Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường từ góc nhìn lý thuyết đến luật thực định của Việt Nam
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
TỪ GÓC NHÌN LÝ THUYẾT ĐẾN LUẬT THỰC ĐỊNH CỦA VIỆT NAM
Nguyễn Thị Phương Châm*
Nguyễn Minh Châu**
*TS. GV. Bộ môn Luật dân sự, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội.
**Sinh viên Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tóm tắt:
Thông tin bài viết:
Luꢀt Bảo vệ môi trường năm 2020 (Luꢀt 2020) có hiệu lực từ ngày
01/01/2022 thay thế Luꢀt Bảo vệ môi trường năm 2014 với kỳ vọng sẽ mang
lại sự thay đꢁi mạnh mẽ, tích cực đꢂi với quy chế trꢃch nhiệm bồi thường
thiệt hại với tư cꢃch là phương thức bảo vệ môi trường (tài sản công) cũng
như tài sản, sức khoẻ của chủ thể phꢃp luꢀt dân sự (tài sản tư). Để có mꢄt
đꢃnh giꢃ khꢃch quan về quy chế phꢃp lý hiện hành của Việt Nam trong lĩnh
vực bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra, cꢃc tꢃc giả tꢀp trung
nghiên cứu cꢃc nꢄi dung: (1) Lịch sử phꢃt triển của nguyên tắc “người gây ô
nhiễm phải trả tiền”; (2) Đặc điểm của trꢃch nhiệm bồi thường thiệt hại do ô
nhiễm môi trường gây ra; (3) Phân loại trꢃch nhiệm bồi thường thiệt hại do ô
nhiễm môi trường gây ra; (4) Phꢃp luꢀt Việt Nam hiện hành về trꢃch nghiệm
bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường.
Từ khóa: Ô nhiễm môi trường,
bồi thường thiệt hại do ô nhiễm
môi trường, Luꢀt Bảo vệ môi
trường năm 2020.
Lịch sử bài viết:
Nhꢀn bài
Biên tꢀp
Duyệt bài
: 12/5/2021
: 15/5/2021
: 17/5/2021
Abstract:
Article Infomation:
The Law on Environmental Protection of 2020 takes effect from January 1,
2022, which is to replace the Law on Environmental Protection of 2014, with
the expectation of providing a strong and positive regulations on compensation
liability for damages as a means of protecting the environment (public
property) as well as the property and health of civil law subjects (private
property). The authors, as an objective assessment of Vietnam's current legal
regulations in the field of compensation for damage caused by environmental
pollution, focus on reviewing the following contents: (1) Development
history of the principle of “polluter pays”; (2) Characteristics of compensation
liability for damages caused by environmental pollution; (3) Classification of
compensation liability for damages caused by environmental pollution; (4)
Current Vietnamese law on liability for damages in the field of environment.
Keywords:
Environmental
pollution; compensation for
damage caused by environmental
pollution; Law on Environmental
Protection of 2020.
Article History:
Received
Edited
: 12 May 2021
: 15 May 2021
: 17 May 2021
Approved
1. Lịch sử hình thành nguyên tắc “người
gây ô nhiễm phải trả tiền”
nguyên tắc sic utere lần đầu được Tòa trọng
tài ghi nhꢀn trong vụ Trail Smelter (1926)2 để
ra phꢃn quyết: Chủ lò nung kim loại người
Canada phải bồi thường cho nông dân ở bang
Washington (Hoa Kỳ) vì đã xả thải làm thiệt
hại lúa của họ.
Xuyên suꢂt nhiều thế kỷ, cꢃc tòa ꢃn hệ
thꢂng phꢃp luꢀt Anh - Mỹ đã ghi nhꢀn nguyên
tắc “sic utere” bắt nguồn từ luꢀt La Mã rằng:
không người nào có quyền gây ra mꢄt thiệt
hại có thể lường trước được cho người khꢃc1.
Trong lĩnh vực luꢀt môi trường quꢂc tế,
Năm 1972, đại diện 113 nước họp ở
Stockholm và ghi nhꢀn “sic utere” thành
1 Robert V. Percival, Liability for Environmental Harm and Emerging Global Environmental Law, 2009.
2 Vụ ꢃn lò nung kim loại tại Trail, https://legal.un.org/riaa/cases/vol_III/1905-1982.pdf, truy cꢀp ngày 30/07/2020.
Số 15(439) - T8/2021
43
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
nguyên tắc sꢂ 22 trong Tuyên ngôn
Stockholm rằng: “Cꢃc quꢂc gia sẽ hợp tꢃc
để phꢃt triển hơn nữa phꢃp luꢀt quꢂc tế liên
quan đến trꢃch nhiệm và việc bồi thường cho
cꢃc nạn nhân của ô nhiễm và thiệt hại khꢃc
về môi trường […]”3.
ô nhiễm phải trả tiền”. Nguyên tắc này được
ghi nhꢀn trong Nguyên tắc sꢂ 13 về việc yêu
cầu cꢃc quꢂc gia xây dựng hệ thꢂng phꢃp
luꢀt bồi thường để giải quyết cꢃc thiệt hại
do ô nhiễm môi trường, và trong Nguyên tắc
sꢂ 16 về việc khuyến khích cꢃc quꢂc gia nꢄi
luꢀt hóa cꢃc chi phí môi trường6.
Năm 1972 và 1974, nguyên tắc “người
gây ô nhiễm phải trả tiền” (Polluter Pays
Principle) lần đầu được Tꢁ chức hợp tꢃc kinh
tế và phꢃt triển (OECD) đề xuất. Nguyên tắc
“người gây ô nhiễm phải trả tiền” năm 1972
quy định, những chủ thể gây ô nhiễm phải trả
phí cho mọi biện phꢃp phục hồi môi trường
bị ô nhiễm. Đến năm 1974, nguyên tắc này
được mở rꢄng ra, ngoài khoản phí khắc phục
môi trường, chủ thể gây ô nhiễm còn phải bồi
thường cho những nạn nhân chịu thiệt hại từ
hành vi gây ô nhiễm của mình4.
Năm 2004, Liên minh châu Âu (EU)
ban hành Chỉ thị về trꢃch nhiệm môi trường
2004/35/EC
(Environmental
Liability
Directive) nhằm phòng ngừa và phục hồi
cꢃc thiệt hại môi trường dựa trên nguyên tắc
“người gây ô nhiễm phải trả tiền”7.
2. Đặc điểm của bồi thường thiệt hại trong
lĩnh vực môi trường
2.1. Thời gian xuất hiện thiệt hại trải qua
một quá trình lâu dài
Để kiện đòi BTTH, nguyên đơn phải
chứng minh tồn tại thiệt hại và mꢂi quan
hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại. Tuy
nhiên, việc chứng minh thiệt hại sức khỏe
thường gặp phải nhiều trở ngại bởi tính đa
thể của nguyên nhân. Khi chứng minh tꢁn
hại sức khỏe, nguyên đơn cần phải cung
cấp bằng chứng khoa học cho thấy hành vi
của bị đơn đủ để gây bệnh. Trong lĩnh vực
môi trường, thiệt hại về sức khoẻ đôi khi chỉ
xuất hiện sau mꢄt khoảng thời gian tương
đꢂi dài. Do vꢀy, mꢂi quan hệ nhân quả giữa
hành vi và thiệt hại trở nên khó khăn hơn
đꢂi với nạn nhân khi phải thực hiện nghĩa
vụ lꢀp chứng.
Năm 1980, Hoa Kỳ ghi nhꢀn nguyên tắc
“người gây ô nhiễm phải trả tiền” trong Đạo
luꢀtvềtrꢃchnhiệmphꢃplý,Bồithườngvàphản
ứng toàn diện về môi trường (Comprehensive
Environmental Response, Compensation, and
Liability Act - CERCLA)5. Do những thꢀp kỷ
trước, Hoa Kỳ đã có những chính sꢃch điều
chỉnh việc quản lý chất thải, nên những cơ chế
trên vẫn chưa đủ tính răn đe khi thiếu vắng cơ
chế bồi thường thiệt hại (BTTH).
Năm 1992, hꢄi nghị của Liên hợp quꢂc về
môi trường và phꢃt triển ở Brazil thꢂng nhất
theo đuꢁi cꢃc nguyên tắc của luꢀt môi trường
quꢂc tế, trong đó có nguyên tắc “người gây
3
UN General Assembly, United Nations Conference on the Human Environment, 15 December 1972, A/
4 Ludwig Kramer, Focus on European Environmental Law, Sweet & Maxwell Limited, 1997.
5
Đạo luꢀt về trꢃch nhiệm phꢃp lý, bồi thường và phản ứng toàn diện về môi trường (CERCLA) được phꢃp
truy cꢀp ngày 09/05/2021.
6 UN General Assembly, United Nations Conference on Environment and Development, Rio Declaration on
ngày 09/05/2021.
7 UN General Assembly, United Nations Conference on Environment and Development, Rio Declaration on
ngày 09/05/2021.
44
Số 15(439) - T8/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Ví dụ như trong lĩnh vực xả thải hóa chất,
trước hết, cần mꢄt khoảng thời gian có thể
kéo dài vài năm hoặc cả thꢀp kỷ để lượng hóa
chất tích tụ trong cơ thể người đạt ngưỡng có
thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe8; thứ hai, khi
tiếp xúc với hóa chất, cần mꢄt thời gian nhất
định để hóa chất có thể biểu hiện ra bên ngoài
dưới dạng bệnh tꢀt, ví dụ như ung thư9; thứ
ba, cần chứng minh hành vi xả thải của bị đơn
là nguyên nhân chính khiến nguyên đơn phꢃt
bệnh (bởi tính đa thể của nguyên nhân)10. Do
đó, sẽ mất rất nhiều năm để hóa chất tích tụ đủ
trong môi trường, nhiều năm nữa để xuất hiện
nạn nhân đầu tiên, và rất nhiều năm nữa để
cꢃc nhà dịch tễ học thu thꢀp chứng cứ trên mꢄt
sꢂ lượng nạn nhân đủ để có thể đưa ra bằng
chứng khoa học đꢃng tin cꢀy.
của nguyên đơn cũng gây khó khăn cho việc
yêu cầu BTTH do ô nhiễm môi trường gây ra.
2.2. Thiệt hại xảy ra trên diện rộng dẫn
đến nhiều chủ thể (người bị hại) yêu cầu bồi
thường thiệt hại
Ô nhiễm môi trường thường (ví dụ ô nhiễm
không khí, ô nhiễm nguồn nước, nguồn đất…)
gây ra thiệt hại trên diện rꢄng không chỉ tꢃc
đꢄng đến mꢄt vài cꢃ nhân mà còn tꢃc đꢄng đến
mꢄt khu vực, mꢄt cꢄng đồng dân cư. Hơn nữa,
thiệt hại trên diện rꢄng còn có nhiều biểu hiện
khꢃc nhau… Dù là xuất phꢃt từ mꢄt nguồn tꢀp
trung như từ cꢃc ꢂng khói hay từ cꢃc nguồn
phân tꢃn khꢃc như từ ô tô, thì cꢃc hạt phân
tử gây ô nhiễm không khí như ozone, sulfur
dioxide vẫn là nguyên nhân gây ra cꢃc bệnh về
hô hấp, tim mạch, thần kinh cũng như nhiều
bệnh ung thư khꢃc
Thời gian xuất hiện thiệt hại quꢃ dài là
nguyên nhân gây khó khăn khi chủ thể muꢂn
bù đắp thiệt hại thông qua cơ chế BTTH. Nói
cꢃch khꢃc, cơ chế BTTH không còn là cơ chế
hữu hiệu bảo vệ chủ thể khi quyền và lợi ích
bị xâm hại do ô nhiễm môi trường gây ra nếu
cơ chế này không đưa ra những giải phꢃp
thỏa đꢃng đꢂi với đặc tính mang tính cꢂ hữu
này. Điều kiện cấu thành trꢃch nhiệm BTTH
hiện nay cho thấy, trước hết, nguyên đơn sẽ
gặp khó khăn trong việc chứng minh tồn tại
thiệt hại, cũng như mꢂi quan hệ nhân quả giữa
hành vi gây ô nhiễm môi trường và thiệt hại
với tư cꢃch là mꢄt trong cꢃc điều kiện cần cấu
thành trꢃch nhiệm BTTH11. Bên cạnh đó, vấn
đề thời hiệu ꢃp dụng đꢂi với mꢄt sꢂ yêu cầu
Thiệt hại xảy ra trên diện rꢄng dẫn đến
nhiều khó khăn khi ꢃp dụng chế định BTTH
ngoài hợp đồng. Bởi lẽ, trong mꢄt sꢂ trường
hợp, thiệt hại xảy ra trên mꢄt diện tích địa lý
rꢄng nhưng thiệt hại cho từng cꢃ nhân lại chưa
đủ mức để có thể yêu cầu bồi thường đꢂi với
từng nạn nhân. Bên cạnh đó, kể cả khi thiệt
hại sức khỏe chạm ngưỡng có thể kiện yêu
cầu đòi bồi thường thì nhiều chi phí và cꢃc thủ
tục khởi kiện phức tạp có thể khiến người dân
ngần ngại nếu khởi kiện đꢄc lꢀp.
2.3. Khó xác định mức độ gây ô nhiễm
của từng chủ thể đối với tổng thiệt hại chung
Trong nhiều trường hợp thiệt hại xảy ra cho
nguyên đơn không phải do mꢄt chủ thể gây ra
8 Marilena Kampa & Elias Castanas, Human Health Effects of Air Pollution, 151 ENVTL. POLLUTION 362
(2008).
9
Kenneth S. Abraham, The Relation Between Civil Liability and Environmental Regulation: An Analytical
Overview, 41 WASHBURN L.J. 379 (2002).
10 Christopher H. Schroeder, Lost in the Translation: What Environmental Regulation Does That Tort Cannot
Duplicate, 41 WASHBURN L.J. p.601, 602 (2002).
11 Nhìn chung, cơ chế bồi thường ngoài hợp đồng sẽ phꢃt huy tꢃc dụng nhất trong trường hợp chỉ có mꢄt thiệt
hại bắt nguồn từ mꢄt nguyên nhân. Do đó, sꢂ lượng cꢃc bên tham gia tranh chấp ít và dễ xꢃc định mꢂi quan
hệ nhân quả, như việc tiếp xúc với A-mi-ăng (asbestos) là nguyên nhân dẫn đến ung thư biểu mô màng phꢁi
(mesothelioma). Tuy nhiên, trong những trường hợp nhiều thiệt hại bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, cơ chế
BTTH lại xuất hiện nhiều vướng mắc.
Số 15(439) - T8/2021
45
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
mà có thể từ nhiều hành vi gây ô nhiễm môi
trường của nhiều chủ thể khꢃc nhau, do vꢀy
rất khó để xꢃc định mức đꢄ gây ô nhiễm của
từng chủ thể đꢂi với tꢁng thiệt hại chung. Nếu
nghĩa vụ chứng minh mꢂi quan hệ nhân quả
giữa hành vi và thiệt hại là căn cứ xꢃc định
trꢃch nhiệm của từng chủ thể được đẩy cho
người bị hại sẽ dẫn tới hệ quả người bị hại khó
có thể bảo vệ quyền và lợi ích bị xâm hại thông
qua cơ chế BTTH ngoài hợp đồng.
Đꢂi với loại thiệt hại thứ hai, phꢃp luꢀt
BTTH ngoài hợp đồng có thể ꢃp dụng trong
lĩnh vực môi trường. Còn với thiệt hại đầu tiên
không thuꢄc phạm vi được bảo vệ của phꢃp
luꢀt BTTH ngoài hợp đồng. Chỉ khi nào thiệt
hại loại (i) về môi trường sꢂng đủ nghiêm
trọng để gây nên thiệt hại loại (ii) về sức khỏe,
tính mạng, tài sản của chủ thể tư thì khi đó, chủ
thể tư mới có quyền yêu cầu biện phꢃp khắc
phục trong phꢃp luꢀt về BTTH.
Nhꢀn thức được từ những đặc thù trên trong
lĩnh vực ô nhiễm môi trường, mꢄt giải phꢃp
mà khoa học phꢃp lý đặt ra là cơ chế trꢃch
nhiệm liên đới đꢂi với trường hợp nhiều người
cùng có hành vi gây hại, đồng thời, giảm tải
nghĩa vụ chứng minh cho nguyên đơn bằng
cꢃch chuyển trꢃch nhiệm chứng minh phần lỗi
sang cho cꢃc bị đơn. Bởi lẽ, chủ thể có hành
vi gây ô nhiễm sẽ có ưu thế để thu thꢀp thông
tin nhằm thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong
việc phân chia lỗi12.
3.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô
nhiễm môi trường gây ra đối với tài sản công
Cꢄng đồng chung Châu Âu được coi là mꢄt
minh chứng hiện hữu về vai trò tồn tại quy chế
phꢃp lý liên quan đến trꢃch nhiệm BTTH đꢂi
với hành vi xâm hại tài sản công trong lĩnh vực
môi trường. Châu Âu sớm nhꢀn thức về sự
thiếu vắng mꢄt cơ chế điều chỉnh cꢃc thiệt hại
về tài sản công. Do vꢀy, Cꢄng đồng Châu Âu
đã ban hành Chỉ thị trꢃch nhiệm môi trường
2004/35/EC về việc phòng ngừa và khắc phục
thiệt hại - cꢃc thiệt hại trực tiếp lên môi trường
với tư cꢃch là tài sản chung của Cꢄng đồng. Chỉ
thị đã thiết lꢀp mꢄt khung trꢃch nhiệm phꢃp lý
dựa trên nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải
trả tiền” để ngăn ngừa và phục hồi cꢃc thiệt hại
môi trường đꢂi với ô nhiễm môi trường nước,
đất và thiệt hại đꢂi với hệ sinh thꢃi. Chỉ thị
được thông qua vào ngày 21/04/2004 và đặt
ra hạn để cꢃc quꢂc gia thành viên nꢄi luꢀt hóa
muꢄn nhất là ngày 30/04/2007.
3. Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do ô nhiễm môi trường
3.1. Phân loại trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do ô nhiễm môi trường dựa trên tiêu
chí đối tượng bị xâm hại
Dựa trên căn cứ về đꢂi tượng bị xâm hại,
trꢃch nhiệm BTTH do ô nhiễm môi trường có
thể chia làm hai loại: (i) Trꢃch nhiệm BTTH
đꢂi với hành vi xâm hại đến tài sản thuꢄc
sở hữu công (như môi trường đất, nước, hệ
sinh thꢃi, đꢄng thực vꢀt được bảo tồn), và (ii)
Trꢃch nhiệm BTTH đꢂi với cꢃc thiệt hại về
sức khỏe, tính mạng, tài sản, và cꢃc lợi ích
hợp phꢃp khꢃc của chủ thể tư do ô nhiễm môi
trường gây ra. Thông thường giữa hai loại
trꢃch nhiệm này có mꢂi quan hệ mꢀt thiết với
nhau; bởi lẽ, thiệt hại loại (i) là thiệt hại xảy ra
trước, còn thiệt hại loại (ii) chỉ phꢃt sinh khi
có hꢀu quả là suy giảm chức năng, tính hữu
tính của môi trường.
- Về phạm vi điều chỉnh: Chỉ thị môi
trường 2004/35/EC chỉ điều chỉnh cꢃc thiệt
hại đã xảy ra hoặc có thể xảy ra cho tài sản
công như tài nguyên thiên thiên, mà không
điều chỉnh cꢃc thiệt hại cho chủ thể tư. Điều
3(3) trực tiếp quy định rằng Chỉ thị không
trao quyền yêu cầu được bồi thường cho cꢃc
chủ thể tư kể cả khi thiệt hại đó là hꢀu quả từ
hành vi gây ô nhiễm môi trường. Cơ chế bồi
thường thiệt hại đꢂi với sức khỏe, tính mạng,
12
Calabresi & Melamed, Property Rules, Liability Rules, and Inalienability: One view of the Cathedral,
Havard Law Review, 1972.
46
Số 15(439) - T8/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
tài sản tư được quy định trong phꢃp luꢀt cꢃc
quꢂc gia thành viên theo cơ chế riêng về trꢃch
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.
Ngoài ra, Chỉ thị còn cho phép phꢃp luꢀt
cꢃc quꢂc gia thành viên được quy định thêm
cꢃc trường hợp miễn trꢃch nhiệm chi trả cꢃc
chi phí khi bị đơn chứng minh mình không có
lỗi cꢂ ý hoặc vô ý dẫn đến cꢃc thiệt hại môi
trường được gây ra bởi:
- Về bản chất pháp lý có thể thấy sự giao
thoa giữa trách nhiệm hành chính và trách
nhiệm dân sự: Chỉ thị 2004/35/EC thiết lꢀp
mꢄt cơ chế trꢃch nhiệm có phần gần giꢂng
với trꢃch nhiệm hành chính (trꢃch nhiệm
công) do Chỉ thị trên được đảm bảo thi hành
bởi quyền lực nhà nước13 hơn là trꢃch nhiệm
dân sự. Tuy nhiên, cꢃc nhà lꢀp phꢃp cũng
đưa vào Chỉ thị cꢃc căn cứ cơ bản xꢃc định
trꢃch nhiệm trong phꢃp luꢀt BTTH ngoài
hợp đồng (chế định của luꢀt tư) như: căn
cứ trꢃch nhiệm nghiêm ngặt, căn cứ trꢃch
nhiệm dựa trên lỗi, cũng như quy chế miễn
trừ trꢃch nhiệm trong cꢃc trường hợp như:
thiệt hại xảy ra do lỗi của bên thứ ba, do hạn
chế của trình đꢄ khoa học - kỹ thuꢀt. Tuy
nhiên, cũng phải có mꢄt nhꢀn thức rõ ràng
rằng cꢃc quy chế này không thể đồng nhất
hoàn toàn và ꢃp dụng chung đꢂi với trường
hợp trꢃch nhiệm BTTH đꢂi với thiệt hại của
chủ thể tư.
(i) Hành vi xả thải hoặc hoạt đꢄng khꢃc
được cơ quan công quyền cho phép, đꢃp ứng
cꢃc điều kiện được quy định trong phꢃp luꢀt
quꢂc gia và trong Phụ lục III của Chỉ thị;
(ii) Hành vi của bị đơn nhưng tại thời điểm
xảy ra, trình đꢄ khoa học kỹ thuꢀt chưa thể
chứng minh hành vi của bị đơn có khả năng
gây ô nhiễm môi trường.
Tuy nhiên, phạm vi của quyền khꢃng biện
chỉ có thể miễn trꢃch nhiệm chi trả cꢃc chi
phí (defences to costs) chứ không thể miễn
trꢃch nhiệm phục hồi môi trường (defences to
liability) nếu xảy ra thiệt hại14. Nói cꢃch khꢃc,
khi xảy ra thiệt hại từ hành vi làm ô nhiễm môi
trường của mình, bị đơn vẫn phải thực hiện
cꢃc biện phꢃp phục hồi môi trường, và chỉ có
thể được được bồi hoàn mꢄt phần hoặc toàn
bꢄ chi phí phꢃt sinh từ việc phục hồi nếu thực
hiện quyền khꢃng biện thành công15.
- Cơ chế kháng biện của bị đơn để miễn trừ
hoặc giảm trách nhiệm BTTH: Theo Chỉ thị
môi trường 2004/35/EC, người gây ô nhiễm
có thể thực hiện quyền khꢃng biện với mục
đích miễn trừ trong hai trường hợp sau:
3.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
ô nhiễm môi trường gây ra đối với chủ thể tư
Một minh chứng điển hình về hệ thống pháp
lý điều chỉnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
đối với hành vi xâm hại tài sản, sức khoẻ của
chủ thể tư là pháp luật Nhật Bản.
(i) Thiệt hại gây ra do lỗi của bên thứ ba
(trong trường hợp người gây ô nhiễm đã thực
hiện đủ cꢃc biện phꢃp bảo đảm an toàn).
Giữa những năm 1950, cư dân ở làng
chài thuꢄc vùng biển Minamata bị nhiễm
đꢄc thủy ngân nghiêm trọng. Tuy nhiên,
công ty hóa chất Chisso chꢂi bỏ trꢃch nhiệm
của họ và tiếp tục xả thải ở vịnh Minamata
cho tới năm 1968. Sau cuꢄc tranh chấp kéo
dài nhiều thꢀp kỷ, cuꢂi cùng, vào năm 1973,
(ii) Thiệt hại là hꢀu quả của việc thực hiện
quyết định của cơ quan nhà nước. Quꢂc gia có
thẩm quyền miễn trừ trꢃch nhiệm cho người
gây ô nhiễm trong trường hợp bị đơn chứng
minh được họ không có lỗi và việc xả thải đã
được cơ quan lꢀp phꢃp thông qua.
13 Điều 5(4) và Điều 6(3) Chỉ thị 2004/35/EC quy định chỉ có cơ quan nhà nước mới có quyền yêu cầu chủ thể
gây ô nhiễm thực hiện cꢃc biện phꢃp phòng ngừa, khắc phục thiệt hại môi trường.
14 Suy luꢀn từ Điều 8(3), 5(4), 6(3), 11(3), Chỉ thị 2004/35/EC.
15
BIO Intelligence Service, ELD Effectiveness: Scope and Exceptions, Final Report prepared for European
Commission - DG Environment, 2014.
Số 15(439) - T8/2021
47
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
công ty Chisso đã bị buꢄc phải chịu trꢃch
nhiệm về việc xả chất thải nguy hại trong
khoảng thời gian từ năm 1932 - 1968, là
nguyên nhân gây ra “bệnh Minamata” dù
việc xả thải của công ty này đã tuân thủ luꢀt
và văn bản dưới luꢀt16. Vụ việc về “vịnh
thủy ngân” trên đã buꢄc phꢃp luꢀt Nhꢀt phải
điều chỉnh để cung cấp cơ chế bồi thường
cho cꢃc nạn nhân của ô nhiễm môi trường.
Năm 1972, nguyên đơn trong vụ kiện ô
nhiễm môi trường của công ty Yokkaichi đã
thắng17, qua đó Nhꢀt Bản lần đầu ghi nhꢀn
nguyên tắc trꢃch nhiệm tuyệt đꢂi trong lĩnh
vực BTTH do ô nhiễm môi trường18.
1970. Theo đó, chủ thể gây ô nhiễm vẫn
phải chịu trꢃch nhiệm dù có lỗi hay không
và không có cơ chế miễn trừ trꢃch nhiệm.
Thứ hai, nguyên tắc trꢃch nhiệm chung và
liên đới được ghi nhꢀn tại Bꢄ luꢀt Dân sự Nhꢀt
Bản trong trường hợp có nhiều chủ thể cùng
gây ra thiệt hại19. Bởi lẽ, những ưu điểm đem
lại cho người bị thiệt hại trong lĩnh vực môi
trường, xu hướng phꢃp luꢀt quꢂc tế cũng ghi
nhꢀn nguyên tắc này. Tiếp đến cꢃc luꢀt chuyên
ngành quy định theo hướng trong trường hợp
nhiều chủ thể gây hại, nguyên đơn không cần
xꢃc định cụ thể trꢃch nhiệm của từng chủ thể.
- Giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh cho
nguyên đơn: Bởi đặc trưng thời gian xuất
hiện thiệt hại lâu và nguyên nhân có tính đa
thể trong phꢃp luꢀt bồi thường thiệt hại20, Nhꢀt
Bản đã bảo vệ người bị hại trong trường hợp
do ô nhiễm môi trường gây ra thông qua cơ
chế giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh. Trong
Luꢀt bồi thường thiệt hại sức khỏe do ô nhiễm
môi trường năm 1973, dựa vào đặc trưng khó
chứng minh của mꢂi quan hệ nhân quả, Nhꢀt
Bản đã phân loại thành hai khu vực: Khu
vực 1 gồm những thiệt hại gây ra bởi những
nguyên nhân, chất thải không thể xꢃc định cụ
thể (ví dụ như ô nhiễm không khí do khí thải
nhà mꢃy, khí thải từ phương tiện giao thông);
Khu vực 2 gồm những thiệt hại mà có thể xꢃc
định mꢄt nguyên nhân cụ thể (ví dụ như thủy
ngân ở Minamata, cadmium ở Toyama).
Trước những lo ngại về thực trạng ô nhiễm
môi trường, Nhꢀt đã ban hành Luꢀt kiểm soꢃt
ô nhiễm môi trường vào năm 1967 (Basic Law
for Environmental Pollution Control) để làm
nền móng xây dựng cꢃc quy định cụ thể về bảo
vệ môi trường. Năm 1973, Luꢀt BTTH về sức
khỏe do ô nhiễm môi trường được ban hành để
cung cấp cơ chế bồi thường cho chủ thể tư đꢂi
với những thiệt hại về tính mạng và sức khoẻ
qua cꢃc khoản phí thu từ người gây ô nhiễm.
Cụ thể, đꢂi với thiệt hại tài sản, thiệt hại
tinh thần của chủ thể tư được bù đắp bởi
phꢃp luꢀt BTTH ngoài hợp đồng từ quy chế
chung được quy định tại Bꢄ luꢀt Dân sự, đến
quy chế riêng được quy định tại cꢃc Đạo luꢀt
chuyên ngành như Luꢀt BTTH về sức khỏe
do ô nhiễm môi trường...
- Nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh trách
nhiệm BTTH do ô nhiễm môi trường:
Qua đó, những người bị hại thuꢄc Khu
vực 1 sẽ chỉ cần chứng minh ba yếu tꢂ: i) Sinh
sꢂng hoặc thường xuyên đi lại ở Khu vực I,
ii) Mắc bệnh thuꢄc danh mục đã được công
nhꢀn là hꢀu quả của ô nhiễm môi trường,
iii) Có thời gian ở Khu vực I đủ lâu. Bởi lẽ,
Thứ nhất, nguyên tắc trꢃch nhiệm tuyệt
đꢂi được ghi nhꢀn trong Điều 25 Luꢀt Kiểm
soꢃt ô nhiễm không khí 1968 và Điều 19
Luꢀt Kiểm soꢃt ô nhiễm môi trường nước
16 Xem ꢃn lệ Watanabe v. Chisso K. K., Tòa ꢃn quꢀn Kumamoto, 20/03/1973.
17 Xem ꢃn lệ Shiono v. Showa Yokkaichi Sekiyu, Tòa ꢃn quꢀn Tsu, 24/07/1972.
18 Thꢃng 6/1972, Nhꢀt bꢁ sung Điều 25 trong Luꢀt Kiểm soꢃt ô nhiễm không khí 1968 và Điều 19 trong Luꢀt
kiểm soꢃt ô nhiễm môi trường nước 1970, và đều quy định về trꢃch nhiệm tuyệt đꢂi.
19 Điều 719, Bꢄ luꢀt Dân sự Nhꢀt Bản.
20 Mục I.2 ở trên
48
Số 15(439) - T8/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
đặc trưng đa chủ thể có thể gây thiệt hại, phꢃp
luꢀt Nhꢀt Bản không buꢄc nạn nhân phải xꢃc
định chủ thể gây ô nhiễm cụ thể nào.
Về nguyên tắc trách nhiệm không dựa trên
lỗi, Điều 602 BLDS 2015 đã trực tiếp quy
định chủ thể gây ô nhiễm mà gây thiệt hại thì
phải chịu trꢃch nhiệm bồi thường, kể cả khi
người đó không có lỗi. Do đó, người gây ô
nhiễm chỉ có thể nại ra lý do không lỗi, lỗi vô
ý, hoặc thiệt hại quꢃ lớn so với khả năng kinh
tế của mình để được giảm mức bồi thường22.
Về “chủ thể làm ô nhiễm môi trường”, cụm
từ này có thể gây tranh cãi về trꢃch nhiệm
của phꢃp nhân hay người được giao thực hiện
hành vi gây ô nhiễm. Để đảm bảo lợi ích của
người bị hại và khả năng BTTH, “chủ thể
làm ô nhiễm môi trường” nên được hiểu theo
hướng bao gồm cả phꢃp nhân, chủ sở hữu cꢃc
cơ sở xả thải khi dẫn chiếu tới quy định phꢃp
nhân phải BTTH trong trường hợp người làm
công gây ra thiệt hại23.
4. Pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt
hại do ô nhiễm môi trường
Luꢀt Bảo vệ môi trường năm 2020 (Luꢀt
2020) được xem là mꢄt bước tiến tích cực
khi đề cꢀp tới cả hai loại thiệt hại về (i) môi
trường và (ii) sức khỏe, tài sản tư. Cụ thể,
Luꢀt đã phân loại về thiệt hại do ô nhiễm
môi trường như sau: (i) thiệt hại về suy giảm
chức năng, tính hữu ích do làm ô nhiễm môi
trường (bao gồm cꢃc thiệt hại về môi trường
đất, nước, hệ sinh thꢃi, đꢄng, thực vꢀt) và (ii)
thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản và cꢃc
lợi ích hợp phꢃp khꢃc của chủ thể tư21. Song
nếu tiếp cꢀn dưới cơ chế trꢃch nhiệm BTTH,
có thể khẳng định Luꢀt 2020 chưa xây dựng
được quy chế đầy đủ. Tuy đưa ra được phân
loại thiệt hại nhưng Luꢀt 2020 không lấy đó là
tiêu chí phân loại trꢃch nhiệm BTTH, qua đó
xây dựng quy chế phù hợp đꢂi với từng loại
trꢃch nhiệm như: điều kiện cấu thành trꢃch
nhiệm, hꢀu quả phꢃp lý và cơ chế miễn trừ
trꢃch nhiệm. Luꢀt 2020 cũng chưa thể hiện
đꢀm nét việc vꢀn dụng cꢃc nguyên tắc trꢃch
nhiệm BTTH trong luꢀt tư vào cꢃc quy chế
hành chính đꢂi với thiệt hại môi trường với tư
cꢃch tài sản công. Bên cạnh mꢄt sꢂ ghi nhꢀn
có giꢃ trị tính cực, nhìn chung, cꢃc vấn đề về
trꢃch nhiệm BTTH vẫn phải quay lại ꢃp dụng
quy chế tương đꢂi hạn hẹp được quy định tại
Bꢄ luꢀt Dân sự năm 2015 (BLDS 2015).
Về đặc tính trách nhiệm chung và liên
đới, BLDS 2015 ghi nhꢀn nguyên tắc này:
trong trường hợp có nhiều chủ thể cùng gây
ra thiệt hại thì những người đó phải liên đới
BTTH24. Trꢃch nhiệm được xꢃc định cho
từng người dựa trên mức đꢄ lỗi, nếu không
xꢃc định được mức đꢄ lỗi thì phải bồi thường
theo phần bằng nhau.
Tuy nhiên, đꢂi với Luꢀt 2020, chưa rõ
nguyên tắc trꢃch nhiệm chung và liên đới có
được công nhꢀn không khi chỉ quy định: trꢃch
nhiệm BTTH về môi trường đꢂi với từng đꢂi
tượng được xꢃc định tương ứng với tỷ lệ gây
thiệt hại trong tꢁng thiệt hại về môi trường.
Nếu cꢃc bên hoặc cơ quan quản lý nhà nước
về môi trường không xꢃc định được tỷ lệ chịu
trꢃch nhiệm thì cơ quan trọng tài hoặc Tòa ꢃn
- Nguyên tắc và đặc tính của trách nhiệm
BTTH do ô nhiễm môi trường
21 Điều 130, Luꢀt Bảo vệ môi trường năm 2020.
22 Khoản 2, Điều 585 Bꢄ luꢀt Dân sự năm 2015.
23 Điều 600 Bꢄ luꢀt Dân sự năm 2015.
24 Điều 587 Bꢄ luꢀt Dân sự năm 2015: “Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải
liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trꢃch nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xꢃc
định tương ứng với mức đꢄ lỗi của mỗi người; nếu không xꢃc định được mức đꢄ lỗi thì họ phải BTTH theo
phần bằng nhau”.
Số 15(439) - T8/2021
49
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
quyết định25. Việc không công nhꢀn nguyên
tắc trꢃch nhiệm chung và liên đới có thể dẫn
đến nhiều khó khăn trong việc bảo vệ nạn
nhân của ô nhiễm môi trường. Bởi lẽ, đặc tính
của thiệt hại về môi trường là nhiều chủ thể
có trꢃch nhiệm bồi thường, nguyên đơn sẽ gặp
khó khăn trong việc tìm kiếm chứng cứ và
khởi kiện nhiều chủ thể. Hơn nữa, nếu phần
trăm thiệt hại lớn nhất đến từ bên có ít năng
lực tài chính nhất, rất có thể, nạn nhân của ô
nhiễm môi trường sẽ không được đền bù đầy
đủ. Do đó, cần phải giải thích điểm b khoản 3
Điều 130 theo hướng tương thích với BLDS
2015: công nhꢀn trꢃch nhiệm chung và liên
đới theo hướng trong trường hợp quy định của
luꢀt chuyên ngành không tồn tại thì ꢃp dụng
quy định của luꢀt chung giải quyết.
Đꢂi với việc chứng minh thiệt hại, Luꢀt
2020 đưa ra cơ chế cho phép nguyên đơn tự
mình hoặc ủy quyền cho cơ quan nhà nước,
tꢁ chức, cꢃ nhân khꢃc xꢃc định thiệt hại và
yêu cầu bồi thường28. Đây cũng là mꢄt nỗ lực
đꢃng ghi nhꢀn của Luꢀt 2020 khi cho phép cơ
quan nhà nước hỗ trợ nạn nhân của ô nhiễm
môi trường kiện đòi BTTH. Tuy nhiên, khi
quy định người dân chỉ có thể “ủy quyền” chứ
không phải “yêu cầu”, có thể suy luꢀn rằng,
mặc dù cꢃc cơ quan nhà nước thực hiện việc
xꢃc định thiệt hại cho người dân, nhưng cꢃc
chi phí liên quan đến xꢃc định thiệt hại và thực
hiện thủ tục yêu cầu bồi thường vẫn do người
dân gꢃnh chịu. Và nếu giải thích theo hướng
như vꢀy, có thể khẳng định không có nhiều
khꢃc biệt theo hướng giảm nhẹ gꢃnh nặng
nghĩa vụ chứng minh cho người bị hại đꢂi với
trường hợp đặc thù trong lĩnh vực môi trường.
Về giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh cho
nguyên đơn, đꢂi với cꢃc thiệt hại về tính mạng,
sức khỏe, tài sản tư, Luꢀt 2020 đã có mꢄt bước
tiến đꢃng ghi nhꢀn trong việc giảm nhẹ nghĩa
vụ chứng minh cho nguyên đơn. Theo đó, việc
chứng minh mꢂi quan hệ nhân quả giữa hành
vi và thiệt hại được đẩy sang cho chủ thể gây
ô nhiễm môi trường26. Thay đꢁi này phản ꢃnh
ý chí của nhà lꢀp phꢃp khi nhꢀn thức được cꢃc
đặc tính của thiệt hại môi trường và xu hướng
nghiêng về bảo vệ người bị thiệt hại nhiều hơn.
Cùng với quy định về chuyển đꢁi nghĩa vụ
chứng minh lỗi sang cho bị đơn theo Bꢄ luꢀt
Dân sự27, nạn nhân của ô nhiễm môi trường chỉ
cần chứng minh hai yếu tꢂ còn lại để yêu cầu
BTTH: hành vi và thiệt hại.
Về cơ chế miễn trừ trách nhiệm, Luꢀt 2020
không có quy định trực tiếp về cꢃc trường hợp
miễn trừ trꢃch nhiệm do ô nhiễm môi trường
gây ra. Có quan điểm cho rằng, khoản 4 Điều
130 quy định về cơ chế miễn trừ trꢃch nhiệm
này, tuy nhiên quy định hiện hành trong trường
hợp này không cấu thành trꢃch nhiệm BTTH
do không có thiệt hại nên không thể xem là
quy chế miễn trừ trꢃch nhiệm.
Dovꢀy, cóhaykhôngviệccôngnhꢀncơchế
miễn trừ trꢃch nhiệm được quy định tại phần
chung trong BLDS 2015 là vấn đề cần tiếp tục
được bàn luꢀn. Về cơ bản, liên quan đến trꢃch
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, sự khꢃc nhau
25 Điểm b khoản 3 Điều 130 Luꢀt Bảo vệ môi trường năm 2020: “Trꢃch nhiệm BTTH về môi trường, chi trả
chi phí xꢃc định thiệt hại và thực hiện thủ tục yêu cầu BTTH đꢂi với từng đꢂi tượng được xꢃc định tương ứng
với tỷ lệ gây thiệt hại trong tꢁng thiệt hại về môi trường; trường hợp cꢃc bên liên quan hoặc cơ quan quản lý
nhà nước về môi trường không xꢃc định được tỷ lệ chịu trꢃch nhiệm thì cơ quan trọng tài hoặc Tòa ꢃn quyết
định theo thẩm quyền”.
26 Khoản 2 Điều 133 Luꢀt Bảo vệ môi trường năm 2020.
27 Phần I.5.d, Nghị quyết sꢂ 03/2006/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn ꢃp dụng mꢄt sꢂ quy định của Bꢄ luꢀt Dân
sự năm 2005 về BTTH ngoài hợp đồng do Hꢄi đồng Thẩm phꢃn Tòa ꢃn nhân dân tꢂi cao ban hành.
28 Khoản 3 Điều 131 Luꢀt Bảo vệ môi trường năm 2020: “Tꢁ chức, cꢃ nhân bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe
của con người, tài sản và lợi ích hợp phꢃp do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường tự mình hoặc ủy
quyền cho cơ quan nhà nước, tꢁ chức, cꢃ nhân khꢃc xꢃc định thiệt hại và yêu cầu BTTH về môi trường”.
50
Số 15(439) - T8/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
giữa quy chế chung và quy chế riêng được tꢀp
trung ở hai mảng vấn đề phꢃp lý đó là (i) Điều
kiện cấu thành trꢃch nhiệm; (ii) Cơ chế miễn
trừ. Điều đó có nghĩa cơ chế miễn trừ trong
cꢃc lĩnh vực đặc thù khó có thể tiếp nhꢀn được
hoàn toàn quy chế tại phần chung.
luꢀt dân sự như phân tích ở trên, song cꢃc quy
định từ Điều 130 đến Điều 135 đã bꢄc lꢄ mꢄt
sꢂ hạn chế:
Thứ nhất, nếu với mục đích điều chỉnh
chung trꢃch nhiệm BTTH đꢂi với hành vi xâm
hại tài sản công và hành vi xâm hại quyền và
lợi ích của chủ thể tư thì nên phân loại rõ hai
loại trꢃch nhiệm BTTH, qua đó xây dựng từng
quy chế phù hợp về nguyên tắc trꢃch nhiệm,
điều kiện cấu thành, hệ quả phꢃp lý và cơ
chế miễn trừ, cơ chế bảo hiểm với (1) trꢃch
nhiệm BTTH đꢂi với tài sản công có thể tham
khảo Chỉ thị 2004/35/EC, với (2) trꢃch nhiệm
BTTH đꢂi với thiệt hại của chủ thể tư có thể
tham khảo quy chế phꢃp lý của Nhꢀt Bản.
Nếu ꢃp dụng quy chế miễn trừ trong BLDS
2015, bị đơn có thể nại ra cꢃc lý do sau đây để
được xem xét miễn trừ trꢃch nhiệm: (i) thiệt
hại xảy ra do sự kiện bất khả khꢃng, (ii) thiệt
hại xảy ra do lỗi của bên bị thiệt hại, (iii) tình
thế cấp thiết, (iv) phòng vệ chính đꢃng29. Do
vꢀy, khả năng công nhꢀn miễn trừ trꢃch nhiệm
sẽ rất cao và không phù hợp với cꢃc đặc tính
của trꢃch nhiệm BTTH trong lĩnh vực môi
trường. Tiếp đến, nếu không có cꢃc quy định
cụ thể trong luꢀt chuyên ngành, có thể sẽ dẫn
tới yêu cầu đòi hỏi kỹ thuꢀt và khả năng giải
thích, ꢃp dụng luꢀt của cơ quan tư phꢃp.
Thứ hai, chưa thấy rõ được nguyên tắc của
trꢃch nhiệm BTTH trong lĩnh vực môi trường
để bảo vệ chủ thể tư. Cụ thể có thể chọn lựa
giữa trꢃch nhiệm tuyệt đꢂi như Nhꢀt Bản và
không công nhꢀn cơ chế miễn trừ hoặc mô
hình trꢃch nhiệm nghiêm ngặt như Châu Âu
và quy định kèm theo cꢃc trường hợp được
miễn trꢃch nhiệm. Nếu lựa chọn mô hình trꢃch
nhiệm nghiêm ngặt, thì quy định về cơ chế
miễn trừ trꢃch nhiệm phải được bꢁ sung, việc
xây dựng quy chế phꢃp lý này phải được dựa
trên những kết quả nghiên cứu thực chứng và
nghiên cứu phꢃp luꢀt so sꢃnh sao cho phù hợp
với xu hướng hiện nay của phꢃp luꢀt quꢂc tế
và tình hình thực trạng kinh tế, xã hꢄi… cũng
Kết luận: Để khắc phục những khó khăn
trên thực tiễn ꢃp dụng phꢃp luꢀt trong lĩnh vực
trꢃch nhiệm BTTH do ô nhiễm môi trường gây
ra như hầu hết yêu cầu của người bị hại không
được tòa chấp nhꢀn, do không thể chứng minh
được cꢃc điều kiện cấu thành trꢃch nhiệm nếu
ꢃp dụng theo quy định tại BLDS: điều kiện
về tồn tại thiệt hại30; điều kiện về mꢂi quan hệ
nhân quả giữa hành vi xâm hại và thiệt hại31.
Luꢀt Bảo vệ môi trường năm 2020 đã hướng
tới mục đích xây dựng quy chế giảm nhẹ gꢃnh
nặng nghĩa vụ chứng minh cho chủ thể phꢃp
như định hướng phꢃt triển của Việt Nam
29 Khoản 2 Điều 584 Bꢄ luꢀt Dân sự năm 2015.
30 Từ năm 2007 đến 2017, do việc xả thải cả nước và khói của Công ty giấy Bắc Hà, khoảng 70 hꢄ dân của
thôn 7 xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã bị thiệt hại về sức khoẻ (với nhiều người dân bị lở
loét khi đi làm đồng và trên 60 người chết vì ung thư do khói bụi) và tài sản (với sản lượng lúa trên cꢃnh đồng
sử dụng nguồn nước tưới bị ô nhiễm sụt giảm 50%). Ban đầu có năm hꢄ dân khởi kiện, sau đó rút xuꢂng dần
và cuꢂi cùng chỉ còn mꢄt nguyên đơn. Người dân đòi BTTH cả sức khoẻ và tài sản, sau đó do thấy không thể
cung cấp được chứng cứ về thiệt hại sức khoẻ (mặc dù nhiều người đã từng phải điều trị tại bệnh viện) nên đã
rút yêu cầu này, chỉ giữ yêu cầu đòi BTTH về lúa.
31
Bản ꢃn sơ thẩm ngày 31/01/2019 của TAND thành phꢂ Bắc Giang đã bꢃc toàn bꢄ cꢃc yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn với cꢃc lý do chính là: Nguyên đơn đã không chứng minh được rằng nguồn nước ô nhiễm là
nguyên nhân của việc sụt giảm sản lượng lúa và nguyên đơn tự tính cꢃc thiệt hại về tài sản nên không có căn
cứ do không được cơ quan có thẩm quyền nào xꢃc nhꢀn. Bản ꢃn phúc thẩm ngày 27/06/2019 của TAND tỉnh
Bắc Giang cũng bꢃc yêu cầu khꢃng cꢃo của nguyên đơn và giữ nguyên quyết định của Bản ꢃn sơ thẩm với cꢃc
lý do tương tự.
Số 15(439) - T8/2021
51
Bạn đang xem tài liệu "Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường từ góc nhìn lý thuyết đến luật thực định của Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
boi_thuong_thiet_hai_do_o_nhiem_moi_truong_tu_goc_nhin_ly_th.pdf

