Nhượng quyền thương mại của doanh nghiệp nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Nhượng quyền thương mại của doanh nghiệp nước ngoài  
theo quy định của pháp luật Việt Nam  
Nguyễn Ngọc Hồng Dương*  
Khoa Pháp luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội  
Ngày nhận bài 12/12/2020; ngày chuyển phản biện 20/12/2020; ngày nhận phản biện 23/1/2021; ngày chấp nhận đăng 1/2/2021  
Tóm tắt:  
Hoạt động nhượng quyền thương mại quốc tế đang bùng nổ trên toàn thế giới. Có người cho rằng, các nhà nhượng  
quyền mở rộng hệ thống ra quốc tế nhằm đáp ứng các yêu cầu của các nhà nhận quyền tiềm năng, nhưng có ý kiến  
lại khẳng định, các nhà nhượng quyền phát triển ra thế giới để đạt được lợi nhuận từ thị trường tiềm năng vượt  
qua thị trường nội địa đã bão hòa và phát triển gây dựng thương hiệu. Điều đáng quan tâm là trong những năm  
qua, thị trường nhượng quyền tại Việt Nam phát triển mạnh với những tên tuổi như McDonalds, Baskin Robbins,  
Pizza Hut, Burger King, Lotteria, BBQ Chicken… Là một quốc gia dân số khá trẻ và mong muốn thử nghiệm các  
“thương hiệu” mới, Việt Nam luôn là một điểm đến hấp dẫn đầy tiềm năng đối với các nhà nhượng quyền. Do đó,  
việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạo một môi trường thu hút đầu tư là vấn đề tiên quyết và cần thực hiện sớm.  
Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả tập hợp quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động nhượng quyền  
thương mại của các doanh nghiệp nước ngoài, trên cơ sở đó đưa ra một số vấn đề cần được quan tâm hoàn thiện  
trong thời gian tới.  
Từ khóa: nhượng quyền thương mại, nhượng quyền thương mại quốc tế, pháp luật Việt Nam.  
Chỉ số phân loại: 5.5  
đời, “nhãn hiệu” đã thay cho “nhãn hiệu hàng hóa”).  
Nhượng quyền thương mại của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam  
Đặc điểm của hoạt động nhượng quyền thương mại  
Khái niệm  
Về chủ thể, trong hoạt động nhượng quyền thương mại, nhà  
nhượng quyền cần có một thương hiệu mạnh để tạo được niềm tin  
cũng như sự ủng hộ của bên nhận quyền và khách hàng nhằm đảm  
bảo cơ hội thành công cho hệ thống [3]. Hơn nữa, mô hình nhượng  
quyền cần được trải nghiệm trong thực tế và chứng minh có sự  
thành công và hiệu quả, có bí quyết kinh doanh vượt trội và đem  
lại lợi thế kinh doanh.  
Kể từ khi Luật Thương mại (2005) ra đời [1], chúng ta có một  
định nghĩa cụ thể về nhượng quyền thương mại. Điều 284 quy  
định: “Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo  
đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền được  
quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ  
theo các điều kiện sau: 1. Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ  
được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng  
quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương  
mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh  
Bên nhận quyền là một doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý,  
tài chính và đầu tư, đồng thời chấp nhận rủi ro đối với vốn bỏ ra  
doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; 2. Bên nhượng quyền có để thực hiện việc tham gia vào hệ thống nhượng quyền của bên  
quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều nhượng quyền [3]. Chính vì độc lập về mặt pháp lý, bên nhận  
quyền khi tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại phải chịu  
trách nhiệm pháp lý độc lập với nhà nhượng quyền về hoạt động  
kinh doanh của mình.  
hành công việc kinh doanh”.  
Với định nghĩa này, pháp luật thương mại của Việt Nam khẳng  
định hoạt động nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương  
mại độc lập, hoạt động này phải do thương nhân thực hiện và có  
mục đích kinh doanh. Ngoài ra, định nghĩa này cũng chỉ rõ tính  
chất ràng buộc qua lại giữa các bên có liên quan, nhất là khẳng định  
sự giám sát của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền thương  
mại [2]. Tuy nhiên, nó chưa bao quát hết nội dung của hoạt động  
này, cụ thể đối tượng sở hữu trí tuệ của nhượng quyền thương mại  
có thể bao trùm nhiều hơn số đối tượng được nêu tại Điều 284...  
Các đối tượng sở hữu trí tuệ khác như kiểu dáng công nghiệp, sáng  
chế, giải pháp hữu ích… không được nêu ra, thuật ngữ “nhãn hiệu  
hàng hóa” được sử dụng chưa cập nhật theo Bộ luật Dân sự 2005  
và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (khi hai văn bản pháp luật này ra  
Mặc dù có tư cách pháp lý độc lập nhưng giữa bên nhượng  
quyền và bên nhận quyền luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó mật  
thiết. Khi mở rộng mô hình kinh doanh, bên nhượng quyền phải  
đối mặt với nguy cơ bị suy giảm uy tín thương mại nếu bên nhận  
quyền không thực hiện đúng cam kết. Do đó bên nhượng quyền  
phải kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền, khiến bên nhận  
quyền phải tuân thủ chặt chẽ mô hình kinh doanh và giúp bảo vệ  
được thương hiệu của bên nhượng quyền [4].  
Về đối tượng, hiện nay, đối tượng của hoạt động nhượng quyền  
thương mại hay “quyền thương mại” đã phát triển rất phong phú, có  
thể chỉ là bí quyết kinh doanh, tên thương mại, nhãn hiệu, công nghệ  
*Email: hongduong[email protected]  
63(4) 4.2021  
34  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
kinh doanh của bên nhượng quyền đã đề ra. Như thời điểm KFC  
được đưa vào thị trường Việt Nam, không giống như tại các quốc  
gia đã quá quen thuộc với các hệ thống đồ ăn nhanh, người tiêu  
dùng Việt Nam ít có cơ hội tiếp cận với mô hình cung cấp dịch  
vụ ăn uống tự phục vụ. Hệ thống nhượng quyền của KFC đã tạo  
ra một trải nghiệm mới với người tiêu dùng khi họ sẽ được tự gọi  
món ở quầy, tự nhận đồ, và sau khi ăn xong sẽ tự dọn dẹp bàn của  
mình trước khi ra về.  
Franchising of foreign enterprises  
under Vietnam law  
Ngoc Hong Duong Nguyen*  
Faculty of International Trade Law, Hanoi Law University  
Received 12 December 2020; accepted 1 February 2021  
Về sự giám sát và hỗ trợ liên tục của bên nhượng quyền đối  
với bên nhận quyền: quyền kiểm soát và hỗ trợ của bên nhượng  
quyền đối với điều hành hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền  
được pháp luật đa số các quốc gia trên thế giới thừa nhận. Theo  
Điều 2.1, Chương 1, Đạo luật Công bằng trong giao dịch nhượng  
quyền thương mại của Hàn Quốc, bên nhượng quyền được yêu cầu  
“hỗ trợ, đào tạo và kiểm soát” bên nhận quyền theo cách thức kinh  
doanh của mình. Tại Malaysia, trách nhiệm của bên nhượng quyền  
được quy định tại Đạo luật Nhượng quyền thương mại 1998, Phần  
1, Mục 4 (d): “hỗ trợ bên nhận quyền vận hành công việc kinh  
doanh của mình, bao gồm trợ giúp và hỗ trợ hoặc cung cấp tài liệu,  
dịch vụ, đào tạo, tiếp thị, kinh doanh hoặc công nghệ”1. Theo đó,  
bên nhượng quyền có thể định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra việc thực  
hiện các quyền thương mại của bên nhận quyền nhằm bảo đảm sự  
thống nhất của hệ thống nhượng quyền thương mại và sự ổn định  
về chất lượng hàng hóa, dịch vụ. Bên cạnh kiểm tra, giám sát, bên  
nhượng quyền còn có nghĩa vụ đưa ra những hỗ trợ cần thiết cho  
bên nhận quyền trong suốt quá trình hoạt động nhượng quyền để  
giúp cho bên nhận quyền thực hiện đúng phương thức kinh doanh  
và hoạt động kinh doanh hiệu quả.  
Abstract:  
International franchising is booming around the world.  
Some people believe that franchisors expand the system  
internationally to meet the requirements of potential  
franchisees. There are also researches showing that  
franchisors expand their market to the world to gain  
profits beyond the saturated domestic market and  
develop their brand. Over the past years, the franchise  
market in Vietnam has grown rapidly with names such  
as McDonalds, Baskin Robbins, Pizza Hut, Burger King,  
Lotteria, BBQ Chicken... With a young population and  
people are interested in new brands, Vietnam will remain  
a potentially attractive destination for franchisors.  
Therefore, the improvement of the legal system to  
create an investment-attracting environment to be a  
prerequisite issue and needs to be done early today. In  
the article, the author will synthesize the provisions of  
Vietnamese laws governing the franchising activities of  
foreign enterprises, thereby giving out the issues that  
need giving some improvement in the current context.  
Về nhượng quyền thương mại quốc tế  
Hiện pháp luật Việt Nam chưa đưa ra khái niệm cụ thể cho vấn  
đề này. Dựa trên khái niệm về nhượng quyền thương mại ở trên,  
chúng ta có thể hiểu nhượng quyền thương mại quốc tế sẽ có phạm  
vi rộng hơn. Thông thường, nhượng quyền thương mại quốc tế  
được hiểu là hoạt động nhượng quyền thương mại có yếu tố nước  
ngoài. Do vậy, dựa trên định nghĩa về nhượng quyền thương mại  
tại Điều 284 Luật Thương mại 2005 [1] và định nghĩa về quan hệ  
có yếu tố nước ngoài theo Điều 663 Bộ luật Dân sự 2015 [5], có  
thể hiểu nhượng quyền thương mại quốc tế gồm các yếu tố: 1) Một  
hoạt động nhượng quyền thương mại; 2) Có yếu tố nước ngoài, và  
yếu tố nước ngoài ở đây có thể là ít nhất một trong các bên tham  
gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài, việc xác lập, thay đổi, thực  
hiện hoặc chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại ở nước  
ngoài. Đối với trường hợp “đối tượng của quan hệ dân sự đó ở  
nước ngoài” theo Điều 663 thì một số ý kiến cho rằng, đối tượng  
của nhượng quyền thương mại là “quyền thương mại”, tức là tài  
sản vô hình thì khó có thể xác định được vị trí địa lý của nó. Do  
vậy, hoạt động nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài  
khó có thể phát sinh từ việc đối tượng hoạt động nhượng quyền  
thương mại ở nước ngoài mà chỉ có thể bắt nguồn từ chủ thể là  
pháp nhân nước ngoài và sự kiện xác lập thay đổi hoặc chấm dứt  
hoạt động đó diễn ra ở nước ngoài.  
Keywords: franchising, international franchising,  
Vietnamese law.  
Classification number: 5.5  
sản xuất hoặc có thể là tổng hợp tất cả những quyền đối với hầu hết  
các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ để bên nhận quyền có thể sử  
dụng để tạo ra những sản phẩm, dịch vụ giống với những sản phẩm  
hoặc dịch vụ mà bên nhượng quyền tạo ra. Khi chưa có một khái  
niệm chính thức về “quyền thương mại” thì nội dung của “quyền  
thương mại” sẽ phụ thuộc vào giải thích của các bên trong từng quan  
hệ nhượng quyền thương mại cụ thể. Tuy nhiên, quyền thương mại  
có thể gồm cả quyền sở hữu công nghiệp và cách thức kinh doanh,  
bí quyết kinh doanh, cách thức quản lý, điều hành hệ thống…  
Về tính đồng bộ và tính hệ thống: tính đồng bộ và hệ thống  
là đặc trưng không thể thiếu của quan hệ nhượng quyền thương  
mại. Mục đích chính của bên nhượng quyền khi chấp nhận nhượng  
quyền cho người khác là để mở rộng hệ thống sản xuất, phân phối  
hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ. Ở hầu hết các cơ sở nhượng  
quyền, dù ở vị trí địa lý nào, đều phải đạt tiêu chuẩn theo một mô  
hình đã được thiết kế trước với ý tưởng của bên nhượng quyền [2].  
Ví dụ, một trong những yêu cầu cần thiết của bên nhận quyền là  
bảo đảm chuỗi cửa hàng kinh doanh phải tuân thủ đúng mô hình  
1Mark Abell (2020), The regulation of franchising around the world, https://thelawreviews.  
co.uk/edition/the-franchise-law-review-edition-7/1214094/the-regulation-of-franchising-  
around-the-world.  
35  
63(4) 4.2021  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
thức của nhượng quyền, mà là một hợp đồng giữa hai bên nhằm  
cùng tham gia phát triển một công việc kinh doanh [7]. Trong  
phương thức tiếp cận này, bên nhượng quyền ký kết một hợp đồng  
liên doanh với đối tác là công dân của quốc gia nhận quyền. Công  
ty liên doanh thường sẽ được thành lập nhưng thỏa thuận này được  
coi như là một mối quan hệ hợp đồng. Bên nhượng quyền sẽ giao  
kết cả hợp đồng phát triển khu vực hoặc hợp đồng nhượng quyền  
chung với công ty liên doanh, sẽ tạo ra một mạng lưới các cơ sở  
thuộc sở hữu của công ty liên doanh hay cơ sở nhượng quyền. Vì  
thế, liên doanh có các ưu và nhược điểm tương tự với hợp đồng  
nhượng quyền chung và hợp đồng phát triển khu vực. Thông qua  
liên doanh, bên nhượng quyền có thể có được sự kiểm soát đối với  
hệ thống nhượng quyền và tài sản trí tuệ. Tuy nhiên, liên doanh có  
thể hoạt động không như dự tính của bên nhượng quyền bởi những  
bất đồng về lợi ích giữa bên nhượng quyền và đối tác. Tiếp cận  
bằng hình thức liên doanh chỉ được áp dụng tại quốc gia có sự khác  
biệt lớn về mặt văn hóa và bên nhượng quyền cần đối tác là người  
có kiến thức địa phương [8].  
Phương thức thâm nhập thị trường quốc tế của doanh nghiệp  
nhượng quyền  
Nhượng quyền trực tiếp (direct franchising)  
Nhượng quyền thương mại trực tiếp là việc bên nhượng quyền  
trực tiếp giao kết hợp đồng nhượng quyền đối với bên nhận quyền  
tại quốc gia tiếp nhận mà không có bất kỳ sự can thiệp của bên  
thứ ba nào [6]. Lợi ích cho bên nhượng quyền là có thể thiết lập  
một mối quan hệ mật thiết với bên nhận quyền và có thể tiến hành  
nhiều cuộc kiểm tra để đảm bảo sẽ có tương lai triển vọng tại thị  
trường mới. Hơn nữa sự duy trì những hoạt động tại địa phương  
cũng đem lại lợi ích cho nhà nhượng quyền, và sẽ cung cấp cho  
bên nhận quyền những bí quyết kinh doanh, đào tạo và hỗ trợ cần  
thiết để đảm bảo nhà nhận quyền địa phương điều hành hoạt động  
cơ sở nhượng quyền dựa trên những tiêu chuẩn của thương hiệu  
và bằng cách thức do bên nhượng quyền yêu cầu [7]. Tuy nhiên,  
nhượng quyền thương mại trực tiếp hạn chế cả về tốc độ lẫn quy  
mô việc mở rộng hệ thống nhượng quyền bởi tính chất phức tạp  
khi đàm phán, kiểm soát và cung cấp các hỗ trợ cho các bên nhận  
quyền từ nước đầu tư [6].  
Công ty con (subsidiary)  
Công ty con của doanh nghiệp nhượng quyền tại nước đầu tư  
là một thực thể pháp lý có vị thế pháp lý độc lập tách biệt với công  
ty nhượng quyền. Công ty con có thể tự mở một cơ sở hoặc ký một  
hợp đồng nhượng quyền với bên nhận quyền tại quốc gia nhận  
quyền. Vì có công ty con này, bên nhận quyền có thể điểu khiển  
hiệu quả các quyền sở hữu trí tuệ, và mở các cơ sở thử nghiệm để  
kiểm tra thị trường, đào tạo và cung cấp hỗ trợ cho bên nhận quyền.  
Tuy nhiên, việc thành lập công ty con đòi hỏi thêm một số khoản  
chi phí và sự cam kết ràng buộc hơn từ phía nhượng quyền [8].  
Nhượng quyền thương mại chung (master franchising)  
Hợp đồng nhượng quyền thương mại chung là lựa chọn phổ  
biến nhất trong nhượng quyền thương mại quốc tế. Đối với phương  
thức này, người nhận quyền có nhiều quyền hơn. Ngoài quyền mở  
và khai thác các cửa hàng nhượng quyền trong một phạm vi khu  
vực xác định, còn cho phép người nhận quyền bán các cửa hàng  
nhượng quyền cho người khác trong phạm vi khu vực đó, được gọi  
là nhượng quyền lại (sub-franchise) [8]. Nhượng quyền thương  
mại chung đem lại cho bên nhượng quyền nhiều lợi ích, trong đó  
có tốc độ tiếp cận thị trường nhanh, hệ thống phát triển nhanh,  
chi phí cho vốn thấp và tận dụng được vốn hiểu biết của đối tác  
địa phương về môi trường kinh doanh của nước tiếp nhận nhượng  
quyền. Tuy nhiên, bên nhượng quyền sẽ mất cơ hội tiếp cận và  
kiểm soát trực tiếp đối với bên nhận quyền thị trường tại quốc gia  
tiếp nhận, và cũng phải đối mặt với những nguy cơ vì lý do lựa  
chọn hạn chế đối tác nhận quyền cũng như rủi ro thương hiệu bị  
ảnh hưởng tiêu cực [8].  
Chi nhánh (branch)  
Một chi nhánh, cũng như công ty con, giúp cho bên nhượng  
quyền có thể thử hệ thống nhượng quyền, đào tạo và cung cấp hỗ  
trợ cho bên nhận quyền. Việc thành lập chi nhánh yêu cầu nguồn  
tài chính ban đầu và quản lý đỡ tốn kém hơn việc lập công ty con.  
Tuy nhiên, chi nhánh không phải là một thực thể pháp lý độc lập và  
nhà nhượng quyền phải đảm nhận các trách nhiệm pháp lý của chi  
nhánh của mình tại quốc gia nhận quyền. Thông thường việc lựa  
chọn thành lập công ty con hay chi nhánh của nhà nhượng quyền  
phụ thuộc vào các quy định về thuế [8].  
Hợp đồng phát triển khu vực (area development agreement)  
Đối với hợp đồng phát triển khu vực, người nhận quyền có  
quyền mở nhiều cửa hàng nhượng quyền trong một phạm vi khu  
vực và một khoảng thời gian đã được xác định [9]. Thông thường  
với phương thức nhượng quyền này, nhượng quyền lại là không  
được phép, và nhà phát triển khu vực (bên nhận quyền) có trách  
nhiệm thành lập các cơ sở kinh doanh tại khu vực đó và giám sát  
hoạt động tại khu vực đó thường xuyên [7]. Lợi ích cho bên nhượng  
quyền trong hợp đồng phát triển khu vực là bên nhận quyền không  
phải cùng lúc làm việc với rất nhiều đối tác nhượng quyền và giúp  
cho nhà nhượng quyền phát triển hệ thống của mình nhanh chóng  
dù chỉ phải làm việc với một nhà nhận quyền [7]. Bên cạnh đó, nhà  
nhượng quyền có thể sẽ phải chịu thiệt hại nghiêm trọng nếu như  
bên nhận quyền thất bại vì mọi cơ sở đều thuộc quyền sở hữu của  
bên nhận quyền [8].  
Đại diện khu vực (area represenatives)  
Về bản chất, một hợp đồng đại diện khu vực không được coi là  
một hình thức nhượng quyền thương mại nhưng đôi khi nó cũng có  
thể được lựa chọn thay thế khi các nhà nhượng quyền muốn phát  
triển hoạt động kinh doanh ra nước ngoài. Nó thiên về bản chất của  
một hợp đồng cung cấp dịch vụ với đại diện khu vực trong tư cách  
là bên nhượng quyền sẽ được bên nhận quyền trả một khoản tiền và  
đồng thời cũng phải cung cấp cho họ sự hướng dẫn, huấn luyện…  
Với cách thức này, nhà nhượng quyền có thể vẫn nắm giữ quyền  
kiểm soát đối với bên nhận quyền, không giống như hình thức  
nhượng quyền chung hay phát triển khu vực. Hơn nữa, hợp đồng  
đại diện khu vực có thể chấm dứt một cách dễ dàng, bên nhượng  
quyền chỉ cần hủy đại diện của mình. “Điểm trừ” của hình thức  
này đó là những rủi ro tiềm năng mà đại diện khu vực có thể gây ra  
khi hỗ trợ bên nhận quyền. Khi đó, bên nhượng quyền phải lường  
trước mọi hoạt động của đại diện khu vực đối với bên nhận quyền.  
Liên doanh (joint venture)  
Về bản chất, phương thức liên doanh không phải là một hình  
63(4) 4.2021  
36  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
nhượng quyền của các cơ quan nhà nước.  
Pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của  
doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam  
c. “Hàng hóa, dịch vụ kinh doanh thuộc đối tượng của quyền  
thương mại không vi phạm quy định tại Điều 7 của Nghị định  
này”. Theo Điều 7 của Nghị định 35 thì hàng hóa, dịch vụ kinh  
doanh thuộc đối tượng của hoạt động nhượng quyền thương mại là  
hàng hóa, dịch vụ không thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm  
kinh doanh. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục này  
hoặc Danh mục hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện, doanh  
nghiệp chỉ được kinh doanh sau khi được cơ quan quản lý ngành  
cấp Giấy phép kinh doanh, giấy tờ có giá trị tương đương hoặc có  
đủ điều kiện kinh doanh. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước  
ngoài chuyên hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên  
quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa khi muốn tiến hành hoạt động  
nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, ngoài những quy định  
được nêu ra tại Điều 7 nêu trên, các doanh nghiệp này chỉ được  
thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại đối với những mặt  
hàng mà doanh nghiệp đó được kinh doanh dịch vụ phân phối theo  
cam kết quốc tế của Việt Nam.  
Điều kiện hoạt động nhượng quyền thương mại  
Đối với bên nhượng quyền, theo Điều 5 Nghị định 352 thì:  
a. “Hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã  
được hoạt động ít nhất 1 năm. Trường hợp thương nhân Việt Nam  
là Bên nhận quyền sơ cấp từ Bên nhượng quyền nước ngoài,  
thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh theo phương thức  
nhượng quyền thương mại ít nhất 1 năm ở Việt Nam trước khi tiến  
hành cấp lại quyền thương mại”. Điều kiện này áp dụng đối với  
thương nhân Việt Nam trước khi mua một hệ thống kinh doanh  
phải có trải nghiệm trên thị trường để có kinh nghiệm và đánh giá  
khả năng sinh lời trong lĩnh vực đó trước khi tiến hành hoạt động  
kinh doanh theo hợp đồng nhượng quyền. Ở đây, chúng ta thấy  
pháp luật đưa ra quy định này nhằm bảo vệ các doanh nghiệp trong  
nước, bảo đảm các doanh nghiệp trong nước phải có được những  
kinh nghiệm nhất định trước khi mua một hệ thống kinh doanh.  
b. “Đã đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ  
Hơn nữa, hiện Việt Nam đã gia nhập WTO, Ban công tác về  
quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 18 của Nghị định việc gia nhập WTO của Việt Nam đã đưa ra Biểu cam kết cụ thể  
này”. Theo Điều 18 Nghị định 35, Bộ Thương mại3 thực hiện đăng  
ký hoạt động nhượng quyền thương mại từ nước ngoài vào Việt  
Nam, bao gồm cả hoạt động nhượng quyền thương mại từ khu chế  
xuất, khu phi thuế quan hoặc các khu vực hải quan riêng theo quy  
định của pháp luật Việt Nam và yêu cầu hoạt động nhượng quyền  
thương mại mà bên nhượng quyền là doanh nghiệp nước ngoài thì  
phải đăng ký hoạt động với Bộ Công Thương, còn doanh nghiệp  
trong nước thì thực hiện thủ tục báo cáo. Điều này dẫn tới vấn đề  
nảy sinh là khi trở thành thành viên của WTO và Hiệp định chung  
về thương mại dịch vụ GATS, Việt Nam phải tuân thủ nguyên tắc  
tối huệ quốc (MFN), mà với quy định khác biệt về điều kiện hoạt  
động nhượng quyền thương mại của doanh nghiệp nước ngoài và  
doanh nghiệp trong nước liệu có đảm bảo tuân thủ nguyên tắc trên  
hay không. Tuy nhiên, Nghị định 08/2018/NĐ-CP ra đời đã loại bỏ  
điều kiện này, thể hiện pháp luật cũng hướng tới việc coi hoạt động  
nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại mà các  
về dịch vụ, bên cạnh đó Việt Nam cũng đã ký kết các điều ước  
song phương với các quốc gia như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Úc… Vì  
vậy, khi tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt  
Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp  
nhượng quyền thương mại cũng là doanh nghiệp nước ngoài đến  
từ quốc gia cùng là thành viên của WTO thì phải tuân theo lộ trình  
cam kết mở cửa đối với lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ mà Việt Nam  
đã ký kết, đồng thời cũng phải tuân thủ các điều ước song phương  
mà hai bên đã ký kết.  
Đối với bên nhận quyền, trước đây quy định về hướng dẫn  
nhận nhượng quyền thương mại thì thương nhân được phép nhận  
quyền thương mại khi có đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp  
với đối tượng của quyền thương mại. Tuy nhiên, căn cứ vào Nghị  
định 08/2018/NĐ-CP sửa đổi một số nghị định liên quan đến điều  
kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ  
Công Thương  
4 thì quy định về điều kiện trên đã bị bãi bỏ, có nghĩa  
bên được tự do giao kết hợp đồng và ràng buộc nhau qua hợp đồng. là Nhà nước không còn quy định về điều kiện đối với bên nhận  
nhượng quyền thương mại.  
Liên quan tới vấn đề đăng ký nhượng quyền, pháp luật Việt  
Trong trường hợp thương nhân (Việt Nam) là bên nhận quyền  
sau một thời gian muốn nhượng quyền lại cho một bên khác,  
thì pháp luật yêu cầu bên Việt Nam cũng phải kinh doanh theo  
phương thức nhượng quyền thương mại ít nhất một năm trước khi  
tiến hành cấp lại quyền thương mại.  
Nam còn bộc lộ một số điểm là: thương nhân nhượng quyền có  
nghĩa vụ đơn phương đăng ký hoạt động nhượng quyền thương  
mại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, trong các  
trường hợp xóa hoạt động nhượng quyền thương mại theo quy  
định tại Điều 22.1 Nghị định 35, không có trường hợp nào thể hiện  
được ý chí muốn chấm dứt hoạt động nhượng quyền thương mại  
của các bên tham gia nhượng quyền [2]. Vì vậy, trong trường hợp  
bên nhượng quyền tiến hành xong đăng ký nhượng quyền nhưng vì  
một lý do nào đó mà không thể tiếp tục hoạt động nhượng quyền,  
thì việc thiếu đi quy định của pháp luật về rút đơn đăng ký nhượng  
quyền có thể dẫn đến tình trạng có doanh nghiệp đã đăng ký nhưng  
không hoạt động, gây khó khăn cho công tác quản lý hệ thống  
Yêu cầu về cung cấp thông tin  
Đối với bên nhượng quyền, theo Nghị định 35, bên nhượng  
quyền phải cung cấp các tài liệu quy định cho bên nhận quyền  
ít nhất 15 ngày trước khi ký kết hợp đồng nhượng quyền thương  
mại. Việc đưa ra những thông tin chi tiết cho bên nhận quyền sẽ  
giúp cho nhà nhận quyền dự kiến hiểu rõ được nhà nhượng quyền,  
những quy định của các bên trong suốt quá trình thực hiện và rõ  
ràng cũng giúp cho nhà nhận quyền đánh giá lại khả năng của  
2Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương  
mại về hoạt động nhượng quyền thương mại.  
4Nghị định 08/2018/NĐ-CP ngày 25/1/2018 của Chính phủ sửa đổi một số nghị định liên  
quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.  
3Nay là Bộ Công Thương.  
37  
63(4) 4.2021  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
mình, đánh giá lại khả năng theo đuổi của mình cùng với nhà  
Chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại của doanh  
nhượng quyền trong tương lai. Vì khi đã trở thành nhà nhận quyền nghiệp nước ngoài tại Việt Nam: đối với năng lực chủ thể của  
là cam kết trọn vẹn cùng nhà nhượng quyền chia sẻ thành công và hợp đồng nhượng quyền thương mại nước ngoài tại Việt Nam  
khó khăn trong suốt quá trình hợp tác này [3]. Hiện nay, khi mà  
hoạt động nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài chủ yếu  
là các doanh nghiệp Việt Nam mua lại hệ thống kinh doanh của các  
nhà nhượng quyền nước ngoài thì các nhà nhận quyền (Việt Nam)  
cần phải có đủ thời gian để nghiên cứu và tìm hiểu nhằm đánh giá  
khả năng kinh doanh của hệ thống, tránh rủi ro trước khi ký kết  
hợp đồng.  
thì Nghị định 35 đã quy định rõ điều kiện dành cho thương nhân  
nhượng quyền và thương nhân nhận quyền dù đó là thương nhân  
Việt Nam hay thương nhân nước ngoài. Theo đó, chủ thể của hợp  
đồng nhượng quyền thương mại nước ngoài tại Việt Nam cũng cần  
thỏa mãn các điều kiện giống như chủ thể của hợp đồng nhượng  
quyền thương mại nói chung [5]. Theo lộ trình cam kết về mở cửa  
thị trường bán lẻ sau WTO, Việt Nam đã ban hành một số quy  
định. Từ ngày 1/1/2008, Việt Nam được phép liên doanh trong  
lĩnh vực nhượng quyền thương mại không hạn chế mức góp vốn từ  
phía nước ngoài; và từ ngày 1/1/2009, phía nước ngoài được thành  
lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Tức là kể từ thời điểm  
này, doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài được đối xử bình đẳng  
ngang nhau trước pháp luật.  
Đối với bên dự kiến nhận quyền, trong hoạt động nhượng  
quyền thương mại, khi bên nhượng quyền trao các quyền thương  
mại của mình, bao gồm thương hiệu do mình gây dựng nên cùng  
các bí mật kinh doanh, cho một đối tác khác có thể gây ra nhiều rủi  
ro trong vấn đề nắm giữ ưu thế cạnh tranh, hơn nữa nếu bên nhận  
quyền thất bại thì sẽ ảnh hưởng đáng kể tới bên nhượng quyền. Vì  
thế bên nhượng quyền có quyền yêu cầu bên nhận quyền cung cấp  
thông tin một cách hợp lý để có thể quyết định trao quyền cho bên  
dự kiến nhận quyền.  
Nội dung cần chú ý của hợp đồng nhượng quyền thương mại:  
về vấn đề này, Điều 11 Nghị định 35 quy định: “Trong trường hợp  
các bên lựa chọn áp dụng luật Việt Nam, hợp đồng nhượng quyền  
thương mại có thể có các nội dung chủ yếu sau đây…”. Điều này  
chứng tỏ rằng pháp luật Việt Nam không áp đặt quy định về nội  
dung bắt buộc phải có trong hợp đồng nhượng quyền thương mại  
mà tùy theo từng hợp đồng cụ thể các bên có thể tự do thỏa thuận  
đưa ra những điều khoản mà cả hai cùng đồng thuận. Mặc dù vậy,  
đối với một hợp đồng nhượng quyền thương mại quốc tế, vấn đề về  
cơ quan giải quyết tranh chấp và luật áp dụng cho hợp đồng là một  
trong những vấn đề các bên cần quan tâm khi giao kết hợp đồng.  
Hợp đồng nhượng quyền thương mại quốc tế  
Định nghĩa hợp đồng nhượng quyền thương mại quốc tế: Điều  
285 Luật Thương mại 2005 [1] đã đề cập thuật ngữ “hợp đồng  
nhượng quyền thương mại” và tại Nghị định 35 đã định nghĩa  
về “hợp đồng phát triển quyền thương mại”, “hợp đồng nhượng  
quyền thương mại thứ cấp” nhưng khi đề cập đến thuật ngữ “hợp  
đồng nhượng quyền thương mại” thì không đưa ra một định nghĩa  
mà chỉ nói về hình thức của hợp đồng nhượng quyền thương mại.  
Dù vậy, dựa vào định nghĩa về hoạt động nhượng quyền thương  
mại quốc tế đã đề cập, chúng ta có thể hiểu hợp đồng nhượng  
quyền thương mại quốc tế trước hết là một hợp đồng thương mại.  
Nếu theo quy định mang tính chung cho mọi quan hệ dân sự thì  
yếu tố quyết định tính quốc tế hay yếu tố nước ngoài có thể rơi vào  
chủ thể, sự kiện pháp lý hoặc đối tượng của quan hệ. Cụ thể hơn,  
một hợp đồng nhượng quyền thương mại của doanh nghiệp nước  
ngoài tại Việt Nam thì trước hết bên nhượng quyền phải là thương  
nhân nước ngoài [5]. Còn về phía bên nhận quyền, có thể là thương  
nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài có trụ sở tại Việt  
Nam và đang tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Tuy  
nhiên, hoạt động nhượng quyền thương mại này phải được tiến  
hành trên lãnh thổ Việt Nam.  
Điều 11 Nghị định 35 quy định, pháp luật thương mại Việt  
Nam không ấn định hệ thống pháp luật nào sẽ được áp dụng để  
điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước  
ngoài. Do vậy, các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận để lựa chọn hệ  
thống pháp luật để điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại  
của mình. Trong trường hợp hợp đồng không có điều khoản về luật  
áp dụng thì việc xem xét luật áp dụng để điều chỉnh nội dung hợp  
đồng nhượng quyền thương mại quốc tế sẽ được vận dụng như đối  
với hợp đồng nói chung theo Điều 683 Bộ luật Dân sự 2015 [5].  
Khác với hợp đồng nhượng quyền thương mại trong nước, hợp  
đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài hoàn toàn  
có thể được giải quyết bởi cơ quan tài phán nước ngoài và hoàn  
toàn có khả năng bị chi phối bởi hệ thống pháp luật nước ngoài  
và các điều ước quốc tế có liên quan. Cho dù khi tranh chấp xảy  
ra thì lúc đó các bên mới nghĩ tới chuyện cơ quan tài phán, nhưng  
với hợp đồng có yếu tố nước ngoài nói chung thì cơ quan tài phán  
nước nào có thẩm quyền giải quyết lại đóng vai trò quan trọng cho  
vấn đề luật áp dụng - cũng có nghĩa là tới kết quả phán quyết sau  
này. Lý do cơ bản là bởi nếu không có điều ước quốc tế có liên  
quan điều chỉnh thì cơ quan tài phán nước nào sẽ sử dụng ngay hệ  
thống pháp luật nước đó để xem xét các vấn đề của hợp đồng [11].  
“Sử dụng ngay” ở đây có thể là sử dụng quy phạm xung đột hoặc  
quy phạm thực chất (nếu pháp luật nước đó có quy phạm thực chất  
trực tiếp điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố  
nước ngoài). Do vậy trong trường hợp phải sử dụng pháp luật của  
Một hợp đồng nhượng quyền thương mại quốc tế phải đạt được  
hai mục đích cơ bản: (1) các điều khoản của hợp đồng phải đầy đủ,  
rõ ràng, chính xác để ràng buộc các bên bằng quan hệ hợp đồng và  
có thể giải quyết được các vướng mắc nảy sinh trong quá trình thực  
hiện hợp đồng; (2) bảo vệ được quyền lợi của các bên và đặc biệt là  
quyền sở hữu trí tuệ của bên giao quyền kinh doanh. Bên nhượng  
quyền cũng cần phải biết thêm rằng, theo pháp luật Việt Nam, nếu  
có điểm nào không rõ ràng trong hợp đồng nhượng quyền thương  
mại thì tòa án thường có xu hướng giải thích điểm đó theo hướng  
có lợi cho bên nhận quyền với lý do chính bên giao quyền là người  
soạn thảo hợp đồng [10]. “Trong trường hợp bên mạnh thế đưa vào  
hợp đồng nội dung bất lợi cho bên yếu thế thì khi giải thích hợp  
đồng phải theo hướng có lợi cho bên yếu thế” (Khoản 8, Điều 409 nước có cơ quan tài phán thụ lý vụ việc, thì việc lựa chọn cơ quan  
Bộ luật Dân sự [5]).  
tài phán để giải quyết tranh chấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc  
63(4) 4.2021  
38  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
áp dụng pháp luật thực chất để điều chỉnh hợp đồng. Đây chính  
là điều đáng lưu ý cho các thương nhân Việt Nam khi thực hiện  
nhượng quyền thương mại. Giải pháp an toàn cho các thương nhân  
Việt Nam có lẽ vẫn là lựa chọn trọng tài hoặc tòa án Việt Nam.  
Khi đó các thương nhân Việt Nam sẽ có lợi về chi phí cũng như  
am hiểu luật pháp.  
hữu trí tuệ ở đây gồm tên thương mại, nhãn hiệu, bí quyết kinh  
doanh… Đối với pháp luật một số quốc gia khác, việc chuyển giao  
tên thương mại được coi là một phần khó tách rời đối với hoạt  
động nhượng quyền thương mại: Tiểu mục 77(5) của Luật Cạnh  
tranh của Canada quy định rằng “một công ty được liên kết trong  
đó một bên cấp cho bên kia quyền sử dụng nhãn hiệu hoặc tên  
thương mại để xác định hoạt động kinh doanh của bên được cấp”6.  
Bên cạnh đó pháp luật Hoa Kỳ, Đức, Phần Lan cũng ghi nhận về  
việc bên nhận nhượng quyền sẽ được sử dụng tên thương mại cùng  
với nhãn hiệu, bí quyết kinh doanh trong hoạt động kinh doanh  
của mình. Do vậy, Luật Sở hữu trí tuệ [12] cũng cần phải xem xét  
đặt ra trường hợp ngoại lệ về chuyển quyền sử dụng tên thương  
mại trong hoạt động nhượng quyền thương mại, từ đó đảm bảo  
tính đồng bộ cho thương nhân khi tiến hành chuyển giao “quyền  
thương mại”.  
Một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhượng  
quyền thương mại của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam  
Hoànthiệncácquyđịnhvềhìnhthứcnhượngquyềnthươngmại  
Việc thiếu hụt trong quy định về hình thức nhượng quyền  
thương mại là một trong những nguyên nhân làm cho chế định  
pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại sơ sài và  
không hiệu quả. Việc quy định rõ về các hình thức nhượng quyền  
thương mại không chỉ giúp cho các doanh nghiệp nước ngoài cũng  
như trong nước có hình dung rõ nét hơn về tính đa dạng của hoạt  
động nhượng quyền thương mại mà còn đưa ra cho các chủ thể  
những hình dung về các sự kiện pháp lý, hậu quả pháp lý có thể  
xảy ra đối với từng hình thức nhượng quyền thương mại [2]. Đối  
với nhà chuyển nhượng quyền là các thương nhân nước ngoài thì  
việc quy định rõ ràng các hình thức nhượng quyền thương mại sẽ  
giúp tránh được những sai phạm khi giao kết hợp đồng nhượng  
quyền thương mại.  
Hoàn thiện các quy định pháp luật về hạn chế cạnh tranh  
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại  
Luật Cạnh tranh 2018 [13] đã đưa ra các trường hợp mà thỏa  
thuận cạnh tranh bị cấm. Tuy nhiên, do tính đặc thù của hoạt động  
nhượng quyền thương mại mà nhiều khi bên nhượng quyền phải  
đưa ra những yêu cầu có thể mâu thuẫn với các quy định của pháp  
luật trong vấn đề này. Vì vậy, pháp luật điều chỉnh hoạt động  
nhượng quyền thương mại sắp tới cần đưa vào hợp đồng những  
trường hợp ngoại lệ cụ thể mà pháp luật cho phép doanh nghiệp và  
được Nhà nước bảo vệ.  
Hoàn thiện quy định về thủ tục rút đơn đăng ký nhượng  
quyền thương mại  
Như đã đề cập ở trên, hiện nay chưa có quy định của pháp  
luật quy định vấn đề rút đơn đăng ký nhượng quyền thương mại.  
Việc bổ sung quy định này sẽ giúp cho các doanh nghiệp, cụ thể là  
các doanh nghiệp nước ngoài, đối tượng phải đăng ký hoạt động  
nhượng quyền thương mại khi gia nhập thị trường Việt Nam có  
một vị thế chủ động, linh hoạt và tạo cho các doanh nghiệp này  
quyền tự quyết khi tiến hành hoạt động kinh doanh của mình.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Quốc hội khóa XI (2005), Luật Thương mại 2005 (số 36/2005/QH11) ngày  
14/6/2005.  
[2] Vũ Đặng Hải Yến (2008), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều  
chỉnh nhượng quyền thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ  
luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.  
[3] Nguyễn Khánh Trung (2008), Franchise: chọn hay không?, Nxb Đại học Quốc  
gia TP Hồ Chí Minh.  
[4] Nguyễn Thị Dung (chủ biên) (2008), Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và  
đầu tư - Những vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia.  
Hoàn thiện quy định về thời hạn và chấm dứt hợp đồng  
nhượng quyền thương mại  
[5] Quốc hội khóa XIII (2015), Bộ luật Dân sự 2015 (số 91/2015/QH13) ngày  
Nhiều chuyên gia cho rằng để thúc đẩy và phát triển hoạt động  
nhượng quyền thương mại tại thị trường Việt Nam thì cần nới  
lỏng các quy định pháp luật để thu hút đầu tư từ nước ngoài vào  
Việt Nam. Tuy nhiên về vấn đề thời hạn hợp đồng nhượng quyền  
thương mại, pháp luật cần cân nhắc định rõ một thời hạn tối thiểu  
cho hợp đồng thương mại. Ý nghĩa của việc đặt ra một thời hạn  
tối thiểu là để giúp cho hợp đồng nhượng quyền được tiến hành  
trong một thời gian vừa đủ để mỗi bên khai thác được lợi ích từ  
hoạt động nhượng quyền thương mại. Pháp luật cũng cần bổ sung  
thêm một số trường hợp chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương  
mại và quy định rõ hơn về sự ràng buộc giữa các bên sau khi hợp  
đồng chấm dứt5.  
24/11/2015.  
[6] Nguyễn Bá Bình (2008), “Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước  
ngoài theo pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 5, tr.9-15.  
[7] Snell/Wilmer (2018), Alternatives to master franchising: area development  
agreements, area representatives and jointventures, www.swlaw.com.  
[8] Nguyen Ba Binh (2012), The role and influence of Vietnam’s Franchise Law on  
the development of Franchising: a multiple case study, Dortoral thesis, University of New  
South Wales (Australia).  
[9] Nguyễn Đông Phong (chủ biên) (2009), Nhượng quyền thương mại tại Việt Nam,  
Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân.  
[10] Điêu Ngọc Tuấn (2009), “Những vấn đề cơ bản về nhượng quyền thương mại”,  
Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9, tr.4-12.  
d % E 1 % B B % 9 3 n g - n h % C 6 % B 0 % E 1 % B B % A 3 n g - q u y % E 1 % B B % 8 1 n -  
qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-international-franchise-agreement/, 05/05/2018.  
Hoàn thiện các quy định về sở hữu trí tuệ liên quan tới hoạt  
động nhượng quyền thương mại  
[12] Quốc hội khóa XI, XII, XIV (2005, 2009, 2019), Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (số  
50/2005/QH11) ngày 29/11/2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí  
tuệ (số 36/2009/QH12) ngày 19/6/2009; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh  
doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ (số 42/2019/QH14) ngày 14/6/2019.  
Pháp luật cần có những quy định bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ  
toàn diện trong hoạt động nhượng quyền thương mại. Quyền sở  
[13]QuốchộikhóaXIV(2018),LuậtCạnhtranh2018(số23/2018/QH14)ngày12/6/2018.  
5Xem thêm. Vũ Đặng Hải Yến (2008), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều  
chỉnh nhượng quyền thương mại trong nên kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật  
học, Trường Đại học Luật Hà Nội.  
6The OECD Secretariat (1994), Competition Policy and Vertical Restraints: Franchising  
Agreements, Organisation for Economic Co-operation and Development, p.241.  
39  
63(4) 4.2021  
pdf 6 trang Thùy Anh 13520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhượng quyền thương mại của doanh nghiệp nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhuong_quyen_thuong_mai_cua_doanh_nghiep_nuoc_ngoai_theo_quy.pdf