Giáo trình Luật khiếu nại, tố cáo (Phần 1)

ĐẠI HỌC HUẾ  
KHOA LUẬT  
TS. NGUYỄN DUY PHƯƠNG  
GIÁO TRÌNH  
LUẬT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC HUẾ  
Huế - 2013  
Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm cña Th− viÖn Quèc gia ViÖt Nam  
NguyÔn Duy Ph−¬ng  
Gi¸o tr×nh LuËt KhiÕu n¹i, tè c¸o / NguyÔn Duy Ph−¬ng. -  
häc HuÕ, 2013. - 106tr. ; 21cm  
h− môc: tr. 105  
HuÕ : §¹i  
T
1. LuËt KhiÕu n¹i, tè c¸o 2. ViÖt Nam 3. Gi¸o tr×nh  
347.597 - dc14  
DUB0067p-CIP  
Mã số sách: TK/111 – 2013  
LỜI NÓI ĐẦU  
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, việc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của  
công dân có ý nghĩa rất quan trọng, điều này xuất phát từ bản chất của nhà  
nước xã hội chủ nghĩa "Nhà nước của dân nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân",  
các quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp và pháp luật.  
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, việc đảm bảo quyền  
khiếu nại, tố cáo của công dân là một vấn đề có tính cấp bách, trọng yếu.  
Suy cho cùng, công cuộc đổi mới thành công hay không là phải đảm bảo  
việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội.  
Quyền khiếu nại, tố cáo có liên quan chặt chẽ đến các quyền và nghĩa  
vụ khác của công dân, chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống các quyền cơ  
bản của công dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị - xã hội.  
Công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là điều kiện để các quyền khác  
được pháp luật ghi nhận không bị xâm hại. Hay nói cách khác bất kỳ sự vi  
phạm nào đối với quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đều có thể dẫn  
đến việc công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình.  
Vì vậy, Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận  
các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đặc biệt là các quyền khiếu nại,  
tố cáo của công dân được ghi nhận đầy đủ rõ ràng trong Hiến pháp và cụ thể  
hoá trong các văn bản pháp luật. Đồng thời Nhà nước Việt Nam cũng quan  
tâm đảm bảo những điều kiện thuận lợi nhất để công dân thực hiện các  
quyền của mình.  
Để đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập của sinh viên ngành luật,  
chúng tôi đã tổ chức biên soạn Giáo trình Luật khiếu nại, tố cáo.  
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!  
Tác giả  
TS. Nguyễn Duy Phương  
MỤC LỤC  
Trang  
7
Chương 1: Khái quát về khiếu nại, tố cáo  
I. Những vấn đề lý luận về khiếu nại, tố cáo và công tác giải quyết  
khiếu nại, tố cáo  
7
II. Một số khái niệm cơ bản của Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo  
III. Các nguyên tắc khiếu nại tố cáo và giải quyết khiếu nại tố cáo  
IV. Ý nghĩa, tác dụng của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo  
12  
18  
20  
23  
Chương 2: Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ  
khiếu nại  
I. Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại  
II. Quyền và nghĩa vụ của người giải quyết khiếu nại  
III. Quyền và nghĩa vụ của Luật sư, trợ giúp viên pháp lý  
Chương 3: Thẩm quyền giải quyết khiếu nại  
23  
26  
28  
29  
I. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của thủ trưởng cơ quan hành 29  
chính nhà nước  
II. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại cửa cơ quan Thanh tra  
32  
37  
Chương 4: Trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định  
hành chính, hành vi hành chính  
I. Trình tự, thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại lần đầu  
II. Trình tự, thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại lần thứ hai  
III. Điều kiện khởi kiện vụ án hành chính.  
37  
49  
52  
IV. Tính công khai, dân chủ trong trình tự, thủ tục giải quyết 54  
khiếu nại  
57  
Chương 5: Khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định kỷ  
luật cán bộ, công chức  
I. Khái niệm khiếu nại quyết định kỷ luật  
II. Thời hiệu, thời hạn, trình tự thủ tục khiếu nại  
III. Giải quyết khiếu nại lần đầu  
57  
58  
59  
62  
IV. Giải quyết khiếu nại lần thứ hai  
V. Hiệu lực của quyết định giải quyết khiếu nại, khởi kiện vụ án 64  
hành chính  
VI. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, 64  
công chức  
67  
67  
Chương 6: Những vấn đề chung về tố cáo  
I. Khái niệm tố cáo  
II. Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ tố cáo và giải 68  
quyết tố cáo  
III. Bảo vệ người tố cáo  
70  
74  
77  
IV. Thẩm quyền giải quyết tố cáo  
Chương 7: Thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo  
đối với cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện  
nhiệm vụ công vụ  
I. Nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo  
77  
II. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong 78  
việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức trong cơ  
quan khác của Nhà nước  
III. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong 79  
việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức trong cơ  
quan khác của Nhà nước  
IV. Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo  
82  
V. Giải quyết tố cáo đối với hành vị vi phạm pháp luật về quản lý 88  
nhà nước trong các lĩnh vực  
VI. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc quản lý công 89  
tác giải quyết tố cáo  
92  
92  
Chương 8. Tiếp công dân  
I. Mục đích của việc tiếp công dân  
II. Tiếp người khiếu nại  
92  
III. Tiếp người tố cáo  
97  
IV. Tiếp công dân của thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước  
Tài liệu tham khảo  
100  
105  
Chương 1  
KHÁI QUÁT VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO  
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO.  
CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO  
1. Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân  
Trong lịch sử nhân loại, các nhà triết học, chính trị học, các nhà khoa  
học xã hội tuy đứng trên những quan điểm khác nhau để nghiên cứu về  
quyền con người, đã đi đến một thống nhất chung về các quyền con người,  
đó là quyền được sống, được tự do, bình đẳng, quyền dân chủ... Đến khi  
Nhà nước và pháp luật ra đời, quyền con người được ghi nhận trong các văn  
bản pháp luật, trong các tuyên bố của Cách mạng Tư sản phương Tây, sang  
thế kỷ XX quyền con người được quốc tế hoá, tức là được ghi nhận trong  
các văn bản pháp luật quốc tế.  
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người nói chung và quyền  
khiếu nại, tố cáo của công dân nói riêng không những được Nhà nước ghi  
nhận, mở rộng mà Nhà nước còn tạo mọi điều kiện để nhân dân dễ dàng  
thực hiện. Trong Hội nghị Thanh tra toàn miền Bắc ngày 05/3/1960 Bác Hồ  
đã huấn thị: “Đồng bào có oan ức mới khiếu nại hoặc chưa hiểu rõ chính  
sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại. Ta phải giải quyết nhanh, tốt thì  
đồng bào thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm lo lắng đến quyền lợi của  
họ, do đó mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ càng được tốt  
hơn”. Lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ quyền khiếu nại  
của công dân và bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do  
dân, vì dân.  
Quyền khiếu nại, tố cáo có liên quan chặt chẽ đến các quyền và  
nghĩa vụ khác của công dân, chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống các  
quyền cơ bản của công dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị  
- xã hội. Công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là điều kiện để các  
quyền khác được pháp luật ghi nhận không bị xâm hại. Hay nói cách  
khác bất kỳ sự vi phạm nào đối với quyền và nghĩa vụ cơ bản của công  
dân đều có thể dẫn đến việc công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo  
của mình.  
7
Trên cơ sở đó việc xác định một cơ chế và đưa ra những giải pháp cụ  
thể để giải quyết có hiệu quả những khiếu nại, tố cáo là điều kiện quan trọng  
để công dân thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị người  
khác hoặc tổ chức xâm hại.  
Vì vậy, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận  
đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đặc biệt là các quyền  
khiếu nại, tố cáo của công dân được ghi nhận đầy đủ rõ ràng trong Hiến  
pháp và các văn bản pháp luật khác. Đồng thời Nhà nước Việt Nam cũng  
quan tâm đảm bảo những điều kiện thuận lợi nhất để công dân thực hiện các  
quyền của mình.  
2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền khiếu nại, tố cáo  
và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân  
Từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đến nay Đảng cộng  
sản Việt Nam sản luôn luôn quan tâm đến việc thực hiện các quyền cơ bản  
của công dân. Đảng đã ban hành nhiều văn kiện như Nghị quyết, Chỉ thị,  
Thông tri nhằm thực hiện các quyền cơ bản của công dân. Đặc biệt Đảng  
thường xuyên quan tâm đến việc bảo đảm cho công dân có thể nêu những ý  
kiến, nguyện vọng, kiến nghị đối với hoạt động của các cơ quan Nhà nước,  
khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật trong các cơ quan Nhà nước,  
nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, các quyền và lợi ích hợp  
pháp của công dân. Trong các Nghị quyết, chỉ thị, Thông tri của Đảng về  
thanh tra, kiểm tra bao giờ cũng nhấn mạnh đến việc thực hiện tốt công tác  
giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Chỉ thị số 50/CT-TW  
ngày 4/7/1962 của Ban bí thư về việc tăng cường công tác kiểm tra việc  
chấp hành các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Chính phủ đã xác định: Tổ  
chức thanh tra là tai, mắt của cơ quan lãnh đạo các cấp, có trách nhiệm gìn  
giữ dân chủ, kỷ luật của Nhà nước, bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh các  
chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ thực hiện quyền khiếu nại,  
tố cáo của công dân1. Chỉ thị số 176/CT-TW ngày 18/4/1970 của Ban bí thư  
về việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra và giải quyết các  
vụ khiếu nại, tố cáo cũng chỉ rõ phải coi trọng việc xét và giải quyết nhanh,  
1.Chỉ thị số 50/CT-TW ngày 4/7/1962 của Ban bí thư về việc tăng cường công tác  
kiểm tra việc chấp hành các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Chính phủ.  
8
tốt các đơn thư khiếu nại, tố cáo của quần chúng, cố gắng khắc phục tình  
trạng để các vụ việc khiếu tố ứ đọng nhiều và lâu ngày hoặc chuyển đơn  
khiếu tố cho cấp dưới mà không theo dõi, kiểm tra cách giải quyết2. Thông  
tri số 210/TT-TW ngày 22/11/1987 của Ban bí thư về việc tăng cường tổ  
chức Uỷ ban kiểm tra của Đảng và đẩy mạnh công tác thanh tra của các cơ  
quan Nhà nước,3 chỉ rõ nhiệm vụ của các cơ quan là phải thanh tra việc thực  
hiện những chủ trương, chính sách của Đảng - Nhà nước và xét giải quyết  
đơn thư khiếu tố của nhân dân.  
Tại Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành TW Đảng khoá VII đã ra Nghị  
quyết về việc “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội  
chủ nghĩa Việt Nam - cải cách một bước nền hành chính Nhà nước”, trong  
đó ghi rõ: Cần đẩy mạnh giải quyết các khiếu kiện của dân, soát xét bổ sung  
và thể chế hoá các chính sách, trước hết đối với những lĩnh vực mà dân  
khiếu kiện nhiều, những tranh chấp về nhà ở, đất đai…  
Tóm lại: Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và coi trọng công tác  
giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, coi như là điều kiện cần thiết để  
nhân dân phát huy quyền làm chủ của mình và tham gia vào quản lý Nhà  
nước, quản lý xã hội. Thông qua khiếu nại, tố cáo của công dân, Đảng và  
Nhà nước ta hiểu rõ hơn nguyện vọng của nhân dân, bổ sung và hoàn thiện  
chính sách pháp luật, đồng thời qua đó kịp thời ngăn chặn những việc làm vi  
phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội...  
3. Quá trình phát triển của pháp luật về khiếu nại, tố cáo  
Quan điểm và chính sách của Đảng ta về khiếu nại, tố cáo qua các  
thời kỳ đã được thể chế hoá bằng các văn bản pháp luật của Nhà nước.  
Ngay sau khi thành lập nước, ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh  
đã ký Sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban thanh tra đặc biệt, Điều 2 của Sắc  
lệnh này qui định rõ một trong những nhiệm vụ của Ban thanh tra đặc biệt  
là: Tiếp nhận các đơn khiếu nại của nhân dân.  
2
Chỉ thị số 176/CT-TW ngày 18/4/1970 của Ban bí thư về việc tăng cường công  
tác kiểm tra, giám sát, thanh tra và giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo.  
3
Thông tri số 210/TT-TW ngày 22/11/1987 của Ban bí thư về việc tăng cường tổ  
chức Uỷ ban kiểm tra của Đảng và đẩy mạnh công tác thanh tra của các cơ quan  
Nhà nước.  
9
Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận các quyền cơ bản của công dân, đó  
là: quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế - văn hoá, quyền bình đẳng giữa  
mọi người trước pháp luật, quyền được tham gia chính quyền và tham gia  
công cuộc kiến quốc, quyền bình đẳng nam, nữ, quyền tự do ngôn luận, tự  
do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp; quyền bất khả xâm phạm về thân thể,  
nhà ở và thư tín, quyền được bầu cử... Mặc dù Hiến pháp năm 1946 chưa đề  
cập cụ thể quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, nhưng thể chế dân chủ mà  
bản thân Hiến pháp này tạo dựng lên là nền tảng cơ bản để hình thành quyền  
khiếu nại, tố cáo của công dân.  
Hiến pháp năm 1959, quyền khiếu nại, tố cáo đã được ghi nhận trong  
một điềm riêng, đó là Điều 29 qui định: “Công dân có quyền khiếu nại, tố  
cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm vi phạm pháp  
luật của cán bộ và nhân viên Nhà nước. Các khiếu nại, tố cáo phải được  
xem xét và giải quyết nhanh chóng, người bị thiệt hại có quyền được bồi  
thường”. Việc có một điều khoản riêng để khẳng định quyền khiếu nại, tố  
cáo của công dân trong Hiến pháp đã củng cố thêm một bước địa vị pháp lý  
của công dân trong xã hội, là một hỗ trợ quan trọng đối với các quyền tự do  
dân chủ khác. Mặt khác xác định trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước và  
nhân viên Nhà nước đối với kết quả việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của  
công dân.  
Hiến pháp năm 1980 đã xác định rõ quyền khiếu nại, tố cáo của công  
dân và qui định việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, Điều 73 của Hiến pháp  
ghi: “Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà  
nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã  
hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan,  
tổ chức và đơn vị đó; các khiếu nại, tố cáo phải được xem xét và giải quyết  
nhanh chóng; mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân  
phải được sửa chữa và xử lý nghiêm minh; người bị thiệt hại có quyền được  
bồi thường, nghiêm cấm việc trả thù khiếu nại, tố cáo”. Từ những qui định  
này, năm 1981 uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh qui định  
về thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và Hội đồng Bộ trưởng  
(nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 58/HĐBT ngày 29/3/1982  
hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này. Đến năm 1991 uỷ ban thường vụ Quốc  
hội đã thông qua Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân thay thế Pháp  
10  
lệnh năm 1981 và Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 38/HĐBT  
ngày 29/3/1992 để hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.  
Hiến pháp năm 1992, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và giải  
quyết khiếu nại, tố cáo được qui định tại Điều 74: “Công dân có quyền  
khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm  
trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân  
dân hoặc của bất cứ cá nhân nào; việc khiếu nại, tố cáo phải được xem xét  
giải quyết trong thời gian pháp luật qui định; mọi hành vi xâm phạm lợi  
ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tập thể phải  
được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người thiệt hại có quyền được bồi  
thường về vật chất và phục hồi danh dự, nghiêm cấm việc trả thù người  
khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu  
cáo làm hại người khác”.  
Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành hàng loạt các văn bản  
pháp qui qui định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan Nhà nước trong  
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân như: Chỉ thị số 18/TTg ngày  
15/01/1993 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác tiếp dân; Nghị  
quyết số 36/CP ngày 04/5/1994 của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục  
hành chính trong giải quyết công việc của nhân dân và tổ chức trong đó có  
vấn đề tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; Chỉ thị số  
64/TTg ngày 25/01/1995 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác  
giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, trong đó đã nhấn mạnh: “Thủ  
trưởng các cấp chính quyền và đơn vị cơ sở có trách nhiệm xem xét ra quyết  
định giải quyết đối với khiếu nại, tố cáo của công dân theo thẩm quyền của  
mình, không để tình trạng đùn đẩy hoặc đơn vượt cấp lên trên”.  
Tình hình khiếu nại, tố cáo và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong  
thời gian qua đang đặt ra những yêu cầu đổi mới về thể chế pháp luật.  
Những qui định của Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991  
không còn phù hợp với thực tiễn. Phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh chỉ mới  
tập trung vào khiếu nại hành chính trong các cơ quan Nhà nước, chủ thể  
khiếu nại và đối tượng bị khiếu nại cũng còn nhiều hạn chế trong điều kiện  
kinh tế - xã hội có nhiều thay đổi. Pháp lệnh còn thiếu các qui định về biện  
pháp bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo và hiệu quả công tác giải quyết khiếu  
nại, tố cáo. Mặt khác Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991  
được ban hành trên cơ sở qui định của Hiến Pháp năm 1980, từ sau Hiến  
11  
pháp năm 1992 nhiều văn bản pháp luật được ban hành hoặc sửa đổi bổ  
sung đã có một số qui định khác với thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết  
khiếu nại, tố cáo trong Pháp lệnh năm 1991, gây khó khăn cho công dân trong  
việc khiếu nại đến đúng cơ quan có thẩm quyền do đó dẫn đến tình trạng gửi  
đơn tràn lan, vượt cấp, chuyển đơn vòng vo, đùn đẩy trách nhiệm trong giải  
quyết khiếu nại, tố cáo. Vì vậy tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá X đã thông qua  
Luật Khiếu nại, tố cáo và Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999.  
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/CP ngày 07/8/1999 qui định chi tiết và  
hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo. Sau hơn 10 năm thực hiện và qua 2  
lần sửa đổi bổ sung Luật Khiếu nại, tố cáo 1998 đã bộc lộ nhiều nhược điểm  
không đáp ứng nhu cầu giải quyết khiếu nại, tố cáo trong giai đoạn hiện nay. Vì  
vậy Quốc hội đã chủ trương soạn thảo văn bản mới thay thế.  
Ngày 11 tháng 11 năm 2011 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo thay thế cho  
Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998.  
Như vậy Luật Khiếu nại 2011 và Luật Tố cáo 20011 ra đời đã đánh  
dấu một bước phát triển quan trọng việc thể chế hoá quyền khiếu nại, tố cáo  
một trong những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận.  
Mặt khác đã đánh dấu một bước thể chế hoá đường lối quan điểm của Đảng  
về việc xây dựng một Nhà nước của dân, do dân và vì dân, đồng thời đáp  
ứng những đòi hỏi bức xúc của thực tiễn trong công tác giải quyết khiếu nại,  
tố cáo hiện nay.  
II. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA LUẬT KHIẾU NẠI VÀ  
LUẬT TỐ CÁO  
Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo là hai văn bản luật hiện hành điều  
chỉnh toàn diện những vấn đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo và việc giải  
quyết khiếu nại, tố cáo, việc đưa ra những khái niệm cơ bản là điều hết sức  
quan trọng để có sự thống nhất trong việc hiểu được các qui định của Luật  
đồng thời áp dụng một cách đúng đắn các qui định đó. Có thể nói, Luật  
Khiếu nại, Luật Tố cáo có liên quan đến toàn bộ sự hoạt động của bộ máy  
Nhà nước, đặc biệt là hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước. Những  
năm gần đây, cùng với việc cải cách nền hành chính Nhà nước, hàng loạt  
các văn bản Pháp luật đã ra đời với nhiều cấp độ khác nhau từ Bộ luật, Luật,  
Pháp lệnh đến các Nghị quyết, Nghị định... Các nguyên tắc cơ bản của hoạt  
12  
động hành chính mới đang dần dần được định hình, vì thế việc làm rõ các  
khái niệm cũng như phạm vi áp dụng của nó là điều cần thiết.  
1. Các khái niệm trong lĩnh vực khiếu nại và giải quyết khiếu nại  
Tại Điều 2, Chương I Luật Khiếu nại 2011 đã đưa ra các khái niệm  
thường gặp trong hoạt động giải quyết khiếu nại, cụ thể như sau:  
1.1. Khiếu nại  
Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức  
theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có  
thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ  
quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành  
chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho  
rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích  
hợp pháp của mình.  
Như vậy, đối tượng bị khiếu nại được điều chỉnh trong Luật Khiếu  
nại, tố cáo chỉ bao gồm hai loại:  
- Quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính  
Nhà nước.  
- Quyết định kỷ luật cán bộ, công chức.  
Những khiếu nại trong hoạt động tư pháp, chẳng hạn khiếu nại quyết  
định không khởi tố vụ án của Viện Kiểm sát; khiếu nại đối với hoạt động  
của Điều tra viên, Kiểm sát viên không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật  
này mà được giải quyết theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự  
qui định.  
1.2. Người khiếu nại  
Người khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức  
thực hiện quyền khiếu nại.  
Tại điều luật này chỉ qui định công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ,  
công chức thực hiện quyền khiếu nại. Tuy nhiên, căn cứ vào khoản 1 điều 3  
Luật Khiếu nại năm 2011 "Khiếu nại của cơ quan, tổ chức, cá nhân nước  
ngoài tại Việt Nam và việc giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định  
của Luật này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác". Như vậy chủ thể khiếu nại  
13  
còn bao gồm cả cá nhân, tổ chức nước ngoài đang cư trú hoạt động trên lãnh  
thổ Việt Nam.  
1.3. Rút khiếu nại  
Rút khiếu nại là việc người khiếu nại đề nghị cơ quan, tổ chức, cá  
nhân có thẩm quyền chấm dứt khiếu nại của mình.  
Người khiếu nại khi thực hiện quyền khiếu nại của mình với mục đích  
là nhằm khôi phục lại quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi  
quyết định hành chính, hành vi hành chính. Nhưng nếu người khiếu nại thấy  
không cần thiết phục hồi quyền lợi của mình thì họ có thể dừng lại bằng  
cách rút khiếu nại và nhà nước tôn trọng quyền tự định đoạt của người khiếu  
nại cho phép người khiếu nại được rút đơn khiếu nại ở bất cứ giai đoạn nào  
của quá trình giải quyết khiếu nại.  
1.4. Cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại  
Cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại là cơ quan nhà nước, tổ chức  
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề  
nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân.  
Theo khái niệm này thì tất cả các cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà  
nước (cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp) đều có quyền khiếu nại. Nhưng  
đối với tổ chức thì không bao gồm tất cả các tổ chức đang tồn tại ở nhà nước  
ta hiện nay. Một số tổ chức không được liệt kê ở đây nên không phải là chủ  
thể khiếu nại như: tổ chức tôn giáo, đơn vị sự nghiệp.  
1.5. Người bị khiếu nại  
Người bị khiếu nại là cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có  
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước có quyết định hành chính,  
hành vi hành chính bị khiếu nại; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có  
quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại.  
Như vậy, người bị khiếu nại ở đây phải là cơ quan tổ chức, cán nhân  
mang quyền lực nhà nước có quyền ban hành quyết định hành chính, thực  
hiện hành vi hành chính, ban hành quyết định kỷ luật cán bộ, công chức.  
Theo pháp luật hiện hành ngoài các cơ quan quản lý nhà nước về cán bộ,  
công chức có quyền ban hành quyết định kỷ luật cán bộ, công chức thì các  
tổ chức chính trị, chính trị - xã hội cũng thực hiện chức năng quản lý cán bộ,  
14  
công chức và cũng có quyền ban hành quyết định kỷ luật cán bộ, công chức  
thuộc thẩm quyền quản lý của tổ chức mình. Do đó các tổ chức chính trị,  
chính trị - xã hội cũng là người bị khiếu nại.  
1.6. Người giải quyết khiếu nại  
Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền  
giải quyết khiếu nại.  
Theo Luật Khiếu nại năm 2011 thì người giải quyết khiếu nại chính là  
thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước, bao gồm người đứng đầu các  
cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung như: chủ tịch ủy ban  
nhân dân các cấp và những người đứng đầu các cơ quan chuyên môn như:  
bộ trưởng, giám đốc sở, trưởng phòng....  
1.7. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan  
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà  
không phải là người khiếu nại, người bị khiếu nại nhưng việc giải quyết  
khiếu nại có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ.  
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ở đây được hiểu là họ có nghĩa  
vụ hoặc quyền lợi liên quan đến vụ khiếu nại. Ví dụ: A mượn xe của B, sau  
đó A vi phạm trật tự an toàn giao thông bị cơ quan công an tạm giữ xe, A  
không đồng ý với việc tạm giữ xe của cơ quan công an nên đã làm đơn  
khiếu nại. Trong vụ việc này A là người khiếu nại, B là người có quyền lợi  
nghĩa vụ liên quan.  
1.8. Quyết định hành chính  
Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà  
nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban  
hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành  
chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối  
tượng cụ thể.  
Khái niệm quyết định hành chính có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo  
nghĩa rộng quyết định hành chính bao gồm tất cả các văn bản pháp luật  
(nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư) do cơ quan hành chính nhà nước  
ban hành trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước.  
Theo nghĩa hẹp quyết định hành chính là một loại văn bản (quyết định).  
15  
Từ khái niệm trên, cho thấy quyết định hành chính là đối tượng bị  
khiếu nại được qui định trong Luật gồm 3 yếu tố:  
- Là quyết định bằng văn bản;  
- Là quyết định được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối  
tượng cụ thể;  
- Là quyết định của cơ quan hành chính Nhà nước.  
Ở đây có một số điều cần lưu ý là các quyết định hành chính có tính  
chất chỉ đạo, điều hành của cấp trên đối với cấp dưới trong nội bộ thứ bậc  
hành chính cũng không thể bị khiếu nại và không giải quyết theo trình tự,  
thủ tục chung về giải quyết khiếu nại hành chính.  
1.9. Hành vi hành chính  
Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của  
người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc  
không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.  
Tuy cùng tính chất, nhưng khác với quyết định hành chính, hành vi  
hành chính không được thể hiện thành văn bản. Hành vi hành chính bị khiếu  
nại có thể là một hành vi của cơ quan Nhà nước, công chức Nhà nước không  
làm đúng hoặc làm trái các qui định của pháp luật về một vấn đề nào đó,  
cũng có thể là việc không thực hiện một trách nhiệm công vụ mà theo qui  
định của pháp luật thì họ phải thực hiện.  
1.10. Quyết định kỷ luật  
Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ  
quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật đối với cán bộ,  
công chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán  
bộ, công chức.  
Ở đây cân phân biệt Quyết định kỷ luật cán bộ công chức với các loại  
quyết định kỷ luât như kỷ luật lao động, kỷ luật viên chức, kỷ luật đối với  
thành viên của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội. Đối với quyết định kỷ  
luật người lao động nếu người lao động không đồng ý thì khiếu nại theo  
pháp luật lao động; đối với kỷ luật viên chức thì khiếu nại theo Luật viên  
chức; đối với kỷ luật của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội thì có thể  
khiếu nại theo điều lệ của tổ chức đó.  
16  
1.11. Giải quyết khiếu nại  
Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định  
giải quyết khiếu nại.  
Như vây, giải quyết khiếu nại là một qui trình bao gồm nhiều giai  
đoạn từ việc thụ lý, xem xét, kết luận đến ra quyết định giải quyết vụ việc.  
2. Các khái niệm trong lĩnh vực tố cáo và giải quyết tố cáo  
Tại Điều 2, Chương I Luật Tố cáo 2011 đã đưa ra các khái niệm tố  
cáo sau:  
1. Tố cáo: Là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho  
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của  
bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi  
ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.  
Từ khái niệm trên có thể thấy giữa khiếu nại và tố cáo có sự khác nhau.  
- Về chủ thể: Chủ thể của khiếu nại có thể bao gồm công dân, cơ  
quan, tổ chức trong khi chủ thể của tố cáo chỉ là công dân.  
- Về đối tượng: Đối tượng bị khiếu nại gồm quyết định hành chính  
hành vi hành chính của các cơ quan hành chính Nhà nước hoặc quyết định  
kỷ luật cán bộ, công chức trong khi đối tượng của tố cáo rộng hơn, bao gồm  
hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt  
hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp  
của công dân, cơ quan, tổ chức.  
- Về mục đích: Khiếu nại nhằm bảo vệ hoặc khôi phục quyền, lợi ích  
hợp pháp của người khiếu nại trong khi mục đích của tố cáo là bảo vệ lợi ích  
của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.  
2. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức  
trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ: Là việc công dân báo cho cơ quan,  
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán  
bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.  
3. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các  
lĩnh vực: Là việc công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm  
quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá  
nhân nào đối với việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhà nước  
trong các lĩnh vực.  
17  
4. Người tố cáo: Là công dân thực hiện quyền tố cáo.  
Khác với khiếu nại, Luật Tố cáo chỉ xác định một chủ thể tố cáo đó là  
công dân Việt Nam, Luật không qui định việc tố cáo của tổ chức, vì nếu tổ  
chức tố cáo thì sẽ có nhiều vấn đề khó khăn phức tạp khi giải quyết.  
5. Người bị tố cáo: Là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo.  
Ở đây, Luật cũng xác định người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá  
nhân. Tuy nhiên khác với người bị khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có  
thẩm quyền.người bị tố cáo có thể là bất kỳ cơ quan tổ chức cá nhân nào có  
hành vi vi phạm pháp luật.  
6. Người giải quyết tố cáo: Là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm  
quyền giải quyết tố cáo.  
Người giải quyết tố cáo hiện nay được qui định ở nhiều văn bản pháp  
luật khác nhau, như: Luật tố tụng hình sự (tố cáo hành vi phạm tội); Luật  
phòng chống tham nhũng (tố cáo hành vi tham nhũng...). Luật Tố cáo chỉ  
qui định thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với cán bộ công chức và tố cáo  
hành vi vi phậm pháp luật trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước.  
7. Giải quyết tố cáo: Là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung  
tố cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo.  
Khác với giải quyết khiếu nại, khi giải quyết tố cáo luật không qui  
định người giải quyết tố cáo phải ra quyết định giải quyết tố cáo. Vì thực tế  
có những vụ việc người thụ lý giải quyết không có thẩm quyền ra quyết định  
giải quyết. Ví dụ: Ông A tố cáo một người thực hiện hành vi phạm tội đến  
Trưởng công an xã, Trưởng công an xã phải thụ lý giải quyết, tuy nhiên việc  
xử lý người phạm tội phải do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện cho nên  
Trưởng công an xã chỉ tiếp nhận, xác minh ban đầu và chuyển hồ sơ cho cơ  
quan tiến hành tố tụng nếu hành vi có dấu hiệu tội phạm.  
III. CÁC NGUYÊN TẮC KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT  
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO  
Khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo dựa trên cơ sở những  
nguyên tắc được qui định trong Hiến pháp và được cụ thể hoá trong các văn  
bản luật, dưới luật. Bao gồm các nguyên tắc cơ bản sau:  
1. Nguyên tắc pháp chế  
18  
Nguyên tắc pháp chế trong khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại,  
tố cáo thể hiện qua các yêu cầu cụ thể sau:  
- Người khiếu nại, tố cáo khi thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo phải  
thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; phải tiến hành đúng trình tự,  
thủ tục khiếu nại; tuân theo thời hiện khiếu nại.  
- Đối với người giải quyết khiếu nại, tố cáo phải đảm bảo đúng thẩm  
quyền, trình tự thủ tục, thời hạn, thời hiệu giải quyết theo luật định.  
Ví dụ: cơ quan nhận được tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của  
mình phải thụ lý trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được. Thời hạn  
giải quyết tố cáo, không quá sáu mươi ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.  
- Các quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo có hiệu lực pháp luật phải  
được mọi cơ quan, tổ chức cá nhân nghiêm chỉnh thi hành.  
2. Nguyên tắc khách quan  
Nguyên tắc này có quan hệ trực tiếp đến nguyên tắc pháp chế XHCN.  
Nguyên tắc khách quan đòi hỏi công dân phải trung thực khi khiếu nại, phải  
phản ánh đúng sự thật mọi tình tiết, diễn biến sự việc, không lợi dụng quyền  
khiếu nại, tố cáo để vu khống làm hại người khác.  
Đối với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo khi  
giải quyết phải khách quan, công minh, không vì nể nang, e sợ mà làm trái  
pháp luật.  
Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm tạo mọi  
điều kiện thuận lợi, không cản trở, phải cung cấp thông tin, tài liệu,… cần  
thiết để công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo để công tác giải quyết  
khiếu nại, tố cáo được thuận lợi.  
3. Nguyên tắc công khai  
Nguyên tắc công khai có quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc khách quan.  
Nếu thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ bảo đảm cho nguyên tắc khách quan.  
Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ: Công dân có thể bằng đơn, trực tiếp tới cơ  
quan có thẩm quyền để trình bày nội dung khiếu nại, tố cáo.  
Nguyên tắc này yêu cầu khi giải quyết khiếu nại cơ quan có thẩm  
quyền phải tổ chức cho người khiếu nại, người bị khiếu nại đối thoại, các  
quyết định giải quyết khiếu nại phải được công bố công khai. Đối với tố  
19  
cáo, nếu người tố cáo có yêu cầu thì cơ quan giải quyết tố cáo phải thông  
báo kết quả giải quyết cho người tố cáo biết.  
4. Nguyên tắc bình đẳng  
Đây là một nguyên tắc rất quan trọng trong khiếu nại, tố cáo và giải  
quyết khiếu nại tố cáo, bởi vì giữa các bên tham gia quan hệ khiếu nại, tố  
cáo thường có địa vị pháp lý khác nhau, thông thường một bên là công dân,  
tổ chức, một bên là cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ  
quan nhà nước. Nếu không đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia  
quan hệ khiếu nại, tố cáo thì việc người dân đi khiếu nại, tố cáo chỉ là "con  
kiến đi kiện củ khoai".  
Để đảm bảo nguyên tắc này pháp luật qui định các bên đều có quyền  
được biết, đọc, sao chụp, sao chép tài liệu, chứng cứ do bên kia thu thập,  
được yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ, quản lý  
thông tin, tài liệu liên quan tới nội dung khiếu nại cung cấp thông tin, tài  
liệu đó cho mình; được chứng minh, đưa ra các chứng cứ, lý giải, biện hộ  
cho mình, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo xem  
xét kỹ lưỡng mọi yêu cầu của mình, có thể tham gia vào mọi giai đoạn của  
thủ tục giải quyết tranh chấp. Chẳng hạn người khiếu nại, có nghĩa vụ trình  
bày về sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu một cách trung thực, thì người bị  
khiếu nại có quyền đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định hoặc  
việc làm bị khiếu nại.  
Khi giải quyết khiếu nại, tố cáo các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền  
cần nghiêm chỉnh chấp hành đồng bộ các nguyên tắc trên, nhằm giải quyết  
đúng đắn, khách quan các khiếu nại, tố cáo.  
IV. Ý NGHĨA, TÁC DỤNG CỦA CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU  
NẠI, TỐ CÁO  
Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được  
Hiến pháp ghi nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo là trách nhiệm là nghĩa  
vụ của các cơ quan Nhà nước.  
Khi có căn cứ cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm  
phạm; khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, công dân thực hiện quyền  
khiếu nại, tố cáo để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, bảo vệ lợi ích  
của Nhà nước, của cộng đồng. Khi đó thực chất công dân đã thực hiện  
20  
quyền dân chủ trực tiếp của mình trong đời sống xã hội; đã trực tiếp giúp cơ  
quan, công chức Nhà nước nhận biết, tự sửa chữa và khắc phục những  
khiếm khuyết của mình, đây cũng là điều kiện để nhân dân trực tiếp tham  
gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.  
Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo đã qui định trách nhiệm và thẩm quyền  
giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân thuộc về người đứng đầu cơ  
quan Nhà nước, trong đó nhấn mạnh vai trò, vị trí quan trọng của cơ quan  
hành chính và thanh tra Nhà nước.  
Khiếu nại, tố cáo của công dân bao gồm nhiều nội dung với nhiều lĩnh  
vực khác nhau của đời sống xã hội. Để giải quyết các khiếu nại, tố cáo, các  
cơ quan có thẩm quyền đã tích cực xem xét giải quyết theo qui định của  
pháp luật. Qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đã kịp thời  
minh oan và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp cho công dân, bảo đảm lợi  
ích nhà nước, xử lý nghiêm minh những người vi phạm. Đồng thời thông  
qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, nhiều cấp, nhiều ngành  
đã kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những sai phạm, yếu kém trong quản lý  
hành chính, quản lý kinh tế - xã hội, qua đó giúp Nhà nước kịp thời bổ sung  
sửa đổi các chế độ chính sách sát với thực tiễn cuộc sống, phát huy quyền  
dân chủ của nhân dân, giữ vững kỷ cương pháp luật, nâng cao hiệu lực quản  
lý Nhà nước, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.  
Trong tình hình hiện nay ở nước ta, công tác giải quyết khiếu nại, tố  
cáo của công dân đang được Nhà nước coi trọng, coi đây là một nhiệm vụ  
quan trọng và cấp bách, với tinh thần đẩy mạnh việc giải quyết khiếu nại, tố  
cáo, góp phần tích cực phát huy quyền dân chủ của nhân dân, phòng chống  
tệ tham nhũng. Để tiếp tục nâng cao chất lượng công tác giải quyết khiếu  
nại, tố cáo của công dân, Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam đang thực hiện chương trình cải cách nền hành chính Nhà nước  
nói chung và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại,  
tố cáo nói riêng. Tiếp tục chỉ đạo các cấp, các ngành rà soát các văn bản  
pháp luật, những qui định về thủ tục hành chính chưa phù hợp, gây phiền hà  
cho công dân trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và giải quyết  
khiếu nại, tố cáo để kịp thời sửa đổi bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật.  
Việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là một hình thức biểu hiện nền  
dân chủ, là điều kiện để nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã  
21  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 55 trang Thùy Anh 18240 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật khiếu nại, tố cáo (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_khieu_nai_to_cao_phan_1.pdf