Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường từ góc nhìn lý thuyết đến luật thực định của Việt Nam

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG  
TỪ GÓC NHÌN LÝ THUYẾT ĐẾN LUẬT THỰC ĐỊNH CỦA VIỆT NAM  
Nguyễn Thị Phương Châm*  
Nguyễn Minh Châu**  
*TS. GV. Bộ môn Luật dân sự, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội.  
**Sinh viên Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Tóm tắt:  
Thông tin bài viết:  
Luꢀt Bảo vệ môi trường năm 2020 (Luꢀt 2020) có hiệu lực từ ngày  
01/01/2022 thay thế Luꢀt Bảo vệ môi trường năm 2014 với kỳ vọng sẽ mang  
lại sự thay đꢁi mạnh mẽ, tích cực đꢂi với quy chế trꢃch nhiệm bồi thường  
thiệt hại với tư cꢃch là phương thức bảo vệ môi trường (tài sản công) cũng  
như tài sản, sức khoẻ của chủ thể phꢃp luꢀt dân sự (tài sản tư). Để có mꢄt  
đꢃnh giꢃ khꢃch quan về quy chế phꢃp lý hiện hành của Việt Nam trong lĩnh  
vực bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra, cꢃc tꢃc giả tꢀp trung  
nghiên cứu cꢃc nꢄi dung: (1) Lịch sử phꢃt triển của nguyên tắc “người gây ô  
nhiễm phải trả tiền”; (2) Đặc điểm của trꢃch nhiệm bồi thường thiệt hại do ô  
nhiễm môi trường gây ra; (3) Phân loại trꢃch nhiệm bồi thường thiệt hại do ô  
nhiễm môi trường gây ra; (4) Phꢃp luꢀt Việt Nam hiện hành về trꢃch nghiệm  
bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường.  
Từ khóa: Ô nhiễm môi trường,  
bồi thường thiệt hại do ô nhiễm  
môi trường, Luꢀt Bảo vệ môi  
trường năm 2020.  
Lịch sử bài viết:  
Nhꢀn bài  
Biên tꢀp  
Duyệt bài  
: 12/5/2021  
: 15/5/2021  
: 17/5/2021  
Abstract:  
Article Infomation:  
The Law on Environmental Protection of 2020 takes effect from January 1,  
2022, which is to replace the Law on Environmental Protection of 2014, with  
the expectation of providing a strong and positive regulations on compensation  
liability for damages as a means of protecting the environment (public  
property) as well as the property and health of civil law subjects (private  
property). The authors, as an objective assessment of Vietnam's current legal  
regulations in the field of compensation for damage caused by environmental  
pollution, focus on reviewing the following contents: (1) Development  
history of the principle of “polluter pays”; (2) Characteristics of compensation  
liability for damages caused by environmental pollution; (3) Classification of  
compensation liability for damages caused by environmental pollution; (4)  
Current Vietnamese law on liability for damages in the field of environment.  
Keywords:  
Environmental  
pollution; compensation for  
damage caused by environmental  
pollution; Law on Environmental  
Protection of 2020.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 12 May 2021  
: 15 May 2021  
: 17 May 2021  
Approved  
1. Lịch sử hình thành nguyên tắc “người  
gây ô nhiễm phải trả tiền”  
nguyên tắc sic utere lần đầu được Tòa trọng  
tài ghi nhꢀn trong vụ Trail Smelter (1926)2 để  
ra phꢃn quyết: Chủ lò nung kim loại người  
Canada phải bồi thường cho nông dân ở bang  
Washington (Hoa Kỳ) vì đã xả thải làm thiệt  
hại lúa của họ.  
Xuyên suꢂt nhiều thế kỷ, cꢃc tòa ꢃn hệ  
thꢂng phꢃp luꢀt Anh - Mỹ đã ghi nhꢀn nguyên  
tắc “sic utere” bắt nguồn từ luꢀt La Mã rằng:  
không người nào có quyền gây ra mꢄt thiệt  
hại có thể lường trước được cho người khꢃc1.  
Trong lĩnh vực luꢀt môi trường quꢂc tế,  
Năm 1972, đại diện 113 nước họp ở  
Stockholm và ghi nhꢀn “sic utere” thành  
1 Robert V. Percival, Liability for Environmental Harm and Emerging Global Environmental Law, 2009.  
2 Vụ ꢃn lò nung kim loại tại Trail, https://legal.un.org/riaa/cases/vol_III/1905-1982.pdf, truy cꢀp ngày 30/07/2020.  
Số 15(439) - T8/2021  
43  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
nguyên tắc sꢂ 22 trong Tuyên ngôn  
Stockholm rằng: “Cꢃc quꢂc gia sẽ hợp tꢃc  
để phꢃt triển hơn nữa phꢃp luꢀt quꢂc tế liên  
quan đến trꢃch nhiệm và việc bồi thường cho  
cꢃc nạn nhân của ô nhiễm và thiệt hại khꢃc  
về môi trường […]”3.  
ô nhiễm phải trả tiền”. Nguyên tắc này được  
ghi nhꢀn trong Nguyên tắc sꢂ 13 về việc yêu  
cầu cꢃc quꢂc gia xây dựng hệ thꢂng phꢃp  
luꢀt bồi thường để giải quyết cꢃc thiệt hại  
do ô nhiễm môi trường, và trong Nguyên tắc  
sꢂ 16 về việc khuyến khích cꢃc quꢂc gia nꢄi  
luꢀt hóa cꢃc chi phí môi trường6.  
Năm 1972 và 1974, nguyên tắc “người  
gây ô nhiễm phải trả tiền” (Polluter Pays  
Principle) lần đầu được Tꢁ chức hợp tꢃc kinh  
tế và phꢃt triển (OECD) đề xuất. Nguyên tắc  
“người gây ô nhiễm phải trả tiền” năm 1972  
quy định, những chủ thể gây ô nhiễm phải trả  
phí cho mọi biện phꢃp phục hồi môi trường  
bị ô nhiễm. Đến năm 1974, nguyên tắc này  
được mở rꢄng ra, ngoài khoản phí khắc phục  
môi trường, chủ thể gây ô nhiễm còn phải bồi  
thường cho những nạn nhân chịu thiệt hại từ  
hành vi gây ô nhiễm của mình4.  
Năm 2004, Liên minh châu Âu (EU)  
ban hành Chỉ thị về trꢃch nhiệm môi trường  
2004/35/EC  
(Environmental  
Liability  
Directive) nhằm phòng ngừa và phục hồi  
cꢃc thiệt hại môi trường dựa trên nguyên tắc  
“người gây ô nhiễm phải trả tiền”7.  
2. Đặc điểm của bồi thường thiệt hại trong  
lĩnh vực môi trường  
2.1. Thời gian xuất hiện thiệt hại trải qua  
một quá trình lâu dài  
Để kiện đòi BTTH, nguyên đơn phải  
chứng minh tồn tại thiệt hại và mꢂi quan  
hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại. Tuy  
nhiên, việc chứng minh thiệt hại sức khỏe  
thường gặp phải nhiều trở ngại bởi tính đa  
thể của nguyên nhân. Khi chứng minh tꢁn  
hại sức khỏe, nguyên đơn cần phải cung  
cấp bằng chứng khoa học cho thấy hành vi  
của bị đơn đủ để gây bệnh. Trong lĩnh vực  
môi trường, thiệt hại về sức khoẻ đôi khi chỉ  
xuất hiện sau mꢄt khoảng thời gian tương  
đꢂi dài. Do vꢀy, mꢂi quan hệ nhân quả giữa  
hành vi và thiệt hại trở nên khó khăn hơn  
đꢂi với nạn nhân khi phải thực hiện nghĩa  
vụ lꢀp chứng.  
Năm 1980, Hoa Kỳ ghi nhꢀn nguyên tắc  
“người gây ô nhiễm phải trả tiền” trong Đạo  
luꢀtvềtrꢃchnhiệmphꢃplý,Bồithườngvàphản  
ứng toàn diện về môi trường (Comprehensive  
Environmental Response, Compensation, and  
Liability Act - CERCLA)5. Do những thꢀp kỷ  
trước, Hoa Kỳ đã có những chính sꢃch điều  
chỉnh việc quản lý chất thải, nên những cơ chế  
trên vẫn chưa đủ tính răn đe khi thiếu vắng cơ  
chế bồi thường thiệt hại (BTTH).  
Năm 1992, hꢄi nghị của Liên hợp quꢂc về  
môi trường và phꢃt triển ở Brazil thꢂng nhất  
theo đuꢁi cꢃc nguyên tắc của luꢀt môi trường  
quꢂc tế, trong đó có nguyên tắc “người gây  
3
UN General Assembly, United Nations Conference on the Human Environment, 15 December 1972, A/  
4 Ludwig Kramer, Focus on European Environmental Law, Sweet & Maxwell Limited, 1997.  
5
Đạo luꢀt về trꢃch nhiệm phꢃp lý, bồi thường và phản ứng toàn diện về môi trường (CERCLA) được phꢃp  
truy cꢀp ngày 09/05/2021.  
6 UN General Assembly, United Nations Conference on Environment and Development, Rio Declaration on  
ngày 09/05/2021.  
7 UN General Assembly, United Nations Conference on Environment and Development, Rio Declaration on  
ngày 09/05/2021.  
44  
Số 15(439) - T8/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Ví dụ như trong lĩnh vực xả thải hóa chất,  
trước hết, cần mꢄt khoảng thời gian có thể  
kéo dài vài năm hoặc cả thꢀp kỷ để lượng hóa  
chất tích tụ trong cơ thể người đạt ngưỡng có  
thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe8; thứ hai, khi  
tiếp xúc với hóa chất, cần mꢄt thời gian nhất  
định để hóa chất có thể biểu hiện ra bên ngoài  
dưới dạng bệnh tꢀt, ví dụ như ung thư9; thứ  
ba, cần chứng minh hành vi xả thải của bị đơn  
là nguyên nhân chính khiến nguyên đơn phꢃt  
bệnh (bởi tính đa thể của nguyên nhân)10. Do  
đó, sẽ mất rất nhiều năm để hóa chất tích tụ đủ  
trong môi trường, nhiều năm nữa để xuất hiện  
nạn nhân đầu tiên, và rất nhiều năm nữa để  
cꢃc nhà dịch tễ học thu thꢀp chứng cứ trên mꢄt  
sꢂ lượng nạn nhân đủ để có thể đưa ra bằng  
chứng khoa học đꢃng tin cꢀy.  
của nguyên đơn cũng gây khó khăn cho việc  
yêu cầu BTTH do ô nhiễm môi trường gây ra.  
2.2. Thiệt hại xảy ra trên diện rộng dẫn  
đến nhiều chủ thể (người bị hại) yêu cầu bồi  
thường thiệt hại  
Ô nhiễm môi trường thường (ví dụ ô nhiễm  
không khí, ô nhiễm nguồn nước, nguồn đất…)  
gây ra thiệt hại trên diện rꢄng không chỉ tꢃc  
đꢄng đến mꢄt vài cꢃ nhân mà còn tꢃc đꢄng đến  
mꢄt khu vực, mꢄt cꢄng đồng dân cư. Hơn nữa,  
thiệt hại trên diện rꢄng còn có nhiều biểu hiện  
khꢃc nhau… Dù là xuất phꢃt từ mꢄt nguồn tꢀp  
trung như từ cꢃc ꢂng khói hay từ cꢃc nguồn  
phân tꢃn khꢃc như từ ô tô, thì cꢃc hạt phân  
tử gây ô nhiễm không khí như ozone, sulfur  
dioxide vẫn là nguyên nhân gây ra cꢃc bệnh về  
hô hấp, tim mạch, thần kinh cũng như nhiều  
bệnh ung thư khꢃc  
Thời gian xuất hiện thiệt hại quꢃ dài là  
nguyên nhân gây khó khăn khi chủ thể muꢂn  
bù đắp thiệt hại thông qua cơ chế BTTH. Nói  
cꢃch khꢃc, cơ chế BTTH không còn là cơ chế  
hữu hiệu bảo vệ chủ thể khi quyền và lợi ích  
bị xâm hại do ô nhiễm môi trường gây ra nếu  
cơ chế này không đưa ra những giải phꢃp  
thỏa đꢃng đꢂi với đặc tính mang tính cꢂ hữu  
này. Điều kiện cấu thành trꢃch nhiệm BTTH  
hiện nay cho thấy, trước hết, nguyên đơn sẽ  
gặp khó khăn trong việc chứng minh tồn tại  
thiệt hại, cũng như mꢂi quan hệ nhân quả giữa  
hành vi gây ô nhiễm môi trường và thiệt hại  
với tư cꢃch là mꢄt trong cꢃc điều kiện cần cấu  
thành trꢃch nhiệm BTTH11. Bên cạnh đó, vấn  
đề thời hiệu ꢃp dụng đꢂi với mꢄt sꢂ yêu cầu  
Thiệt hại xảy ra trên diện rꢄng dẫn đến  
nhiều khó khăn khi ꢃp dụng chế định BTTH  
ngoài hợp đồng. Bởi lẽ, trong mꢄt sꢂ trường  
hợp, thiệt hại xảy ra trên mꢄt diện tích địa lý  
rꢄng nhưng thiệt hại cho từng cꢃ nhân lại chưa  
đủ mức để có thể yêu cầu bồi thường đꢂi với  
từng nạn nhân. Bên cạnh đó, kể cả khi thiệt  
hại sức khỏe chạm ngưỡng có thể kiện yêu  
cầu đòi bồi thường thì nhiều chi phí và cꢃc thủ  
tục khởi kiện phức tạp có thể khiến người dân  
ngần ngại nếu khởi kiện đꢄc lꢀp.  
2.3. Khó xác định mức độ gây ô nhiễm  
của từng chủ thể đối với tổng thiệt hại chung  
Trong nhiều trường hợp thiệt hại xảy ra cho  
nguyên đơn không phải do mꢄt chủ thể gây ra  
8 Marilena Kampa & Elias Castanas, Human Health Effects of Air Pollution, 151 ENVTL. POLLUTION 362  
(2008).  
9
Kenneth S. Abraham, The Relation Between Civil Liability and Environmental Regulation: An Analytical  
Overview, 41 WASHBURN L.J. 379 (2002).  
10 Christopher H. Schroeder, Lost in the Translation: What Environmental Regulation Does That Tort Cannot  
Duplicate, 41 WASHBURN L.J. p.601, 602 (2002).  
11 Nhìn chung, cơ chế bồi thường ngoài hợp đồng sẽ phꢃt huy tꢃc dụng nhất trong trường hợp chỉ có mꢄt thiệt  
hại bắt nguồn từ mꢄt nguyên nhân. Do đó, sꢂ lượng cꢃc bên tham gia tranh chấp ít và dễ xꢃc định mꢂi quan  
hệ nhân quả, như việc tiếp xúc với A-mi-ăng (asbestos) là nguyên nhân dẫn đến ung thư biểu mô màng phꢁi  
(mesothelioma). Tuy nhiên, trong những trường hợp nhiều thiệt hại bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, cơ chế  
BTTH lại xuất hiện nhiều vướng mắc.  
Số 15(439) - T8/2021  
45  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
mà có thể từ nhiều hành vi gây ô nhiễm môi  
trường của nhiều chủ thể khꢃc nhau, do vꢀy  
rất khó để xꢃc định mức đꢄ gây ô nhiễm của  
từng chủ thể đꢂi với tꢁng thiệt hại chung. Nếu  
nghĩa vụ chứng minh mꢂi quan hệ nhân quả  
giữa hành vi và thiệt hại là căn cứ xꢃc định  
trꢃch nhiệm của từng chủ thể được đẩy cho  
người bị hại sẽ dẫn tới hệ quả người bị hại khó  
có thể bảo vệ quyền và lợi ích bị xâm hại thông  
qua cơ chế BTTH ngoài hợp đồng.  
Đꢂi với loại thiệt hại thứ hai, phꢃp luꢀt  
BTTH ngoài hợp đồng có thể ꢃp dụng trong  
lĩnh vực môi trường. Còn với thiệt hại đầu tiên  
không thuꢄc phạm vi được bảo vệ của phꢃp  
luꢀt BTTH ngoài hợp đồng. Chỉ khi nào thiệt  
hại loại (i) về môi trường sꢂng đủ nghiêm  
trọng để gây nên thiệt hại loại (ii) về sức khỏe,  
tính mạng, tài sản của chủ thể tư thì khi đó, chủ  
thể tư mới có quyền yêu cầu biện phꢃp khắc  
phục trong phꢃp luꢀt về BTTH.  
Nhꢀn thức được từ những đặc thù trên trong  
lĩnh vực ô nhiễm môi trường, mꢄt giải phꢃp  
mà khoa học phꢃp lý đặt ra là cơ chế trꢃch  
nhiệm liên đới đꢂi với trường hợp nhiều người  
cùng có hành vi gây hại, đồng thời, giảm tải  
nghĩa vụ chứng minh cho nguyên đơn bằng  
cꢃch chuyển trꢃch nhiệm chứng minh phần lỗi  
sang cho cꢃc bị đơn. Bởi lẽ, chủ thể có hành  
vi gây ô nhiễm sẽ có ưu thế để thu thꢀp thông  
tin nhằm thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong  
việc phân chia lỗi12.  
3.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô  
nhiễm môi trường gây ra đối với tài sản công  
Cꢄng đồng chung Châu Âu được coi là mꢄt  
minh chứng hiện hữu về vai trò tồn tại quy chế  
phꢃp lý liên quan đến trꢃch nhiệm BTTH đꢂi  
với hành vi xâm hại tài sản công trong lĩnh vực  
môi trường. Châu Âu sớm nhꢀn thức về sự  
thiếu vắng mꢄt cơ chế điều chỉnh cꢃc thiệt hại  
về tài sản công. Do vꢀy, Cꢄng đồng Châu Âu  
đã ban hành Chỉ thị trꢃch nhiệm môi trường  
2004/35/EC về việc phòng ngừa và khắc phục  
thiệt hại - cꢃc thiệt hại trực tiếp lên môi trường  
với tư cꢃch là tài sản chung của Cꢄng đồng. Chỉ  
thị đã thiết lꢀp mꢄt khung trꢃch nhiệm phꢃp lý  
dựa trên nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải  
trả tiền” để ngăn ngừa và phục hồi cꢃc thiệt hại  
môi trường đꢂi với ô nhiễm môi trường nước,  
đất và thiệt hại đꢂi với hệ sinh thꢃi. Chỉ thị  
được thông qua vào ngày 21/04/2004 và đặt  
ra hạn để cꢃc quꢂc gia thành viên nꢄi luꢀt hóa  
muꢄn nhất là ngày 30/04/2007.  
3. Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt  
hại do ô nhiễm môi trường  
3.1. Phân loại trách nhiệm bồi thường  
thiệt hại do ô nhiễm môi trường dựa trên tiêu  
chí đối tượng bị xâm hại  
Dựa trên căn cứ về đꢂi tượng bị xâm hại,  
trꢃch nhiệm BTTH do ô nhiễm môi trường có  
thể chia làm hai loại: (i) Trꢃch nhiệm BTTH  
đꢂi với hành vi xâm hại đến tài sản thuꢄc  
sở hữu công (như môi trường đất, nước, hệ  
sinh thꢃi, đꢄng thực vꢀt được bảo tồn), và (ii)  
Trꢃch nhiệm BTTH đꢂi với cꢃc thiệt hại về  
sức khỏe, tính mạng, tài sản, và cꢃc lợi ích  
hợp phꢃp khꢃc của chủ thể tư do ô nhiễm môi  
trường gây ra. Thông thường giữa hai loại  
trꢃch nhiệm này có mꢂi quan hệ mꢀt thiết với  
nhau; bởi lẽ, thiệt hại loại (i) là thiệt hại xảy ra  
trước, còn thiệt hại loại (ii) chỉ phꢃt sinh khi  
có hꢀu quả là suy giảm chức năng, tính hữu  
tính của môi trường.  
- Về phạm vi điều chỉnh: Chỉ thị môi  
trường 2004/35/EC chỉ điều chỉnh cꢃc thiệt  
hại đã xảy ra hoặc có thể xảy ra cho tài sản  
công như tài nguyên thiên thiên, mà không  
điều chỉnh cꢃc thiệt hại cho chủ thể tư. Điều  
3(3) trực tiếp quy định rằng Chỉ thị không  
trao quyền yêu cầu được bồi thường cho cꢃc  
chủ thể tư kể cả khi thiệt hại đó là hꢀu quả từ  
hành vi gây ô nhiễm môi trường. Cơ chế bồi  
thường thiệt hại đꢂi với sức khỏe, tính mạng,  
12  
Calabresi & Melamed, Property Rules, Liability Rules, and Inalienability: One view of the Cathedral,  
Havard Law Review, 1972.  
46  
Số 15(439) - T8/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
tài sản tư được quy định trong phꢃp luꢀt cꢃc  
quꢂc gia thành viên theo cơ chế riêng về trꢃch  
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.  
Ngoài ra, Chỉ thị còn cho phép phꢃp luꢀt  
cꢃc quꢂc gia thành viên được quy định thêm  
cꢃc trường hợp miễn trꢃch nhiệm chi trả cꢃc  
chi phí khi bị đơn chứng minh mình không có  
lỗi cꢂ ý hoặc vô ý dẫn đến cꢃc thiệt hại môi  
trường được gây ra bởi:  
- Về bản chất pháp lý có thể thấy sự giao  
thoa giữa trách nhiệm hành chính và trách  
nhiệm dân sự: Chỉ thị 2004/35/EC thiết lꢀp  
mꢄt cơ chế trꢃch nhiệm có phần gần giꢂng  
với trꢃch nhiệm hành chính (trꢃch nhiệm  
công) do Chỉ thị trên được đảm bảo thi hành  
bởi quyền lực nhà nước13 hơn là trꢃch nhiệm  
dân sự. Tuy nhiên, cꢃc nhà lꢀp phꢃp cũng  
đưa vào Chỉ thị cꢃc căn cứ cơ bản xꢃc định  
trꢃch nhiệm trong phꢃp luꢀt BTTH ngoài  
hợp đồng (chế định của luꢀt tư) như: căn  
cứ trꢃch nhiệm nghiêm ngặt, căn cứ trꢃch  
nhiệm dựa trên lỗi, cũng như quy chế miễn  
trừ trꢃch nhiệm trong cꢃc trường hợp như:  
thiệt hại xảy ra do lỗi của bên thứ ba, do hạn  
chế của trình đꢄ khoa học - kỹ thuꢀt. Tuy  
nhiên, cũng phải có mꢄt nhꢀn thức rõ ràng  
rằng cꢃc quy chế này không thể đồng nhất  
hoàn toàn và ꢃp dụng chung đꢂi với trường  
hợp trꢃch nhiệm BTTH đꢂi với thiệt hại của  
chủ thể tư.  
(i) Hành vi xả thải hoặc hoạt đꢄng khꢃc  
được cơ quan công quyền cho phép, đꢃp ứng  
cꢃc điều kiện được quy định trong phꢃp luꢀt  
quꢂc gia và trong Phụ lục III của Chỉ thị;  
(ii) Hành vi của bị đơn nhưng tại thời điểm  
xảy ra, trình đꢄ khoa học kỹ thuꢀt chưa thể  
chứng minh hành vi của bị đơn có khả năng  
gây ô nhiễm môi trường.  
Tuy nhiên, phạm vi của quyền khꢃng biện  
chỉ có thể miễn trꢃch nhiệm chi trả cꢃc chi  
phí (defences to costs) chứ không thể miễn  
trꢃch nhiệm phục hồi môi trường (defences to  
liability) nếu xảy ra thiệt hại14. Nói cꢃch khꢃc,  
khi xảy ra thiệt hại từ hành vi làm ô nhiễm môi  
trường của mình, bị đơn vẫn phải thực hiện  
cꢃc biện phꢃp phục hồi môi trường, và chỉ có  
thể được được bồi hoàn mꢄt phần hoặc toàn  
bꢄ chi phí phꢃt sinh từ việc phục hồi nếu thực  
hiện quyền khꢃng biện thành công15.  
- Cơ chế kháng biện của bị đơn để miễn trừ  
hoặc giảm trách nhiệm BTTH: Theo Chỉ thị  
môi trường 2004/35/EC, người gây ô nhiễm  
có thể thực hiện quyền khꢃng biện với mục  
đích miễn trừ trong hai trường hợp sau:  
3.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do  
ô nhiễm môi trường gây ra đối với chủ thể tư  
Một minh chứng điển hình về hệ thống pháp  
lý điều chỉnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại  
đối với hành vi xâm hại tài sản, sức khoẻ của  
chủ thể tư là pháp luật Nhật Bản.  
(i) Thiệt hại gây ra do lỗi của bên thứ ba  
(trong trường hợp người gây ô nhiễm đã thực  
hiện đủ cꢃc biện phꢃp bảo đảm an toàn).  
Giữa những năm 1950, cư dân ở làng  
chài thuꢄc vùng biển Minamata bị nhiễm  
đꢄc thủy ngân nghiêm trọng. Tuy nhiên,  
công ty hóa chất Chisso chꢂi bỏ trꢃch nhiệm  
của họ và tiếp tục xả thải ở vịnh Minamata  
cho tới năm 1968. Sau cuꢄc tranh chấp kéo  
dài nhiều thꢀp kỷ, cuꢂi cùng, vào năm 1973,  
(ii) Thiệt hại là hꢀu quả của việc thực hiện  
quyết định của cơ quan nhà nước. Quꢂc gia có  
thẩm quyền miễn trừ trꢃch nhiệm cho người  
gây ô nhiễm trong trường hợp bị đơn chứng  
minh được họ không có lỗi và việc xả thải đã  
được cơ quan lꢀp phꢃp thông qua.  
13 Điều 5(4) và Điều 6(3) Chỉ thị 2004/35/EC quy định chỉ có cơ quan nhà nước mới có quyền yêu cầu chủ thể  
gây ô nhiễm thực hiện cꢃc biện phꢃp phòng ngừa, khắc phục thiệt hại môi trường.  
14 Suy luꢀn từ Điều 8(3), 5(4), 6(3), 11(3), Chỉ thị 2004/35/EC.  
15  
BIO Intelligence Service, ELD Effectiveness: Scope and Exceptions, Final Report prepared for European  
Commission - DG Environment, 2014.  
Số 15(439) - T8/2021  
47  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
công ty Chisso đã bị buꢄc phải chịu trꢃch  
nhiệm về việc xả chất thải nguy hại trong  
khoảng thời gian từ năm 1932 - 1968, là  
nguyên nhân gây ra “bệnh Minamata” dù  
việc xả thải của công ty này đã tuân thủ luꢀt  
và văn bản dưới luꢀt16. Vụ việc về “vịnh  
thủy ngân” trên đã buꢄc phꢃp luꢀt Nhꢀt phải  
điều chỉnh để cung cấp cơ chế bồi thường  
cho cꢃc nạn nhân của ô nhiễm môi trường.  
Năm 1972, nguyên đơn trong vụ kiện ô  
nhiễm môi trường của công ty Yokkaichi đã  
thắng17, qua đó Nhꢀt Bản lần đầu ghi nhꢀn  
nguyên tắc trꢃch nhiệm tuyệt đꢂi trong lĩnh  
vực BTTH do ô nhiễm môi trường18.  
1970. Theo đó, chủ thể gây ô nhiễm vẫn  
phải chịu trꢃch nhiệm dù có lỗi hay không  
và không có cơ chế miễn trừ trꢃch nhiệm.  
Thứ hai, nguyên tắc trꢃch nhiệm chung và  
liên đới được ghi nhꢀn tại Bꢄ luꢀt Dân sự Nhꢀt  
Bản trong trường hợp có nhiều chủ thể cùng  
gây ra thiệt hại19. Bởi lẽ, những ưu điểm đem  
lại cho người bị thiệt hại trong lĩnh vực môi  
trường, xu hướng phꢃp luꢀt quꢂc tế cũng ghi  
nhꢀn nguyên tắc này. Tiếp đến cꢃc luꢀt chuyên  
ngành quy định theo hướng trong trường hợp  
nhiều chủ thể gây hại, nguyên đơn không cần  
xꢃc định cụ thể trꢃch nhiệm của từng chủ thể.  
- Giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh cho  
nguyên đơn: Bởi đặc trưng thời gian xuất  
hiện thiệt hại lâu và nguyên nhân có tính đa  
thể trong phꢃp luꢀt bồi thường thiệt hại20, Nhꢀt  
Bản đã bảo vệ người bị hại trong trường hợp  
do ô nhiễm môi trường gây ra thông qua cơ  
chế giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh. Trong  
Luꢀt bồi thường thiệt hại sức khỏe do ô nhiễm  
môi trường năm 1973, dựa vào đặc trưng khó  
chứng minh của mꢂi quan hệ nhân quả, Nhꢀt  
Bản đã phân loại thành hai khu vực: Khu  
vực 1 gồm những thiệt hại gây ra bởi những  
nguyên nhân, chất thải không thể xꢃc định cụ  
thể (ví dụ như ô nhiễm không khí do khí thải  
nhà mꢃy, khí thải từ phương tiện giao thông);  
Khu vực 2 gồm những thiệt hại mà có thể xꢃc  
định mꢄt nguyên nhân cụ thể (ví dụ như thủy  
ngân ở Minamata, cadmium ở Toyama).  
Trước những lo ngại về thực trạng ô nhiễm  
môi trường, Nhꢀt đã ban hành Luꢀt kiểm soꢃt  
ô nhiễm môi trường vào năm 1967 (Basic Law  
for Environmental Pollution Control) để làm  
nền móng xây dựng cꢃc quy định cụ thể về bảo  
vệ môi trường. Năm 1973, Luꢀt BTTH về sức  
khỏe do ô nhiễm môi trường được ban hành để  
cung cấp cơ chế bồi thường cho chủ thể tư đꢂi  
với những thiệt hại về tính mạng và sức khoẻ  
qua cꢃc khoản phí thu từ người gây ô nhiễm.  
Cụ thể, đꢂi với thiệt hại tài sản, thiệt hại  
tinh thần của chủ thể tư được bù đắp bởi  
phꢃp luꢀt BTTH ngoài hợp đồng từ quy chế  
chung được quy định tại Bꢄ luꢀt Dân sự, đến  
quy chế riêng được quy định tại cꢃc Đạo luꢀt  
chuyên ngành như Luꢀt BTTH về sức khỏe  
do ô nhiễm môi trường...  
- Nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh trách  
nhiệm BTTH do ô nhiễm môi trường:  
Qua đó, những người bị hại thuꢄc Khu  
vực 1 sẽ chỉ cần chứng minh ba yếu tꢂ: i) Sinh  
sꢂng hoặc thường xuyên đi lại ở Khu vực I,  
ii) Mắc bệnh thuꢄc danh mục đã được công  
nhꢀn là hꢀu quả của ô nhiễm môi trường,  
iii) Có thời gian ở Khu vực I đủ lâu. Bởi lẽ,  
Thứ nhất, nguyên tắc trꢃch nhiệm tuyệt  
đꢂi được ghi nhꢀn trong Điều 25 Luꢀt Kiểm  
soꢃt ô nhiễm không khí 1968 và Điều 19  
Luꢀt Kiểm soꢃt ô nhiễm môi trường nước  
16 Xem ꢃn lệ Watanabe v. Chisso K. K., Tòa ꢃn quꢀn Kumamoto, 20/03/1973.  
17 Xem ꢃn lệ Shiono v. Showa Yokkaichi Sekiyu, Tòa ꢃn quꢀn Tsu, 24/07/1972.  
18 Thꢃng 6/1972, Nhꢀt bꢁ sung Điều 25 trong Luꢀt Kiểm soꢃt ô nhiễm không khí 1968 và Điều 19 trong Luꢀt  
kiểm soꢃt ô nhiễm môi trường nước 1970, và đều quy định về trꢃch nhiệm tuyệt đꢂi.  
19 Điều 719, Bꢄ luꢀt Dân sự Nhꢀt Bản.  
20 Mục I.2 ở trên  
48  
Số 15(439) - T8/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
đặc trưng đa chủ thể có thể gây thiệt hại, phꢃp  
luꢀt Nhꢀt Bản không buꢄc nạn nhân phải xꢃc  
định chủ thể gây ô nhiễm cụ thể nào.  
Về nguyên tắc trách nhiệm không dựa trên  
lỗi, Điều 602 BLDS 2015 đã trực tiếp quy  
định chủ thể gây ô nhiễm mà gây thiệt hại thì  
phải chịu trꢃch nhiệm bồi thường, kể cả khi  
người đó không có lỗi. Do đó, người gây ô  
nhiễm chỉ có thể nại ra lý do không lỗi, lỗi vô  
ý, hoặc thiệt hại quꢃ lớn so với khả năng kinh  
tế của mình để được giảm mức bồi thường22.  
Về “chủ thể làm ô nhiễm môi trường”, cụm  
từ này có thể gây tranh cãi về trꢃch nhiệm  
của phꢃp nhân hay người được giao thực hiện  
hành vi gây ô nhiễm. Để đảm bảo lợi ích của  
người bị hại và khả năng BTTH, “chủ thể  
làm ô nhiễm môi trường” nên được hiểu theo  
hướng bao gồm cả phꢃp nhân, chủ sở hữu cꢃc  
cơ sở xả thải khi dẫn chiếu tới quy định phꢃp  
nhân phải BTTH trong trường hợp người làm  
công gây ra thiệt hại23.  
4. Pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt  
hại do ô nhiễm môi trường  
Luꢀt Bảo vệ môi trường năm 2020 (Luꢀt  
2020) được xem là mꢄt bước tiến tích cực  
khi đề cꢀp tới cả hai loại thiệt hại về (i) môi  
trường và (ii) sức khỏe, tài sản tư. Cụ thể,  
Luꢀt đã phân loại về thiệt hại do ô nhiễm  
môi trường như sau: (i) thiệt hại về suy giảm  
chức năng, tính hữu ích do làm ô nhiễm môi  
trường (bao gồm cꢃc thiệt hại về môi trường  
đất, nước, hệ sinh thꢃi, đꢄng, thực vꢀt) và (ii)  
thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản và cꢃc  
lợi ích hợp phꢃp khꢃc của chủ thể tư21. Song  
nếu tiếp cꢀn dưới cơ chế trꢃch nhiệm BTTH,  
có thể khẳng định Luꢀt 2020 chưa xây dựng  
được quy chế đầy đủ. Tuy đưa ra được phân  
loại thiệt hại nhưng Luꢀt 2020 không lấy đó là  
tiêu chí phân loại trꢃch nhiệm BTTH, qua đó  
xây dựng quy chế phù hợp đꢂi với từng loại  
trꢃch nhiệm như: điều kiện cấu thành trꢃch  
nhiệm, hꢀu quả phꢃp lý và cơ chế miễn trừ  
trꢃch nhiệm. Luꢀt 2020 cũng chưa thể hiện  
đꢀm nét việc vꢀn dụng cꢃc nguyên tắc trꢃch  
nhiệm BTTH trong luꢀt tư vào cꢃc quy chế  
hành chính đꢂi với thiệt hại môi trường với tư  
cꢃch tài sản công. Bên cạnh mꢄt sꢂ ghi nhꢀn  
có giꢃ trị tính cực, nhìn chung, cꢃc vấn đề về  
trꢃch nhiệm BTTH vẫn phải quay lại ꢃp dụng  
quy chế tương đꢂi hạn hẹp được quy định tại  
Bꢄ luꢀt Dân sự năm 2015 (BLDS 2015).  
Về đặc tính trách nhiệm chung và liên  
đới, BLDS 2015 ghi nhꢀn nguyên tắc này:  
trong trường hợp có nhiều chủ thể cùng gây  
ra thiệt hại thì những người đó phải liên đới  
BTTH24. Trꢃch nhiệm được xꢃc định cho  
từng người dựa trên mức đꢄ lỗi, nếu không  
xꢃc định được mức đꢄ lỗi thì phải bồi thường  
theo phần bằng nhau.  
Tuy nhiên, đꢂi với Luꢀt 2020, chưa rõ  
nguyên tắc trꢃch nhiệm chung và liên đới có  
được công nhꢀn không khi chỉ quy định: trꢃch  
nhiệm BTTH về môi trường đꢂi với từng đꢂi  
tượng được xꢃc định tương ứng với tỷ lệ gây  
thiệt hại trong tꢁng thiệt hại về môi trường.  
Nếu cꢃc bên hoặc cơ quan quản lý nhà nước  
về môi trường không xꢃc định được tỷ lệ chịu  
trꢃch nhiệm thì cơ quan trọng tài hoặc Tòa ꢃn  
- Nguyên tắc và đặc tính của trách nhiệm  
BTTH do ô nhiễm môi trường  
21 Điều 130, Luꢀt Bảo vệ môi trường năm 2020.  
22 Khoản 2, Điều 585 Bꢄ luꢀt Dân sự năm 2015.  
23 Điều 600 Bꢄ luꢀt Dân sự năm 2015.  
24 Điều 587 Bꢄ luꢀt Dân sự năm 2015: “Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải  
liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trꢃch nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xꢃc  
định tương ứng với mức đꢄ lỗi của mỗi người; nếu không xꢃc định được mức đꢄ lỗi thì họ phải BTTH theo  
phần bằng nhau”.  
Số 15(439) - T8/2021  
49  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
quyết định25. Việc không công nhꢀn nguyên  
tắc trꢃch nhiệm chung và liên đới có thể dẫn  
đến nhiều khó khăn trong việc bảo vệ nạn  
nhân của ô nhiễm môi trường. Bởi lẽ, đặc tính  
của thiệt hại về môi trường là nhiều chủ thể  
có trꢃch nhiệm bồi thường, nguyên đơn sẽ gặp  
khó khăn trong việc tìm kiếm chứng cứ và  
khởi kiện nhiều chủ thể. Hơn nữa, nếu phần  
trăm thiệt hại lớn nhất đến từ bên có ít năng  
lực tài chính nhất, rất có thể, nạn nhân của ô  
nhiễm môi trường sẽ không được đền bù đầy  
đủ. Do đó, cần phải giải thích điểm b khoản 3  
Điều 130 theo hướng tương thích với BLDS  
2015: công nhꢀn trꢃch nhiệm chung và liên  
đới theo hướng trong trường hợp quy định của  
luꢀt chuyên ngành không tồn tại thì ꢃp dụng  
quy định của luꢀt chung giải quyết.  
Đꢂi với việc chứng minh thiệt hại, Luꢀt  
2020 đưa ra cơ chế cho phép nguyên đơn tự  
mình hoặc ủy quyền cho cơ quan nhà nước,  
tꢁ chức, cꢃ nhân khꢃc xꢃc định thiệt hại và  
yêu cầu bồi thường28. Đây cũng là mꢄt nỗ lực  
đꢃng ghi nhꢀn của Luꢀt 2020 khi cho phép cơ  
quan nhà nước hỗ trợ nạn nhân của ô nhiễm  
môi trường kiện đòi BTTH. Tuy nhiên, khi  
quy định người dân chỉ có thể “ủy quyền” chứ  
không phải “yêu cầu”, có thể suy luꢀn rằng,  
mặc dù cꢃc cơ quan nhà nước thực hiện việc  
xꢃc định thiệt hại cho người dân, nhưng cꢃc  
chi phí liên quan đến xꢃc định thiệt hại và thực  
hiện thủ tục yêu cầu bồi thường vẫn do người  
dân gꢃnh chịu. Và nếu giải thích theo hướng  
như vꢀy, có thể khẳng định không có nhiều  
khꢃc biệt theo hướng giảm nhẹ gꢃnh nặng  
nghĩa vụ chứng minh cho người bị hại đꢂi với  
trường hợp đặc thù trong lĩnh vực môi trường.  
Về giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh cho  
nguyên đơn, đꢂi với cꢃc thiệt hại về tính mạng,  
sức khỏe, tài sản tư, Luꢀt 2020 đã có mꢄt bước  
tiến đꢃng ghi nhꢀn trong việc giảm nhẹ nghĩa  
vụ chứng minh cho nguyên đơn. Theo đó, việc  
chứng minh mꢂi quan hệ nhân quả giữa hành  
vi và thiệt hại được đẩy sang cho chủ thể gây  
ô nhiễm môi trường26. Thay đꢁi này phản ꢃnh  
ý chí của nhà lꢀp phꢃp khi nhꢀn thức được cꢃc  
đặc tính của thiệt hại môi trường và xu hướng  
nghiêng về bảo vệ người bị thiệt hại nhiều hơn.  
Cùng với quy định về chuyển đꢁi nghĩa vụ  
chứng minh lỗi sang cho bị đơn theo Bꢄ luꢀt  
Dân sự27, nạn nhân của ô nhiễm môi trường chỉ  
cần chứng minh hai yếu tꢂ còn lại để yêu cầu  
BTTH: hành vi và thiệt hại.  
Về cơ chế miễn trừ trách nhiệm, Luꢀt 2020  
không có quy định trực tiếp về cꢃc trường hợp  
miễn trừ trꢃch nhiệm do ô nhiễm môi trường  
gây ra. Có quan điểm cho rằng, khoản 4 Điều  
130 quy định về cơ chế miễn trừ trꢃch nhiệm  
này, tuy nhiên quy định hiện hành trong trường  
hợp này không cấu thành trꢃch nhiệm BTTH  
do không có thiệt hại nên không thể xem là  
quy chế miễn trừ trꢃch nhiệm.  
Dovꢀy, cóhaykhôngviệccôngnhꢀncơchế  
miễn trừ trꢃch nhiệm được quy định tại phần  
chung trong BLDS 2015 là vấn đề cần tiếp tục  
được bàn luꢀn. Về cơ bản, liên quan đến trꢃch  
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, sự khꢃc nhau  
25 Điểm b khoản 3 Điều 130 Luꢀt Bảo vệ môi trường năm 2020: “Trꢃch nhiệm BTTH về môi trường, chi trả  
chi phí xꢃc định thiệt hại và thực hiện thủ tục yêu cầu BTTH đꢂi với từng đꢂi tượng được xꢃc định tương ứng  
với tỷ lệ gây thiệt hại trong tꢁng thiệt hại về môi trường; trường hợp cꢃc bên liên quan hoặc cơ quan quản lý  
nhà nước về môi trường không xꢃc định được tỷ lệ chịu trꢃch nhiệm thì cơ quan trọng tài hoặc Tòa ꢃn quyết  
định theo thẩm quyền”.  
26 Khoản 2 Điều 133 Luꢀt Bảo vệ môi trường năm 2020.  
27 Phần I.5.d, Nghị quyết sꢂ 03/2006/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn ꢃp dụng mꢄt sꢂ quy định của Bꢄ luꢀt Dân  
sự năm 2005 về BTTH ngoài hợp đồng do Hꢄi đồng Thẩm phꢃn Tòa ꢃn nhân dân tꢂi cao ban hành.  
28 Khoản 3 Điều 131 Luꢀt Bảo vệ môi trường năm 2020: “Tꢁ chức, cꢃ nhân bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe  
của con người, tài sản và lợi ích hợp phꢃp do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường tự mình hoặc ủy  
quyền cho cơ quan nhà nước, tꢁ chức, cꢃ nhân khꢃc xꢃc định thiệt hại và yêu cầu BTTH về môi trường”.  
50  
Số 15(439) - T8/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
giữa quy chế chung và quy chế riêng được tꢀp  
trung ở hai mảng vấn đề phꢃp lý đó là (i) Điều  
kiện cấu thành trꢃch nhiệm; (ii) Cơ chế miễn  
trừ. Điều đó có nghĩa cơ chế miễn trừ trong  
cꢃc lĩnh vực đặc thù khó có thể tiếp nhꢀn được  
hoàn toàn quy chế tại phần chung.  
luꢀt dân sự như phân tích ở trên, song cꢃc quy  
định từ Điều 130 đến Điều 135 đã bꢄc lꢄ mꢄt  
sꢂ hạn chế:  
Thứ nhất, nếu với mục đích điều chỉnh  
chung trꢃch nhiệm BTTH đꢂi với hành vi xâm  
hại tài sản công và hành vi xâm hại quyền và  
lợi ích của chủ thể tư thì nên phân loại rõ hai  
loại trꢃch nhiệm BTTH, qua đó xây dựng từng  
quy chế phù hợp về nguyên tắc trꢃch nhiệm,  
điều kiện cấu thành, hệ quả phꢃp lý và cơ  
chế miễn trừ, cơ chế bảo hiểm với (1) trꢃch  
nhiệm BTTH đꢂi với tài sản công có thể tham  
khảo Chỉ thị 2004/35/EC, với (2) trꢃch nhiệm  
BTTH đꢂi với thiệt hại của chủ thể tư có thể  
tham khảo quy chế phꢃp lý của Nhꢀt Bản.  
Nếu ꢃp dụng quy chế miễn trừ trong BLDS  
2015, bị đơn có thể nại ra cꢃc lý do sau đây để  
được xem xét miễn trừ trꢃch nhiệm: (i) thiệt  
hại xảy ra do sự kiện bất khả khꢃng, (ii) thiệt  
hại xảy ra do lỗi của bên bị thiệt hại, (iii) tình  
thế cấp thiết, (iv) phòng vệ chính đꢃng29. Do  
vꢀy, khả năng công nhꢀn miễn trừ trꢃch nhiệm  
sẽ rất cao và không phù hợp với cꢃc đặc tính  
của trꢃch nhiệm BTTH trong lĩnh vực môi  
trường. Tiếp đến, nếu không có cꢃc quy định  
cụ thể trong luꢀt chuyên ngành, có thể sẽ dẫn  
tới yêu cầu đòi hỏi kỹ thuꢀt và khả năng giải  
thích, ꢃp dụng luꢀt của cơ quan tư phꢃp.  
Thứ hai, chưa thấy rõ được nguyên tắc của  
trꢃch nhiệm BTTH trong lĩnh vực môi trường  
để bảo vệ chủ thể tư. Cụ thể có thể chọn lựa  
giữa trꢃch nhiệm tuyệt đꢂi như Nhꢀt Bản và  
không công nhꢀn cơ chế miễn trừ hoặc mô  
hình trꢃch nhiệm nghiêm ngặt như Châu Âu  
và quy định kèm theo cꢃc trường hợp được  
miễn trꢃch nhiệm. Nếu lựa chọn mô hình trꢃch  
nhiệm nghiêm ngặt, thì quy định về cơ chế  
miễn trừ trꢃch nhiệm phải được bꢁ sung, việc  
xây dựng quy chế phꢃp lý này phải được dựa  
trên những kết quả nghiên cứu thực chứng và  
nghiên cứu phꢃp luꢀt so sꢃnh sao cho phù hợp  
với xu hướng hiện nay của phꢃp luꢀt quꢂc tế  
và tình hình thực trạng kinh tế, xã hꢄi… cũng  
Kết luận: Để khắc phục những khó khăn  
trên thực tiễn ꢃp dụng phꢃp luꢀt trong lĩnh vực  
trꢃch nhiệm BTTH do ô nhiễm môi trường gây  
ra như hầu hết yêu cầu của người bị hại không  
được tòa chấp nhꢀn, do không thể chứng minh  
được cꢃc điều kiện cấu thành trꢃch nhiệm nếu  
ꢃp dụng theo quy định tại BLDS: điều kiện  
về tồn tại thiệt hại30; điều kiện về mꢂi quan hệ  
nhân quả giữa hành vi xâm hại và thiệt hại31.  
Luꢀt Bảo vệ môi trường năm 2020 đã hướng  
tới mục đích xây dựng quy chế giảm nhẹ gꢃnh  
nặng nghĩa vụ chứng minh cho chủ thể phꢃp  
như định hướng phꢃt triển của Việt Nam  
29 Khoản 2 Điều 584 Bꢄ luꢀt Dân sự năm 2015.  
30 Từ năm 2007 đến 2017, do việc xả thải cả nước và khói của Công ty giấy Bắc Hà, khoảng 70 hꢄ dân của  
thôn 7 xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã bị thiệt hại về sức khoẻ (với nhiều người dân bị lở  
loét khi đi làm đồng và trên 60 người chết vì ung thư do khói bụi) và tài sản (với sản lượng lúa trên cꢃnh đồng  
sử dụng nguồn nước tưới bị ô nhiễm sụt giảm 50%). Ban đầu có năm hꢄ dân khởi kiện, sau đó rút xuꢂng dần  
và cuꢂi cùng chỉ còn mꢄt nguyên đơn. Người dân đòi BTTH cả sức khoẻ và tài sản, sau đó do thấy không thể  
cung cấp được chứng cứ về thiệt hại sức khoẻ (mặc dù nhiều người đã từng phải điều trị tại bệnh viện) nên đã  
rút yêu cầu này, chỉ giữ yêu cầu đòi BTTH về lúa.  
31  
Bản ꢃn sơ thẩm ngày 31/01/2019 của TAND thành phꢂ Bắc Giang đã bꢃc toàn bꢄ cꢃc yêu cầu khởi kiện  
của nguyên đơn với cꢃc lý do chính là: Nguyên đơn đã không chứng minh được rằng nguồn nước ô nhiễm là  
nguyên nhân của việc sụt giảm sản lượng lúa và nguyên đơn tự tính cꢃc thiệt hại về tài sản nên không có căn  
cứ do không được cơ quan có thẩm quyền nào xꢃc nhꢀn. Bản ꢃn phúc thẩm ngày 27/06/2019 của TAND tỉnh  
Bắc Giang cũng bꢃc yêu cầu khꢃng cꢃo của nguyên đơn và giữ nguyên quyết định của Bản ꢃn sơ thẩm với cꢃc  
lý do tương tự.  
Số 15(439) - T8/2021  
51  
pdf 9 trang Thùy Anh 20720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường từ góc nhìn lý thuyết đến luật thực định của Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfboi_thuong_thiet_hai_do_o_nhiem_moi_truong_tu_goc_nhin_ly_th.pdf