Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG...  
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM  
VŨ HOÀNG ANH*  
Khi tranh chấp phát sinh từ hoạt động tiêu dùng xảy ra, vấn đề bảo vệ quyền lợi người  
tiêu dùng luôn khó khăn và phức tạp. Pháp luật Việt Nam đã quy định nhiều phương thức  
khác nhau để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Bài viết nghiên cứu những vấn đề cơ bản  
trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng phương thức tố tụng dân sự.  
Từ khóa: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm  
2010, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.  
Ngày nhận bài: 08/08/2020; Biên tập xong: 24/08/2020; Duyệt đăng: 15/01/2021  
When disputes arise from consumption activities, it is difficult to protect consumers’  
rights. Our legal frameworks have provided various ways to protect consumers’ rights. This  
article studies the foundamental issues in protecting consumers’ rights by civil procedure.  
Keywords: Protection of consumers’ rights, Law on Protection of Consumers’ rights  
2010, the 2015 Civil Procedure Code.  
1. Phân loại thủ tục bảo vệ quyền lợi người lợi người tiêu dùng. Ở Việt Nam, việc bảo  
tiêu dùng theo pháp luật tố tụng dân sự  
vệ quyền lợi người tiêu dùng đã được quy  
Để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu trong định ngay từ cổ luật2 và ngày càng được  
cuộc sống, con người luôn có nhu cầu giao hoàn thiện để đáp ứng các yêu cầu của hội  
kết và thiết lập các quan hệ dân sự. Khi các nhập quốc tế. Hiện nay, Nhà nước ta đã  
quan hệ dân sự được hình thành, việc xảy ra xây dựng nhiều biện pháp để bảo vệ quyền  
tranh chấp, mâu thuẫn là một yếu tố khách lợi người tiêu dùng như hòa giải, thương  
quan mang tính quy luật bởi con người lượng, trọng tài, Tòa án... Mỗi phương  
vốn là thực thể không hoàn hảo nên khi đặt thức đều có những ưu và nhược điểm khác  
chung vào cùng một mối quan hệ, vấn đề nhau nhưng có thể khẳng định, giải quyết  
nảy sinh tranh chấp là lẽ thường tình (dưới tranh chấp bằng Tòa án luôn được xem là  
quan điểm của Triết học và Phật giáo1). Theo phương thức hữu hiệu để bảo vệ quyền và  
đó, nhu cầu tiêu dùng có khả năng làm phát lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng trước  
sinh các tranh chấp dân sự, trong đó có tranh sự xâm phạm trái pháp luật của các tổ chức,  
chấp về bồi thường thiệt hại giữa người cá nhân sản xuất kinh doanh3.  
tiêu dùng và tổ chức, cá nhân sản xuất kinh  
Hiện nay, theo quy định của Bộ luật tố  
doanh. Tranh chấp này có thể hiểu là các mâu tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015, có hai thủ  
thuẫn, xung đột, bất đồng về quyền lợi giữa tục áp dụng giải quyết tranh chấp về bồi  
người tiêu dùng với cá nhân, tổ chức sản xuất thường thiệt hại để bảo vệ quyền lợi người  
kinh doanh về bù đắp tổn thất do sản phẩm tiêu dùng là thủ tục giải quyết vụ án thông  
gây ra. Khi người tiêu dùng bị xâm phạm các thường và thủ tục rút gọn (còn được hiểu là  
quyền lợi dân sự hợp pháp, họ có thể yêu cầu thủ tục đơn giản). Hai thủ tục này đều được  
Tòa án bảo vệ quyền lợi đó.  
sử dụng để giải quyết các tranh chấp, mâu  
Trong hệ thống pháp luật hiện đại, các  
quốc gia đã xây dựng nhiều phương thức  
và không ngừng nâng cao hiệu quả của  
các phương thức trong việc bảo vệ quyền  
* Thạc sĩ, Khoa Pháp luật dân sự, Trường Đại học  
Luật Hà Nội.  
2ꢀ Lương Văn Tuấn, Kinh nghiꢀm lập pháp từ Quốc triều  
hình luật với viꢀc hoàn thiꢀn pháp luật bảo vꢀ quyền lợi  
người tiêu dùng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số  
23/2013, tr. 15-19.  
1ꢀ  
Trần Anh Tuấn, Pháp luật tố tụng dân sự Viꢀt Nam  
trong tiến trình hội nhập quốc tế, Trường Đại học Kiểm  
sát Hà Nội, tại địa chỉ hꢁp://tks.edu.vn/thong-tin-  
khoa-hoc/chi-tiet/81/414 ngày truy cập 25/06/2017.  
3ꢀ Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Trường  
Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an Nhân dân, tr.197.  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 47  
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG...  
thuẫn, xung đột về quyền lợi dân sự hợp thủ tục rút gọn bảo vệ quyền lợi người tiêu  
pháp nhưng điều kiện áp dụng không giống dùng giữa BLTTDS năm 2015 và Luật Bảo  
nhau. Đa phần các vụ án sẽ được giải quyết vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 là:  
bởi thủ tục thông thường, chỉ có một số ít vụ BLTTDS năm 2015 có thêm các điều kiện  
án đáp ứng quy định của Điều 317 BLTTDS khác so với Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm  
năm 2015 mới được áp dụng theo thủ tục rút 2010 như: “Đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ;  
gọn. BLTTDS năm 2015 xây dựng thủ tục rút tài liꢀu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để  
gọn với mục đích giản lược quy trình tố tụng giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập  
và rút ngắn thời gian giải quyết vụ án dân sự, tài liꢀu, chứng cứ; các đương sự đều có địa chỉ nơi  
giúp đương sự và Tòa án giảm bớt công sức, cư trꢁ, trụ sở rõ ràng; vụ án không có đương sự ở  
thời gian, chi phí trong quá trình giải quyết nước ngoài, tài sản ở nước ngoài” và không có  
vụ án. Tuy nhiên, trường hợp nào được áp điều kiện “giá trị giao dịch dưới 100 triꢀu đồng”.  
dụng thủ tục rút gọn để giải quyết các tranh Điểm không tương thích này dẫn đến nhiều ý  
chấp liên quan đến người tiêu dùng là vấn kiến khác nhau trong việc xác định điều kiện  
đề cần phải trao đổi.  
Hiện nay, quy định về việc áp dụng chấp nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.  
thủ tục rút gọn trong Luật Bảo vệ quyền Ý kiến thứ nhất cho rằng, điều kiện áp  
sử dụng thủ tục rút gọn để giải quyết tranh  
lợi người tiêu dùng năm 2010 và BLTTDS dụng thủ tục rút gọn được xác định là việc kết  
năm 2015 để giải quyết các vụ án liên quan hợp giữa hai quy định tại Điều 317 BLTTDS  
đến người tiêu dùng có nhiều điểm không năm 2015 và Điều 41 Luật Bảo vệ quyền lợi  
tương thích. Luật Bảo vệ quyền lợi người người tiêu dùng năm 2010. Nếu xác định  
tiêu dùng năm 2010 tại Điều 41 đưa ra ba điều kiện theo ý kiến này thì khả năng áp  
điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn bao gồm: dụng thủ tục rút gọn đối với các vụ án bảo vệ  
- Cá nhân là người tiêu dùng khởi kiện; quyền lợi người tiêu dùng trở nên khó khăn  
tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa, hơn. Tư duy áp dụng pháp luật theo ý kiến  
dịch vụ cho người tiêu dùng bị khởi kiện;  
này khó có thể bảo vệ tốt quyền lợi của người  
tiêu dùng bằng phương thức tố tụng dân sự  
- Vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng;  
- Giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng. bởi nó không có tính khả thi và gây nhiều bất  
Trong khi đó, BLTTDS năm 2015 tại lợi cho người tiêu dùng trong quá trình bảo  
Điều 317 lại đưa ra các điều kiện áp dụng vệ quyền lợi tại Tòa án. Thêm nữa, việc áp  
thủ tục rút gọn như sau:  
dụng hiệu lực các văn bản pháp luật theo ý  
- Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ kiến này là không phù hợp với quy định của  
pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận Luật ban hành văn bản quy phạm năm 2015  
nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo (sửa đổi bổ sung năm 2020).  
đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa  
án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;  
Ý kiến thứ hai cho rằng, vì Luật bảo vệ  
quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 là luật  
- Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư chuyên ngành nên việc áp dụng thủ tục rút  
trú, trụ sở rõ ràng;  
gọn phải tuân theo quy định của luật này.  
- Không có đương sự cư trú ở nước Việc áp dụng pháp luật theo ý kiến này sẽ  
ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, khắc phục được những yếu điểm của ý kiến  
trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và thứ nhất. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn  
đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị với những vụ án liên quan đến người tiêu  
Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc dùng được rộng mở hơn. Tuy nhiên, hiện  
các đương sự đã xuất trình được chứng cứ nay cũng chưa có hướng dẫn về ba điều kiện  
về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có được quy định tại Điều 41. Câu hỏi đặt ra là  
thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản. hiểu thế nào là vụ án có tính chất đơn giản,  
So sánh hai quy định trên, có thể thấy chứng cứ đã rõ ràng? Và mức ngạch 100  
điểm khác nhau cơ bản trong việc áp dụng triệu đồng được đưa ra chưa đủ sự thuyết  
48 Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
VŨ HOÀNG ANH  
phục (mức ngạch trên căn cứ vào cơ sở nào, gọn để giải quyết các tranh chấp liên quan  
sự thay đổi về điều kiện kinh tế có làm ảnh đến việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.  
hưởng đến mức ngạch không?)4. Ngoài ra, ý  
2. Thẩm quyền của Tòa án trong giải  
kiến cho rằng khi có hai văn bản pháp luật quyết vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi  
cùng quy định về một vấn đề nhưng có người tiêu dùng  
nội dung khác nhau thì phải áp dụng pháp  
luật chuyên ngành chỉ là việc ngầm hiểu và  
không có cơ sở pháp lý cụ thể được ghi nhận  
trong Luật ban hành văn bản quy phạm  
pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm  
2020) hay trong BLTTDS năm 2015 và Luật  
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.  
Ý kiến thứ ba cho rằng, việc áp dụng thủ  
tục rút gọn phải tuân theo BLTTDS năm  
2015 vì Điều 156 Luật ban hành văn bản  
quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ  
sung năm 2020) đưa ra nguyên tắc áp dụng  
là “Trong trường hợp các văn bản quy phạm  
pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy  
định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng  
quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban  
hành sau”. Vì BLTTDS năm 2015 ban hành  
sau Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010  
nên các quy định về thủ tục rút gọn phải  
tuân theo BLTTDS năm 2015. Tác giả cho  
rằng theo quy định của pháp luật hiện hành,  
nếu xét về tính hợp pháp thì ý kiến thứ ba  
là có cơ sở hơn cả. Tuy nhiên, việc áp dụng  
các điều kiện chung của thủ tục rút gọn theo  
quy định của BLTTDS năm 2015 với các vụ  
án liên quan đến người tiêu dùng thì rất ít  
các vụ án có thể được áp dụng thủ tục này.  
Thực tế, quy định về điều kiện áp dụng thủ  
tục rút gọn của Điều 317 BLTTDS năm 2015  
khắt khe hơn nhiều so với điều kiện áp dụng  
thủ tục đơn giản để bảo vệ quyền lợi người  
tiêu dùng theo Điều 41 Luật bảo vệ quyền lợi  
người tiêu dùng năm 2010.  
Thẩm quyền dân sự của Tòa án trong  
việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là khả  
năng mà Tòa án được xem xét, giải quyết và  
ra phán quyết về tranh chấp giữa người tiêu  
dùng và cơ quan, cá nhân sản xuất, kinh  
doanh liên quan đến việc bồi thường thiệt  
hại. Thẩm quyền dân sự của Tòa án được  
hình thành trên ba trụ cột là thẩm quyền  
theo loại việc, thẩm quyền theo cấp và thẩm  
quyền theo lãnh thổ. Cụ thể:  
- Về thẩm quyền theo loại viꢀc: Quan hệ  
tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa  
người tiêu dùng và cá nhân, cơ quan trực  
tiếp sản xuất sản phẩm có khuyết tật gây  
thiệt hại được quy định thuộc thẩm quyền  
giải quyết của Tòa án theo khoản 6 Điều 26  
BLTTDS năm 2015. Tranh chấp này là một  
trong các loại tranh chấp bồi thường thiệt  
hại ngoài hợp đồng.  
- Về thẩm quyền theo cấp: Cần dựa theo  
tính chất đơn giản hay phức tạp của từng  
vụ án liên quan đến người tiêu dùng để  
phân định thẩm quyền sơ thẩm giữa Tòa  
án cấp tỉnh và cấp huyện. Thông thường,  
những vụ án có tính chất đơn giản sẽ do  
Tòa án cấp huyện giải quyết, những vụ án  
có tính chất phức tạp do Tòa án cấp tỉnh  
giải quyết. Theo quy định của Điều 35 và  
Điều 37 BLTTDS năm 2015, khi những vụ  
án bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng  
xuất hiện các căn cứ như đương sự ở nước  
ngoài, tài sản ở nước ngoài hoặc cần ủy thác  
tư pháp cho cơ quan ở nước ngoài sẽ do Tòa  
án cấp tỉnh giải quyết. Ngược lại, những vụ  
án không có các căn cứ trên sẽ thuộc thẩm  
quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện.  
- Về thẩm quyền theo lãnh thổ: Thẩm quyền  
theo lãnh thổ trong việc giải quyết tranh chấp  
liên quan đến người tiêu dùng được xác định  
theo nguyên tắc như sau5:  
Nhìn chung, trong ba ý kiến trên, ý kiến  
thứ nhất vừa không hợp pháp vừa không  
hợp lý; ý kiến thức hai hợp lý nhưng không  
hợp pháp; còn ý kiến thứ ba hợp pháp  
nhưng không hợp lý. Do đó, cần có văn bản  
hướng dẫn điều kiện áp dụng thủ tục rút  
4ꢀ Nguyễn Trọng Điệp, Tố tụng rꢁt gọn trong giải quyết  
tranh chấp tiêu dùng, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc 5ꢀ Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ được quy  
gia Hà Nội, số 2/2015, tr.42.  
định tại Điều 39 và 40 BLTTDS năm 2015.  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 49  
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG...  
+ Thứ nhất, thẩm quyền theo lãnh thổ  
+ Thứ ba, thẩm quyền theo lãnh thổ  
được xác định theo sự thỏa thuận của người được xác định theo nơi cư trú, làm việc  
tiêu dùng và bên sản xuất sản phẩm có  
khuyết tật (điểm b khoản 1 Điều 35 BLTTDS  
năm 2015). Việc xây dựng các quy định tố  
tụng về thẩm quyền dựa trên tính chất của  
quan hệ dân sự nhằm thể hiện sự tôn trọng  
tuyệt đối quyền tự định đoạt và quyết định  
của các chủ thể có lợi ích trực tiếp từ việc  
giải quyết vụ án. Theo đó, khi tranh chấp  
xảy ra giữa người tiêu dùng và bên sản xuất  
sản phẩm thì hai bên hoàn toàn có quyền  
thỏa thuận Tòa án có thẩm quyền giải quyết  
để thuận lợi với việc tham gia tố tụng của  
cả hai phía. Tuy nhiên, các bên không được  
quyền thỏa thuận thẩm quyền giải quyết  
của một Tòa án bất kì mà thỏa thuận này  
phải tuân theo quy định của pháp luật.  
Điều kiện để thỏa thuận được chấp nhận  
bao gồm: Một là, các bên chỉ được thỏa  
thuận Tòa án nơi cư trú, làm việc của người  
tiêu dùng có thẩm quyền giải quyết; hai là,  
thỏa thuận phải đúng cấp (nếu vụ án không  
có căn cứ thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp  
tỉnh thì các bên không được thỏa thuận Tòa  
án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết).  
+ Thứ hai, thẩm quyền theo lãnh thổ  
được xác định theo sự lựa chọn của người  
tiêu dùng. Để tạo điều kiện thuận lợi trong  
việc tham gia tố tụng của người tiêu dùng,  
pháp luật quy định trong những trường  
hợp hợp lý cho phép người tiêu dùng lựa  
chọn Tòa án có thẩm quyền. Ví dụ: Nếu  
tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài  
hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu  
Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở  
hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;  
nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở  
của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu  
Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ  
sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải  
quyết. Xét về nhiều góc độ, người tiêu dùng  
được coi là chủ thể yếu thế hơn trong quan  
hệ tranh chấp so với bên sản xuất hàng hóa,  
do đó việc cho phép người tiêu dùng với tư  
cách là nguyên đơn được lựa chọn Tòa án có  
thẩm quyền giải quyết là phù hợp với thực  
tiễn.  
của bên sản xuất sản phẩm khuyết tật là cá  
nhân hoặc nơi có trụ sở nếu bên sản xuất  
sản phẩm có khuyết tật là cơ quan. Đây là  
nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết  
của Tòa án liên quan đến bảo vệ quyền lợi  
người tiêu dùng nếu vụ án không có thỏa  
thuận thẩm quyền hoặc người tiêu dùng  
không lựa chọn Tòa án. Thực tế, nguyên tắc  
xác định thẩm quyền này sẽ hữu hiệu đối  
với vụ án có nhiều người tiêu dùng cùng  
khởi kiện và họ không thống nhất được việc  
thỏa thuận hoặc lựa chọn Tòa án có thẩm  
quyền.  
3. Nghĩa vụ chứng minh trong vụ án về  
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng  
Chứng minh trong tố tụng dân sự là  
hoạt động xác định sự thật, làm rõ các tình  
tiết, sự kiện trong vụ án dân sự. Chứng  
minh được coi như “linh hồn” của tất cả các  
vụ án dân sự, bởi nếu không chứng minh  
được (nghĩa là không xác định được sự thật  
trong vụ án) thì Tòa án không thể ra phán  
quyết đúng đắn và công bằng. Nếu trong tố  
tụng hình sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc  
về các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền  
thì trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng  
minh thuộc về đương sự. Việc xác định ai  
là chủ thể có nghĩa vụ chứng minh chủ yếu  
trong tố tụng đều dựa vào một nguyên lý  
chung là “Ai đưa ra yêu cầu, người đó phải  
chứng minh”. Trong tố tụng dân sự, đương  
sự chính là chủ thể của quan hệ pháp luật  
có tranh chấp, là người đưa ra yêu cầu nên  
phải có nghĩa vụ chứng minh6. Theo đó,  
người tiêu dùng hoặc đại diện hợp pháp  
của người tiêu dùng là chủ thể có “gánh  
nặng” chứng minh chủ yếu trong vụ án yêu  
cầu bồi thường thiệt hại do sản phẩm có  
khuyết tật gây ra.  
Hoạt động chứng minh của người tiêu  
dùng hoặc người đại diện của họ bản chất  
là việc thuyết phục Tòa án bảo vệ quyền lợi  
6ꢀ Vũ Hoàng Anh, Quyền của nguyên đơn trong tố tụng  
dân sự Viꢀt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường  
Đại học Luật Hà Nội, 2017, tr. 28.  
50 Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
VŨ HOÀNG ANH  
và chấp nhận yêu cầu. Người tiêu dùng phải phạm đó với thiệt hại11.  
làm rõ các tình tiết, sự kiện trong vụ việc dân  
sự để Tòa án thấy rằng thực sự tồn tại một  
quyền lợi hợp pháp đã bị xâm phạm (tài sản  
hoặc sức khỏe bị thiệt hại do sản phẩm có  
khuyết tật gây ra). Điều này đã được Giáo sư  
Trần Văn Liêm phát biểu sâu sắc: “Một quyền  
lợi sẽ không có giá trị nào cả, nếu người ta không  
thể chứng minh được sự hiꢀn hữu của nó”7. Tuy  
nhiên, nếu quy định mọi gánh nặng chứng  
minh đều đặt ở người tiêu dùng thì có hợp lý  
hay không trong khi người tiêu dùng được  
coi là chủ thể yếu thế hơn trong vụ án. Trong  
quá trình xây dựng pháp luật, xoay quanh  
vấn đề này còn có nhiều trao đổi khác nhau.  
Thứ nhất, các trao đổi xoay quanh học  
thuyết cổ điển. Học thuyết này thường gắn  
với việc xem xét hành vi. Nếu một hành  
vi của một chủ thể là không hợp lý (ngay  
cả khi đó là sự bất cẩn) thì người đó phải  
chịu trách nhiệm do hành vi của mình gây  
ra. Nếu hành vi của một người là hợp lý thì  
người đó sẽ không phải chịu trách nhiệm,  
kể cả khi hành vi đó dẫn đến thiệt hại. Luận  
giải cổ điển cho rằng căn bản của trách  
nhiệm dân sự ngoài hợp đồng dựa trên ý  
niệm lỗi của người gây thiệt hại8. Nói cách  
khác, “cần phải có một sự quá thất (có lỗi)  
mới có trách nhiệm dân sự”9. Nghĩa là,  
người bị thiệt hại muốn được bồi thường  
thì phải chứng minh lỗi của người gây thiệt  
hại10. Để có cơ sở cho việc khởi kiện dựa trên  
sự bất cẩn từ phía người sản xuất, người bị  
thiệt hại phải chứng minh được: (1) Nghĩa  
vụ của người sản xuất; (2) Sự vi phạm nghĩa  
vụ đó; (3) Thiệt hại; (4) Mối liên hệ giữa vi  
Thứ hai, về học thuyết trách nhiệm  
nghiêm ngặt: Học thuyết này không quan  
tâm đến hành vi của các bên mà chỉ quan  
tâm đến sản phẩm đã gây thiệt hại cho  
người tiêu dùng. Người tiêu dùng không bị  
buộc phải chứng minh hành vi của nhà sản  
xuất khi thiết kế sản phẩm là không hợp lý  
mà chỉ cần chỉ ra rằng sản phẩm có khiếm  
khuyết12. Trong trường hợp này, người tiêu  
dùng chỉ cần chứng minh ba yếu tố: (1) Có  
thiệt hại thực tế xảy ra; (2) Có hành vi trái  
pháp luật gây thiệt hại; (3) Có mối quan  
hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại trái  
luật và thiệt hại thực tế xảy ra. Có thể thấy,  
học thuyết này bảo vệ hiệu quả hơn quyền  
lợi của người tiêu dùng bởi trong trường  
hợp thiệt hại xảy ra mà không có ai chứng  
kiến hoặc xảy ra mà không do lỗi của ai,  
nếu không chứng minh được bên sản xuất  
có lỗi người tiêu dùng vẫn có khả năng  
được bồi thường. Khiên cưỡng áp dụng  
chặt chẽ học thuyết cổ điển là gián tiếp  
bác bỏ quyền bồi thường của nạn nhân13.  
Trong thực tiễn, vấn đề chứng minh lỗi bất  
cẩn của nhà sản xuất là rất khó. Chính vì  
thế, không phải trường hợp nào người tiêu  
dùng cũng thành công trong việc chứng  
minh sự tồn tại của lỗi từ nhà sản xuất mặc  
dù có thể chứng minh được sự tồn tại của  
khuyết tật và mối quan hệ nhân quả giữa  
khuyết tật và thiệt hại xảy ra14.  
Hiện nay, pháp luật của rất nhiều quốc  
gia đã áp dụng học thuyết trách nhiệm  
nghiêm ngặt để bảo vệ lợi ích tốt nhất cho  
người tiêu dùng. Đơn cử, pháp luật về  
người tiêu dùng ở Thái Lan quy định: Về  
7ꢀ Trần Văn Liêm, Dân Luật, Cử nhân Luật khoa năm thứ  
nhất – Dân luật nhập môn thể nhân năm 1974, tr.190.  
8ꢀ Khuất Quang Phát – Ngô Thu Trang, Lí luận về chế định  
trách nhiꢀm sản phẩm trong pháp luật bảo vꢀ quyền lợi người  
tiêu dùng, Tạp chí Luật học số 8/2016, tr.70.  
11ꢀ Lê Hồng Hạnh, Trách nhiꢀm sản phẩm và viꢀc bảo vꢀ  
quyền lợi người tiêu dùng trong pháp luật Viꢀt Nam, Kỉ  
yếu Hội thảo “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Từ  
hai góc nhìn Á – Âu”, Nhà pháp luật Việt Pháp – Cục  
quản lý cạnh tranh, 2010, tr.75.  
9ꢀ Tác giả Vũ Văn Mẫu trong công trình “Việt Nam  
dân luật lược khảo: Quyền II: Nghĩa vụ và khế ước”  
từng nhận định, nói tới trách nhiệm dân sự phải hội  
12ꢀ Lê Hồng Hạnh, tlđd, tr.75.  
tụ ba điều kiện “Sự tổn hại, sự quá thất và mối tương 13ꢀ Khuất Quang Phát – Ngô Thu Trang, Tlđd, tr.71.  
quan nhân quả giữa sự quá thất và sự tổn hại”.  
14ꢀ Lê Hồng Hạnh – Trương Hồng Quang, Các nguyên  
10ꢀ Nguyễn Văn Hợi, Trách nhiꢀm bồi thường thiꢀt hại do tài lý cơ bản của chế định trách nhiꢀm sản phẩm tại Hoa Kỳ  
sản gây ra theo pháp luật dân sự Viꢀt Nam, Luận án Tiến sĩ và một số quốc gia trên thế giới, Tạp chí Nhà nước và  
luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2017, tr. 23.  
pháp luật số 2/2010, tr 41, 42.  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 51  
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG...  
trách nhiệm chứng minh, để yêu cầu một tiếp sản xuất sản phẩm có khuyết tật.  
người kinh doanh phải chịu trách nhiệm,  
người bị thiệt hại hay đại diện của người  
đó phải chứng minh rằng người bị thiệt hại  
đã phải chịu mất mát hay thiệt hại do sản  
phẩm đó, và người đó đã tuân thủ đúng  
các chỉ dẫn về sử dụng, bảo quản sản phẩm  
trong điều kiện bình thường, nhưng không  
cần phải chứng minh rằng nhà kinh doanh  
đó đã có lỗi gây ra mất mát hay thiệt hại15.  
Kế thừa những điểm tích cực của học  
thuyết trách nhiệm nghiêm ngặt pháp luật,  
Việt Nam đã có nhiều điểm tiến bộ trong  
việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Cụ  
thể, Điều 42 Luật bảo vệ quyền lợi người  
tiêu dùng năm 2010 có quy định: “Người tiêu  
dùng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng  
minh trong vụ án dân sự để bảo vꢀ quyền, lợi  
ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp  
luật về tố tụng dân sự, trừ viꢀc chứng minh lỗi  
của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch  
vụ. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch  
vụ có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi  
gây ra thiꢀt hại.” Để đảm bảo sự tương thích  
với Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,  
điểm a khoản 1 Điều 91 BLTTDS năm 2015  
đã ghi nhận nội dung tương tự quy định của  
Điều 42, đồng thời bổ sung thêm quy định:  
“Tổ chức xã hội tham gia bảo vꢀ quyền lợi người  
tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của  
tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ  
theo quy định của Luật bảo vꢀ quyền lợi người  
tiêu dùng”. Như vậy, pháp luật hiện hành  
đã có một bước tiến mới trong việc bảo vệ  
quyền lợi của người tiêu dùng. Người tiêu  
dùng được giảm bớt gánh nặng chứng minh  
trong quá trình giải quyết vụ án. Để được bồi  
thường thiệt hại, người tiêu dùng hoặc đại 17ꢀ  
diện của họ chỉ cần chứng minh được ba yếu  
tố, đó là: (1) Có thiệt hại thực tế xảy ra; (2) Có  
hành vi trái pháp luật gây thiệt hại; (3) Có  
mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt  
hại trái luật và thiệt hại thực tế xảy ra. Nghĩa  
vụ chứng minh lỗi được đảo cho bên trực  
Trong trường hợp này, quy định về đảo  
nghĩa vụ chứng minh hay chuyển nghĩa vụ  
chứng minh cho bên sản xuất sản phẩm là  
một sự bù đắp cho vị thế chứng minh thiệt  
thòi của người tiêu dùng16, bởi trong cách  
nhìn của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng,  
người tiêu dùng được coi là đối tượng “yếu  
thế” trong tương quan với các chủ thể kinh  
doanh trên thị trường17. Quy định này đã tạo  
ra vị thế công bằng tương đối giữa người tiêu  
dùng và bên sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên,  
cần phải khẳng định rằng, người tiêu dùng  
chỉ được loại trừ nghĩa vụ chứng minh lỗi của  
bên đã sản xuất sản phẩm có khuyết tật. Để  
được bồi thường thiệt hại, người tiêu dùng  
vẫn phải chứng minh được các yếu tố khác  
như đã phân tích ở trên. Không nên hiểu rằng  
người tiêu dùng được loại trừ toàn bộ nghĩa  
vụ chứng minh. Nói như PGS.TS. Nguyễn  
Như Phát: “Nếu như giới tiêu dùng và giới kinh  
doanh có xung đột lợi ích với nhau thì sự xung đột  
đó phải được hiểu là “mâu thuẫn biꢀn chứng”, cần  
tính đến lợi ích của cả hai bên. Không thể bảo vꢀ  
người tiêu dùng dẫn đến triꢀt tiêu hay hạn chế kinh  
doanh trên phạm vi xã hội”18.  
4. Quyền khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ  
quyền lợi người tiêu dùng khi sản phẩm  
có khuyết tật  
4.1. Quyền khởi kiện của các chủ thể có  
quyền lợi bị xâm phạm trong hoạt động  
tiêu dùng  
Quyền khởi kiện là quyền năng pháp  
luật quy định cho người bị xâm phạm hoặc  
tranh chấp có thể sử dụng để yêu cầu cơ  
16ꢀ Ngô Vĩnh Bạch Dương (2015), “Nghĩa vụ chứng minh  
trong tố tụng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (07), tr. 46.  
Nguyễn Văn Cương, Nhận diꢀn thiết chế thực thi  
pháp luật bảo vꢀ quyền lợi người tiêu dùng và vai trò của  
những thiết chế này trong viꢀc bảo vꢀ người tiêu dùng;  
Hội thảo khoa học “Thực trạng và giải pháp tăng  
cường năng lực các thiết chế thực thi pháp luật bảo  
vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam, Trường  
Đại học Luật Hà Nội, 2013, tr.1.  
18ꢀ Nguyễn Như Phát, Luật bảo vꢀ người tiêu dùng trong hꢀ  
thống pháp luật ở Viꢀt Nam, Kỉ yếu Hội thảo “Bảo vệ quyền  
lợi người tiêu dùng: Từ hai góc nhìn Á – Âu”, Nhà pháp  
luật Việt Pháp – Cục quản lý cạnh tranh, 2010, tr.11,12.  
15ꢀ Trần Thị Quang Hồng - Trương Hồng Quang, Chế  
định trách nhiꢀm sản phẩm của một số quốc gia Asean,  
Tạp chí Luật học số 07/2010, tr. 53.  
52 Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
VŨ HOÀNG ANH  
quan công lý bảo vệ quyền lợi hợp pháp của thì tất cả những người tiêu dùng cùng khởi  
mình. Trong pháp luật dân sự, quyền khởi  
kiện được coi như một “vũ khí” hữu hiệu  
sẵn có mà Nhà nước trao cho các chủ thể để  
khi cần thiết, họ có thể sử dụng để bảo vệ  
lợi ích của chính mình. Trong lĩnh vực tiêu  
dùng, người tiêu dùng bị thiệt hại (sức khỏe  
hoặc tài sản) do sản phẩm có khuyết tật gây  
ra có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh  
chấp buộc bên cung ứng sản phẩm phải  
bồi thường thiệt hại cho mình. Điều 188  
BLTTDS năm 2015 quy định một cá nhân có  
thể khởi kiện một hoặc nhiều cá nhân, cơ  
quan, tổ chức khác về một hoặc nhiều quan  
hệ pháp luật có liên quan với nhau; hoặc  
nhiều cá nhân có thể khởi kiện cùng một cá  
nhân, cơ quan, tổ chức về một hoặc nhiều  
quan hệ pháp luật có liên quan với nhau.  
Theo quy định này, nếu người tiêu dùng  
trực tiếp khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của  
mình có thể khởi kiện theo hai hình thức là  
khởi kiện độc lập hoặc khởi kiện tập thể.  
Tuy nhiên, xét theo tính chất của quan hệ  
tiêu dùng, việc lựa chọn hình thức khởi kiện  
tập thể sẽ tạo ra nhiều lợi thế cho người tiêu  
dùng. Có thể kể đến một vài lợi thế như:  
Một là, người tiêu dùng sẽ có nhiều cơ hội  
hơn để được bồi thường các thiệt hại do  
hàng hóa có khuyết tật gây ra. Hai là, dưới  
sức ép bị kiện, các nhà sản xuất sản phẩm sẽ  
tuân thủ tốt hơn các quy định của pháp luật  
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng19. Ba là,  
khi sử dụng sức mạnh tập thể, việc thực hiện  
nghĩa vụ chứng minh của người tiêu dùng  
sẽ có nhiều sự thuận lợi và sự thuyết phục  
hơn. Bốn là, giúp xác định đầy đủ thiệt hại  
mà nhiều người tiêu dùng phải gánh chịu,  
từ đó vụ án có thể được xem xét toàn diện  
và triệt để hơn20. Nếu khởi kiện độc lập thì  
người tiêu dùng được xác định là nguyên  
đơn, còn khởi kiện theo hình thức tập thể  
kiện được xác định là các đồng nguyên đơn.  
Tham khảo quy định pháp luật nước  
ngoài, có thể thấy hiện nay ở các nước có  
tồn tại một vài hình thức khởi kiện tập thể  
trong lĩnh vực tiêu dùng, đó là:  
- Khởi kiện tập thể lựa chọn không tham  
gia. Đây là hình thức khởi kiện phổ biến ở  
Mỹ (được gọi tắt là kiện tập thể kiểu Mỹ).  
Hình thức này cho phép khi có hành vi  
khởi kiện bởi một hoặc một nhóm người  
tiêu dùng thì tất cả những người bị thiệt hại  
hoặc ảnh hưởng từ hành vi vi phạm pháp  
luật đương nhiên trở thành nguyên đơn  
trong vụ án đó, trừ khi họ từ chối tham gia  
vụ kiện. Phán quyết của Tòa án sẽ có hiệu  
lực với tất cả những người bị thiệt hại dù họ  
không phải người khởi kiện.  
-Khởikiệntậpthểlựachọnthamgia. Hình  
thức này cho phép một nhóm nguyên đơn sẽ  
cùng khởi kiện hoặc ủy quyền cho một người  
đại diện khởi kiện. Phán quyết của Tòa án chỉ  
có hiệu lực với các nguyên đơn trong vụ kiện  
(hình thức này được sử dụng phổ biến ở các  
nước như Anh, Pháp, Ý, Nhật)21.  
- Khởi kiện theo nhóm là hình thức  
một nhóm nguyên đơn cùng liên kết khởi  
kiện những hành vi vi phạm có liên quan  
với nhau. Hình thức này khác khởi kiện  
lựa chọn tham gia ở chỗ, các nguyên đơn  
chỉ liên kết theo nhóm để khởi kiện và yêu  
cầu Tòa án xác định hành vi vi phạm, còn  
những vấn đề khác như bồi thường có thể  
khởi kiện thành những vụ án riêng22.  
Để xây dựng một biện pháp khởi kiện  
tối ưu trong tranh chấp liên quan đến người  
tiêu dùng là rất khó. Ba hình thức khởi kiện  
trên đều có những ưu và nhược điểm, đó là:  
- Đối với hình thức khởi kiện tập thể  
lựa chọn không tham gia, ưu điểm của hình  
thức này là Tòa án không phải giải quyết  
nhiều lần, những người tiêu dùng không  
trực tiếp tham gia vào quá trình tố tụng vẫn  
được thừa hưởng giá trị từ phán quyết; tuy  
nhiên nhược điểm là do hiệu lực của phán  
19ꢀ Quách Thúy Quỳnh, Bảo vꢀ quyền lợi người tiêu  
dùng bằng các vụ kiꢀn tập thể - Kinh nghiꢀm nước ngoài  
và các gợi ý hoàn thiꢀn pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu  
lập pháp, số 16/2013, tr.54.  
20ꢀ Nguyễn Thị Thư, Hoàn thiꢀn pháp luật về bảo vꢀ  
quyền lợi người tiêu dùng ở Viꢀt Nam hiꢀn nay, Tạp chí 21ꢀ Quách Thúy Quỳnh, Tlđd, tr.55  
Nhà nước và pháp luật, số 08/2009, tr.41.  
22ꢀ Quách Thúy Quỳnh, Tlđd, tr.56.  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 53  
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG...  
quyết có giá trị với cả người tiêu dùng không ghi nhận: Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ  
tham gia tố tụng nên trong nhiều trường  
hợp, phán quyết sẽ vi phạm đến quyền lợi  
của người tiêu dùng bởi họ không biết về sự  
tồn tại của vụ án nhưng vô hình vẫn tham  
gia vụ án một cách gián tiếp và phải chịu  
giá trị ràng buộc của phán quyết đó. Ngoài  
ra, mức độ thiệt hại của mỗi người là khác  
nhau, nếu quy định một phán quyết chung  
áp dụng cho nhiều người tiêu dùng là khó  
có thể đạt được sự thuyết phục.  
- Đối với hình thức khởi kiện tập thể  
lựa chọn tham gia, ưu điểm là phán quyết  
có tính rõ ràng với những người tham gia  
nhưng nhược điểm là hiệu lực của phán  
quyết chỉ có giá trị với những người này,  
với những người tiêu dùng khác không biết  
về vụ án, nếu muốn được bồi thường họ  
phải khởi kiện các vụ án khác.  
quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại  
diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ  
quyền lợi người tiêu dùng. Trong trường  
hợp này, mặc dù tổ chức tham gia bảo vệ  
quyền lợi người tiêu dùng là chủ thể khởi  
kiện nhưng không được xác định tư cách  
là nguyên đơn do không được giả thiết có  
quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm (Điều  
68 BLTTDS năm 2015); ở đây, họ được xác  
định là người đại diện theo pháp luật của  
nguyên đơn, còn nguyên đơn trong vụ án  
chính là những người tiêu dùng. Hiệu lực  
của phán quyết trong trường hợp này chỉ có  
giá trị đối với những người được đại diện  
theo bản án, quyết định của Tòa án.  
Thứ hai, quyền khởi kiꢀn của chủ thể không  
có quyền lợi với tư cách là nguyên đơn  
- Đối với hình thức khởi kiện theo nhóm,  
Tòa án sẽ phải mất nhiều công sức hơn để  
giải quyết vấn đề bồi thường cho từng người  
tiêu dùng do vụ án có tính chất tập thể chỉ  
hướng tới mục đích chung là xác định hành  
vi xâm phạm quyền lợi của bên sản xuất sản  
phẩm có khuyết tật. Hình thức khởi kiện tập  
thể trong lĩnh vực tiêu dùng ở Việt Nam hiện  
nay có điểm chung với hình thức khởi kiện  
tậpthểlựachọnthamgia. HiệnởViệtNamcó  
rất ít tài liệu nghiên cứu về khởi kiện tập thể  
của người tiêu dùng khi sản phẩm có khuyết  
tật. Để hoàn thiện hơn về hình thức này, cần  
phải có thêm nhiều nghiên cứu chuyên sâu  
và tổ chức trao đổi học thuật với các chuyên  
gia nước ngoài trong lĩnh vực này.  
Về nguyên tắc, nguyên đơn phải là chủ  
thể được giả thiết có quyền lợi hợp pháp bị  
xâm phạm. Tuy nhiên, pháp luật thực định  
có quy định một ngoại lệ, đó là cơ quan, tổ  
chức trong phạm vi mình quản lý nếu khởi  
kiện để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích  
công cộng cũng được xác định là nguyên  
đơn trong vụ án dân sự. Theo quy định tại  
Điều 187 BLTTDS năm 2015: Tổ chức xã hội  
tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng  
có quyền tự mình khởi kiện vì lợi ích công  
cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền  
lợi người tiêu dùng. Đồng thời, Điều 46  
Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 cũng  
có nội dung: “Tiền bồi thường thiꢀt hại trong  
vụ án dân sự về bảo vꢀ quyền lợi người tiêu  
dùng do tổ chức xã hội tham gia bảo vꢀ quyền lợi  
người tiêu dùng khởi kiꢀn vì lợi ích công cộng  
được thực hiꢀn theo bản án, quyết định của Tòa  
án”. Ở trường hợp này, trong vụ án dân sự,  
tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi  
người tiêu dùng được xác định là nguyên  
đơn trong vụ án dân sự. Tuy nhiên, trong  
trường hợp này pháp luật chưa có hướng  
dẫn về nội dung và thủ tục bảo vệ lợi ích  
công cộng của Hiệp hội bảo vệ quyền lợi  
4.2. Quyền khởi kiện của các chủ thể  
không có quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm  
trong hoạt động tiêu dùng  
Thứ nhất, quyền khởi kiꢀn của chủ thể không  
có quyền lợi với tư cách là người đại diꢀn theo  
pháp luật của người tiêu dùng  
Người đại diện theo pháp luật của  
người tiêu dùng trong tố tụng dân sự là  
người “thay mặt” người tiêu dùng để thực  
hiện quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải  
quyết tranh chấp tại Tòa án. Điều 28 Luật  
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010  
và khoản 3 Điều 187 BLTTDS năm 2015 có của người tiêu dùng./.  
54 Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
pdf 8 trang Thùy Anh 13940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_ve_quyen_loi_nguoi_tieu_dung_theo_phap_luat_to_tung_dan.pdf