Một số ý kiến về áp dụng dấu hiệu định khung phạm tội có tổ chức trong tội cướp tài sản theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ ÁP DỤNG DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG...  
PHẠM TỘI CÓ TỔ CHỨC TRONG TỘI CƯỚP TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH  
CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2017)  
ĐOÀN TRỌNG CHỈNH*  
Phạm tội có tổ chức là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nói chung và cũng là  
tình tiết định khung tăng nặng được quy định trong một số tội danh cụ thể trong Bộ luật  
hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung (SĐ, BS) năm 2017), trong đó có Tội cướp tài  
sản. Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích tình tiết phạm tội có tổ chức nói chung,  
phạm tội có tổ chức trong tội cướp tài sản nói riêng và một số vấn đề trong thực tiễn quyết  
định hình phạt đối với người phạm tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức.  
Từ khóa: Đồng phạm, phạm tội, tội cướp tài sản, tình tiết tăng nặng, trách nhiệm hình sự.  
Ngày nhận bài: 07/9/2020; Biên tập xong: 14/9/2020; Duyệt đăng: 15/9/2020  
Organized crime is an aggravating circumstance prescribed in a number of crimes in the  
2015 Penal Code (amended and supplemented in 2017), including Robbery. Within this paper,  
the author clarifies organized crime in generally, organized crime in robbery particularly and  
some issues in deciding the sentences for the organized offenders of robbery in reality.  
Keywords: Complicity, commit the crimes, robbery, aggravating factor, criminal liability.  
1. Quy định về tình tiết phạm tội có vừa thể hiện mức độ phân hóa vai trò,  
tổ chức  
nhiệm vụ cụ thể về mặt khách quan của  
những người đồng phạm. Trong phạm tội  
có tổ chức, phải có từ hai người trở lên cố  
ý cùng tham gia phạm tội và có sự nhất  
trí của những người cùng thực hiện tội  
phạm. Số lượng hai người phải có đủ dấu  
hiệu của chủ thể tội phạm (có năng lực  
trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách  
Là một trong những hình thức đồng  
phạm, tuy nhiên, phạm tội có tổ chức  
được đánh giá là một dạng đặc biệt của  
đồng phạm, là hình thức đồng phạm có  
tính nguy hiểm cao cho xã hội. Theo quy  
định tại khoản 2 Điều 17 BLHS năm 2015  
(SĐ, BS năm 2017), phạm tội có tổ chức là  
hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt  
chẽ giữa những người cùng thực hiện tội  
phạm. Phạm tội có tổ chức là “tội phạm mà  
việc thực hiện hành vi khách quan phải có sự  
cấu kết với nhiều người hoặc hành vi khách  
quan được thực hiện với sự cấu kết chặt chẽ  
của nhiều người”1. Đặc điểm có sự câu kết  
chặt chẽ của phạm tội có tổ chức vừa thể  
hiện đặc điểm của dấu hiệu chủ quan,  
2
nhiệm hình sự). Họ có sự liên kết, phối  
hợp với nhau, cố ý cùng thực hiện hành vi  
phạm tội với cùng mục đích phạm tội. Bên  
cạnh đó, những người phạm tội thường  
bàn bạc trước và có sự phân công thực  
hiện tội phạm. Tuy nhiên, không phải bất  
cứ trường hợp nào có bàn bạc trước và  
có phân công thực hiện tội phạm đều là  
phạm tội có tổ chức, bởi vì phạm tội có  
tổ chức phải có sự câu kết chặt chẽ giữa  
1ꢀ TS. Lê Thị Sơn, Về tội phạm có dấu hiệu “có tổ chức”  
trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Luật học số * Thạc sĩ, Khoa Luật - Trường Đại học Công nghệ  
01/2003, tr47.  
Thành phố Hồ Chí Minh  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát  
5
MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ ÁP DỤNG DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG...  
những người cùng thực hiện tội phạm. cũng có khi tổ chức phạm tội không có  
Vì vậy, nếu việc thực hiện tội phạm giản những tên chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự  
đơn, không đòi hỏi phải có sự tính toán và tập hợp những tên chuyên phạm tội thống  
chuẩn bị kỹ càng, chu đáo thì không phải nhất cùng nhau hoạt động.  
là phạm tội có tổ chức.  
Những người đồng phạm cùng nhau  
Trên cơ sở đó, phạm tội cướp tài sản  
có tổ chức là trường hợp nhiều người cố  
ý cùng bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau,  
soạn thảo kế hoạch và thực hiện việc cướp  
tài sản dưới sự điều khiển thống nhất của  
người cầm đầu. Hình thức đồng phạm này  
có sự phân công, sắp đặt vai trò của những  
người tham gia, trong đó, mỗi người thực  
hiện một hoặc một số hành vi và chịu sự  
điều khiển của người cầm đầu. Dấu hiệu có  
tổ chức phản ánh phương thức thực hiện  
hành vi phạm tội: Việc phạm tội luôn được  
chuẩn bị chu đáo, cẩn thận trên mọi mặt về  
tư tưởng, chủ trương, kế hoạch thực hiện  
tội phạm, kế hoạch che dấu tội phạm,…  
Chính vì vậy, hình thức phạm tội này thể  
hiện quy mô và tính chất nguy hiểm rất  
cao, tội phạm được thực hiện tinh vi, xảo  
quyệt, táo bạo hơn, gây hậu quả lớn hơn  
và dễ dàng che dấu tội phạm hơn so với  
trường hợp phạm tội riêng lẻ. Giữa những  
người đồng phạm vừa có sự liên kết chặt  
chẽ với nhau, vừa có sự phân hóa vai trò,  
phân công nhiệm vụ tương đối rõ rệt, cụ  
thể. Qua tổng kết thực tiễn, có thể thấy sự  
câu kết chặt chẽ trong phạm tội có tổ chức  
phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã  
thống nhất trước. Ví dụ: một số nhân viên  
nhà nước đã thông đồng với nhau tham ô  
nhiều lần; một số tên chuyên cùng nhau đi  
trộm cắp; một số tên hoạt động đầu cơ, buôn  
lậu có tổ chức đường dây để nắm nguồn  
hàng, vận chuyển, thông tin về giá cả,…  
Những người đồng phạm chỉ thực  
hiện tội phạm một lần, nhưng đã tổ chức  
thực hiện tội phạm theo một kế hoạch  
được tính toán kỹ càng, chu đáo, có chuẩn  
bị phương tiện hoạt động và có khi còn  
chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm. Ví  
dụ: Trong các trường hợp trộm cắp, cướp  
tài sản của công dân mà có phân công  
điều tra trước về nơi ở, quy luật sinh hoạt  
của gia đình chủ nhà, phân công chuẩn bị  
phương tiện và hoạt động của mỗi người  
đồng phạm, v.v…  
Trong vụ án cướp có tổ chức cũng  
như trong các vụ án hình sự có yếu tố  
phạm tội có tổ chức, tùy thuộc vào quy  
mô và tính chất mà có thể có những người  
giữ những vai trò khác nhau như: người  
tổ chức, người thực hành, người xúi giục,  
người giúp sức.  
nói chung và cướp có tổ chức nói riêng có  
2
1
thể được thể hiện dưới các dạng sau :  
2. Thực tiễn quyết định hình phạt khi  
áp dụng dấu hiệu định khung phạm tội  
có tổ chức trong tội cướp tài sản  
Những người đồng phạm đã tham  
gia một tổ chức phạm tội như: đảng phái,  
hội, đoàn phản động, băng, ổ, nhóm,… có  
những tên chỉ huy, cầm đầu. Tuy nhiên,  
Việc quyết định hình phạt trong  
trường hợp phạm tội có tổ chức nói chung,  
cướp tài sản dưới hình thức phạm tội  
có tổ chức nói riêng phải đảm bảo đúng  
quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo  
nhiều yêu cầu, trong đó có yêu cầu về việc  
2 Tòa án nhân dân tối cao (1988), Nghị quyết số 02-  
HĐTP/NQ ngày 16/11/1988 của Hội đồng thẩm phán  
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung Nghị  
quyết số 02-HĐTP/NQ ngày 05/01/1986, Hà Nội.  
6
Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
ĐOÀN TRỌNG CHỈNH  
áp dụng hình phạt đối với những người giục, người giúp sức, người thực hành thì  
đồng phạm phải chính xác, phù hợp với đến nay BLHS vẫn chưa có quy định cụ  
tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, thể. Vì vậy, khi quyết định hình phạt đối  
vai trò trong việc thực hiện hành vi phạm với những người đồng phạm trong một  
tội và nhân thân của mỗi người. Trong vụ số vụ án phạm tội có tổ chức nói chung  
án cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có và cướp tài sản dưới hình thức có tổ chức  
tổ chức, dù với vai trò nào (người tổ chức, nói riêng vẫn tồn tại sai sót, áp dụng pháp  
người thực hành, người xúi giục hay người luật không thống nhất, quyết định hình  
giúp sức) thì tất cả những người phạm tội phạt nhẹ hoặc quá nặng, chưa công bằng  
trong vụ án đều bị áp dụng tình tiết tăng giữa người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy  
nặng là “phạm tội có tổ chức”. Tuy nhiên, và những người đồng phạm khác dẫn  
mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự cụ đến quyết định hình phạt chưa chính xác,  
thể đối với từng người tùy thuộc vào vai không đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa  
trò của họ trong vụ án. Trách nhiệm hình tội phạm. Ví dụ như trong vụ án sau:  
sự của những người đồng phạm nói chung  
Do không có tiền ăn chơi, Vũ Xuân  
và những người phạm tội có tổ chức nói  
T rủ rê Nguyễn Văn G, Nguyễn Tất M,  
riêng không phải và không thể ngang  
Hoàng Thanh S đi cướp tài sản của các lái  
bằng nhau thể hiện qua việc hình phạt bị  
xe taxi. Trước khi thực hiện hành vi phạm  
áp dụng đối với mỗi người là khác nhau,  
tội, T và G đã chủ động bàn bạc kế hoạch  
thực hiện nguyên tắc cá thể hóa và phân  
thực hiện hành vi phạm tội, thuê xe taxi từ  
hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối  
thành phố Hồ Chí Minh đi Long An, đến  
với mỗi người đồng phạm.  
chỗ vắng để thực hiện tội phạm và phân  
Với cách phân loại những người công: Nguyễn Văn G ngồi ghế phụ cạnh  
đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam lái xe để chỉ đường, tắt khóa điện, giật  
hiện hành thì trong số những người đồng phanh tay ô tô; Vũ Xuân T ngồi ghế sau,  
phạm, người tổ chức chịu trách nhiệm phía sau lái xe dùng dao khống chế, đe  
hình sự ở mức cao nhất. BLHS năm 2015 dọa; Nguyễn Tất M, Hoàng Thanh S ngồi  
(SĐ, BS năm 2017) cũng đã thể hiện quy ghế sau cạnh T hỗ trợ, khống chế lái xe và  
định này trong nguyên tắc xử lý tại điểm cùng đồng bọn chiếm đoạt tài sản. Thực  
a khoản 1 Điều 3 “nghiêm trị người chủ hiện kế hoạch đã bàn bạc, trong hai ngày,  
mưu, cầm đầu, chỉ huy,...”. Vì vậy, khi cả bọn đã thực hiện trót lọt 2 lần phạm tội  
quyết định hình phạt, mức hình phạt với phương thức thực hiện hành vi tương  
của người tổ chức với vai trò chủ mưu, tự nhau: Dùng dao khống chế, dùng dây  
cầm đầu, chỉ huy trong tội cướp tài sản điện thoại trói chân, tay, dùng áo nhét vào  
nhất thiết không thể thấp hơn người thực miệng nạn nhân và chiếm đoạt được của  
hành, người xúi giục hoặc người giúp sức anh Nguyễn Văn L và anh Nguyễn Văn M  
nếu các tình tiết khác của vụ án như nhau. là hai tài xế taxi các tài sản gồm tiền mặt,  
Như vậy, trong trường hợp phạm tội có tổ điện thoại di động với tổng giá trị tài sản  
chức, vai trò của người tổ chức được coi là bị chiếm đoạt là 5.700.000 đồng. Hành vi  
lớn nhất nên người tổ chức được xác định nêu trên của các bị cáo Vũ Xuân T, Nguyễn  
là người nguy hiểm hơn cả nên họ bị xử Văn G, Nguyễn Tất M và Hoàng Thanh S  
lý nghiêm khắc nhất. Đối với người xúi đã phạm vào tội cướp tài sản với 02 tình  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát  
7
MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ ÁP DỤNG DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG...  
tiết định khung tăng nặng là phạm tội có G bàn bạc kế hoạch phạm tội, rủ rê các bị  
tổ chức và sử dụng vũ khí, phương tiện cáo khác cùng thực hiện hành vi phạm tội,  
hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác. Với các  
hành vi phạm tội và tội danh như trên, bản  
án sơ thẩm đã áp dụng điểm a, d khoản 02  
Điều 168 BLHS; điểm h, s khoản 1 Điều  
51 BLHS; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS,  
tuyên phạt Vũ Xuân T 08 năm tù, Nguyễn  
Văn G 08 năm tù, Nguyễn Tất M 08 năm  
tù, Hoàng Thanh S 07 năm tù.  
chuẩn bị phương tiện, phân công vai trò,  
vị trí cho từng bị cáo,… Bên cạnh đó, T và  
G là hai bị cáo thực hiện liên tục hai hành  
vi phạm tội một cách tích cực nhất. Ngoài  
ra, vai trò khi thực hiện hành vi phạm tội  
trong vụ án này của bị cáo T là cao hơn bị  
cáo G do ban đầu T chủ động rủ rê G trước.  
Theo nguyên tắc quyết định hình phạt, căn  
cứ vào vai trò trong vụ án thì bị cáo T phải  
chịu mức hình phạt cao nhất, sau đó là bị  
cáo G. Hai bị cáo này phải chịu mức hình  
phạt cao hơn các bị cáo khác trong vụ án  
mới phù hợp với vai trò người tổ chức, rủ  
rê, lôi kéo các bị cáo khác. Các bị cáo khác  
chỉ thực hiện tội phạm với vai trò người  
thực hành nên mức hình phạt phải chịu sẽ  
thấp hơn bị cáo T và G. Bên cạnh đó, mức  
hình phạt đối với các bị cáo nên được áp  
dụng ở mức cao hơn do tính chất mức độ  
nguy hiểm của hành vi phạm tội tương đối  
cao với 02 tình tiết tăng nặng định khung.  
Tuy nhiên, chưa có quy định của pháp luật  
một cách rõ ràng về việc quyết định hình  
phạt này. Do vậy, việc quyết định hình  
phạt trên thực tế phụ thuộc vào nhận định  
của người tiến hành tố tụng. Trong vụ án  
này, do nhận định chưa toàn diện nên Hội  
đồng xét xử đã tuyên mức hình phạt chưa  
phù hợp đối với hành vi phạm tội của các  
bị cáo.  
Qua vụ án trên có thể thấy, với các  
yếu tố về nhân thân tương đối giống  
nhau, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ  
được áp dụng giống nhau, mức hình phạt  
mà bản án sơ thẩm áp dụng đối với các  
bị cáo là chưa phù hợp và chưa đảm bảo  
công bằng. Bởi vì:  
Thứ nhất, mức hình phạt đối với  
trường hợp phạm tội cướp tài sản dưới  
hình thức phạm tội có tổ chức trong  
trường hợp này là chưa phù hợp: Trong  
vụ án này, hành vi phạm tội của các bị  
cáo thỏa mãn 02 tình tiết định khung tăng  
nặng quy định tại khoản 2 Điều 168 BLHS  
năm 2015 (SĐ, BS năm 2017) nhưng mức  
hình phạt đối với các bị cáo chỉ ở mức tối  
thiểu của khung hình phạt (khung hình  
phạt quy định tại khoản 2 là từ 7 năm đến  
15 năm);  
Thứ hai, mức hình phạt được áp dụng  
với mỗi bị cáo chưa tương xứng với tính  
chất, mức độ nguy hiểm do hành vi của  
các bị cáo gây ra, chưa phù hợp nguyên  
tắc phân hóa hình phạt theo vai trò, mức  
độ nguy hiểm của hành vi của mỗi bị cáo  
trong vụ án, nhất là với nguyên tắc quyết  
định hình phạt đối với trường hợp đồng  
phạm: mức hình phạt được áp dụng đối với  
bị cáo T và G bằng với bị cáo M. Trong vụ  
3. Kiến nghị  
Để đảm bảo việc quyết định hình  
phạt đối với tội phạm được thực hiện  
dưới hình thức có tổ chức nói chung và tội  
cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có  
tổ chức nói riêng được thực hiện một cách  
chính xác, thống nhất, bảo đảm cá thể hóa  
án này, Vũ Xuân T, Nguyễn Văn G là 02 bị hình phạt đối với từng người phạm tội,  
cáo giữ vai trò chính: T khởi xướng và cùng với từng vai trò khác nhau trong việc thực  
8
Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
ĐOÀN TRỌNG CHỈNH  
hiện hành vi phạm tội khác nhau thì yêu  
Theo đó, có thể bổ sung quy định về  
cầu tất yếu là phải có căn cứ pháp lý một nguyên tắc quyết định hình phạt trong  
cách cụ thể, rõ ràng. Hay nói cách khác, đồng phạm vào phần chung BLHS với nội  
cần có quy định rõ ràng về nguyên tắc dung như sau:  
quyết định hình phạt trong đồng phạm.  
“Người tổ chức phải chịu trách nhiệm  
Đối với người thực hành và người giúp  
hình sự tăng nặng hơn so với người thực  
sức thì tính chất và mức độ nguy hiểm  
hành. Người xúi giục chịu trách nhiệm  
cho xã hội trong hành vi phạm tội của  
hình sự như người thực hành. Người giúp  
họ có đặc trưng riêng nhưng xét về tổng  
sức chịu trách nhiệm hình sự nhẹ hơn  
thể trong bốn loại người đồng phạm,  
người thực hành”.  
theo chúng tôi, hai loại người đồng phạm  
Việc quy định nguyên tắc quyết định  
hình phạt trong đồng phạm có mục đích  
này thể hiện gần nhau hơn so với người  
tổ chức và người xúi giục. Vai trò hỗ trợ  
phân hóa trách nhiệm hình sự đối với  
hoạt động phạm tội của người giúp sức  
những người đồng phạm nói chung và  
cũng là một trong những căn cứ để cá  
người phạm tội có tổ chức nói riêng cũng  
thể hóa trách nhiệm hình sự của người  
như phản ánh đúng tính chất nguy hiểm  
giúp sức với tính chất ít nguy hiểm hơn  
cho xã hội trong hành vi của từng người  
so với những loại người đồng phạm khác.  
phạm tội, làm cơ sở pháp lý cho việc quyết  
Thực tiễn xét xử ở nước ta cũng cho thấy,  
định hình phạt có tính chất phân hóa đối  
trong một vụ đồng phạm, người giúp sức  
với từng người phạm tội. Điều này đảm  
thường có vai trò ít nguy hiểm hơn so với  
bảo sự rõ ràng, cụ thể, tạo điều kiện cho  
những người đồng phạm khác.  
việc quyết định hình phạt được rõ ràng,  
Do đó, nếu luật hình sự sử dụng cách  
thống nhất./.  
phân loại này thì đường lối nghiêm trị đối  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ  
sung năm 2017).  
với người phạm tội có tổ chức như hiện  
nay cần phải quy định rõ trong luật theo  
nguyên tắc xử lý người giúp sức nhẹ hơn  
2. Tòa án nhân dân tối cao (1988), Nghị  
quyết số 02-HĐTP/NQ ngày 16/11/1988 của  
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao  
hướng dẫn bổ sung Nghị quyết số 02-HĐTP/  
NQ ngày 05/01/1986, Hà Nội  
so với người thực hành. Vì vậy, nên có  
quy định buộc người xúi giục phải chịu  
trách nhiệm như người thực hành, còn  
người giúp sức chỉ đóng vai trò thứ yếu  
nên mức độ trách nhiệm hình sự nhẹ hơn  
so với người thực hành. Quy định như  
vậy thể hiện sự đánh giá về vai trò, tính  
chất và mức độ nguy hiểm của hành vi dụ  
dỗ, kích động, thúc đẩy việc thực hiện tội  
phạm của người xúi giục cao hơn so với  
hành vi của người giúp sức - chỉ đóng vai  
trò là người tạo ra các điều kiện vật chất  
và tinh thần cho người thực hành trực tiếp  
thực hiện tội phạm.  
3. Trường Đại học Luật thành phố Hồ  
Chí Minh (2015), Giáo trình Luật hình sự Việt  
Nam (Phần các tội phạm – Quyển 1), NXB Hồng  
Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội.  
4. GS.TS Võ Khánh Vinh (2013), Giáo trình  
Luật hình sự Việt Nam – Phần các tội phạm, NXB  
Công an nhân dân, Hà Nội.  
5. TS. Lê Thị Sơn, Về tội phạm có dấu hiệu  
“có tổ chức” trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí  
Luật học số 01/2003.  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát  
9
pdf 5 trang Thùy Anh 11460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số ý kiến về áp dụng dấu hiệu định khung phạm tội có tổ chức trong tội cướp tài sản theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_y_kien_ve_ap_dung_dau_hieu_dinh_khung_pham_toi_co_to.pdf