Giới hạn trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp trong trường hợp tham vấn chuyên gia tại Việt Nam và một số nước trên thế giới

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP  
TRONG TRƯỜNG HỢP THAM VẤN CHUYÊN GIA TẠI VIỆT NAM VÀ  
MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI  
Lê Ngọc Vân Nhi*  
* Sinh viên Khóa 40, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh  
Tóm tắt:  
Thông tin bài viết:  
Người quản lý doanh nghiệp là người trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia điều hành  
và quản lý các hoạt động của doanh nghiệp. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ  
của mình tại doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp có thể tham vấn ý kiến  
của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn để đưa ra các quyết định cho  
hoạt động của doanh nghiệp. Vấn đề được đặt ra là, trong trường hợp quyết định  
do người quản lý doanh nghiệp ban hành dựa trên ý kiến tư vấn và thông tin của  
các cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt  
động của doanh nghiệp thì giới hạn trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp  
đến đâu. Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày, phân tích các quy định  
của pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước trên thế giới về giới hạn trách  
nhiệm của người quản lý doanh nghiệp trong trường hợp tham vấn chuyên gia,  
và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.  
Từ khóa: Người quản lý doanh  
nghiệp, giới hạn trách nhiệm,  
nghĩa vụ cẩn trọng.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 21/10/2020  
: 13/12/2020  
: 16/12/2020  
Abstract:  
Article Infomation:  
An enterprise manager is a person who directly or indirectly participates in  
operating and managing an enterprise. In the process of performing his duties  
in the enterprise, the manager could consult with professional agencies,  
organizations, and individuals to make decisions for the enterprise’s activities.  
It is doubtful whether the decisions based on opinions and information from  
professional agencies, organizations, and individuals made by the manager have  
a negative impact on the operation of the business, how would be the manager’s  
limitation on liability solved? The article analyzes the manager’s limitation on  
liability under the law of Vietnam and some developed countries in the world,  
thereby making a number of recommendations to complete Vietnam’s law on  
this issue.  
Keywords: Manager, limitation  
on liability, duty of care and  
diligence, consultation.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 21 Oct. 2020  
: 13 Dec. 2020  
: 16 Dec. 2020  
Approved  
Theo quy định của khoản 24 Điều 4 Luật  
Doanh nghiệp (DN) năm 2020, người quản lý  
doanh nghiệp (NQL) là người quản lý doanh  
nghiệp tư nhân và người quản lý công ty, bao  
gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên  
hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành  
viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty,  
Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội  
đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc  
và cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo  
quy định tại Điều lệ công ty. Tùy thuộc vào  
từng loại hình doanh nghiệp mà NQL có tên  
gọi khác nhau. Ngoài ra, trong trường hợp  
Điều lệ công ty có quy định thì NQL cũng có  
thể là cá nhân khác giữ chức danh quản lý có  
quyền nhân danh công ty ký kết các giao dịch.  
Bên cạnh đó, người trực tiếp hoặc gián tiếp  
tác động đến hoạt động kinh doanh của công  
ty cũng được xem xét để xác định là NQL giấu  
mặt và phải tuân thủ các trách nhiệm của NQL  
theo quy định của pháp luật. Các văn bản luật  
và án lệ về công ty ở Hoa Kỳ không đề cập  
đến thuật ngữ NQL (managers) mà chỉ đề  
cập đến thuật ngữ thành viên Hội đồng quản  
trị (directors) và người điều hành (officers);  
ngoài ra, thành viên Hội đồng quản trị được  
Số 06(430) - T3/2021  
53  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
pháp luật mặc định là NQL1; và pháp luật của  
Úc quy định tương tự như Hoa Kỳ về mặt  
thuật ngữ. Luật Công ty 2006 của Vương quốc  
Anh cũng đề cập đến thuật ngữ thành viên Hội  
đồng quản trị (directors) được xem là NQL.  
quyền và nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng, tốt  
nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa  
của công ty3. Quy định này cho thấy, pháp luật  
Việt Nam đã tiếp nhận pháp luật nước ngoài  
về nghĩa vụ ủy thác (fiduciary duty), đó là  
nghĩa vụ cẩn trọng và nghĩa vụ trung thành.  
Một trong những nội dung pháp lý về nghĩa  
vụ cẩn trọng đòi hỏi NQL phải ra quyết định  
trên cơ sở đầy đủ thông tin có được từ nguồn  
tin cậy, trường hợp nguồn thông tin không đầy  
đủ, không chính xác hoặc không đáng tin cậy  
thì NQL không được ra quyết định. Nếu NQL  
ra hoặc tham gia ra bất kỳ quyết định nào mà  
không đủ cơ sở thông tin tin cậy thì được coi  
là vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng4.  
1. Pháp luật Việt Nam và pháp luật một số  
nước trên thế giới về nghĩa vụ cẩn trọng  
và giới hạn trách nhiệm của người quản  
lý doanh nghiệp trong trường hợp tham  
vấn chuyên gia  
Một trong những tiêu chuẩn, điều kiện  
của NQL cần có là trình độ chuyên môn,  
kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh hoặc  
trong lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh của  
công ty và/hoặc các điều kiện khác do Điều  
lệ công ty quy định2. Pháp luật đặt ra yêu cầu  
đối với NQL cần có trình độ chuyên môn,  
kinh nghiệm trong một hoặc một số lĩnh vực  
nhất định liên quan đến hoạt động kinh doanh  
của công ty; trong khi đó, trên thực tế NQL  
là người điều hành và quản lý nhiều bộ phận  
chuyên môn khác nhau và buộc phải đưa ra  
quyết định, chấp thuận, phê duyệt nhiều vấn  
đề không chỉ giới hạn trong phạm vi kiến  
thức của NQL. Đôi khi các quyết định này là  
sai lầm và gây thiệt hại cho công ty. Vì vậy,  
việc tham vấn ý kiến từ các cơ quan, tổ chức,  
cá nhân có chuyên môn đối với lĩnh vực cần  
quyết định là một điều cần thiết.  
Các nguyên tắc quản trị công ty của Tổ  
chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)  
yêu cầu thành viên Hội đồng quản trị hoạt  
động với thông tin đầy đủ, tin cậy, mẫn cán  
và cẩn trọng. Ở hầu hết các quốc gia, nghĩa  
vụ cẩn trọng không bao gồm các sai sót trong  
đánh giá tình hình kinh doanh miễn là không  
quá sơ suất và quyết định được đưa ra với sự  
mẫn cán cần thiết5.  
Các nước theo hệ thống thông luật như Hoa  
Kỳ, Anh, Úc đã áp dụng quy tắc quyết định  
kinh doanh (Business judgment rule). Quyết  
định kinh doanh (Business judgment) được  
hiểu là bất kỳ quyết định nào thực hiện hoặc  
không thực hiện hành động đối với một vấn  
đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của  
công ty. Thẩm phán sẽ xem xét trách nhiệm  
Theo pháp luật Việt Nam, một trong những  
trách nhiệm của NQL cần có là thực hiện  
1 TS. Đỗ Minh Tuấn (2018), Một số vấn đề pháp lý về nghĩa vụ của người quản lý công ty, Nxb. Tư pháp, tr.  
50 - 51.  
2 Khoản 2 Điều 64, điểm b khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 93, khoản 2 Điều 101, điểm b khoản 1 Điều 155,  
điểm c khoản 5 Điều 162 Luật DN năm 2020.  
3 Điểm a, b khoản 1 Điều 71; khoản 2, 3 Điều 83; khoản 2, 3 Điều 97; điểm b, c khoản 1 Điều 165; điểm a  
khoản 2 Điều 181 Luật DN năm 2020.  
4 TS. Đỗ Minh Tuấn (2018), tlđd, tr. 188.  
5
Dự án Quản trị Công ty tại Việt Nam của Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), Bản dịch G20/OECD Các  
wps/wcm/connect/f05f4bff-81c1-4f41-a689-0bf68ec03b49/G20-ECD+CG+Principles_English-Vietnam-  
ese+by+IFC.pdf?MOD=AJPERES&CVID=lAAQVAw&fbclid=IwAR0Jyk97XxVbcP8nJRdzMKT-UNSfT-  
5JEPOQm-gadgeOSm9fYG4ZARuI99Rs, truy cập ngày 18/10/2020.  
54  
Số 06(430) - T3/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
của NQL trên khía cạnh tuân thủ các trình tự,  
thủ tục hợp lý để ra quyết định chứ không xác  
định quyết định kinh doanh là đúng hay sai.  
NQL khi đưa ra quyết định kinh doanh được  
coi là đáp ứng nghĩa vụ cẩn trọng (duty of  
care) và mẫn cán (diligence) nếu: (1) quyết  
định được đưa ra một cách thiện chí, trung  
thực cho mục đích thích hợp; (2) không có lợi  
ích cá nhân đối với vấn đề được đề cập trong  
quyết định; (3) tìm hiểu thông tin về vấn đề  
được đề cập trong quyết định trong phạm vi  
mà NQL tin rằng phù hợp một cách hợp lý; và  
(4) tin tưởng một cách hợp lý rằng quyết định  
vì lợi ích tốt nhất của công ty6. Để có được  
nguồn thông tin mà từ đó NQL xem xét, đánh  
giá đưa ra quyết định, NQL có thể dựa trên  
một số thông tin hoặc lời khuyên nhất định  
do một số người đưa ra, miễn là sự tin cậy đó  
được thực hiện một cách thiện chí và sau khi  
đánh giá độc lập về thông tin hoặc lời khuyên.  
Cụ thể, trong một số trường hợp nhất định,  
NQL có quyền dựa vào thông tin hoặc lời  
khuyên chuyên môn được đưa ra hoặc chuẩn  
bị bởi: (1) một người lao động của công ty mà  
NQL cho là đáng tin cậy và có năng lực liên  
quan đến các vấn đề được đề cập trong quyết  
định; (2) cố vấn chuyên môn hoặc chuyên gia  
nếu NQL tin tưởng một cách hợp lý rằng các  
vấn đề liên quan nằm trong năng lực chuyên  
môn của người đó; (3) NQL hoặc người điều  
hành khác liên quan đến các vấn đề thuộc  
thẩm quyền của người đó; hoặc (4) Hội đồng  
quản trị mà NQL (thành viên Hội đồng quản  
trị) không phục vụ liên quan đến các vấn đề  
thuộc thẩm quyền của Hội đồng. Việc NQL  
dựa vào thông tin hoặc lời khuyên đó được coi  
là hợp lý nếu việc dựa vào đó được thực hiện  
một cách thiện chí và sau khi NQL đánh giá  
độc lập về thông tin hoặc lời khuyên đó (liên  
quan đến kiến thức của NQL về công ty và  
mức độ phức tạp của cơ cấu và hoạt động của  
công ty)7. Trong trường hợp quyết định được  
NQL đưa ra dựa trên nguồn thông tin tư vấn,  
lời khuyên bởi các chủ thể trên và đáp ứng  
các điều kiện của nghĩa vụ cẩn trọng thì khi  
thiệt hại xảy ra cho công ty, NQL có thể được  
miễn trách nhiệm và thuộc trường hợp không  
vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng.  
NQL không thể được mong đợi có các kỹ  
năng và kiến thức chuyên môn sâu của luật sư  
hoặc các chuyên gia trong các lĩnh vực khác.  
Theo quy định tại Luật mẫu hiệu chỉnh công ty  
của Mỹ (Revised Model Business Corporation  
Act – RMBCA)8, nghĩa vụ cẩn trọng của NQL  
yêu cầu NQL phải tìm hiểu mọi thông tin có  
liên quan và chứng tỏ rằng họ đã cân nhắc mọi  
khả năng lựa chọn trước khi ra quyết định, cụ  
thể theo Điều 8.30(a) RMBCAđưa ra điều kiện  
để NQL hoàn thành nghĩa vụ cẩn trọng là: (1)  
có lòng thành, sự cẩn thận mà một người bình  
thường cũng sẽ làm khi ở vị trí đó trong các  
tình huống tương tự; và (2) theo cách thức mà  
người đó tin tưởng một cách hợp lý rằng hành  
động đó là vì lợi ích tốt nhất cho công ty. Khi  
thực hiện các nhiệm vụ của Hội đồng quản  
trị, NQL có quyền dựa vào thông tin, ý kiến,  
báo cáo bao gồm báo cáo tài chính và các dữ  
liệu tài chính khác, được lập hoặc trình bày  
bởi: (1) một hoặc nhiều người điều hành hoặc  
người lao động của công ty mà NQL cho rằng  
đáng tin cậy và có năng lực trong các chức  
năng được thực hiện hoặc cung cấp thông tin,  
ý kiến, báo cáo; (2) cố vấn pháp lý, kế toán,  
hoặc những người khác được công ty thuê để  
giải quyết về các vấn đề liên quan đến kỹ năng  
hoặc chuyên môn mà NQL tin tưởng một cách  
6 The Australian Corporations Act 2001, Chapter 2D – Officers and employees, Part 2D.1 – Duties and powers,  
Division 1 – General duties, Article 180.2 Business judgment rule.  
7 The Australian Corporations Act 2001, Chapter 2D – Officers and employees, Part 2D.1 – Duties and powers,  
Division 1 – General duties, Article 189 Reliance on information or advice provided by others.  
8
Model Business Corporation Act (2016 Revision) (December 9, 2016), Subchapter C Directors, Article 8.30  
Standards of Conduct for Directors.  
Số 06(430) - T3/2021  
55  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
hợp lý là những vấn đề (i) trong phạm vi năng  
lực chuyên môn của người đó, hoặc (ii) người  
đáng tin cậy; hoặc (3) một hội đồng mà NQL  
không phải là thành viên nếu NQL tin tưởng  
hợp lý vào hội đồng đó.  
đồng nào do Hội đồng quản trị chỉ định, khi  
thực hiện nhiệm vụ của thành viên đó, sẽ được  
bảo vệ hoàn toàn khi dựa vào hồ sơ của công  
ty một cách thiện chí và dựa trên những thông  
tin đó, ý kiến, báo cáo hoặc tuyên bố của bất  
kỳ người điều hành hoặc người lao động nào  
của công ty, hoặc của Hội đồng quản trị, hoặc  
bởi bất kỳ người nào khác về những vấn đề  
mà thành viên đó tin tưởng hợp lý là thuộc  
về năng lực chuyên môn của người khác đó  
và được lựa chọn với sự cẩn trọng hợp lý bởi  
hoặc thay mặt cho công ty9.  
Luật mẫu hiệu chỉnh công ty của Hoa Kỳ  
đặt ra các yêu cầu về trình tự mà NQLphải thực  
hiện đối với nguồn thông tin có được cùng với  
các điều kiện đối với năng lực chuyên môn  
của các chủ thể nêu trên. Ví dụ, NQL cần xem  
xét: (i) lý lịch, kinh nghiệm của cá nhân và  
phạm vi trách nhiệm trong công ty để đánh giá  
mức độ quen thuộc và kiến thức của cá nhân  
đó đối với vấn đề cụ thể; và (ii) hồ sơ và danh  
tiếng của cá nhân đó về sự trung thực, cẩn thận  
và khả năng thực hiện trách nhiệm mà cá nhân  
đó đảm nhận. Cố vấn mà NQL có thể dựa vào  
thông tin họ cung cấp để đưa ra quyết định  
không chỉ bao gồm các chuyên gia được cấp  
giấy phép hành nghề, chẳng hạn như luật sư,  
kế toán và kỹ sư, mà còn những người trong  
các lĩnh vực khác liên quan đến kinh nghiệm  
và kỹ năng đặc biệt, chẳng hạn như chủ ngân  
hàng đầu tư, nhà địa chất, tư vấn quản lý, và  
thẩm định viên. Cố vấn có thể là một cá nhân  
hoặc một tổ chức, chẳng hạn như một công ty  
luật hoặc ngân hàng đầu tư, miễn là NQL tin  
tưởng một cách hợp lý người đó đáng tin cậy.  
Theo đó, NQL không phải chịu trách nhiệm  
đối với công ty khi họ gây ra mất mát, thiệt hại  
cho công ty do các quyết định về kinh doanh  
đã đưa ra trong trường hợp nêu trên. Trách  
nhiệm này là cần thiết để cho NQL mạnh dạn  
quyết định khi thấy có cơ hội nhưng không thể  
kiểm soát được nó hoàn toàn. Nguyên tắc này  
cũng được quy định trong các đạo luật công  
ty của các bang ở Hoa Kỳ và được thừa nhận  
bởi các án lệ. Ví dụ, Điều 141(e) Luật Công ty  
của bang Delaware quy định, thành viên Hội  
đồng quản trị, hoặc thành viên của bất kỳ hội  
Ở Việt Nam, nghĩa vụ cẩn trọng của NQL  
xuất hiện đầu tiên trong Luật DN năm 1999.  
Tuy nhiên, cho đến nay, các quy định của  
pháp luật chưa định nghĩa, giới hạn một cách  
rõ ràng hay giải thích đầy đủ và cụ thể thế nào  
là nghĩa vụ cẩn trọng của NQL. Vì vậy, khi  
DN xảy ra thiệt hại, trách nhiệm của NQL  
phụ thuộc vào xét xử của Tòa án. Về mặt thực  
tiễn, hiện nay vẫn chưa có bất kỳ án lệ nào  
giải thích về giới hạn trách nhiệm của NQL  
khi đã thực hiện nghĩa vụ cẩn trọng theo quy  
định của pháp luật và Điều lệ công ty. Giả sử  
khi DN thực hiện các hoạt động mua, bán,  
sáp nhập, liên doanh liên kết, thanh lý doanh  
nghiệp, đầu tư, góp vốn, mua – bán chứng  
khoán của doanh nghiệp, cổ phần hóa, niêm  
yết chứng khoán trên thị trường chứng khoán,  
vay vốn đầu tư kinh doanh, thuế, giải quyết,  
xử lý tranh chấp, các hoạt động thẩm định giá  
có vai trò rất quan trọng khi đó là khâu đưa ra  
giá trị xác thực nhất của tài sản, là giá trị mà ở  
đó người mua và người bán dễ dàng gặp nhau  
nhất. Đây không nhất thiết là giá giao dịch  
cuối cùng của tài sản, nhưng sẽ là căn cứ căn  
bản để hai bên thương thảo với nhau. Chính vì  
thế, tính khách quan là yếu tố quan trọng trong  
việc thuê thẩm định giá nhằm đảm bảo quyền  
lợi của các bên10. Việc thẩm định không được  
9 Title 8 - Corporations, Chapter 1 - General Corporation Law, Subchapter IV. Directors and Officers, https://  
corplaw.delaware.gov/delaware-corporation-entity-laws/, truy cập ngày 20/10/2020.  
10  
tin-chinh/tham-dinh-gia-nhung-chieu-lam-xiec-voi-tai-san-nha-nuoc_52441.html, truy cập ngày 19/10/2020.  
56  
Số 06(430) - T3/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
thực hiện chính xác, sai quy chuẩn sẽ dẫn  
tới nguy cơ gây thiệt hại lớn cho tài sản của  
DN. Quá trình này do thẩm định viên chuyên  
nghiệp tiến hành, là một người được đào tạo,  
huấn luyện, và có kinh nghiệm đáp ứng tiêu  
chuẩn để thực hiện việc thẩm định giá. Nếu  
NQL dựa vào báo cáo kết quả thẩm định giá,  
chứng thư thẩm định giá để làm căn cứ xem  
xét, quyết định hoặc phê duyệt giá đối với tài  
sản và NQL chứng minh được mình đã tuân  
thủ các nghĩa vụ pháp luật quy định nhưng  
sau đó chính quyết định của NQL lại gây thất  
thoát tài sản cho DN thì Tòa án sẽ xét xử  
như thế nào trong trường hợp này, liệu Tòa  
án sẽ dựa vào hậu quả để buộc NQL chịu  
trách nhiệm. Đó vẫn còn là vấn đề chưa được  
giải quyết; trong khi hiện nay có rất nhiều  
vụ việc liên quan đến thẩm định giá gây thất  
thoát tài sản của doanh nghiệp, nhất là trách  
nhiệm của người quản lý DN nhà nước.  
mà DN cũng sẽ có được lợi ích nhất định từ  
quy định này.  
2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp  
luật Việt Nam về nghĩa vụ cẩn trọng và  
giới hạn trách nhiệm của người quản lý  
doanh nghiệp trong trường hợp tham vấn  
chuyên gia  
Một là, cần cụ thể hóa nội dung của nghĩa  
vụ cẩn trọng trong pháp luật về DN hoặc án lệ  
bởi đây là quy định mang tính định tính, khó  
xác định dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau  
khi áp dụng trong thực tiễn do thiếu các công  
cụ pháp lý hỗ trợ xét xử. Việc quy định chi tiết  
về nghĩa vụ cẩn trọng góp phần xác định rõ  
trách nhiệm của NQL, tránh sự tùy tiện, thiếu  
rõ ràng trong các quyết định của NQL.  
Hai là, quy định các trường hợp được miễn  
trừ trách nhiệm khi đưa ra quyết định sai lầm  
ảnh hưởng đến DN để tránh tình trạng khi xét  
xử hoặc truy cứu trách nhiệm của NQL theo  
hướng bất lợi (vì có thiệt hại thực tế xảy ra cho  
DN buộc NQL phải chịu trách nhiệm, vì NQL  
không thực hiện tròn trách nhiệm để đem lại  
lợi ích cho DN), từ đó NQL có thể yên tâm  
thực hiện nhiệm vụ của mình và không bỏ sót  
bất kỳ cơ hội kinh doanh nào đem lại kết quả  
kinh doanh tốt cho DN.  
Tóm lại, theo quy định của pháp luật một  
số nước thuộc hệ thống thông luật, NQL  
không phải chịu trách nhiệm pháp lý khi đưa  
ra hoặc tham gia đưa ra quyết định làm ảnh  
hưởng đến công ty nếu như dựa vào nguồn  
thông tin đầy đủ hoặc tư vấn từ các chuyên  
gia, cố vấn mà NQL tin tưởng rằng nó đáng  
tin cậy, hợp lý và đã thực hiện nghĩa vụ cẩn  
trọng, mẫn cán của chính mình. Ngược lại,  
NQL chỉ phải chịu trách nhiệm đối với thiệt  
hại của DN khi đưa ra hoặc tham gia đưa ra  
quyết định làm ảnh hưởng đến DN khi chưa  
có nguồn thông tin đầy đủ và đáng tin cậy  
và được xem là vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng  
khi thực hiện nhiệm vụ được giao tại DN.  
Trên thực tế, quy định này tạo ra một cơ chế  
có lợi cho NQL, giải phóng họ khỏi trách  
nhiệm pháp lý tiềm tàng cho những sai lầm  
có thể xảy ra đối với các quyết định rủi ro  
cho DN, từ đó NQL sẽ không có tâm lý e  
dè lo ngại mà chủ động mạo hiểm hơn khi  
đưa ra các quyết định kinh doanh để không  
đánh mất đi các cơ hội kinh doanh mà DN  
có thể đạt được. Vì lẽ đó, không chỉ NQL  
Ba là, Tòa án khi xét xử các vụ án có liên  
quan, chỉ nên đánh giá quy trình tuân thủ các  
điều kiện về trình tự, thủ tục hợp lý để NQL  
có được nguồn thông tin hợp lý đáng tin cậy,  
trách nhiệm của NQL và tính hợp pháp của  
quyết định kinh doanh chứ không nên đánh  
giá tính đúng sai của vấn đề thể hiện trong  
quyết định kinh doanh. Bởi lẽ, quyết định kinh  
doanh luôn có tính biến động khôn lường nên  
không phải luôn luôn đúng tại mọi thời điểm  
và còn nhiều yếu tố khách quan tác động đến  
quyết định của NQL tại thời điểm đó  
Số 06(430) - T3/2021  
57  
pdf 5 trang Thùy Anh 7800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giới hạn trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp trong trường hợp tham vấn chuyên gia tại Việt Nam và một số nước trên thế giới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgioi_han_trach_nhiem_cua_nguoi_quan_ly_doanh_nghiep_trong_tr.pdf