tại Bản án sꢃ 688/2018/DS-PT ngày 18/7/2018 của Tòa án nhân dân Thành phꢃ Hꢂ Chí Minh về
tranh chấp hợp đꢂng bảo hiểm. Trong tranh chấp này, người được bảo hiểm - bà N khai không có gì bất thường
về sức khỏe và không đề cập gì về việc điều trị suy thận mãn giai đoạn cuꢃi, bà cũng trả lời không mắc bệnh
cao huyết áp hoặc bệnh thận, mặc dù bà đã điều trị căn bệnh này, trong đơn yêu cꢄu bảo hiểm của bà N đều xác
định bà không có bệnh cao huyết áp hay bệnh thận mặc dù bà bị bệnh suy thận mãn mới điều trị.
20
Số 14(438) - T7/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
xảy ra gây thiệt hại như người đã bị tꢀ
vong, thương tật mới tham gia bảo hiểm.
Trong trường hợp này, người tham gia bảo
hiểm có thể cấu kết với nhân viên giám
định, bác sĩ, cơ sở khám, chữa bệnh hoặc
người làm chứng khai khꢃng. Hoặc trường
hợp người được bảo hiểm dù tꢀ vong trên
giường bệnh nhưng vẫn có chứng từ xác
nhận người được bảo hiểm tꢀ vong do tai
nạn giao thông để được hưởng quyền lợi
bảo hiểm hỗ trợ cao hơn đang xảy ra khá
phổ biến tại Việt Nam, từ đó làm nảy sinh
những vấn đề không lành mạnh trong đánh
giá rủi ro, giám định bꢂi thường7.
cấp thông tin của BMBH trong quá trình
thực hiện yêu cꢄu bꢂi thường, cꢄn sꢀa đổi
các chế tài phù hợp, tránh sự chꢂng chéo
không rõ ràng như hiện tại.
Cụ thể, cꢄn phân biệt rõ giữa hành vi
lừa dꢃi tại điểm d khoản 1 Điều 22 Luật
KDBH với hành vi cꢃ ý cung cấp thông tin
sai sự thật tại điểm a khoản 2 Điều 19 Luật
KDBH. Bởi lẽ, tính chất của việc lừa dꢃi và
cꢃ ý cung cấp thông tin sai sự thật là tương
tự nhau. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành quy
định hậu quả pháp lý của hai hành vi này
là khác nhau. Do đó, để đảm bảo tính nhất
quán trong quy định của pháp luật về nghĩa
vụ cung cấp thông tin, cꢄn sꢀa đổi điểm b
khoản 2 Điều 18 Luật KDBH theo hướng
BMBH có nghĩa vụ: “Kê khai đꢄy đủ, trung
thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp đꢂng
bảo hiểm theo yêu cꢄu của doanh nghiệp
bảo hiểm theo quy định tại Điều 19 của
Luật này”; và cụ thể hóa trách nhiệm cung
cấp thông tin của BMBH tại Điều 19 Luật
KDBH: “Khi giao kết hợp đꢂng bảo hiểm,
bên mua bảo hiểm phải cung cấp đꢄy đủ và
chính xác thông tin đã biết hoặc phải biết
về đꢃi tượng bảo hiểm cho doanh nghiệp
bảo hiểm theo yêu cꢄu của doanh nghiệp
bảo hiểm”.
Thứ ba, người được bảo hiểm dàn dựng
hiện trường giả, hoặc thậm chí cꢃ ý tự gây
thiệt hại về tính mạng của mình để hưởng
quyền lợi bảo hiểm, hay giết người khác, dàn
dựng hiện trường giả. Gꢄn đây, tại tỉnh Đắk
Nông, có mꢁt vụ án giết người đꢃt xác mục
đích trục lợi tiền bảo hiểm đặc biệt nghiêm
trọng, trong đó người được bảo hiểm lên kế
hoạch: đꢄu tiên là đi đào mꢁ tìm xác người
để ngụy tạo hiện trường giả nhưng bị thất
bại, nên sau đó sát hại anh Trꢄn Nho Vương
là em họ bên vợ của Minh, rꢂi đꢃt xác thế
thân với âm mưu trục lợi sꢃ tiền bảo hiểm8.
3. Giải pháp phòng, chống gian lận bảo
hiểm nhân thọ
Để đảm bảo quyền và lợi ích của các
bên tham gia bảo hiểm, cꢄn quy định linh
hoạt các chế tài dân sự theo mức đꢁ vi
phạm đꢃi với nghĩa vụ cung cấp thông tin.
Đꢃi với những thông tin được cung cấp bởi
BMBH trước khi giao kết hợp đꢂng, nếu
DNBH chứng minh được những thông tin
đó là do BMBH cꢃ ý cung cấp sai sự thật
3.1. Hoàn thiện chế tài xử lý hành vi
gian lận bảo hiểm
Thứ nhất, đꢃi với hành vi gian lận khi
khai báo thông tin yêu cꢄu bảo hiểm ở giai
đoạn tiền hợp đꢂng, hay gian lận trong việc
thực hiện các quy định về nghĩa vụ cung
7
vn/tai-chinh-kinh-doanh/truc-loi-bao-hiem-mua-bao-hiem-cho-nguoi-da-chet-620349.html, truy cập ngày
20/5/2021.
8
Trang thông tin điện tꢀ Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông, “Tòa án nhân dân xét xử sơ thẩm vụ án
Đỗ Văn Minh - giết người, đốt xác”, https://daknong.toaan.gov.vn/webcenter/portal/daknong/chitiettin?
dDocName=TAND157756, truy cập ngày 20/5/2021.
Số 14(438) - T7/2021
21
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
thì hợp đꢂng phải được tuyên vô hiệu; nếu
việc cung cấp thông tin sai sự thật sau khi
giao kết hợp đꢂng hay trong quá trình thực
hiện hợp đꢂng nếu DNBH phát hiện được
việc này thì DNBH có quyền đơn phương
đình chỉ thực hiện hợp đꢂng và chỉ hoàn
trả lại mꢁt phꢄn phí bảo hiểm cho khoảng
thời gian chưa được bảo hiểm9.
mức đꢁ tổn thất so với thực tế đều được
xem là các hành vi gian lận. Luật Bảo
hiểm năm 1995 của Cꢁng hòa nhân dân
Trung Hoa quy định, DNBH có quyền
hủy hợp đꢂng, không giải quyết yêu cꢄu
bảo hiểm và không hoàn trả phí bảo hiểm
do hành vi gian lận của người tham gia
bảo hiểm12. Khi xảy ra sự kiện được bảo
hiểm mà BMBH, người được bảo hiểm
hoặc người thụ hưởng bịa đặt mꢁt lý do
sai dẫn đến sự kiện bảo hiểm hoặc phóng
đại mức đꢁ thiệt hại bằng cách sꢀ dụng
bằng chứng giả mạo hoặc thay đổi tài liệu
bằng chứng khác, thì DNBH sẽ không
chịu trách nhiệm bꢂi thường hoặc thanh
toán tiền bảo hiểm cho phꢄn bịa đặt của
yêu cꢄu bꢂi thường.
Ở giai đoạn sự kiện bảo hiểm xảy ra,
xuất phát từ mục đích thu lợi bất chính
nên việc người tham gia bảo hiểm vi
phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin cũng
trở nên rất phổ biến. Tuy nhiên, đây là
mꢁt khoảng trꢃng trong Luật KDBH Việt
Nam. Tham khảo quy định của Luật Bảo
hiểm năm 1995 của Cꢁng hòa nhân dân
Trung Hoa10, Luật đã liệt kê những hành
vi gian lận ở giai đoạn này, bao gꢂm: bịa
đặt về tổn thất hoặc tạo lập hồ sơ giả về
sự kiện bảo hiểm; hành vi cố ý gian lận
để gây ra sự kiện bảo hiểm; và phóng đại
tổn thất so với thực tế11. Những trường
hợp BMBH cꢃ ý gian dꢃi về sự kiện bảo
hiểm, tạo lập hꢂ sơ giả, kê khai khꢃng
Mꢁt khi DNBH chứng minh được hành
vi gian lận của người tham gia bảo hiểm
thì có quyền hủy hợp đꢂng, không chi trả
sꢃ tiền bảo hiểm mà không nhất thiết phải
yêu cꢄu Tòa án tuyên bꢃ hợp đꢂng vô hiệu,
quy định này đã tạo ra mꢁt cơ chế xꢀ lý
linh hoạt cho DNBH, giúp giảm thiểu sự
9
Đỗ Văn Đại, “Một số vấn đề pháp lý phát sinh trong thực tiễn về bảo hiểm”, Tạp chí Khoa học pháp lý,
sꢃ 7-2018, tr.53-62.
10
Luật Bảo hiểm năm 1995 đã được sꢀa đổi năm 2002, 2009, 2014, 2015 của Cꢁng hòa nhân dân Trung
People%E2%80%99s-Republic-of-ChinaRevision-2015.pdf, truy cập ngày 20/5/2021.
11
Điều 27 Luật Bảo hiểm năm 1995 đã được sꢀa đổi năm 2002, 2009, 2014, 2015 của Cꢁng hòa nhân dân
Trung Hoa. “Where an insured event has not occurred but the insured party or the beneficiary claimed falsely
that an insured event has occurred and made a claim for compensation or payment of insurance monies to the
insurer, the insurer shall have the right to rescind the contract, and the premium shall not be refunded.
Where the policyholder or the insured party intentionally creates an insured event, the insurer shall have the
right to rescind the contract, and shall not be liable to make compensation or payment of insurance monies;
except where stipulated in Article 43 of this Law, the premium shall not be refunded.
Upon occurrence of an insured event, where the policyholder, the insured party or the beneficiary fabricates a
false reason for the event or exaggerates the extent of damages using forged or altered proof or materials or
other evidence, the insurer shall not be liable to make compensation or payment of insurance monies for the
fabricated part of the claim.
Where the policyholder, the insured party or the beneficiary has committed any of the acts stipulated in the
three preceding paragraphs and resulted in payment of insurance monies or expenses by the insurer, the
policyholder, the insured party or the beneficiary shall return the monies or make compensation”.
12
Điều 27 Luật Bảo hiểm năm 1995 đã được sꢀa đổi năm 2002, 2009, 2014, 2015 của Cꢁng hòa nhân dân
Trung Hoa.
22
Số 14(438) - T7/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
tꢃn kém về thời gian và chi phí tꢃ tụng có
thể phát sinh, đꢂng thời quy định trên cũng
xem xét đến mức đꢁ tương xứng của sự vi
phạm và chế tài khi chỉ xem xét loại trừ
việc chi trả cho những phꢄn yêu cꢄu bꢂi
thường quá mức, phóng đại hay không có
căn cứ chứ không miễn hoàn toàn nghĩa
vụ bꢂi thường và chi trả sꢃ tiền bảo hiểm.
Ngoài ra, nếu như BMBH, người được bảo
hiểm, người thụ hưởng thực hiện bất kỳ
hành vi gian lận nào nêu trên, dẫn đến việc
được DNBH thanh toán tiền bảo hiểm, thì
khi DNBH phát hiện hành vi vi phạm này,
người thụ hưởng có trách nhiệm hoàn trả
lại sꢃ tiền đó cho DNBH13. Do đó, Luật
KDBH Việt Nam cꢄn xem xét bổ sung các
tình huꢃng gian lận ở giai đoạn sự kiện
bảo hiểm xảy ra cũng như xây dựng chế tài
pháp lý tương ứng.
Thứ ba, sꢀa đổi BLHS theo hướng xác
định cụ thể các hành vi không kê khai trung
thực, đánh tráo tài sản nhằm trục lợi, tạo
dựng hiện trường giả, lập hꢂ sơ khꢃng, lập
hꢂ sơ không trung thực... phải chịu trách
nhiệm hình sự14.
3.2. Thành lập cơ quan chuyên trách
giám sát, ngăn ngừa gian lận bảo hiểm
Song song với việc hoàn thiện chế tài
xꢀ lý hành vi gian lận BHNT, thì việc
thành lập các cơ quan chuyên trách phòng,
chꢃng gian lận bảo hiểm là vấn đề đáng
được quan tâm.
Kinh nghiệm ở các nước cho thấy, các
cơ quan chuyên trách giám sát, ngăn ngừa
gian lận bảo hiểm đóng vai trò quan trọng
trong công tác phòng, chꢃng gian lận bảo
hiểm. Ví dụ, Canada thành lập Cục phòng,
chꢃng tꢁi phạm bảo hiểm (The Insurance
Crime Prevention Bureau) từ năm 1973
chuyên trách điều tra các yêu cꢄu gian
lận bảo hiểm và cung cấp thông tin ngăn
ngừa tổn thất trong bảo hiểm15. Bên cạnh
đó, Canada còn thành lập Liên đoàn các
tổ chức chꢃng gian lận bảo hiểm vào năm
1994, bao gꢂm các tổ chức chꢃng tꢁi phạm,
các công ty bảo hiểm, cảnh sát, luật sư và
khách hàng. Liên đoàn các tổ chức chꢃng
gian lận bảo hiểm đã đưa ra các hướng dẫn
cụ thể cho các DNBH về các biện pháp đấu
tranh chꢃng tꢁi phạm bảo hiểm. Ngoài ra,
Thứ hai, sꢀa đổi, bổ sung quy định về
chế tài hành chính cho các hành vi gian lận
trong BHNT và tăng mức xꢀ phạt cao hơn
mức quy định hiện tại để tạo tính răn đe và
phòng ngừa; bổ sung quy định xꢀ lý đꢃi với
hành vi gian lận như giả mạo tài liệu, cꢃ ý
làm sai lệch thông tin trong hꢂ sơ yêu cꢄu
bảo hiểm, trong giai đoạn thực hiện BHNT;
tăng mức xꢀ phạt vi phạm hành chính lên
nhiều lꢄn để tương xứng với mức đꢁ thiệt
hại mà xã hꢁi và các chủ thể trong quan hệ
bảo hiểm phải gánh chịu vì các đꢃi tượng
gian lận thường nhắm đến sꢃ tiền bảo hiểm
lên đến hàng chục tỷ đꢂng, và công tác điều
tra, xác minh hành vi vi phạm gặp nhiều
khó khăn.
13
Điều 27 Luật Bảo hiểm năm 1995 đã được sꢀa đổi năm 2002, 2009, 2014, 2015 của Cꢁng hòa nhân dân
Trung Hoa.
14 Doãn Hꢂng Nhung, “Một số ý kiến hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn trục lợi bảo hiểm trong
kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học, Đại học Quꢃc gia Hà Nꢁi: Luật học, sꢃ 3/2014, tr.39.
15 The Insurance Crime Prevention Bureau: “A Canada wide organization supported by property and casualty
insurers which investigates fraudulent insurance claims and provides loss prevention information”, https://
Số 14(438) - T7/2021
23
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
ở Canada còn có mô hình Hiệp hꢁi các
nhà đại lý BHNT. Đây là mô hình tự quản
đóng vai trò hướng dẫn, giám sát các đại
lý BHNT thông qua các hoạt đꢁng như:
ban hành các quy định, quy tắc, chuẩn mực
hoạt đꢁng và đạo đức cho các nhà đại lý
bảo hiểm trên toàn lãnh thổ quꢃc gia. Các
quy định được ban hành dựa trên cơ chế
tự nguyện và đꢂng thuận nên đã tạo cơ sở,
tiền đề cho việc triển khai, tuân thủ thực
hiện các nguyên tắc, chuẩn mực, quy định
được chấp nhận chung. Chính hiệp hꢁi này
sẽ thiết lập cơ chế quản lý, giám sát riêng
để đảm bảo các đại lý tuân thủ, thực hiện
đꢄy đủ, hoạt đꢁng phù hợp với quy định,
quy tắc và chuẩn mực chung. Hoạt đꢁng
của tổ chức này đã góp phꢄn giảm bớt gánh
nặng cho cơ quan quản lý nhà nước. Sự can
thiệp của cơ quan quản lý nhà nước về bảo
hiểm chỉ dừng lại ở việc tham gia, cho ý
kiến đꢃi với các quy định, quy tắc, chuẩn
mực mà các hiệp hꢁi ban hành. Sự giám
sát, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước
đꢃi với thị trường bảo hiểm được thực hiện
song song với việc tự giám sát, kiểm tra
của hiệp hꢁi nên đã góp phꢄn ổn định, đảm
bảo tính lành mạnh và tăng hiệu quả trong
lĩnh vực KDBH.
trong lĩnh vực gian lận bảo hiểm có trình
đꢁ, giàu kinh nghiệm, khả năng phá án tꢃt,
SFO đã trở thành cánh tay đắc lực cho các
hãng bảo hiểm Anh trong việc truy tꢃ tꢁi
phạm gian lận bảo hiểm.
Ở nước ta hiện nay, các hành vi gian lận
trong BHNT thường do DNBH phát hiện;
trong sꢃ đó, có trường hợp bị phát hiện nhưng
lại không bị xꢀ lý, mà còn được DNBH chấp
nhận chi trả bảo hiểm. Nguyên nhân là do
công tác thu thập, chứng minh người tham
gia bảo hiểm có hành vi cꢃ ý khai sai thông
tin, tự gây thiệt hại về sức khỏe của mình,
hay cấu kết với các bên liên quan để được
hưởng quyền lợi bảo hiểm là rất khó khăn,
nhất là khi DNBH không có sự hỗ trợ cꢄn
thiết từ phía người dân, các cơ quan nhà
nước. Bên cạnh đó, do chúng ta hiện nay
chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu chung
về khách hàng, những trường hợp gian lận
bảo hiểm nên các DNBH thường không thể
chia sẻ thông tin với nhau. Mặt khác, nhiều
DNBH lo ngại việc kiện tụng về các hành vi
gian lận bảo hiểm sẽ ảnh hưởng đến uy tín
của mình hoặc chi phí bỏ ra sẽ tꢃn kém hơn.
Chính vì vậy, nhiều vụ gian lận trong BHNT
xảy ra mà không được xꢀ lý, gây thiệt hại
cho DNBH và làm giảm niềm tin của người
dân đꢃi với BHNT. Trong điều kiện đó, sự
can thiệp của cơ quan quản lý nhà nước bằng
việc thành lập mꢁt cơ quan chꢃng gian lận
bảo hiểm là thực sự cꢄn thiết và cấp thiết.
Việc thành lập cơ quan chꢃng gian lận bảo
hiểm sẽ là mꢁt giải pháp hiệu quả trong công
tác phòng, chꢃng gian lận bảo hiểm và tạo
tính an toàn, lành mạnh trong môi trường
Tại Vương quꢃc Anh, năm 1988, Văn
phòng chꢃng trục lợi bảo hiểm nghiêm
trọng (The Serious Fraud Office-SFO)
được thành lập. Cho đến nay, đây là cơ
quan chuyên trách xꢀ lý các hành vi gian
lận nghiêm trọng hoặc phức tạp trong lĩnh
vực bảo hiểm16. Với việc sꢀ dụng công
nghệ tiên tiến trong việc điều tra và truy tꢃ,
tập trung lực lượng điều tra viên và luật sư
KDBH tại Việt Nam
16 Trang web chính thức của Serious Fraud Office: https://www.sfo.gov.uk/, truy cập ngày 20/5/2021.
24
Số 14(438) - T7/2021
Bạn đang xem tài liệu "Gian lận bảo hiểm nhân thọ và giải pháp phòng, chống gian lận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
gian_lan_bao_hiem_nhan_tho_va_giai_phap_phong_chong_gian_lan.pdf

