Gian lận bảo hiểm nhân thọ và giải pháp phòng, chống gian lận

BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
GIAN LẬN BẢO HIỂM NHÂN THỌ  
VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG GIAN LẬN  
Bạch Thị Nhã Nam*  
* GV. Khoa luật, Trường đại học Kinh tế - Luật, Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích những vấn đề liên quan  
đến gian lận bảo hiểm nhân thọ và đề xuất kiến nghị hoàn thiện quy định  
của pháp luật về chế tài xꢀ lý vi phạm, xây dựng thiết chế chuyên trách  
giám sát, ngăn ngừa đꢁng cơ và các ý đꢂ gian lận của các chủ thể tham  
gia bảo hiểm; xꢀ lý hiệu quả, kịp thời các hành vi gian lận bảo hiểm đảm  
bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ bảo hiểm.  
Từ khóa: Gian lận bảo hiểm nhân  
thọ, bảo hiểm.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 18/5/2021  
: 13/6/2021  
: 16/6/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Within the scope of this article, the author provides an analysis of  
questionsrelatedtolifeinsurancefraudandproposesrecommendationsto  
improve the legal provisions on sanctions for violations, recommendation  
of establishment of a specialized supervision system to supervise and  
prevent the motives and fraudulent intentions of the insurers, effectively  
and promptly handle acts of insurance fraud to ensure the legitimate  
rights and interests of the subjects in the insurance reactions.  
Keywords: Fraud on life  
insurance, insurance.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 18 May 2021  
: 13 Jun 2021  
: 16 Jun 2021  
Approved  
1. Nhận diện gian lận bảo hiểm nhân thọ  
thường hay chi trả sꢃ tiền bảo hiểm đꢃi với  
những rủi ro được bảo hiểm tương ứng mức  
phí bảo hiểm đã thu. Tuy nhiên, xuất phát từ  
lòng tham của con người đꢃi với sꢃ tiền bꢂi  
thường hay sꢃ tiền bảo hiểm mà DNBH có  
thể chi trả khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra,  
không ít người có những hành vi gian dꢃi,  
thiếu thiện chí, và trái với thỏa thuận trong  
hợp đꢂng nhằm kiếm lợi ích bất hợp pháp  
trong quan hệ bảo hiểm. Chính vì vậy, việc  
đưa ra định nghĩa và thꢃng nhất quan điểm  
về gian lận bảo hiểm nhân thọ (BHNT) có  
Kinh doanh bảo hiểm (KDBH) bao gꢂm  
cả KDBH nhân thọ, là hoạt đꢁng của doanh  
nghiệp bảo hiểm (DNBH) nhằm mục đích  
sinh lợi; theo đó, DNBH chấp nhận rủi ro  
của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên  
mua bảo hiểm (BMBH) đóng phí bảo hiểm  
để DNBH trả tiền bảo hiểm cho người thụ  
hưởng hoặc bꢂi thường cho người được bảo  
hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm1. Như vậy,  
khi DNBH thu phí của BMBH thì DNBH  
sẽ phải gánh chịu mꢁt mức trách nhiệm bꢂi  
1 Khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 đã được sꢀa đổi, bổ sung năm 2010 và năm 2019 (Luật  
KDBH).  
18  
Số 14(438) - T7/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
ý nghĩa quan trọng trong việc phòng, chꢃng  
gian lận BHNT hiện nay.  
bất hợp pháp khi tham gia vào quan hệ bảo  
hiểm (chủ thể có thể là người mua bảo hiểm,  
người được bảo hiểm, người thụ hưởng,  
DNBH, thậm chí có thể là hành vi gian lận  
của đại lý bảo hiểm và doanh nghiệp môi  
giới bảo hiểm). Vậy, những hành vi gian lận  
xảy ra liên quan đến các nghĩa vụ pháp lý  
ràng buꢁc ở giai đoạn tiền hợp đꢂng, giai  
đoạn trước khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, hay  
giai đoạn giải quyết khiếu nại bꢂi thường  
có khả năng không bị truy cứu trách nhiệm  
hình sự, liệu có cꢄn phải áp dụng các chế  
tài pháp lý cꢄn thiết khác để ngăn ngừa các  
hành vi này?  
Dưới góc đꢁ ngôn ngữ học, theo Từ điển  
Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, gian lận  
được hiểu là “hành vi dꢃi trá, mánh khóe,  
lừa lọc”2. Dưới góc đꢁ pháp lý, Luật Kinh  
doanh bảo hiểm năm 2014 (Luật KDBH)  
chưa quy định thế nào là gian lận bảo hiểm  
hay gian lận BHNT. Tuy nhiên, Điều 213  
Bꢁ luật Hình sự năm 2015 đã được sꢀa đổi,  
bổ sung mꢁt sꢃ điều năm 2017 (BLHS)  
quy định về tꢁi gian lận trong KDBH (tꢁi  
danh mới được bổ sung). Tꢁi gian lận trong  
KDBH được BLHS quy định theo hướng  
liệt kê, bao gꢂm các hành vi: a) Thông đꢂng  
với người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để  
giải quyết bꢂi thường bảo hiểm, trả tiền bảo  
hiểm trái pháp luật; b) Giả mạo tài liệu, cꢃ ý  
làm sai lệch thông tin để từ chꢃi bꢂi thường,  
trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm đã  
xảy ra; c) Giả mạo tài liệu, cꢃ ý làm sai lệch  
thông tin trong hꢂ sơ yêu cꢄu bꢂi thường,  
trả tiền bảo hiểm; d) Tự gây thiệt hại về tài  
sản, sức khỏe của mình để hưởng quyền lợi  
bảo hiểm.  
Trước đây, thuật ngữ trục lợi bảo hiểm  
đã xuất hiện trong văn bản dưới luật cũng  
hướng đến các hành vi lừa dꢃi, mang tính  
chất cꢃ ý, nhằm thu lợi bất chính, có ý  
nghĩa khá gꢄn gũi với gian lận bảo hiểm.  
Khoản 4 Mục V Thông tư sꢃ 31/2004/TT-  
BTC3 của Bꢁ Tài chính hướng dẫn thực  
hiện Nghị định sꢃ 118/2003/NĐ-CP về xꢀ  
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực  
KDBH quy định: “Trục lợi bảo hiểm là  
hành vi cꢃ ý lừa dꢃi của tổ chức, cá nhân  
nhằm thu lợi bất chính khi tham gia bảo  
hiểm, bꢂi thường bảo hiểm, trả tiền bảo  
hiểm và giải quyết khiếu nại bảo hiểm”.  
Tuy nhiên, khái niệm “trục lợi bảo hiểm”  
không được tiếp tục đề cập trong các văn  
bản pháp luật về bảo hiểm hiện hành. Văn  
bản xꢀ phạt vi phạm hành chính trong lĩnh  
vực KDBH cũng thiếu vắng khái niệm  
“gian lận” bảo hiểm mà đề cập đến chế tài  
xꢀ phạt đꢃi với hành vi gian dꢃi, giả mạo  
tài liệu trong hꢂ sơ yêu cꢄu bꢂi thường, trả  
tiền bảo hiểm4. Như vậy, có thể thấy rằng,  
Quy định trên hướng đến những hành vi  
bất hợp pháp nhằm mục đích chiếm đoạt sꢃ  
tiền bảo hiểm từ DNBH, hoặc thụ hưởng  
quyền lợi bảo hiểm không chính đáng trong  
giai đoạn sau khi sự kiện bảo hiểm xảy ra.  
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hành vi gian lận  
trong bảo hiểm có thể xảy ra ở bất kỳ giai  
đoạn nào của quá trình giao kết, thực hiện  
hợp đꢂng hay khi có sự kiện bảo hiểm xảy  
ra, hoặc khi tiến hành yêu cꢄu bꢂi thường  
mà chủ thể tiến hành nhằm tìm kiếm lợi ích  
2 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nxb. Đà Nẵng, 2003, tr.390.  
3 Văn bản pháp luật này đã hết hiệu lực vào 01/7/2016.  
4 Xem Điều 14 Nghị định sꢃ 98/2013/NĐ-CP về xꢀ phạt đꢃi với hành vi vi phạm các quy định về bꢂi thường  
bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm. Nghị định sꢃ 98/2013/NĐ-CP ngày 28/8/2013 của Chính phủ quy định về xꢀ phạt  
vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ sꢃ đꢃi với hành vi gian lận bảo hiểm  
đã được sꢀa đổi, bổ sung năm 2018, 2019.  
Số 14(438) - T7/2021  
19  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
pháp luật KDBH hiện hành đang bỏ ngỏ  
việc xác định thế nào là gian lận bảo hiểm.  
Người mua bảo hiểm luôn có xu hướng  
cung cấp thông tin theo hướng có lợi cho  
mình, với mức phí bảo hiểm thấp nhưng  
khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thì lại được  
hưởng mức chi trả cao. Ví dụ điển hình  
về cung cấp thông tin không chính xác  
như: khai sai về tình trạng bệnh lý, nghề  
nghiệp, nơi cư trú, đꢁ tuổi của người được  
bảo hiểm - các yếu tꢃ có khả năng ảnh  
hưởng đến việc đánh giá rủi ro của DNBH  
và việc chấp nhận giao kết HĐBH. Đây  
là hành vi dẫn đến khá nhiều tranh chấp  
trong thực tiễn6.  
Theo tác giả, để xác định hành vi nào  
là gian lận bảo hiểm cꢄn xem xét các khía  
cạnh sau đây:  
- Về mục đích của việc gian lận bảo  
hiểm: trục lợi cho cá nhân, tổ chức là đꢁng  
cơ thúc đẩy cá nhân, tổ chức thực hiện hành  
vi gian lận bảo hiểm nhằm thu lợi không  
chính đáng;  
- Về tính chất của hành vi: hành vi gian  
lận được chủ thể thực hiện mꢁt cách cꢃ ý và  
có tính chất gian dꢃi nhằm làm cho bên kia  
tin rằng đấy là sự thật;  
Thứ hai, giả mạo hꢂ sơ, tài liệu yêu cꢄu  
bꢂi thường nhằm hưởng quyền lợi bảo  
hiểm hoặc nhận chi trả sꢃ tiền bảo hiểm  
của DNBH. Hành vi gian lận này có thể  
bị xꢀ lý hành chính hoặc bị truy cứu trách  
nhiệm hình sự tùy theo mức đꢁ, tính chất  
của hành vi. Ví dụ: Người yêu cꢄu giải  
quyết quyền lợi bảo hiểm không cung cấp  
các thông tin về quá trình điều trị bệnh  
trước lúc tꢀ vong, kê khai chung chung  
về nguyên nhân tꢀ vong hay kê khai sai  
khác thực tế như: chết do bệnh già, đꢁt tꢀ  
tại nhà, chết không rõ nguyên nhân, chết  
không có ai chứng kiến; hoặc các thông tin  
về rủi ro xảy ra và thông tin về quá trình  
cấp cứu, điều trị không logic giữa các giấy  
tờ và chứng từ được cung cấp; hoặc yêu  
cꢄu bꢂi thường cho các rủi ro xảy ra trong  
hoàn cảnh đặc biệt: tự ngã, tai nạn xảy ra  
trong đêm không có mặt của nhân chứng  
nào… Hành vi gian lận cũng có thể diễn ra  
trong trường hợp sau khi sự kiện bảo hiểm  
- Về thời điểm xuất hiện: hành vi gian  
lận có thể xuất hiện ở bất cứ giai đoạn nào  
của mꢃi quan hệ bảo hiểm (đàm phán, giao  
kết hợp đꢂng bảo hiểm, bꢂi thường bảo  
hiểm, trả tiền bảo hiểm, giải quyết khiếu nại  
bảo hiểm).  
Tóm lại, có thể khẳng định rằng gian  
lận bảo hiểm là hành vi cꢃ ý gian dꢃi của  
các chủ thể tham gia vào quan hệ bảo hiểm,  
nhằm tìm kiếm mꢁt lợi ích vật chất mà lẽ ra  
mình không được hưởng hoặc nhằm hưởng  
mꢁt lợi ích vật chất lớn hơn lợi ích mà mình  
được hưởng mꢁt cách hợp pháp.  
2. Một số hành vi gian lận trong bảo hiểm  
nhân thọ trên thực tiễn  
Thứ nhất, hành vi gian lận khi khai báo  
không chính xác thông tin yêu cꢄu bảo  
hiểm, do tình trạng thông tin bất cân xứng  
giữa người mua bảo hiểm và DNBH5.  
5 Xem thêm Bạch Thị Nhã Nam, Trách nhiệm cung cấp thông tin trong hợp đồng bảo hiểm giai đoạn tiền hợp  
đồng, Tạp chí Khoa học Đại học Quꢃc gia Hà Nꢁi, Luật học, Vol. 36, Sꢃ 3 (2020) tr.74-84, https://js.vnu.edu.  
vn/LS/article/view/4303.  
6 Xem ví dụ tại Bản án sꢃ 688/2018/DS-PT ngày 18/7/2018 của Tòa án nhân dân Thành phꢃ Hꢂ Chí Minh về  
tranh chấp hợp đꢂng bảo hiểm. Trong tranh chấp này, người được bảo hiểm - bà N khai không có gì bất thường  
về sức khỏe và không đề cập gì về việc điều trị suy thận mãn giai đoạn cuꢃi, bà cũng trả lời không mắc bệnh  
cao huyết áp hoặc bệnh thận, mặc dù bà đã điều trị căn bệnh này, trong đơn yêu cꢄu bảo hiểm của bà N đều xác  
định bà không có bệnh cao huyết áp hay bệnh thận mặc dù bà bị bệnh suy thận mãn mới điều trị.  
20  
Số 14(438) - T7/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
xảy ra gây thiệt hại như người đã bị tꢀ  
vong, thương tật mới tham gia bảo hiểm.  
Trong trường hợp này, người tham gia bảo  
hiểm có thể cấu kết với nhân viên giám  
định, bác sĩ, cơ sở khám, chữa bệnh hoặc  
người làm chứng khai khꢃng. Hoặc trường  
hợp người được bảo hiểm dù tꢀ vong trên  
giường bệnh nhưng vẫn có chứng từ xác  
nhận người được bảo hiểm tꢀ vong do tai  
nạn giao thông để được hưởng quyền lợi  
bảo hiểm hỗ trợ cao hơn đang xảy ra khá  
phổ biến tại Việt Nam, từ đó làm nảy sinh  
những vấn đề không lành mạnh trong đánh  
giá rủi ro, giám định bꢂi thường7.  
cấp thông tin của BMBH trong quá trình  
thực hiện yêu cꢄu bꢂi thường, cꢄn sꢀa đổi  
các chế tài phù hợp, tránh sự chꢂng chéo  
không rõ ràng như hiện tại.  
Cụ thể, cꢄn phân biệt rõ giữa hành vi  
lừa dꢃi tại điểm d khoản 1 Điều 22 Luật  
KDBH với hành vi cꢃ ý cung cấp thông tin  
sai sự thật tại điểm a khoản 2 Điều 19 Luật  
KDBH. Bởi lẽ, tính chất của việc lừa dꢃi và  
cꢃ ý cung cấp thông tin sai sự thật là tương  
tự nhau. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành quy  
định hậu quả pháp lý của hai hành vi này  
là khác nhau. Do đó, để đảm bảo tính nhất  
quán trong quy định của pháp luật về nghĩa  
vụ cung cấp thông tin, cꢄn sꢀa đổi điểm b  
khoản 2 Điều 18 Luật KDBH theo hướng  
BMBH có nghĩa vụ: “Kê khai đꢄy đủ, trung  
thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp đꢂng  
bảo hiểm theo yêu cꢄu của doanh nghiệp  
bảo hiểm theo quy định tại Điều 19 của  
Luật này”; và cụ thể hóa trách nhiệm cung  
cấp thông tin của BMBH tại Điều 19 Luật  
KDBH: “Khi giao kết hợp đꢂng bảo hiểm,  
bên mua bảo hiểm phải cung cấp đꢄy đủ và  
chính xác thông tin đã biết hoặc phải biết  
về đꢃi tượng bảo hiểm cho doanh nghiệp  
bảo hiểm theo yêu cꢄu của doanh nghiệp  
bảo hiểm”.  
Thứ ba, người được bảo hiểm dàn dựng  
hiện trường giả, hoặc thậm chí cꢃ ý tự gây  
thiệt hại về tính mạng của mình để hưởng  
quyền lợi bảo hiểm, hay giết người khác, dàn  
dựng hiện trường giả. Gꢄn đây, tại tỉnh Đắk  
Nông, có mꢁt vụ án giết người đꢃt xác mục  
đích trục lợi tiền bảo hiểm đặc biệt nghiêm  
trọng, trong đó người được bảo hiểm lên kế  
hoạch: đꢄu tiên là đi đào mꢁ tìm xác người  
để ngụy tạo hiện trường giả nhưng bị thất  
bại, nên sau đó sát hại anh Trꢄn Nho Vương  
là em họ bên vợ của Minh, rꢂi đꢃt xác thế  
thân với âm mưu trục lợi sꢃ tiền bảo hiểm8.  
3. Giải pháp phòng, chống gian lận bảo  
hiểm nhân thọ  
Để đảm bảo quyền và lợi ích của các  
bên tham gia bảo hiểm, cꢄn quy định linh  
hoạt các chế tài dân sự theo mức đꢁ vi  
phạm đꢃi với nghĩa vụ cung cấp thông tin.  
Đꢃi với những thông tin được cung cấp bởi  
BMBH trước khi giao kết hợp đꢂng, nếu  
DNBH chứng minh được những thông tin  
đó là do BMBH cꢃ ý cung cấp sai sự thật  
3.1. Hoàn thiện chế tài xử lý hành vi  
gian lận bảo hiểm  
Thứ nhất, đꢃi với hành vi gian lận khi  
khai báo thông tin yêu cꢄu bảo hiểm ở giai  
đoạn tiền hợp đꢂng, hay gian lận trong việc  
thực hiện các quy định về nghĩa vụ cung  
7
Xem thêm Báo Thanh Niên, “Trục lợi bảo hiểm: Mua bảo hiểm cho người đã… chết”, https://thanhnien.  
vn/tai-chinh-kinh-doanh/truc-loi-bao-hiem-mua-bao-hiem-cho-nguoi-da-chet-620349.html, truy cập ngày  
20/5/2021.  
8
Trang thông tin điện tꢀ Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông, “Tòa án nhân dân xét xử sơ thẩm vụ án  
Đỗ Văn Minh - giết người, đốt xác”, https://daknong.toaan.gov.vn/webcenter/portal/daknong/chitiettin?  
dDocName=TAND157756, truy cập ngày 20/5/2021.  
Số 14(438) - T7/2021  
21  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
thì hợp đꢂng phải được tuyên vô hiệu; nếu  
việc cung cấp thông tin sai sự thật sau khi  
giao kết hợp đꢂng hay trong quá trình thực  
hiện hợp đꢂng nếu DNBH phát hiện được  
việc này thì DNBH có quyền đơn phương  
đình chỉ thực hiện hợp đꢂng và chỉ hoàn  
trả lại mꢁt phꢄn phí bảo hiểm cho khoảng  
thời gian chưa được bảo hiểm9.  
mức đꢁ tổn thất so với thực tế đều được  
xem là các hành vi gian lận. Luật Bảo  
hiểm năm 1995 của Cꢁng hòa nhân dân  
Trung Hoa quy định, DNBH có quyền  
hủy hợp đꢂng, không giải quyết yêu cꢄu  
bảo hiểm và không hoàn trả phí bảo hiểm  
do hành vi gian lận của người tham gia  
bảo hiểm12. Khi xảy ra sự kiện được bảo  
hiểm mà BMBH, người được bảo hiểm  
hoặc người thụ hưởng bịa đặt mꢁt lý do  
sai dẫn đến sự kiện bảo hiểm hoặc phóng  
đại mức đꢁ thiệt hại bằng cách sꢀ dụng  
bằng chứng giả mạo hoặc thay đổi tài liệu  
bằng chứng khác, thì DNBH sẽ không  
chịu trách nhiệm bꢂi thường hoặc thanh  
toán tiền bảo hiểm cho phꢄn bịa đặt của  
yêu cꢄu bꢂi thường.  
Ở giai đoạn sự kiện bảo hiểm xảy ra,  
xuất phát từ mục đích thu lợi bất chính  
nên việc người tham gia bảo hiểm vi  
phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin cũng  
trở nên rất phổ biến. Tuy nhiên, đây là  
mꢁt khoảng trꢃng trong Luật KDBH Việt  
Nam. Tham khảo quy định của Luật Bảo  
hiểm năm 1995 của Cꢁng hòa nhân dân  
Trung Hoa10, Luật đã liệt kê những hành  
vi gian lận ở giai đoạn này, bao gꢂm: bịa  
đặt về tổn thất hoặc tạo lập hồ sơ giả về  
sự kiện bảo hiểm; hành vi cố ý gian lận  
để gây ra sự kiện bảo hiểm; và phóng đại  
tổn thất so với thực tế11. Những trường  
hợp BMBH cꢃ ý gian dꢃi về sự kiện bảo  
hiểm, tạo lập hꢂ sơ giả, kê khai khꢃng  
Mꢁt khi DNBH chứng minh được hành  
vi gian lận của người tham gia bảo hiểm  
thì có quyền hủy hợp đꢂng, không chi trả  
sꢃ tiền bảo hiểm mà không nhất thiết phải  
yêu cꢄu Tòa án tuyên bꢃ hợp đꢂng vô hiệu,  
quy định này đã tạo ra mꢁt cơ chế xꢀ lý  
linh hoạt cho DNBH, giúp giảm thiểu sự  
9
Đỗ Văn Đại, “Một số vấn đề pháp lý phát sinh trong thực tiễn về bảo hiểm”, Tạp chí Khoa học pháp lý,  
sꢃ 7-2018, tr.53-62.  
10  
Luật Bảo hiểm năm 1995 đã được sꢀa đổi năm 2002, 2009, 2014, 2015 của Cꢁng hòa nhân dân Trung  
People%E2%80%99s-Republic-of-ChinaRevision-2015.pdf, truy cập ngày 20/5/2021.  
11  
Điều 27 Luật Bảo hiểm năm 1995 đã được sꢀa đổi năm 2002, 2009, 2014, 2015 của Cꢁng hòa nhân dân  
Trung Hoa. “Where an insured event has not occurred but the insured party or the beneficiary claimed falsely  
that an insured event has occurred and made a claim for compensation or payment of insurance monies to the  
insurer, the insurer shall have the right to rescind the contract, and the premium shall not be refunded.  
Where the policyholder or the insured party intentionally creates an insured event, the insurer shall have the  
right to rescind the contract, and shall not be liable to make compensation or payment of insurance monies;  
except where stipulated in Article 43 of this Law, the premium shall not be refunded.  
Upon occurrence of an insured event, where the policyholder, the insured party or the beneficiary fabricates a  
false reason for the event or exaggerates the extent of damages using forged or altered proof or materials or  
other evidence, the insurer shall not be liable to make compensation or payment of insurance monies for the  
fabricated part of the claim.  
Where the policyholder, the insured party or the beneficiary has committed any of the acts stipulated in the  
three preceding paragraphs and resulted in payment of insurance monies or expenses by the insurer, the  
policyholder, the insured party or the beneficiary shall return the monies or make compensation”.  
12  
Điều 27 Luật Bảo hiểm năm 1995 đã được sꢀa đổi năm 2002, 2009, 2014, 2015 của Cꢁng hòa nhân dân  
Trung Hoa.  
22  
Số 14(438) - T7/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
tꢃn kém về thời gian và chi phí tꢃ tụng có  
thể phát sinh, đꢂng thời quy định trên cũng  
xem xét đến mức đꢁ tương xứng của sự vi  
phạm và chế tài khi chỉ xem xét loại trừ  
việc chi trả cho những phꢄn yêu cꢄu bꢂi  
thường quá mức, phóng đại hay không có  
căn cứ chứ không miễn hoàn toàn nghĩa  
vụ bꢂi thường và chi trả sꢃ tiền bảo hiểm.  
Ngoài ra, nếu như BMBH, người được bảo  
hiểm, người thụ hưởng thực hiện bất kỳ  
hành vi gian lận nào nêu trên, dẫn đến việc  
được DNBH thanh toán tiền bảo hiểm, thì  
khi DNBH phát hiện hành vi vi phạm này,  
người thụ hưởng có trách nhiệm hoàn trả  
lại sꢃ tiền đó cho DNBH13. Do đó, Luật  
KDBH Việt Nam cꢄn xem xét bổ sung các  
tình huꢃng gian lận ở giai đoạn sự kiện  
bảo hiểm xảy ra cũng như xây dựng chế tài  
pháp lý tương ứng.  
Thứ ba, sꢀa đổi BLHS theo hướng xác  
định cụ thể các hành vi không kê khai trung  
thực, đánh tráo tài sản nhằm trục lợi, tạo  
dựng hiện trường giả, lập hꢂ sơ khꢃng, lập  
hꢂ sơ không trung thực... phải chịu trách  
nhiệm hình sự14.  
3.2. Thành lập cơ quan chuyên trách  
giám sát, ngăn ngừa gian lận bảo hiểm  
Song song với việc hoàn thiện chế tài  
xꢀ lý hành vi gian lận BHNT, thì việc  
thành lập các cơ quan chuyên trách phòng,  
chꢃng gian lận bảo hiểm là vấn đề đáng  
được quan tâm.  
Kinh nghiệm ở các nước cho thấy, các  
cơ quan chuyên trách giám sát, ngăn ngừa  
gian lận bảo hiểm đóng vai trò quan trọng  
trong công tác phòng, chꢃng gian lận bảo  
hiểm. Ví dụ, Canada thành lập Cục phòng,  
chꢃng tꢁi phạm bảo hiểm (The Insurance  
Crime Prevention Bureau) từ năm 1973  
chuyên trách điều tra các yêu cꢄu gian  
lận bảo hiểm và cung cấp thông tin ngăn  
ngừa tổn thất trong bảo hiểm15. Bên cạnh  
đó, Canada còn thành lập Liên đoàn các  
tổ chức chꢃng gian lận bảo hiểm vào năm  
1994, bao gꢂm các tổ chức chꢃng tꢁi phạm,  
các công ty bảo hiểm, cảnh sát, luật sư và  
khách hàng. Liên đoàn các tổ chức chꢃng  
gian lận bảo hiểm đã đưa ra các hướng dẫn  
cụ thể cho các DNBH về các biện pháp đấu  
tranh chꢃng tꢁi phạm bảo hiểm. Ngoài ra,  
Thứ hai, sꢀa đổi, bổ sung quy định về  
chế tài hành chính cho các hành vi gian lận  
trong BHNT và tăng mức xꢀ phạt cao hơn  
mức quy định hiện tại để tạo tính răn đe và  
phòng ngừa; bổ sung quy định xꢀ lý đꢃi với  
hành vi gian lận như giả mạo tài liệu, cꢃ ý  
làm sai lệch thông tin trong hꢂ sơ yêu cꢄu  
bảo hiểm, trong giai đoạn thực hiện BHNT;  
tăng mức xꢀ phạt vi phạm hành chính lên  
nhiều lꢄn để tương xứng với mức đꢁ thiệt  
hại mà xã hꢁi và các chủ thể trong quan hệ  
bảo hiểm phải gánh chịu vì các đꢃi tượng  
gian lận thường nhắm đến sꢃ tiền bảo hiểm  
lên đến hàng chục tỷ đꢂng, và công tác điều  
tra, xác minh hành vi vi phạm gặp nhiều  
khó khăn.  
13  
Điều 27 Luật Bảo hiểm năm 1995 đã được sꢀa đổi năm 2002, 2009, 2014, 2015 của Cꢁng hòa nhân dân  
Trung Hoa.  
14 Doãn Hꢂng Nhung, “Một số ý kiến hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn trục lợi bảo hiểm trong  
kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học, Đại học Quꢃc gia Hà Nꢁi: Luật học, sꢃ 3/2014, tr.39.  
15 The Insurance Crime Prevention Bureau: “A Canada wide organization supported by property and casualty  
insurers which investigates fraudulent insurance claims and provides loss prevention information”, https://  
Số 14(438) - T7/2021  
23  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
ở Canada còn có mô hình Hiệp hꢁi các  
nhà đại lý BHNT. Đây là mô hình tự quản  
đóng vai trò hướng dẫn, giám sát các đại  
lý BHNT thông qua các hoạt đꢁng như:  
ban hành các quy định, quy tắc, chuẩn mực  
hoạt đꢁng và đạo đức cho các nhà đại lý  
bảo hiểm trên toàn lãnh thổ quꢃc gia. Các  
quy định được ban hành dựa trên cơ chế  
tự nguyện và đꢂng thuận nên đã tạo cơ sở,  
tiền đề cho việc triển khai, tuân thủ thực  
hiện các nguyên tắc, chuẩn mực, quy định  
được chấp nhận chung. Chính hiệp hꢁi này  
sẽ thiết lập cơ chế quản lý, giám sát riêng  
để đảm bảo các đại lý tuân thủ, thực hiện  
đꢄy đủ, hoạt đꢁng phù hợp với quy định,  
quy tắc và chuẩn mực chung. Hoạt đꢁng  
của tổ chức này đã góp phꢄn giảm bớt gánh  
nặng cho cơ quan quản lý nhà nước. Sự can  
thiệp của cơ quan quản lý nhà nước về bảo  
hiểm chỉ dừng lại ở việc tham gia, cho ý  
kiến đꢃi với các quy định, quy tắc, chuẩn  
mực mà các hiệp hꢁi ban hành. Sự giám  
sát, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước  
đꢃi với thị trường bảo hiểm được thực hiện  
song song với việc tự giám sát, kiểm tra  
của hiệp hꢁi nên đã góp phꢄn ổn định, đảm  
bảo tính lành mạnh và tăng hiệu quả trong  
lĩnh vực KDBH.  
trong lĩnh vực gian lận bảo hiểm có trình  
đꢁ, giàu kinh nghiệm, khả năng phá án tꢃt,  
SFO đã trở thành cánh tay đắc lực cho các  
hãng bảo hiểm Anh trong việc truy tꢃ tꢁi  
phạm gian lận bảo hiểm.  
Ở nước ta hiện nay, các hành vi gian lận  
trong BHNT thường do DNBH phát hiện;  
trong sꢃ đó, có trường hợp bị phát hiện nhưng  
lại không bị xꢀ lý, mà còn được DNBH chấp  
nhận chi trả bảo hiểm. Nguyên nhân là do  
công tác thu thập, chứng minh người tham  
gia bảo hiểm có hành vi cꢃ ý khai sai thông  
tin, tự gây thiệt hại về sức khỏe của mình,  
hay cấu kết với các bên liên quan để được  
hưởng quyền lợi bảo hiểm là rất khó khăn,  
nhất là khi DNBH không có sự hỗ trợ cꢄn  
thiết từ phía người dân, các cơ quan nhà  
nước. Bên cạnh đó, do chúng ta hiện nay  
chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu chung  
về khách hàng, những trường hợp gian lận  
bảo hiểm nên các DNBH thường không thể  
chia sẻ thông tin với nhau. Mặt khác, nhiều  
DNBH lo ngại việc kiện tụng về các hành vi  
gian lận bảo hiểm sẽ ảnh hưởng đến uy tín  
của mình hoặc chi phí bỏ ra sẽ tꢃn kém hơn.  
Chính vì vậy, nhiều vụ gian lận trong BHNT  
xảy ra mà không được xꢀ lý, gây thiệt hại  
cho DNBH và làm giảm niềm tin của người  
dân đꢃi với BHNT. Trong điều kiện đó, sự  
can thiệp của cơ quan quản lý nhà nước bằng  
việc thành lập mꢁt cơ quan chꢃng gian lận  
bảo hiểm là thực sự cꢄn thiết và cấp thiết.  
Việc thành lập cơ quan chꢃng gian lận bảo  
hiểm sẽ là mꢁt giải pháp hiệu quả trong công  
tác phòng, chꢃng gian lận bảo hiểm và tạo  
tính an toàn, lành mạnh trong môi trường  
Tại Vương quꢃc Anh, năm 1988, Văn  
phòng chꢃng trục lợi bảo hiểm nghiêm  
trọng (The Serious Fraud Office-SFO)  
được thành lập. Cho đến nay, đây là cơ  
quan chuyên trách xꢀ lý các hành vi gian  
lận nghiêm trọng hoặc phức tạp trong lĩnh  
vực bảo hiểm16. Với việc sꢀ dụng công  
nghệ tiên tiến trong việc điều tra và truy tꢃ,  
tập trung lực lượng điều tra viên và luật sư  
KDBH tại Việt Nam  
16 Trang web chính thức của Serious Fraud Office: https://www.sfo.gov.uk/, truy cập ngày 20/5/2021.  
24  
Số 14(438) - T7/2021  
pdf 7 trang Thùy Anh 14500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Gian lận bảo hiểm nhân thọ và giải pháp phòng, chống gian lận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgian_lan_bao_hiem_nhan_tho_va_giai_phap_phong_chong_gian_lan.pdf