Bàn về trách nhiệm bồi thường của tòa án trong hoạt động tố tụng dân sự theo pháp luật Việt Nam

BÀN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG CỦA TÕA ÁN TRONG  
HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM  
Lê Thị Thìn  
Người phản biện:TS. Nguyễn Thị Thúy Hằng  
Tóm tắt:  
Một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của Nhà nƣớc pháp quyền là mọi chủ  
thể đều bình đẳng trƣớc pháp luật, bất kể chủ thể đó là cá nhân, tổ chức hay cơ quan  
Tòa án. Với vai trò là cơ quan xét xử duy nhất, Tòa án nhân dân là một trong những  
cách thức giải quyết hiệu quả, bảo vệ đƣợc công bằng trong xã hội, đồng thời góp  
phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Bên cạnh hiệu quả đạt đƣợc, một thực  
tế cho thấy, công tác xét xử của Tòa án mà cụ thể là ngƣời tiến hành tố tụng nói chung,  
tố tụng dân sự nói riêng đã không tránh khỏi những sai phạm dẫn đến thiệt hại xảy ra  
cho các chủ thể đƣợc Tòa án bảo vệ. Chính vì vậy, trách nhiệm bồi thƣờng của Tòa án  
đƣợc đặt ra. Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày một số hạn chế còn tồn tại  
theo pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thƣờng của Tòa án trong hoạt động tố  
tụng dân sự. Từ đó, góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi thƣờng thiệt hại do quá trình  
tố tụng dân sự gây ra.  
Từ khóa: Trách nhiệm bồi thƣờng Tòa án, tố tụng dân sự, Tòa án  
Résumé :  
L'un des principes les plus fondamentaux de l'état de droit est que tous les sujets  
sont égaux devant la loi, quoiqu'il s'agisse d'un individu, d'une organisation ou d'un  
organisme judiciaire. Jouant un rôle comme la seule institution ayant le pouvoir  
judiciaire, le Tribunal populaire est l‟un des mécanismes sert à résoudre des litiges et à  
protéger efficacement la justice dans la société, tout en contribuant à assurer le strict  
respect de la loi. Outre de l'efficacité obtenue, il reste un fait que le procès réalisé par  
ceux qui conduisent la procédure en général, et la procédure civile en particulier,  
contient des violations entraînant des dommages aux sujets protégés par la Cour. C'est  
pourquoi se pose la responsabilité de l'indemnisation de la Cour. Dans le cadre de cet  
article, l'auteur présente certaines limitations de la loi actuelle sur la responsabilité de  
ThS.GV Trƣờng Đại học Luật Huế  
192  
l'indemnisation de la Cour dans les procédures civiles. De là, l'étude vise à  
perfectionner la loi sur l'indemnisation des dommages causés par la procédure civile.  
Mot clés: Responsabilité de l'indemnisation de la Cour, procédures civiles, Cour  
1. Đặt vấn đề  
Trách nhiệm bồi thƣờng của Tòa án (TNBTCTA) trong hoạt động tố tụng dân sự  
là một trong những nội dung đƣợc quy định tại Luật Trách nhiệm bồi thƣờng của Nhà  
nƣớc (LTNBTCNN). Cho đến nay, pháp luật về trách nhiệm bồi thƣờng của Nhà nƣớc  
đƣợc điều chỉnh bởi Luật Trách nhiệm bồi thƣờng của Nhà nƣớc năm 2009  
(LTNBTCNN năm 2009) và đƣợc thay thế bởi Luật Trách nhiệm bồi thƣờng của Nhà  
nƣớc năm 2017 (LTNBTCNN năm 2017). Kế thừa quan điểm “Trách nhiệm bồi  
thường thiệt hại là một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm  
nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì phải bồi thường những tổn  
thất mà mình gây ra”169. Trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại (BTTH) là bổn phận, nghĩa  
vụ của ngƣời thực hiện hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại đối với ngƣời bị thiệt hại.  
Việc thực hiện trách nhiệm bồi thƣờng nhằm khôi phục và bù đắp những thiệt hại đã  
xảy ra đối với ngƣời bị thiệt hại. Khi thiệt hại xảy ra, bên gây ra thiệt hại phải có thiện  
chí thực hiện việc bồi thƣờng cho bên bị thiệt hại. Đối với TNBTCTA, thiệt hại đƣợc  
bồi thƣờng là thiệt hại thực tế, đƣợc xác định trên cơ sở đánh giá mối quan hệ nhân  
quả giữa hành vi trái pháp luật của ngƣời thi hành công vụ và thiệt hại xảy ra.170 Đây  
cũng chính là nguyên tắc xác định thiệt hại trong pháp luật dân sự.  
Xét về địa vị pháp lý, Tòa án là chủ thể đặc biệt, là cơ quan xét xử duy nhất.  
Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, trách nhiệm pháp lý của Tòa án phát  
sinh khi cán bộ, công chức hoặc ngƣời đƣợc ủy quyền (sau đây gọi chung là ngƣời thi  
hành công vụ) có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại trong quá trình tiến hành thủ  
tục tố tụng dân sự. Theo nguyên tắc BTTH thông thƣờng thì ngƣời gây thiệt hại phải  
tự gánh chịu trách nhiệm bồi thƣờng. “Ở đây, người làm phát sinh trách nhiệm bồi  
thường (người thi hành công vụ) và người chịu trách nhiệm bồi thường (Nhà nước  
thông qua các cơ quan của mình) là hai chủ thể khác nhau. Trách nhiệm bồi thường  
169 Xem Ths. Nguyễn Minh Oanh (2009), Trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại - vấn đề lý luận và thực  
tiễn, Sách chuyên khảo, Nxb Lao Động, Hà Nội  
170 Xem Điều 19 Luật Trách nhiệm bồi thƣờng của Nhà nƣớc năm 2017  
193  
của Nhà nước là trách nhiệm xuất phát từ hành vi của người thi hành công vụ”171.  
Theo đó, trong tố tụng dân sự, cơ quan của Nhà nƣớc chịu trách nhiệm bổi thƣờng  
trong hoạt động tố tụng dân sự đó chính là Tòa án. Tòa án có trách nhiệm bồi thƣờng  
trong các trƣờng hợp đƣợc quy định tại Điều 19 của LTNBTCNN năm 2017.  
2. Vƣớng mắc về trách nhiệm bồi thƣờng của Tòa án trong hoạt động tố  
tụng dân sự theo pháp luật hiện hành.  
Thứ nhất, Xác định chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án bồi thƣờng  
Quyền yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại đƣợc quy định tại Điều 5 LTNBTCNN năm  
2017. Theo đó, những chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án bồi thƣờng bao gồm: “1.  
Người bị thiệt hại; 2. Người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị  
thiệt hại chết; tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn  
tại; 3. Người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có  
người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự; 4. Cá nhân, pháp  
nhân được những người quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này ủy quyền thực hiện  
quyền yêu cầu bồi thường”. Tác giả cho rằng việc xác định các chủ thể có quyền yêu  
cầu đòi bồi thƣờng thiệt hại theo quy định trên đây là chƣa thật sự phù hợp, bởi lẽ:  
Tại khoản 4, Điều 5 LTNBTCNN năm 2017 quy định: Cá nhân, pháp nhân đƣợc  
ủy quyền thực hiện quyền yêu cầu bồi thƣờng. Quy định này cho thấy chủ thể có  
quyền yêu cầu bồi thƣờng có quyền ủy quyền lại cho một cá nhân, pháp nhân khác  
thực hiện quyền yêu cầu Tòa án tiến hành bồi thƣờng thiệt hại. Việc xác định chủ thể  
có quyền yêu cầu Tòa án bồi thƣờng thiệt hại nhƣ trên là chƣa phù hợp với pháp luật  
tố tụng dân sự. Bởi lẽ, theo BLTTDS năm 2015: chủ thể có quyền khởi kiện một vụ án  
dân sự ra Tòa án bao gồm: cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ  
quyền, lợi ích hợp pháp của mình172 hoặc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ngƣời  
khác173. Nhƣ vậy, có hai trƣờng hợp xảy ra:  
-
Trƣờng hợp đƣơng sự là chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm mà  
họ có năng lực tố tụng dân sự thì họ tự mình khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ  
quyền và lợi ích hợp pháp của mình.  
171 Xem Đỗ Văn Đại - Nguyễn Trƣơng Tín (2014), Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường của nhà nước,  
Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội  
172 Xem Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015  
173 Xem Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015  
194  
-
Trƣờng hợp chủ thể khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của  
ngƣời khác đƣợc quy định tại Điều 187 của BLTTDS năm 2015. Theo đó ngƣời khởi  
kiện đƣợc xác định là chủ thể làm đơn khởi kiện còn ngƣời có quyền và lợi ích hợp  
pháp cần đƣợc bảo vệ đƣợc xác định là nguyên đơn trong tố tụng dân sự174. Nhƣ vậy,  
trong quá trình Tòa án xét xử, quyền lợi hợp pháp của chủ thể cần đƣợc bảo vệ là  
nguyên đơn và trong trƣờng hợp ngƣời tiến hành tố tụng có hành vi trái pháp luật gây  
thiệt hại thì chủ thể bị xác định thiệt hại và cần đƣợc bồi thƣờng ở đây là nguyên đơn  
(đƣơng sự) chứ không phải là cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện. Chiếu theo quy  
định tại Điều 5 của LTNBTCNN năm 2017 thì trong trƣờng hợp này ngƣời khởi kiện  
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khác theo pháp luật hoặc theo ủy quyền  
(ví dụ: ngƣời lao động ủy quyền cho một đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động  
thay mặt họ khởi kiện vụ án lao động) không có quyền yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại  
cho chính đƣơng sự mà mình đang yêu cầu Tòa án bảo vệ. Bên cạnh đó, trong quá  
trình tố tụng, chủ thể khởi kiện là chủ thể thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy  
định của pháp luật cho chính đƣơng sự trong vụ án. Chính vì vậy, quy định ngƣời có  
quyền yêu cầu bồi thƣờng bao gồm ngƣời bị thiệt hại; ngƣời thừa kế của ngƣời bị thiệt  
hại; ngƣời đại diện theo pháp luật của ngƣời bị thiệt hại thuộc trƣờng hợp phải có  
ngƣời đại diện theo pháp luật đã hạn chế quyền yêu cầu bồi thƣờng của ngƣời khởi  
kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác.  
Thứ hai, căn cứ yêu cầu Tòa án tiến hành bồi thƣờng  
Một trong những căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của ngƣời thi hành công  
vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thƣờng theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 7 Luật  
TNBTCNN năm 2017 là “Có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường theo quy định  
của Luật này và có yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt  
hại hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự giải quyết yêu cầu bồi  
thường”, theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Luật TNBTCNN năm 2017, “Văn bản làm  
căn cứ yêu cầu bồi thường là văn bản đã có hiệu lực pháp luật do cơ quan nhà nước,  
người có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định, trong đó xác  
định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ hoặc là bản án, quyết định  
174 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015  
195  
của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định rõ người  
bị thiệt hại thuộc trường hợp được Nhà nước bồi thường”.  
Theo đó, trong hoạt động tố tụng dân sự, cơ sở cho Tòa án tiến hành bồi thƣờng  
thiệt hại là khi có các văn bản quy định tại Điều 10, bao gồm:  
-
Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị cuối cùng của Chánh án Tòa án có  
thẩm quyền hoặc của Hội đồng xét xử theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự  
xác định rõ hành vi trái pháp luật của ngƣời thi hành công vụ trong việc áp dụng biện  
pháp khẩn cấp tạm thời;  
-
Quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo của Chánh án Tòa  
án có thẩm quyền xác định ngƣời tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự đã có hành vi  
ra bản án, quyết định trái pháp luật hoặc làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc và quyết  
định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo đó xác định hành vi trái pháp luật  
của ngƣời ra bản án, quyết định có đủ căn cứ để xử lý kỷ luật hoặc xử lý trách nhiệm  
hình sự nhƣng chƣa bị xử lý thì ngƣời đó chết;  
Nhƣ vậy, để có đƣợc các văn bản làm căn cứ cho việc bồi thƣờng nêu trên của  
Tòa án thì ngƣời yêu cầu bồi thƣờng phải trải qua quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo  
theo quy định của Luật Khiếu nại, Tố cáo và đƣợc quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.  
Sau hhi Tòa án tiến hành giải quyết khiếu nại, tố cáo và có kết luận cho rằng ngƣời thi  
hành công vụ có hành vi trái pháp luật trong quá trình tố tụng dân sự. và điều kiện tiên  
quyết cho việc xác định trách nhiệm bồi thƣờng của Tòa án là khi có yêu cầu bồi  
thƣờng thiệt hại của ngƣời có quyền yêu cầu thì Tòa án mới tiến hành bồi thƣờng.  
Có thể thấy, nếu nhƣ việc đƣơng sự khởi kiện một vụ án dân sự ra Tòa án dựa  
trên quyền quyết định và tự định đoạt của đƣơng sự thì việc yêu cầu bồi thƣờng thiệt  
hại do hành vi trái pháp luật của ngƣời thi hành công vụ tại Tòa án cũng dựa trên  
quyền quyết định và tự định đoạt của đƣơng sự. Ngoài ra, quy định này còn làm cho  
ngƣời yêu cầu bồi thƣờng mất nhiều thời gian, chi phí, giấy tờ…mà các chi phí này  
không đƣợc tính trong chi phí bồi thƣờng thiệt hại theo quy định của Luật TNBTCNN  
năm 2017. Việc quy định nhƣ vậy vô hình chung làm giảm bớt tính trách nhiệm và  
chuyên môn của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc dân sự. Thiết nghĩ, Tòa án là  
cơ quan xét xử duy nhất, là cán cân công lý thì hoạt động của Tòa án và ngƣời thi hành  
công vụ phải chính xác và phải tự giác chịu trách nhiệm trƣớc các sai phạm của mình  
196  
chứ không phải đợi đến lúc chính những ngƣời không mang quyền lực trong mối quan  
hệ tố tụng tố giác hành vi sai trái của ngƣời thực hiện quyền công lý ấy.  
Thứ ba, vấn đề về trách nhiệm và mức bồi thƣờng khi vƣợt quá thời hạn.  
Một là, trách nhiệm bồi thƣờng khi vƣợt quá thời hạn. Theo đó, tại chƣơng V  
LTNBTCNN năm 2017 quy định về thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thƣờng quy định  
chi tiết về thời hạn giải quyết yêu cầu BTTH cũng nhƣ thời hạn chi trả tiền bồi thƣờng,  
nhƣng lại không quy định chế tài cụ thể trong trƣờng hợp có sự vi phạm các quy định  
về thời hạn đó. Vì vậy, trên thực tế, hầu hết các vụ việc giải quyết yêu cầu bồi thƣờng  
bị kéo dài, vi phạm quy định về thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thƣờng và thời hạn chi  
trả tiền bồi thƣờng cho ngƣời bị thiệt hại.  
Hai là, mức bồi thƣờng của Tòa án cho ngƣời bị thiệt hại chƣa thật sự thỏa đáng.  
Điều 37 LTNBTCNN năm 2017 quy định về trách nhiệm bồi thƣờng của Tòa án, tại  
đây cho thấy Tòa án nào có ngƣời thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật và gây  
thiệt hại cho ngƣời bị thiệt hại thì có trách nhiệm bồi thƣờng. Tuy nhiên, Tòa án các  
cấp phải chịu trách nhiệm bồi thƣờng trong trƣờng hợp các bản án, quyết định giải  
quyết thuộc thẩm quyền của Tòa đó đã có hiệu lực pháp luật mà bị hủy. BLTTDS năm  
2015 quy định về trình tự thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo các  
cấp xét xử. Bản án, quyết định của Tòa án cấp dƣới nếu bị Tòa án cấp trên hủy thì Tòa  
án có phán quyết bị hủy đó phải bồi thƣờng thiệt hại. Thật ra, giá trị thiệt hại đã có kể  
từ thời điểm ngƣời thi hành công vụ có các hành vi trái pháp luật tố tụng ban hành các  
quyết định giải quyết liên quan. Trong trƣờng hợp vụ việc đó bị kháng cáo, kháng nghị  
theo thủ tục phúc thẩm hoặc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì phải  
mất một khoảng thời gian khá dài từ khi có thiệt hại xảy ra cho đến thời điểm giải  
quyết bồi thƣờng thiệt hại. Điều này cho thấy giá trị thiệt hại của đƣơng sự trên thực tế  
nhiều hơn giá trị xác định bồi thƣờng của Tòa án bởi lẽ LTNBTCNN chỉ xác định giá  
trị bồi thƣờng tại thời điểm có hành vi vi phạm mà không có quy định giá trị bồi  
thƣờng thiệt hại phái sinh trong khoảng thời gian nói trên. Chính vì vậy, trên thực tế,  
trách nhiệm bồi thƣờng của Tòa án chƣa thực sự bồi thƣờng đƣợc giá trị thiệt hại thực  
tế xảy ra do hành vi trái pháp luật của ngƣời tiến hành tố tụng gây ra đối với họ.  
3. Một số kiến nghị, giải pháp  
197  
Một là, để phù hợp với quy định quyền khởi kiện , yêu cầu Tòa án giải quyết các  
vụ việc dân sự trong TTDS, LTNBTCNN cần mở rộng quyền yêu cầu Tòa án bồi  
thƣờng thiệt hai bao gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và  
lợi ích hợp pháp của ngƣời khác trong pháp luật tố tụng dân sự.  
Hai là, LTNBTCNN năm 2017 cần ban hành quy định liên quan tới việc Tòa án  
tự mình xác định và tự chủ động trong việc tiến hành xác minh và thực hiện thủ tục  
bồi thƣờng cho ngƣời thiệt hại. Bởi lẽ Tòa án (cụ thể là ngƣời tiến hành tố tụng trong  
TTDS) Là chủ thể thực hiện quyền công lý, trong công tác của mình, chủ động làm sai  
sự thật, có hành vi xâm phạm đến lợi ích hợp pháp cả ngƣời bị thiệt hại thì Tòa án có  
trách nhiệm bồi thƣờng mà không đợi đến thời điểm ngƣời bị thiệt hại có yêu cầu.  
Ba là, cần có chế tài cụ thể cho Tòa án trong trƣờng hợp đã có thời hạn tiến hành  
bồi thƣờng thiệt hại mà Tòa án bồi thƣờng vƣợt quá thời hạn dẫn đến ảnh hƣởng tới lợi  
ích vốn có cũng nhƣ quyền lợi ích hợp pháp của đƣơng sự. Đồng thời, giá trị bồi  
thƣờng của Nhà nƣớc nói chung và Tòa án nói riêng cần đƣợc xác định thêm giá trị  
trong trƣờng hợp quá trình tố tụng kéo dài trong khi thiệt hại đã xảy ra kể từ thời điểm  
bản án, quyết định giải quyết của ngƣời tiến hành tố tụng vi phạm pháp luật tố tụng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ luật dân sự năm 2015  
2. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015  
3. Đỗ Văn Đại - Nguyễn Trƣơng Tín (2014), Pháp luật Việt Nam về trách  
nhiệm bồi thường của nhà nước, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội  
4. Nguyễn Minh Oanh (2009), Trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại -  
vấn đề lý luận và thực tiễn, Sách chuyên khảo, Nxb Lao Động, Hà Nội  
198  
pdf 7 trang Thùy Anh 14880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bàn về trách nhiệm bồi thường của tòa án trong hoạt động tố tụng dân sự theo pháp luật Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfban_ve_trach_nhiem_boi_thuong_cua_toa_an_trong_hoat_dong_to.pdf