Quy định về ứng dụng công nghệ tại luật doanh nghiệp năm 2020 và một số vấn đề đặt ra trong thi hành
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
QUY ĐỊNH VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TẠI LUẬT DOANH NGHIỆP
NĂM 2020 VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG THI HÀNH
Trần Huỳnh Thanh Nghị*
*TS. Khoa Luật - Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Doanh nghiệp, công
nghệ sꢃ, quy định về ứng dụng
công nghệ, Luꢁt Doanh nghiệp
năm 2020.
Trong phạm vi bài viết này, tꢀc giả tꢁp trung trình bày, phân tích những
điểm mới trong quy định về ứng dụng công nghệ tại Luꢁt Doanh nghiệp
năm 2020, chỉ ra những hạn chế trong thi hành quy định này và đưa ra
cꢀc kiến nghị hoàn thiện Luꢁt Doanh nghiệp cũng như phꢀp luꢁt chuyên
ngành cho tương thích với cꢀc thay đꢂi tại Luꢁt Doanh nghiệp năm 2020.
Lịch sử bài viết:
Nhꢁn bài
Biên tꢁp
Duyệt bài
: 08/6/2021
: 12/7/2021
: 15/7/2021
Article Infomation:
Abstract:
Within the scope of this article, the author focuses on discussions
and analysis of new contents in the legal regulations on technology
application in the Law on Enterprises of 2020, also points out
shortcomings in the implementation of this regulation and gives out a
number of recommendations for further improvements of the Enterprise
Law as well as the particular laws so that they are in consistences with
new contents under the Enterprise Law of 2020 in coming time.
Keywords:
Enterprise;
digital technology; business
registration; Law on Enterprises
of 2020.
Article History:
Received
Edited
: 08 Jun. 2021
: 12 July 2021
: 15 July 2021
Approved
1. Công nghệ số - Yêu cầu tất yếu của nền
kinh tế Việt Nam và các lợi ích của công
nghệ số đem lại cho doanh nghiệp
và mꢃi quan hệ giữa cꢀc doanh nghiệp theo
nhiều cꢀch khꢀc nhau1. Do đó, việc ứng
dụng thành tựu khoa học công nghệ vào
quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp,
trong cꢀc quan hệ thương mại, dân sự của
doanh nghiệp là vấn đề mang tính sꢃng còn
không những đꢃi với doanh nghiệp tại Việt
Nam mà còn tại nhiều nền kinh tế khꢀc trên
thế giới. Theo thꢃng kê, 3 trong sꢃ 5 doanh
nghiệp có giꢀ trị lớn nhất trên thế giới -
Công nghệ sꢃ hay còn gọi là chuyển đꢂi
sꢃ, là quꢀ trình thay đꢂi từ mô hình truyền
thꢃng sang ứng dụng công nghệ mới như:
dữ liệu lớn (Big Data), điện toꢀn đꢀm mây
(Cloud), Internet vạn vꢁt (IoT).
Ở vào thời điểm hiện tại, cuꢄc cꢀch mạng
kỹ thuꢁt sꢃ đang định nghĩa lại cạnh tranh
1
Xem: David L Rogers (Phạm Anh Tuấn dịch), “Cải tổ doanh nghiệp trong thời đại số”, Nxb. Tꢂng hợp
TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr.91.
28
Số 15(439) - T8/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Apple, Google và Microsoft - đã xây dựng
hoạt đꢄng kinh doanh của mình trên cꢀc mô
hình kinh doanh nền tảng2.
phải nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy
định của pháp luật, trước hết là pháp luật
về doanh nghiệp, đầu tư, kinh doanh để tạo
điều kiện thuận lợi cho phát triển các mô
hình và hoạt động kinh tế mới dựa trên các
nền tảng như kinh tế số, kinh tế chia sẻ, kinh
tế tuần hoàn, kinh tế dựa trên đổi mới sáng
tạo, đồng thời ngăn chặn kịp thời các tác
động tiêu cực cả về kinh tế và xã hội5.
Ở nước ta, tính đến thời điểm năm 2019,
theo sꢃ liệu của Tꢂng cục Thꢃng kê, có
610.637 doanh nghiệp đang hoạt đꢄng có
kết quả sản xuất kinh doanh3. Với sꢃ lượng
khꢀ lớn doanh nghiệp đang hoạt đꢄng như
trên thì việc ứng dụng công nghệ sꢃ trong
quản lý nhà nước đꢃi với doanh nghiệp luôn
là ưu tiên hàng đầu trong cꢀc chủ trương,
chính sꢀch của Đảng và Nhà nước.
Về phía doanh nghiệp, việc ứng dụng
công nghệ sꢃ đem lại cho doanh nghiệp
những lợi ích sau: Thứ nhất, xóa bỏ khoảng
cꢀch trong quản trị doanh nghiệp. Khi doanh
nghiệp ứng dụng công nghệ vào trong quản
lý doanh nghiệp, sẽ kết nꢃi cꢀc bꢄ phꢁn
trong cơ cấu tꢂ chức của doanh nghiệp lại
với nhau, giúp cho quꢀ trình thông bꢀo, đưa
ra quyết định hoặc xử lý vấn đề được thực
hiện mꢄt cꢀch nhanh chóng; thứ hai, tăng
cường sự minh bạch và hiệu quả trong hệ
thꢃng quản trị doanh nghiệp vì mꢄt khi cꢀc
bꢄ phꢁn trong doanh nghiệp có sự kết nꢃi
với nhau thì việc quản lý bꢀo cꢀo, cꢀc khoản
thu chi tài chính trong doanh nghiệp sẽ trở
nên dễ dàng hơn; thứ ba, giảm chi phí tài
chính cho doanh nghiệp, bởi lẽ công nghệ
sꢃ giúp doanh nghiệp giảm cꢀc chi phí tài
chính do thực hiện thao tꢀc thủ công truyền
thꢃng vꢃn tꢃn nhiều thời gian, công sức và
tiền bạc của doanh nghiệp, qua đó mang lại
giꢀ trị cao hơn cho doanh nghiệp, giúp nâng
cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp
so với những doanh nghiệp không ứng dụng
công nghệ hóa.
Nghị quyết sꢃ 52-NQ/TW ngày
27/09/2019 của Bꢄ Chính trị về mꢄt sꢃ chủ
trương, chính sꢀch chủ đꢄng tham gia cuꢄc
Cꢀch mạng công nghiệp lần thứ tư đã xꢀc
định yêu cầu hoàn thiện pháp luật, trước
hết là pháp luật về doanh nghiệp, khởi
nghiệp sáng tạo, sở hữu trí tuệ, thương mại,
đầu tư, kinh doanh để tạo điều kiện thuận
lợi cho quá trình chuyển đổi số quốc gia và
phát triển các sản phẩm, dịch vụ, mô hình
kinh tế mới dựa trên nền tảng công nghệ
số, Internet và không gian mạng; bổ sung
một số ngành nghề kinh doanh mới được ưu
đãi đầu tư để thúc đẩy tham gia cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư4.
Nghị quyết sꢃ 50/NQ-CP ngày
17/04/2020 của Chính phủ về Chương trình
hành đꢄng của Chính phủ để thực hiện
Nghị quyết sꢃ 52-NQ/TW của Bꢄ Chính
trị cũng đã chính thức giao nhiệm vụ cho
Bꢄ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì và phꢃi hợp
với Bꢄ Tài chính, cꢀc bꢄ, ngành liên quan
2
Xem: David L Rogers (Phạm Anh Tuấn dịch), “Cải tổ doanh nghiệp trong thời đại số”, Nxb. Tꢂng hợp
TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr.108.
3 Nguồn: Sꢀch trắng doanh nghiệp Việt Nam do Bꢄ Kế hoạch và Đầu tư công bꢃ ngày 28/04/2020 tại Hà Nꢄi.
4
2792019-cua-bo-chinh-tri-ve-mot-so-chu-truong-chinh-sach-chu-dong-tham-gia-cuoc-cach-mang-
cong-5715.
5
Xem: Mục II Chương trình hành đꢄng của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị quyết sꢃ 50/NQ-CP ngày
17/04/2020 về thực hiện Nghị quyết sꢃ 52-NQ/TW ngày 27/09/2019 của Bꢄ Chính trị về mꢄt sꢃ chủ trương,
chính sꢀch chủ đꢄng tham gia cuꢄc cꢀch mạng công nghiệp lần thứ IV.
Số 15(439) - T8/2021
29
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
2. Quy định của Luật Doanh nghiệp năm
2020 về ứng dụng công nghệ trong thành
lập và quản trị doanh nghiệp
đến dấu theo dạng thức truyền thꢃng, dấu
khắc bằng đồng hoặc bằng cao su, tꢃn kém
chi phí tài chính không nhỏ. Theo ước tính,
trung bình để khắc mꢄt con dấu bằng đồng
hoặc bằng cao su tại Tp. Hồ Chí Minh thì
doanh nghiệp phải tꢃn từ 500.000 đồng đến -
700.000 đồng/dấu. Thay vào đó, doanh
nghiệp có thể sử dụng dấu dưới dạng chữ ký
sꢃ - mꢄt dạng thức giao dịch điện tử. Theo
khoản 6 Điều 3 Nghị định sꢃ 130/2018/NĐ-
CP do Chính phủ ban hành ngày 27/09/2018
về quy định chi tiết thi hành Luꢁt Giao dịch
điện tử năm 2005, chữ ký sꢃ là một dạng
chữ ký điện tử được tạo ra bằng sự biến đổi
một thông điệp dữ liệu sử dụng hệ thống
mật mã không đối xứng; theo đó, người có
được thông điệp dữ liệu ban đầu và khóa
công khai của người ký có thể xác định
được chính xác. Về hình thức, chữ ký điện
tử được tạo lꢁp dưới dạng từ, chữ, sꢃ, ký
hiệu, âm thanh hoặc cꢀc hình thức khꢀc
bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc
kết hợp mꢄt cꢀch lô gích với thông điệp dữ
liệu, có khả năng xꢀc nhꢁn người ký thông
điệp dữ liệu và xꢀc nhꢁn sự chấp thuꢁn của
người đó đꢃi với nꢄi dung thông điệp dữ
liệu được ký8.
Luꢁt Doanh nghiệp (LDN) năm 2020 được
ban hành trong bꢃi cảnh nền kinh tế Việt Nam
đang hꢄi nhꢁp sâu rꢄng vào kinh tế thế giới.
Cꢀc thành tựu khoa học kỹ thuꢁt trong lĩnh
vực công nghệ đang ở vào giai đoạn phꢀt triển
“chín” nhất và đóng vai trò quan trọng đến
doanh nghiệp. Chẳng hạn, Công ty Space X
của tỷ phú Elon Musk trình làng công nghệ
Internet vệ tinh trong năm 2021, dự kiến sẽ
phủ sóng tại Việt Nam trong năm 2022. Theo
thꢃng kê, Việt Nam có khoảng 70% dân sꢃ
sử dụng Internet, là mꢄt trong những nước
có tꢃc đꢄ phꢀt triển công nghệ cao nhất thế
giới. Năm 2019, chỉ sꢃ phꢀt triển con người
(HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuꢄc
nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là
so với cꢀc nước có cùng trình đꢄ phꢀt triển6.
Trong bꢃi cảnh đó, việc ban hành mới LDN
năm 2020 với những thay đꢂi thích nghi với
sự phꢀt triển của công nghệ trên thế giới là cần
thiết. Về cơ bản, LDN năm 2020 có những
quy định đꢄt phꢀ trong ứng dụng công nghệ
sꢃ ở mꢄt sꢃ nꢄi dung sau:
Thứ nhất, LDN năm 2020 cho phép việc
sử dụng dấu doanh nghiệp bằng chữ ký số.
Việc cho phép doanh nghiệp sử dụng
chữ ký sꢃ thay cho dấu doanh nghiệp không
những làm giảm chi phí gia nhꢁp thị trường
cho doanh nghiệp, mà còn bắt nhịp với sự
thay đꢂi công nghệ sꢃ đang phꢀt triển mạnh
trên toàn cầu. Ngoài ra, quy định trên phản
ꢀnh nỗ lực cải cꢀch thể chế môi trường kinh
doanh, hướng đến xây dựng mꢄt nền kinh tế
dựa trên công nghệ 4.0 mà Chính phủ Việt
Nam đang triển khai thực hiện là mꢄt thực
tế khꢀch quan không thể đảo ngược được
trong thời đại công nghệ sꢃ hiện nay.
Theo quy định của LDN năm 2020, dấu
của doanh nghiệp bao gồm dấu được làm tại
cơ sở khắc dấu hoặc dấu dưới hình thức chữ
ký số theo quy định của pháp luật về giao
dịch điện tử7. Doanh nghiệp quyết định loại
dấu, sꢃ lượng, hình thức và nꢄi dung dấu của
doanh nghiệp, chi nhꢀnh, văn phòng đại diện
và đơn vị khꢀc của doanh nghiệp.
Có thể nói, từ năm 2021, cꢀc doanh
nghiệp tại Việt Nam có thể không cần dùng
6 Trích từ Bài viết của Tꢂng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã
hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/bai-viet-cua-
tong-bi-thu-ve-con-duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam-737210.html.
7 Xem: Điều 43 LDN năm 2020.
8 Xem: Khoản 1 Điều 21 Luꢁt Giao dịch điện tử năm 2005.
30
Số 15(439) - T8/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Thứ hai, LDN năm 2020 cho phép công
ty cổ phần gửi thông báo mời họp Đại hội
đồng cổ đông bằng đa phương thức, trong
đó có ứng dụng công nghệ.
Tuy nhiên, từ năm 2021, theo quy định
của khoản 2 Điều 143 LDN năm 2020,
thông bꢀo mời họp ĐHĐCĐ được gửi bằng
phương thức để bảo đảm đến được địa chỉ
liên lạc của cổ đông và đăng trên trang thông
tin điện tử của công ty. Theo đó, cꢀc công ty
cꢂ phần tại Việt Nam có thể gửi thông bꢀo
mời họp ĐHĐCĐ bằng đa phương thức như
qua đường bưu chính, qua thư điện tử, qua
điện thoại, qua fax, email, zalo, viber…, tất
cả đều có giꢀ trị phꢀp lý như nhau. Có thể
nói rằng, quy định của khoản 2 Điều 143
LDN năm 2020 có ý nghĩa tích cực cả về
phương diện ứng dụng công nghệ và tài
chính, đꢀp ứng được yêu cầu đꢂi mới công
nghệ sꢃ trong quản trị doanh nghiệp, tiết
giảm được cꢀc chi phí tài chính và gia tăng
hiệu quả cho hoạt đꢄng của doanh nghiệp.
Trước năm 2021, theo quy định của
khoản 1 và khoản 2 Điều 139 LDN năm
2014, người triệu tꢁp họp Đại hꢄi đồng cꢂ
đông (ĐHĐCĐ) phải gửi thông bꢀo mời họp
đến tất cả cꢀc cꢂ đông trong Danh sꢀch cꢂ
đông có quyền dự họp chꢁm nhất 10 ngày
trước ngày khai mạc, nếu Điều lệ công ty
không quy định thời hạn dài hơn…. Thông
báo được gửi bằng phương thức bảo đảm
đến được địa chỉ liên lạc của cổ đông. Về
phía công ty, nếu không tuân thủ quy định
trên thì nghị quyết của ĐHĐCĐ có thể bị
cꢂ đông/nhóm cꢂ đông sở hữu ít nhất 10%
tꢂng sꢃ cꢂ phần phꢂ thông trong 6 thꢀng
liên tục nꢄp đơn yêu cầu tòa ꢀn hoặc trọng
tài hủy bỏ.
Thứ ba, LDN năm 2020 bổ sung quy
định cho phép thành viên hội đồng quản trị
(HĐQT) được tham dự và biểu quyết tại các
cuộc họp HĐQT thông qua hội nghị trực
tuyến, bỏ phiếu điện tử hoặc hình thức điện
tử khác.
Với quy định trên, tất cả cꢀc công ty cꢂ
phần tại Việt Nam đều phải gửi thông bꢀo
mời họp ĐHĐCĐ đến cꢀc cꢂ đông có quyền
biểu quyết qua đường bưu chính có dꢀn
tem, tꢃng đạt trực tiếp đến cho cꢂ đông mặc
dù cꢀc công ty này có thể gửi thông bꢀo mời
họp ĐHĐCĐ đến cꢂ đông bằng cꢀc phương
thức khꢀc như thư điện tử, fax, tin nhắn,…
Song, điều quan trọng nhất, nhằm đảm bảo
tính hợp phꢀp cho cuꢄc họp ĐHĐCĐ thì
cꢀc công ty cꢂ phần đều phải gửi thông bꢀo
mời họp bằng thư bảo đảm, tꢃn kém chi phí
tài chính không ít cho họ. Ở cꢀc công ty đại
chúng có quy mô lớn như: Công ty ty cꢂ
phần Sữa Việt Nam (Vinamilk), Ngân hàng
Thương mại cꢂ phần Sài Gòn Thương tín
(Sacombank) hay Công ty cꢂ phần Khí Việt
Nam (PV Gas)… vꢃn có sꢃ lượng cꢂ đông
cꢀ nhân nhỏ lẻ trong và ngoài nước rất lớn
thì quy định tại khoản 2 Điều 139 LDN năm
2014 về gửi thông bꢀo mời họp ĐHĐCĐ
bằng phương thức bảo đảm đã gây tꢃn kém
chi phí tài chính lớn cho cꢀc công ty này.
Trước năm 2021, theo quy định của
LDN 2014, thành viên HĐQT của công ty
cꢂ phần tham gia dự họp và biểu quyết tại
cuꢄc họp HĐQT thông qua 4 hình thức:
trực tiếp; ủy quyển cho người khꢀc; hꢄi
nghị trực tuyến hoặc hình thức tương tự
khꢀc; gửi phiếu biểu quyết đến cuꢄc họp
thông qua thư, fax, thư điện tử. Tuy nhiên,
bên cạnh bꢂ sung hình thức tham dự họp và
biểu quyết khác quy định tại Điều lệ công
ty, LDN năm 2020 còn bꢂ sung quy định
cho phép cꢀc thành viên HĐQT được tham
dự họp biểu quyết thông qua hội nghị trực
tuyến, bỏ phiếu điện tử hoặc hình thức điện
tử khác (khoản 9 Điều 157). Quy định của
LDN năm 2020 có ý nghĩa quan trọng, phù
hợp với thực tiễn ứng dụng công nghệ vào
quản trị doanh nghiệp ở nước ta hiện nay.
Đặc biệt, trong điều kiện đại dịch Covid–19
bùng phꢀt, việc ứng dụng công nghệ sꢃ cho
Số 15(439) - T8/2021
31
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
cꢀc cuꢄc họp ĐHĐCĐ hoặc của HĐQT, vào
việc thông qua quyết định, lấy ý kiến của cꢂ
đông, của cꢀc nhà quản lý doanh nghiệp để
ra cꢀc quyết sꢀch liên quan đến hoạt đꢄng
kinh doanh đã giúp cho cꢀc doanh nghiệp
quản trị hiệu quả hơn, giảm bớt thời gian,
chi phí tài chính.
Thứ hai, cần bảo đảm sự thống nhất giữa
LDN năm 2020 với các văn bản luật chuyên
ngành nhằm thực thi các quy định về công
nghệ số tại LDN năm 2020.
LDN năm 2020 điều chỉnh việc thành lꢁp,
tꢂ chức quản lý, tꢂ chức lại và giải thể cꢀc
loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam. Bên
cạnh đó, cꢀc văn bản luꢁt chuyên ngành khꢀc
điều chỉnh việc thành lꢁp, tꢂ chức quản lý,
tꢂ chức lại và giải thể của cꢀc doanh nghiệp
trong cꢀc lĩnh vực khꢀc nhau. Theo quy định
của Điều 3 LDN năm 2020, trường hợp có
xung đꢄt giữa LDN năm 2020 với cꢀc văn
bản luꢁt chuyên ngành trong cꢀc quy định
về thành lꢁp, tꢂ chức quản lý, tꢂ chức lại và
giải thể doanh nghiệp, ưu tiên ꢀp dụng theo
cꢀc quy định của luꢁt chuyên ngành. Thực tế
cho thấy, nhiều văn bản luꢁt điều chỉnh hoạt
đꢄng của doanh nghiệp trong mꢄt sꢃ lĩnh vực
chuyên ngành như: dịch vụ phꢀp lý (Luꢁt
Luꢁt sư năm 2006 đã được sửa đꢂi, bꢂ sung
mꢄt sꢃ điều năm 2012), công chứng (Luꢁt
Công chứng năm 2014), đấu giꢀ tài sản (Luꢁt
Đấu giꢀ tài sản năm 2016), bảo hiểm (Luꢁt
Kinh doanh bảo hiểm năm 2010)… vẫn quy
định về cꢀc thủ tục, phương thức trực tiếp
(offline) thay vì phải trực tuyến như quy định
tại LDN năm 2020. Chính sự thiếu thꢃng
nhất trong kết nꢃi giữa LDN năm 2020 và
cꢀc luꢁt chuyên ngành sẽ làm cản trở cuꢄc cải
cꢀch mang tính đꢄt phꢀ của LDN năm 2020
về công nghệ sꢃ. Vì vꢁy, để nâng cao hiệu
quả thực thi LDN năm 2020, việc hoàn thiện
cꢀc đạo luꢁt chuyên ngành trong thời gian tới
theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ
sꢃ vào việc thành lꢁp, hoạt đꢄng, tꢂ chức quản
lý của doanh nghiệp cho phù hợp với những
thay đꢂi tích cực trên tại LDN năm 2020 là
nꢄi dung quan trong mà hoạt đꢄng lꢁp phꢀp
tại Việt Nam không thể bỏ qua.
3. Những hạn chế trong thực hiện quy
định về ứng dụng công nghệ tại Luật
Doanh nghiệp năm 2020
Thứ nhất, nhận thức của doanh nghiệp
về ứng dụng công nghệ vào quản trị doanh
nghiệp vẫn còn là rào cản lớn.
Khi bàn về nút thắt thể chế tại Việt Nam,
đꢀnh giꢀ của nhóm Kaufmann và Khảo sꢀt
của Tꢂ chức Minh bạch quꢃc tế cho rằng,
mức độ thực thi pháp luật tuân thủ pháp
quyền chưa ổn định, thậm chí được đánh
giá thấp trong khu vực9. LDN năm 2020
đã tạo ra bước đꢄt phꢀ trong việc cho phép
doanh nghiệp sử dụng dấu doanh nghiệp
dưới dạng chữ ký sꢃ. Song, vấn đề đặt ra
là có bao nhiêu doanh nghiệp tại Việt Nam
sẽ sử dụng dấu dưới dạng công nghệ sꢃ đó
từ năm 2021 vẫn là dấu hỏi lớn. Trong hơn
30 năm qua (từ năm 1990), đa sꢃ doanh
nghiệp Việt Nam đã quen với việc sử dụng
dấu doanh nghiệp dưới dạng thức truyền
thꢃng trong cꢀc giao dịch dân sự, thương
mại với sự thừa nhꢁn rꢄng rãi của cꢀc đꢃi
tꢀc trong quan hệ đó. Để thay đꢂi thói quen
đó là điều không dễ dàng. Vì vꢁy, việc phꢂ
biến cꢀc quy định đꢄt phꢀ về ứng dụng
công nghệ tại LDN năm 2020 đến cꢄng
đồng doanh nghiệp Việt Nam trong thời
gian tới là cần thiết để giúp doanh nghiệp
nhanh chóng ꢀp dụng cꢀc quy định trên
vào quản trị doanh nghiệp, qua đó giảm
cꢀc chi phí tꢃn kém không cần thiết cho
doanh nghiệp.
9 Xem: TS. Đoàn Duy Khương (Chủ biên), “Sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam sau khi gia
nhập WTO”, Sꢀch tham khảo, Nxb. Chính trị quꢃc gia, 2013, tr. 56, 57.
32
Số 15(439) - T8/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
4. Kết luận và kiến nghị
Thứ ba, quy định về công nghệ số tại
LDN năm 2020 vẫn chưa áp dụng trong thủ
tục giải thể doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, công nghệ
đã trở thành mꢄt yếu tꢃ quan trọng quyết
định sự tăng trưởng của mỗi doanh nghiệp10.
Trong hoàn cảnh đó, LDN năm 2020 đã có
những quy định đꢄt phꢀ về viêc ứng dụng
công nghệ sꢃ. Tuy nhiên, bên cạnh những
quy định tích cực thì LDN 2020 cũng bꢄc
lꢄ những hạn chế cần hoàn thiện:
Thủ tục giải thể doanh nghiệp là mꢄt
thủ tục “khai tử” cꢀc doanh nghiệp kinh
doanh thất bại trên thương trường, bảo vệ
lợi ích của chủ nợ, người lao đꢄng, lợi ích
của Nhà nước, khắc phục tình trạng doanh
nghiệp “mất tích” bất hợp phꢀp như thời
gian qua.
Thứ nhất, LDN năm 2020 cần luꢁt hóa
việc nꢄp hồ sơ và cꢀc thông bꢀo giải thể doanh
nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh theo
phương thức trực tuyến cho phù hợp với thực
tế phꢀt triển công nghệ hiện nay, góp phần
tích cực vào cải cꢀch thủ tục hành chính cho
doanh nghiệp, qua đó giảm chi phí tài chính,
thời gian, công sức cho doanh nghiệp.
Nhiều năm qua, thủ tục giải thể doanh
nghiệp tại Việt Nam vẫn chưa có sự cải
cꢀch tương xứng với thủ tục đăng ký doanh
nghiệp tại cꢀc LDN. Từ LDN năm 1999
cho đến LDN năm 2005, LDN năm 2014
và hiện tại là LDN năm 2020 đều bỏ ngỏ
việc cho phép nhà đầu tư thực hiện thủ tục
giải thể bằng phương thức online. Đến thời
điểm hiện tại, theo quy định tại LDN năm
2020, cꢀc doanh nghiệp tại Việt Nam đều
phải nꢄp hồ sơ giải thể, cꢀc thông bꢀo về
giải thể doanh nghiệp theo phương thức
trực tiếp (offline) tại cơ quan đăng ký kinh
doanh. Hạn chế này đã gây khó cho doanh
nghiệp trong bꢃi cảnh ứng dụng công nghệ
sꢃ trong thủ tục giải thể doanh nghiệp là
cần thiết. Việc không cho phép nhà đầu tư
nꢄp hồ sơ giải thể doanh nghiệp online đã
kéo dài qua nhiều thꢁp niên thực thi cꢀc
đạo luꢁt doanh nghiệp tại Việt Nam mà đến
thời điểm hiện tại vẫn chưa được luꢁt hóa
tại LDN năm 2020, là bước lùi đꢀng kể so
với quy định về thành lꢁp doanh nghiệp hay
quản trị công ty tại LDN năm 2020. Điều
đó làm giảm hiệu quả thực thi LDN năm
2020, chưa đꢀp ứng trọn vẹn nguyện vọng
của nhà đầu tư mong muꢃn có những ứng
dụng công nghệ đồng bꢄ trong cả lĩnh vực
thành lꢁp doanh nghiệp lẫn lĩnh vực giải thể
doanh nghiệp.
Thứ hai, hoàn thiện phꢀp luꢁt chuyên
ngành như Luꢁt Luꢁt sư năm 2006 đã được
sửa đꢂi, bꢂ sung mꢄt sꢃ điều năm 2012,
Luꢁt Đấu giꢀ tài sản năm 2016, Luꢁt Giꢀ
năm 2012… theo hướng ứng dụng công
nghệ sꢃ triệt để trong thành lꢁp doanh
nghiệp cho tương thích với cꢀc thay đꢂi tại
LDN năm 2020 nhằm cải thiện môi trường
kinh doanh, nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước đꢃi với cꢀc doanh nghiệp trong cꢀc
lĩnh vực này.
Thứ ba, đꢃi với cꢀc doanh nghiệp kinh
doanh ngành nghề có điều kiện theo quy
đinh tại Luꢁt Đầu tư năm 2020 mà điều
kiện đầu tư, kinh doanh đòi hỏi phải có giấy
phép/giấy chứng nhꢁn đủ điều kiện kinh
doanh thì cꢀc quy định tại cꢀc văn bản phꢀp
luꢁt chuyên ngành như Luꢁt Giꢀ năm 2012,
Luꢁt Kế toꢀn năm 2016,… cũng cần có sự
sửa đꢂi, bꢂ sung theo hướng cho phép nhà
đầu tư có thể nꢄp hồ sơ xin cấp “giấy phép
con” thông qua ứng dụng Internet như cꢀc
quy định tiến bꢄ tại LDN năm 2020
10 Xem: TS. Trang Thị Tuyết, “Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp”, Nxb.
Chính trị quꢃc gia, 2006, tr.177
Số 15(439) - T8/2021
33
Bạn đang xem tài liệu "Quy định về ứng dụng công nghệ tại luật doanh nghiệp năm 2020 và một số vấn đề đặt ra trong thi hành", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quy_dinh_ve_ung_dung_cong_nghe_tai_luat_doanh_nghiep_nam_202.pdf

