Giới hạn trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp trong trường hợp tham vấn chuyên gia tại Việt Nam và một số nước trên thế giới
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP
TRONG TRƯỜNG HỢP THAM VẤN CHUYÊN GIA TẠI VIỆT NAM VÀ
MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Lê Ngọc Vân Nhi*
* Sinh viên Khóa 40, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt:
Thông tin bài viết:
Người quản lý doanh nghiệp là người trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia điều hành
và quản lý các hoạt động của doanh nghiệp. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
của mình tại doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp có thể tham vấn ý kiến
của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn để đưa ra các quyết định cho
hoạt động của doanh nghiệp. Vấn đề được đặt ra là, trong trường hợp quyết định
do người quản lý doanh nghiệp ban hành dựa trên ý kiến tư vấn và thông tin của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt
động của doanh nghiệp thì giới hạn trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp
đến đâu. Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày, phân tích các quy định
của pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước trên thế giới về giới hạn trách
nhiệm của người quản lý doanh nghiệp trong trường hợp tham vấn chuyên gia,
và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
Từ khóa: Người quản lý doanh
nghiệp, giới hạn trách nhiệm,
nghĩa vụ cẩn trọng.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 21/10/2020
: 13/12/2020
: 16/12/2020
Abstract:
Article Infomation:
An enterprise manager is a person who directly or indirectly participates in
operating and managing an enterprise. In the process of performing his duties
in the enterprise, the manager could consult with professional agencies,
organizations, and individuals to make decisions for the enterprise’s activities.
It is doubtful whether the decisions based on opinions and information from
professional agencies, organizations, and individuals made by the manager have
a negative impact on the operation of the business, how would be the manager’s
limitation on liability solved? The article analyzes the manager’s limitation on
liability under the law of Vietnam and some developed countries in the world,
thereby making a number of recommendations to complete Vietnam’s law on
this issue.
Keywords: Manager, limitation
on liability, duty of care and
diligence, consultation.
Article History:
Received
Edited
: 21 Oct. 2020
: 13 Dec. 2020
: 16 Dec. 2020
Approved
Theo quy định của khoản 24 Điều 4 Luật
Doanh nghiệp (DN) năm 2020, người quản lý
doanh nghiệp (NQL) là người quản lý doanh
nghiệp tư nhân và người quản lý công ty, bao
gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên
hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành
viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty,
Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội
đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
và cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo
quy định tại Điều lệ công ty. Tùy thuộc vào
từng loại hình doanh nghiệp mà NQL có tên
gọi khác nhau. Ngoài ra, trong trường hợp
Điều lệ công ty có quy định thì NQL cũng có
thể là cá nhân khác giữ chức danh quản lý có
quyền nhân danh công ty ký kết các giao dịch.
Bên cạnh đó, người trực tiếp hoặc gián tiếp
tác động đến hoạt động kinh doanh của công
ty cũng được xem xét để xác định là NQL giấu
mặt và phải tuân thủ các trách nhiệm của NQL
theo quy định của pháp luật. Các văn bản luật
và án lệ về công ty ở Hoa Kỳ không đề cập
đến thuật ngữ NQL (managers) mà chỉ đề
cập đến thuật ngữ thành viên Hội đồng quản
trị (directors) và người điều hành (officers);
ngoài ra, thành viên Hội đồng quản trị được
Số 06(430) - T3/2021
53
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
pháp luật mặc định là NQL1; và pháp luật của
Úc quy định tương tự như Hoa Kỳ về mặt
thuật ngữ. Luật Công ty 2006 của Vương quốc
Anh cũng đề cập đến thuật ngữ thành viên Hội
đồng quản trị (directors) được xem là NQL.
quyền và nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng, tốt
nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa
của công ty3. Quy định này cho thấy, pháp luật
Việt Nam đã tiếp nhận pháp luật nước ngoài
về nghĩa vụ ủy thác (fiduciary duty), đó là
nghĩa vụ cẩn trọng và nghĩa vụ trung thành.
Một trong những nội dung pháp lý về nghĩa
vụ cẩn trọng đòi hỏi NQL phải ra quyết định
trên cơ sở đầy đủ thông tin có được từ nguồn
tin cậy, trường hợp nguồn thông tin không đầy
đủ, không chính xác hoặc không đáng tin cậy
thì NQL không được ra quyết định. Nếu NQL
ra hoặc tham gia ra bất kỳ quyết định nào mà
không đủ cơ sở thông tin tin cậy thì được coi
là vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng4.
1. Pháp luật Việt Nam và pháp luật một số
nước trên thế giới về nghĩa vụ cẩn trọng
và giới hạn trách nhiệm của người quản
lý doanh nghiệp trong trường hợp tham
vấn chuyên gia
Một trong những tiêu chuẩn, điều kiện
của NQL cần có là trình độ chuyên môn,
kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh hoặc
trong lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh của
công ty và/hoặc các điều kiện khác do Điều
lệ công ty quy định2. Pháp luật đặt ra yêu cầu
đối với NQL cần có trình độ chuyên môn,
kinh nghiệm trong một hoặc một số lĩnh vực
nhất định liên quan đến hoạt động kinh doanh
của công ty; trong khi đó, trên thực tế NQL
là người điều hành và quản lý nhiều bộ phận
chuyên môn khác nhau và buộc phải đưa ra
quyết định, chấp thuận, phê duyệt nhiều vấn
đề không chỉ giới hạn trong phạm vi kiến
thức của NQL. Đôi khi các quyết định này là
sai lầm và gây thiệt hại cho công ty. Vì vậy,
việc tham vấn ý kiến từ các cơ quan, tổ chức,
cá nhân có chuyên môn đối với lĩnh vực cần
quyết định là một điều cần thiết.
Các nguyên tắc quản trị công ty của Tổ
chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)
yêu cầu thành viên Hội đồng quản trị hoạt
động với thông tin đầy đủ, tin cậy, mẫn cán
và cẩn trọng. Ở hầu hết các quốc gia, nghĩa
vụ cẩn trọng không bao gồm các sai sót trong
đánh giá tình hình kinh doanh miễn là không
quá sơ suất và quyết định được đưa ra với sự
mẫn cán cần thiết5.
Các nước theo hệ thống thông luật như Hoa
Kỳ, Anh, Úc đã áp dụng quy tắc quyết định
kinh doanh (Business judgment rule). Quyết
định kinh doanh (Business judgment) được
hiểu là bất kỳ quyết định nào thực hiện hoặc
không thực hiện hành động đối với một vấn
đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của
công ty. Thẩm phán sẽ xem xét trách nhiệm
Theo pháp luật Việt Nam, một trong những
trách nhiệm của NQL cần có là thực hiện
1 TS. Đỗ Minh Tuấn (2018), Một số vấn đề pháp lý về nghĩa vụ của người quản lý công ty, Nxb. Tư pháp, tr.
50 - 51.
2 Khoản 2 Điều 64, điểm b khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 93, khoản 2 Điều 101, điểm b khoản 1 Điều 155,
điểm c khoản 5 Điều 162 Luật DN năm 2020.
3 Điểm a, b khoản 1 Điều 71; khoản 2, 3 Điều 83; khoản 2, 3 Điều 97; điểm b, c khoản 1 Điều 165; điểm a
khoản 2 Điều 181 Luật DN năm 2020.
4 TS. Đỗ Minh Tuấn (2018), tlđd, tr. 188.
5
Dự án Quản trị Công ty tại Việt Nam của Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), Bản dịch G20/OECD Các
wps/wcm/connect/f05f4bff-81c1-4f41-a689-0bf68ec03b49/G20-ECD+CG+Principles_English-Vietnam-
ese+by+IFC.pdf?MOD=AJPERES&CVID=lAAQVAw&fbclid=IwAR0Jyk97XxVbcP8nJRdzMKT-UNSfT-
5JEPOQm-gadgeOSm9fYG4ZARuI99Rs, truy cập ngày 18/10/2020.
54
Số 06(430) - T3/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
của NQL trên khía cạnh tuân thủ các trình tự,
thủ tục hợp lý để ra quyết định chứ không xác
định quyết định kinh doanh là đúng hay sai.
NQL khi đưa ra quyết định kinh doanh được
coi là đáp ứng nghĩa vụ cẩn trọng (duty of
care) và mẫn cán (diligence) nếu: (1) quyết
định được đưa ra một cách thiện chí, trung
thực cho mục đích thích hợp; (2) không có lợi
ích cá nhân đối với vấn đề được đề cập trong
quyết định; (3) tìm hiểu thông tin về vấn đề
được đề cập trong quyết định trong phạm vi
mà NQL tin rằng phù hợp một cách hợp lý; và
(4) tin tưởng một cách hợp lý rằng quyết định
vì lợi ích tốt nhất của công ty6. Để có được
nguồn thông tin mà từ đó NQL xem xét, đánh
giá đưa ra quyết định, NQL có thể dựa trên
một số thông tin hoặc lời khuyên nhất định
do một số người đưa ra, miễn là sự tin cậy đó
được thực hiện một cách thiện chí và sau khi
đánh giá độc lập về thông tin hoặc lời khuyên.
Cụ thể, trong một số trường hợp nhất định,
NQL có quyền dựa vào thông tin hoặc lời
khuyên chuyên môn được đưa ra hoặc chuẩn
bị bởi: (1) một người lao động của công ty mà
NQL cho là đáng tin cậy và có năng lực liên
quan đến các vấn đề được đề cập trong quyết
định; (2) cố vấn chuyên môn hoặc chuyên gia
nếu NQL tin tưởng một cách hợp lý rằng các
vấn đề liên quan nằm trong năng lực chuyên
môn của người đó; (3) NQL hoặc người điều
hành khác liên quan đến các vấn đề thuộc
thẩm quyền của người đó; hoặc (4) Hội đồng
quản trị mà NQL (thành viên Hội đồng quản
trị) không phục vụ liên quan đến các vấn đề
thuộc thẩm quyền của Hội đồng. Việc NQL
dựa vào thông tin hoặc lời khuyên đó được coi
là hợp lý nếu việc dựa vào đó được thực hiện
một cách thiện chí và sau khi NQL đánh giá
độc lập về thông tin hoặc lời khuyên đó (liên
quan đến kiến thức của NQL về công ty và
mức độ phức tạp của cơ cấu và hoạt động của
công ty)7. Trong trường hợp quyết định được
NQL đưa ra dựa trên nguồn thông tin tư vấn,
lời khuyên bởi các chủ thể trên và đáp ứng
các điều kiện của nghĩa vụ cẩn trọng thì khi
thiệt hại xảy ra cho công ty, NQL có thể được
miễn trách nhiệm và thuộc trường hợp không
vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng.
NQL không thể được mong đợi có các kỹ
năng và kiến thức chuyên môn sâu của luật sư
hoặc các chuyên gia trong các lĩnh vực khác.
Theo quy định tại Luật mẫu hiệu chỉnh công ty
của Mỹ (Revised Model Business Corporation
Act – RMBCA)8, nghĩa vụ cẩn trọng của NQL
yêu cầu NQL phải tìm hiểu mọi thông tin có
liên quan và chứng tỏ rằng họ đã cân nhắc mọi
khả năng lựa chọn trước khi ra quyết định, cụ
thể theo Điều 8.30(a) RMBCAđưa ra điều kiện
để NQL hoàn thành nghĩa vụ cẩn trọng là: (1)
có lòng thành, sự cẩn thận mà một người bình
thường cũng sẽ làm khi ở vị trí đó trong các
tình huống tương tự; và (2) theo cách thức mà
người đó tin tưởng một cách hợp lý rằng hành
động đó là vì lợi ích tốt nhất cho công ty. Khi
thực hiện các nhiệm vụ của Hội đồng quản
trị, NQL có quyền dựa vào thông tin, ý kiến,
báo cáo bao gồm báo cáo tài chính và các dữ
liệu tài chính khác, được lập hoặc trình bày
bởi: (1) một hoặc nhiều người điều hành hoặc
người lao động của công ty mà NQL cho rằng
đáng tin cậy và có năng lực trong các chức
năng được thực hiện hoặc cung cấp thông tin,
ý kiến, báo cáo; (2) cố vấn pháp lý, kế toán,
hoặc những người khác được công ty thuê để
giải quyết về các vấn đề liên quan đến kỹ năng
hoặc chuyên môn mà NQL tin tưởng một cách
6 The Australian Corporations Act 2001, Chapter 2D – Officers and employees, Part 2D.1 – Duties and powers,
Division 1 – General duties, Article 180.2 Business judgment rule.
7 The Australian Corporations Act 2001, Chapter 2D – Officers and employees, Part 2D.1 – Duties and powers,
Division 1 – General duties, Article 189 Reliance on information or advice provided by others.
8
Model Business Corporation Act (2016 Revision) (December 9, 2016), Subchapter C Directors, Article 8.30
Standards of Conduct for Directors.
Số 06(430) - T3/2021
55
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
hợp lý là những vấn đề (i) trong phạm vi năng
lực chuyên môn của người đó, hoặc (ii) người
đáng tin cậy; hoặc (3) một hội đồng mà NQL
không phải là thành viên nếu NQL tin tưởng
hợp lý vào hội đồng đó.
đồng nào do Hội đồng quản trị chỉ định, khi
thực hiện nhiệm vụ của thành viên đó, sẽ được
bảo vệ hoàn toàn khi dựa vào hồ sơ của công
ty một cách thiện chí và dựa trên những thông
tin đó, ý kiến, báo cáo hoặc tuyên bố của bất
kỳ người điều hành hoặc người lao động nào
của công ty, hoặc của Hội đồng quản trị, hoặc
bởi bất kỳ người nào khác về những vấn đề
mà thành viên đó tin tưởng hợp lý là thuộc
về năng lực chuyên môn của người khác đó
và được lựa chọn với sự cẩn trọng hợp lý bởi
hoặc thay mặt cho công ty9.
Luật mẫu hiệu chỉnh công ty của Hoa Kỳ
đặt ra các yêu cầu về trình tự mà NQLphải thực
hiện đối với nguồn thông tin có được cùng với
các điều kiện đối với năng lực chuyên môn
của các chủ thể nêu trên. Ví dụ, NQL cần xem
xét: (i) lý lịch, kinh nghiệm của cá nhân và
phạm vi trách nhiệm trong công ty để đánh giá
mức độ quen thuộc và kiến thức của cá nhân
đó đối với vấn đề cụ thể; và (ii) hồ sơ và danh
tiếng của cá nhân đó về sự trung thực, cẩn thận
và khả năng thực hiện trách nhiệm mà cá nhân
đó đảm nhận. Cố vấn mà NQL có thể dựa vào
thông tin họ cung cấp để đưa ra quyết định
không chỉ bao gồm các chuyên gia được cấp
giấy phép hành nghề, chẳng hạn như luật sư,
kế toán và kỹ sư, mà còn những người trong
các lĩnh vực khác liên quan đến kinh nghiệm
và kỹ năng đặc biệt, chẳng hạn như chủ ngân
hàng đầu tư, nhà địa chất, tư vấn quản lý, và
thẩm định viên. Cố vấn có thể là một cá nhân
hoặc một tổ chức, chẳng hạn như một công ty
luật hoặc ngân hàng đầu tư, miễn là NQL tin
tưởng một cách hợp lý người đó đáng tin cậy.
Theo đó, NQL không phải chịu trách nhiệm
đối với công ty khi họ gây ra mất mát, thiệt hại
cho công ty do các quyết định về kinh doanh
đã đưa ra trong trường hợp nêu trên. Trách
nhiệm này là cần thiết để cho NQL mạnh dạn
quyết định khi thấy có cơ hội nhưng không thể
kiểm soát được nó hoàn toàn. Nguyên tắc này
cũng được quy định trong các đạo luật công
ty của các bang ở Hoa Kỳ và được thừa nhận
bởi các án lệ. Ví dụ, Điều 141(e) Luật Công ty
của bang Delaware quy định, thành viên Hội
đồng quản trị, hoặc thành viên của bất kỳ hội
Ở Việt Nam, nghĩa vụ cẩn trọng của NQL
xuất hiện đầu tiên trong Luật DN năm 1999.
Tuy nhiên, cho đến nay, các quy định của
pháp luật chưa định nghĩa, giới hạn một cách
rõ ràng hay giải thích đầy đủ và cụ thể thế nào
là nghĩa vụ cẩn trọng của NQL. Vì vậy, khi
DN xảy ra thiệt hại, trách nhiệm của NQL
phụ thuộc vào xét xử của Tòa án. Về mặt thực
tiễn, hiện nay vẫn chưa có bất kỳ án lệ nào
giải thích về giới hạn trách nhiệm của NQL
khi đã thực hiện nghĩa vụ cẩn trọng theo quy
định của pháp luật và Điều lệ công ty. Giả sử
khi DN thực hiện các hoạt động mua, bán,
sáp nhập, liên doanh liên kết, thanh lý doanh
nghiệp, đầu tư, góp vốn, mua – bán chứng
khoán của doanh nghiệp, cổ phần hóa, niêm
yết chứng khoán trên thị trường chứng khoán,
vay vốn đầu tư kinh doanh, thuế, giải quyết,
xử lý tranh chấp, các hoạt động thẩm định giá
có vai trò rất quan trọng khi đó là khâu đưa ra
giá trị xác thực nhất của tài sản, là giá trị mà ở
đó người mua và người bán dễ dàng gặp nhau
nhất. Đây không nhất thiết là giá giao dịch
cuối cùng của tài sản, nhưng sẽ là căn cứ căn
bản để hai bên thương thảo với nhau. Chính vì
thế, tính khách quan là yếu tố quan trọng trong
việc thuê thẩm định giá nhằm đảm bảo quyền
lợi của các bên10. Việc thẩm định không được
9 Title 8 - Corporations, Chapter 1 - General Corporation Law, Subchapter IV. Directors and Officers, https://
corplaw.delaware.gov/delaware-corporation-entity-laws/, truy cập ngày 20/10/2020.
10
tin-chinh/tham-dinh-gia-nhung-chieu-lam-xiec-voi-tai-san-nha-nuoc_52441.html, truy cập ngày 19/10/2020.
56
Số 06(430) - T3/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
thực hiện chính xác, sai quy chuẩn sẽ dẫn
tới nguy cơ gây thiệt hại lớn cho tài sản của
DN. Quá trình này do thẩm định viên chuyên
nghiệp tiến hành, là một người được đào tạo,
huấn luyện, và có kinh nghiệm đáp ứng tiêu
chuẩn để thực hiện việc thẩm định giá. Nếu
NQL dựa vào báo cáo kết quả thẩm định giá,
chứng thư thẩm định giá để làm căn cứ xem
xét, quyết định hoặc phê duyệt giá đối với tài
sản và NQL chứng minh được mình đã tuân
thủ các nghĩa vụ pháp luật quy định nhưng
sau đó chính quyết định của NQL lại gây thất
thoát tài sản cho DN thì Tòa án sẽ xét xử
như thế nào trong trường hợp này, liệu Tòa
án sẽ dựa vào hậu quả để buộc NQL chịu
trách nhiệm. Đó vẫn còn là vấn đề chưa được
giải quyết; trong khi hiện nay có rất nhiều
vụ việc liên quan đến thẩm định giá gây thất
thoát tài sản của doanh nghiệp, nhất là trách
nhiệm của người quản lý DN nhà nước.
mà DN cũng sẽ có được lợi ích nhất định từ
quy định này.
2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp
luật Việt Nam về nghĩa vụ cẩn trọng và
giới hạn trách nhiệm của người quản lý
doanh nghiệp trong trường hợp tham vấn
chuyên gia
Một là, cần cụ thể hóa nội dung của nghĩa
vụ cẩn trọng trong pháp luật về DN hoặc án lệ
bởi đây là quy định mang tính định tính, khó
xác định dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau
khi áp dụng trong thực tiễn do thiếu các công
cụ pháp lý hỗ trợ xét xử. Việc quy định chi tiết
về nghĩa vụ cẩn trọng góp phần xác định rõ
trách nhiệm của NQL, tránh sự tùy tiện, thiếu
rõ ràng trong các quyết định của NQL.
Hai là, quy định các trường hợp được miễn
trừ trách nhiệm khi đưa ra quyết định sai lầm
ảnh hưởng đến DN để tránh tình trạng khi xét
xử hoặc truy cứu trách nhiệm của NQL theo
hướng bất lợi (vì có thiệt hại thực tế xảy ra cho
DN buộc NQL phải chịu trách nhiệm, vì NQL
không thực hiện tròn trách nhiệm để đem lại
lợi ích cho DN), từ đó NQL có thể yên tâm
thực hiện nhiệm vụ của mình và không bỏ sót
bất kỳ cơ hội kinh doanh nào đem lại kết quả
kinh doanh tốt cho DN.
Tóm lại, theo quy định của pháp luật một
số nước thuộc hệ thống thông luật, NQL
không phải chịu trách nhiệm pháp lý khi đưa
ra hoặc tham gia đưa ra quyết định làm ảnh
hưởng đến công ty nếu như dựa vào nguồn
thông tin đầy đủ hoặc tư vấn từ các chuyên
gia, cố vấn mà NQL tin tưởng rằng nó đáng
tin cậy, hợp lý và đã thực hiện nghĩa vụ cẩn
trọng, mẫn cán của chính mình. Ngược lại,
NQL chỉ phải chịu trách nhiệm đối với thiệt
hại của DN khi đưa ra hoặc tham gia đưa ra
quyết định làm ảnh hưởng đến DN khi chưa
có nguồn thông tin đầy đủ và đáng tin cậy
và được xem là vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng
khi thực hiện nhiệm vụ được giao tại DN.
Trên thực tế, quy định này tạo ra một cơ chế
có lợi cho NQL, giải phóng họ khỏi trách
nhiệm pháp lý tiềm tàng cho những sai lầm
có thể xảy ra đối với các quyết định rủi ro
cho DN, từ đó NQL sẽ không có tâm lý e
dè lo ngại mà chủ động mạo hiểm hơn khi
đưa ra các quyết định kinh doanh để không
đánh mất đi các cơ hội kinh doanh mà DN
có thể đạt được. Vì lẽ đó, không chỉ NQL
Ba là, Tòa án khi xét xử các vụ án có liên
quan, chỉ nên đánh giá quy trình tuân thủ các
điều kiện về trình tự, thủ tục hợp lý để NQL
có được nguồn thông tin hợp lý đáng tin cậy,
trách nhiệm của NQL và tính hợp pháp của
quyết định kinh doanh chứ không nên đánh
giá tính đúng sai của vấn đề thể hiện trong
quyết định kinh doanh. Bởi lẽ, quyết định kinh
doanh luôn có tính biến động khôn lường nên
không phải luôn luôn đúng tại mọi thời điểm
và còn nhiều yếu tố khách quan tác động đến
quyết định của NQL tại thời điểm đó
Số 06(430) - T3/2021
57
Bạn đang xem tài liệu "Giới hạn trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp trong trường hợp tham vấn chuyên gia tại Việt Nam và một số nước trên thế giới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
gioi_han_trach_nhiem_cua_nguoi_quan_ly_doanh_nghiep_trong_tr.pdf

