Giáo trình Luật hình sự (Phần 1)

MỤC LỤC  
Trang  
13  
Lời nói đầu  
Mục lục  
Chương 1: KHÁI NIỆM, NHIỆM VỤ VÀ CÁC NGUYÊN TẮC  
CƠ BẢN CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM  
1. Khái niệm luật hình sự  
13  
13  
13  
14  
14  
15  
15  
15  
16  
16  
18  
1.1. Khái niệm  
1.2. Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự  
1.3. Phương pháp điều chỉnh của luật hình sự  
2. Tính giai cấp của luật hình sự  
3. Nhiệm vụ của luật hình sự  
3.1. Nhiệm vụ chung  
3.2. Nhiệm vụ cụ thể của luật hình sự qua các giai đoạn cách mạng  
4. Các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam  
4.1. Các nguyên tắc chung của luật hình sự Việt Nam  
4.2. Các nguyên tắc chuyên ngành của luật hình sự Việt Nam  
CHƯƠNG 2: KHÁI NIỆM, CẤU TẠO VÀ HIỆU LỰC CỦA  
ĐẠO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM  
21  
1. Khái niệm đạo luật hình sự Việt Nam  
2. Cấu tạo của đạo luật hình sự Việt Nam  
21  
22  
22  
2.1. Về hình thức cấu trúc bên ngoài của Đạo luật hình sự Việt Nam  
2.2. Hình thức cấu trúc bên trong của Đạo luật hình sự (Chính là  
cấu trúc của các quy phạm pháp luật hình sự)  
23  
3. Hiệu lực của đạo luật hình sự Việt Nam  
25  
25  
27  
28  
3.1. Hiệu lực về không gian của Đạo luật hình sự Việt Nam  
3.2. Hiệu lực về thời gian của Đạo luật hình sự Việt Nam  
3.3. Vấn đề hiệu lực hồi tố của Đạo luật hình sự Việt Nam  
4. Giải thích đạo luật hình sự  
30  
30  
32  
32  
32  
32  
35  
35  
35  
38  
38  
39  
41  
5. Nguyên tắc tương tự về luật  
CHƯƠNG 3: TỘI PHẠM  
1. Khái niệm và đặc điểm của tội phạm  
1.1. Khái niệm tội phạm  
1.2. Các đặc điểm của tội phạm  
1.3. Ý nghĩa của khái niệm tội phạm  
2. Phân loại tội phạm  
2.1. Khái niệm phân loại tội phạm  
2.2. Ý nghĩa của việc phân loại tội phạm  
3. Phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác  
4. Vấn đề nguồn gốc và bản chất giai cấp của tội phạm  
CHƯƠNG 4: CẤU THÀNH TỘI PHẠM  
1. Các yếu tố của tội phạm  
41  
42  
42  
43  
44  
46  
46  
46  
49  
49  
49  
50  
52  
52  
2. Cấu thành tội phạm  
2.1. Khái niệm cấu thành tội phạm  
2.2. Các đặc điểm của cấu thành tội phạm  
2.3. Phân loại cấu thành tội phạm  
3. Ý nghĩa của cấu thành tội phạm  
3.1. Cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự  
3.2. Cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý của định tội danh  
CHƯƠNG 5: KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM  
1. Khách thể của tội phạm  
1.1 Khái niệm  
1.2. Phân loại khách thể của tội phạm  
2. Đối tượng tác động của tội phạm  
2.1. Khái niệm đối tượng tác động của tội phạm  
2.2. Các loại đối tượng tác động của tội phạm  
CHƯƠNG 6: MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI PHẠM  
1. Khái niệm mặt khách quan của tội phạm  
1.1. Khái niệm  
53  
54  
54  
54  
54  
54  
54  
56  
58  
59  
59  
60  
61  
61  
61  
61  
62  
62  
63  
63  
63  
63  
64  
65  
66  
67  
68  
70  
70  
1.2. Ý nghĩa của các dấu hiệu trong MKQ của tội phạm  
2. Hành vi khách quan của tội phạm  
2.1. Khái niệm  
2.2. Các hình thức của hành vi khách quan của tội phạm  
2.3. Các dạng cấu trúc đặc biệt của hành vi khách quan  
3. Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm  
3.1. Khái niệm  
3.2. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm  
4. Những biểu hiện khác trong mặt khách quan của tội phạm  
4.1. Công cụ, phương tiện phạm tội  
4.2. Phương pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm  
4.3. Thời gian phạm tội  
4.4. Địa điểm phạm tội  
4.5. Hoàn cảnh phạm tội  
CHƯƠNG 7: CHỦ THỂ CỦA TỘI PHẠM  
1. Khái niệm chủ thể của tội phạm  
2. Năng lực trách nhiệm hình sự  
2.1. Khái niệm  
2.2. Tình trạng không có NLTNHS  
2.3. Năng lực trách nhiệm hình sự và tình trạng say  
3. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự  
4. Chủ thể đặc biệt của tội phạm  
5. Vấn đề nhân thân người phạm tội trong luật hình sự  
CHƯƠNG 8: MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM  
1. Khái niệm mặt chủ quan của tội phạm  
2. Lỗi  
70  
70  
71  
71  
72  
73  
74  
75  
76  
76  
77  
77  
2.1. Khái niệm lỗi  
2.2. Lỗi với vấn đề tự do (xử sự) và trách nhiệm hình sự  
2.3. Lỗi cố ý trực tiếp  
2.4. Lỗi cố ý gián tiếp  
2.5. Lỗi vô ý vì quá tự tin  
2.6. Lỗi vô ý do cẩu thả  
2.7. Sự kiện bất ngờ  
2.8. Trường hợp hỗn hợp lỗi  
3. Động cơ và mục đích phạm tội  
3.1. Động cơ phạm tội  
3.2. Mục đích phạm tội  
4. Sai lầm và ảnh hưởng của sai lầm đối với vấn đề trách nhiệm  
hình sự  
78  
4.1. Sai lầm về pháp luật  
78  
78  
80  
80  
80  
80  
81  
82  
82  
83  
84  
85  
85  
4.2. Sai lầm về sự việc  
CHƯƠNG 9: CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN TỘI PHẠM  
1. Khái niệm các giai đoạn thực hiện tội phạm  
2. Chuẩn bị phạm tội  
2.1. Khái niệm chuẩn bị phạm tội  
2.2. Trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội  
3. Phạm tội chưa đạt  
3.1. Khái niệm phạm tội chưa đạt  
3.2. Phân loại các trường hợp phạm tội chưa đạt  
4. Tội phạm hoàn thành  
5. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội  
5.1. Điều kiện của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội  
5.2. Trách nhiệm hình sự đối với trường hợp tự ý nửa chừng chấm  
dứt việc phạm tội  
86  
CHƯƠNG 10: ĐỒNG PHẠM  
88  
88  
88  
88  
89  
89  
90  
90  
91  
91  
91  
91  
91  
92  
92  
1. Khái niệm đồng phạm  
1.1. Điều kiện về khách quan của đồng phạm  
1.2. Điều kiện về chủ quan của đồng phạm  
2. Các loại người đồng phạm  
2.1. Người thực hành  
2.2. Người tổ chức  
2.3. Người xúi giục  
2.4. Người giúp sức  
3. Phân loại các hình thức đồng phạm  
3.1. Phân loại theo ý thức chủ quan  
3.2. Phân loại theo dấu hiệu khách quan  
3.3. Căn cứ vào dấu hiệu chủ quan và khách quan  
4. Vấn đề trách nhiệm hình sự trong đồng phạm  
4.1. Các nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự trong đồng phạm  
4.2. Một số vấn đề khác liên quan đến việc xác định trách nhiệm  
hình sự trong đồng phạm  
93  
5. Những hành vi liên quan đến đồng phạm cấu thành tội độc lập  
5.1. Tội che giấu tội phạm  
94  
94  
94  
5.2. Tội không tố giác tội phạm  
CHƯƠNG 11: NHỮNG TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ TÍNH CHẤT  
NGUY HIỂM CHO XÃ HỘI CỦA HÀNH VI  
96  
1. Khái niệm chung  
96  
97  
2. Phòng vệ chính đáng  
2.1. Khái niệm phòng vệ chính đáng  
2.2. Điều kiện của phòng vệ chính đáng  
2.3. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng  
2.4. Phòng vệ tưởng tượng  
97  
98  
99  
100  
100  
3. Tình thế cấp thiết  
3.1. Khái niệm tình thế cấp thiết  
3.2. Điều kiện của tình thế cấp thiết  
3.3. Vượt quá giới hạn của tình thế cấp thiết  
4. Bắt người phạm pháp  
100  
101  
102  
103  
5. Những trường hợp khác loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã  
hội của hành vi  
103  
5.1. Thi hành mệnh lệnh cấp trên  
5.2. Thực hiện chức năng nghề nghiệp  
5.3. Rủi ro trong nghề nghiệp, trong sản xuất và nghiên cứu khoa học  
CHƯƠNG 12: TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ HÌNH PHẠT  
1. Trách nhiệm hình sự  
103  
103  
103  
106  
106  
106  
107  
107  
108  
109  
109  
111  
1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự  
1.2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự  
1.3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự  
1.4. Miễn trách nhiệm hình sự  
2. Hình phạt  
2.1. Khái niệm hình phạt  
2.2. Mục đích của hình phạt  
CHƯƠNG 13: HỆ THỐNG HÌNH PHẠT VÀ CÁC BIỆN PHÁP  
TƯ PHÁP  
114  
1. Hệ thống hình phạt  
114  
114  
115  
120  
120  
1.1. Khái niệm hệ thống hình phạt  
1.2. Các loại hình phạt trong hệ thống hình phạt  
2. Các biện pháp tư pháp  
2.1. Tịch thu vật, tiền (tài sản) trực tiếp liên quan đến tội phạm  
2.2. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công  
khai xin lỗi  
120  
2.3. Bắt buộc chữa bệnh  
CHƯƠNG 14: QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT  
1. Các căn cứ quyết định hình phạt  
122  
122  
122  
123  
1.1. Căn cứ vào quy định của BLHS  
1.2. Căn cứ vào nhân thân của người phạm tội  
1.3. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của  
tội phạm  
124  
124  
131  
1.4. Các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS  
2. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội hoặc có  
nhiều bản án  
2.1. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội  
2.2. Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án  
3. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của bộ luật  
131  
132  
133  
3.1. Đối với trường hợp quyết định hình phạt dưới mức tối  
thiểu của khung hình phạt  
133  
134  
3.2. Đối với trường hợp chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn  
CHƯƠNG 15: THỜI HIỆU THI HÀNH BẢN ÁN - MIỄN,  
GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT - ÁN TREO -  
XÓA ÁN TÍCH  
136  
1. Thời hiệu thi hành bản án  
136  
136  
136  
137  
137  
138  
139  
139  
139  
140  
142  
2. Miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt  
2.1. Miễn chấp hành hình phạt  
2.2. Hoãn chấp hành hình phạt tù  
2.3. Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù  
2.4. Giảm thời hạn chấp hành hình phạt  
3. Án treo  
3.1. Ý nghĩa xã hội của án treo  
3.2. Tính chất pháp lý của án treo  
3.3. Điều kiện được hưởng án treo  
3.4. Thời gian thử thách và cách tính thời gian thử thách của án treo  
3.5. Tổng hợp hình phạt đối với người được hưởng án treo phạm  
tội mới trong thời gian thử thách  
143  
3.6. Áp dụng hình phạt bổ sung đối với người được hưởng án treo  
3.7. Thi hành bản án cho hưởng án treo  
4. Xóa án tích  
143  
143  
144  
144  
144  
145  
4.1. Đương nhiên được xóa án tích  
4.2. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án  
4.3. Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt  
CHƯƠNG 16: TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA NGƯỜI  
CHƯATHÀNH NIÊN PHẠM TỘI  
147  
149  
149  
1. Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội  
2. Hình phạt và các biện pháp tư pháp áp dụng với người chưa  
thành niên phạm tội  
2.1. Các biện pháp tư pháp  
149  
150  
2.2. Các hình phạt áp dụng với người chưa thành niên phạm tội  
2.3. Một số vấn đề khác liên quan đến trách nhiệm hình sự của  
người chưa thành niên phạm tội  
153  
155  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
CHƯƠNG 1  
KHÁI NIỆM, NHIỆM VỤ VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CƠ  
BẢN CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM  
1. KHÁI NIỆM LUẬT HÌNH SỰ  
1.1. Khái niệm  
Thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng và chống tội phạm - loại vi  
phạm pháp luật có tính nguy hiểm cao hơn hẳn so với các loại vi phạm pháp  
luật khác cho xã hội. Nhà nước sử dụng nhiều hình thức và biện pháp khác  
nhau, trong đó có biện pháp pháp luật hình sự (PLHS). Biện pháp này được  
Nhà nước sử dụng thể hiện trước hết qua hoạt động xây dựng pháp luật mà  
kết quả là các văn bản quy phạm PLHS quy định về tội phạm và hình phạt  
được ra đời. Các quy phạm pháp luật này tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ  
biện chứng với nhau trong một hệ thống tạo thành ngành luật hình sự.  
Luật hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của nước  
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), bao gồm hệ thống  
những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, xác định những hành vi  
nguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm, đồng thời quy định hình phạt đối với  
những tội phạm ấy.  
1.2. Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự  
Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là các quan hệ xã hội được  
các quy phạm pháp luật của ngành luật đó điều chỉnh. Các quan hệ xã hội  
được các quy phạm PLHS tác động tới là đối tượng điều chỉnh của luật hình  
sự. Luật hình sự chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội khi có tội phạm xảy ra-  
đó cũng chính là các quan hệ PLHS.  
Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là những quan hệ xã hội phát  
sinh giữa Nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm.  
Thời điểm bắt đầu xuất hiện quan hệ pháp luật hình sự là thời điểm  
người phạm tội bắt đầu thực hiện tội phạm và quan hệ pháp luật này  
chấm dứt khi người phạm tội được xóa án tích. Trong cả quá trình này,  
xuất hiện đồng thời quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, quan hệ pháp luật  
dân sự vv... Tuy nhiên, quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, đa số trường  
hợp bắt đầu xuất hiện khi có quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi  
tố bị can.  
13  
Trong quan hệ pháp luật hình sự luôn có hai chủ thể với những vị trí pháp  
lý khác nhau.  
- Nhà nước: Có quyền truy tố, xét xử người phạm tội, buộc họ phải  
chịu những biện pháp trách nhiệm hình sự nhất định để bảo vệ pháp luật bảo  
vệ lợi ích của toàn xã hội. Nhà nước thực hiện quyền này bằng cách thể hiện  
ý chí của mình trong Bộ luật hình sự. Mặt khác, Nhà nước có trách nhiệm  
bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội.  
- Người phạm tội: Có trách nhiệm chấp hành các biện pháp cưỡng chế  
mà Nhà nước áp dụng đối với mình. Mặt khác, họ có quyền yêu cầu Nhà  
nước đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.  
1.3. Phương pháp điều chỉnh của luật hình sự  
Xuất phát từ chức năng điều chỉnh và địa vị pháp lý của các chủ thể  
tham gia quan hệ pháp luật này, luật hình sự sử dụng phương pháp quyền uy  
- phương pháp sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ pháp  
luật hình sự. Nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với người  
phạm tội không bị cản trở hay phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ cá nhân hay tổ  
chức nào. Người phạm tội phải phục tùng những biện pháp mà Nhà nước đã  
áp dụng với họ. Trách nhiệm của người phạm tội về tội phạm mà họ đã gây  
ra là trách nhiệm đối với Nhà nước chứ không phải trách nhiệm đối với  
người bị hại hay trách nhiệm đối với các cơ quan tiến hành tố tụng.  
2. TÍNH GIAI CẤP CỦA LUẬT HÌNH SỰ  
Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật đã chứng minh pháp luật có  
tính giai cấp. Luật hình sự là một bộ phận tạo nên hệ thống pháp luật nên nó  
cũng mang tính giai cấp. Chúng ra đời cùng với Nhà nước và là sản phẩm  
của xã hội ở mỗi một giai đoạn nhất định. Tính giai cấp của luật hình sự  
được thể hiện rõ nét qua từng kiểu Nhà nước, qua các văn bản pháp luật ở  
các giai đoạn khác nhau  
Bộ luật Gia Long, Bộ luật Hồng Đức của chế độ phong kiến Việt Nam  
quy định hình phạt ngũ hình, mang tính đàn áp dã man. Hoặc quan niệm về  
tội phạm thể hiện sự đối xử không bình đẳng với các tầng lớp khác nhau  
trong xã hội như con kiện cha, vợ kiện chồng là tội phạm.  
Bộ luật hình sự năm 1985 và 1999 của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam là văn bản quy phạm pháp luật thể hiện ý chí của toàn thể  
nhân dân lao động để bảo vệ lợi ích của nhân dân trấn áp những phần tử  
(người phạm tội) chống đối đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của  
Nhà nước.  
14  
3. NHIỆM VỤ CỦA LUẬT HÌNH SỰ  
3.1. Nhiệm vụ chung  
Nhiệm vụ chung của luật hình sự Việt Nam được thể hiện tập trung  
trong Điều 1 BLHS với 3 nhóm cụ thể như sau:  
- Nhóm 1: Luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ những quan hệ xã hội cơ  
bản nhất và quan trọng nhất trong đời sống xã hội. Đó là, bảo vệ chế độ xã  
hội, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của  
công dân, tổ chức, Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN.  
- Nhóm 2: Với một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật nước  
ta, Bộ luật hình sự là một trong những công cụ hữu hiệu và sắc bén của Nhà  
nước trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.  
- Nhóm 3: Luật hình sự còn có nhiệm vụ giáo dục mọi người nâng cao  
ý thức pháp luật, nâng cao ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.  
3.2. Nhiệm vụ cụ thể của luật hình sự qua các giai đoạn cách mạng  
3.2.1. Giai đoạn 1945 - 1954  
Trong giai đoạn này nhiệm vụ của luật hình sự là góp phần phục vụ  
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trừng trị bọn Việt gian phản động  
làm tay sai cho thực dân Pháp và được thể hiện trong các sắc lệnh sau:  
- Sắc lệnh số 150/SL ngày 14/4/1953 trừng trị bọn phản cách mạng,  
bọn địa chủ cường hào ngoan cố.  
- Sắc lệnh số 211/SL ngày 12/4/1946 trừng trị những hình vi có  
phương hại đến nền độc lập dân tộc.  
- Sắc lệnh số 133/SL ngày 20/1/1953 trừng trị tội xâm hại đến an toàn  
Nhà nước.  
3.2.2. Giai đoạn 1954 - 1975  
Trong giai đoạn này, luật hình sự góp phần thực hiện nhiệm vụ cách  
mạng là xây dựng CNXH ở miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất đất  
nước và được thể hiện trong các văn bản hình sự sau:  
- Sắc lệnh số 01/SL ngày 19/4/1957 trừng trị các hành vi đầu cơ.  
- Pháp lệnh 30/10/1967 trừng trị những hành vi phản cách mạng.  
- Pháp lệnh 21/10/1970 trừng trị những hành vi xâm phạm đến tài sản  
XHCN và tài sản của công dân.  
3.2.3. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay  
Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ của luật hình sự được thể hiện tập  
15  
trung trong toàn bộ các quy định của Bộ luật hình sự 1985 và 1999.  
4. CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM  
Các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam là những tư tưởng  
chủ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự trong  
công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.  
Các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự được chia làm hai nhóm: Các  
nguyên tắc chung và các nguyên tắc có tính đặc thù.  
4.1. Các nguyên tắc chung của luật hình sự Việt Nam  
4.1.1. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa  
Nguyên tắc này được thể hiện ở việc qui định một tội mới, sửa đổi, bổ  
sung một tội phạm hoặc hủy bỏ một tội phạm cần phải được tiến hành theo  
đúng các qui định của pháp luật. Chỉ có cơ quan quyền lực Nhà nước cao  
nhất mới có thẩm quyền qui định tội phạm và hình phạt.  
Tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội phải được qui định  
trong pháp luật hình sự. Chỉ người nào phạm một tội mà được Luật hình sự  
qui định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Nguyên tắc này xuất phát từ  
nguyên lý "Nullum crimen sine lege" (không có tội nếu không có luật).  
Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi các cơ quan tư pháp hình sự phải triệt để  
tuân thủ pháp luật hình sự khi ra quyết định có liên quan đến việc truy cứu  
trách nhiệm hình sự, đến việc quyết định hình phạt và các biện pháp tác động  
pháp lý hình sự khác. Việc điều tra, truy tố và xét xử phải đúng người, đúng  
tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Mọi  
trường hợp áp dụng pháp luật hình sự một cách tùy tiện đều bị coi và vi phạm  
nghiêm trọng nguyên tắc pháp chế và phải bị xử lý nghiêm minh.  
4.1.2. Nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa  
Nguyên tắc này được thể hiện ở chỗ luật hình sự không phân biệt đối  
xử, không quy định những đặc quyền, đặc lợi cho tầng lớp nhân dân nào  
trong xã hội vì địa vị xã hội, vì tình trạng tài sản của họ. Phải đảm bảo cho  
nhân dân lao động tự mình hay thông qua các tổ chức xã hội tham gia vào  
việc xây dựng pháp luật hình sự và tham gia vào hoạt động giám sát việc áp  
dụng PLHS của các cơ quan có thẩm quyền.  
Nguyên tắc này xuyên suốt các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội,  
trong đó có lĩnh vực pháp luật. Trong Luật hình sự Việt Nam, nguyên tắc này  
thể hiện ở các mặt sau:  
16  
- Luật hình sự Việt Nam bảo vệ chế độ xã hội và Nhà nước của nhân  
dân lao động, thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân.  
- Luật hình sự Việt Nam tôn trọng và bảo vệ các quyền dân chủ của công  
dân trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, mọi hành vi xâm hại các  
quyền đó đều bị nghiêm trị.  
- Luật hình sự bảo đảm mọi công dân tự mình hoặc thông qua các cơ  
quan, tổ chức khác nhau tham gia xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự.  
Những đạo luật hình sự quan trọng nhất được ban hành khi đã được thảo  
luận, lấy ý kiến rộng rãi ở các diễn đàn khác nhau với sự tham gia tích cực  
của mọi công dân.  
- Luật hình sự coi việc đấu tranh phòng ngừa và chống tình hình tội  
phạm, việc giáo dục người phạm tội là sự nghiệp của toàn dân, của tất cả  
các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân. Nguyên tắc này xuất  
phát từ quan điểm coi tội phạm là một hiện tượng xã hội, nên đấu tranh  
phòng ngừa và chống tội phạm là nhiệm vụ của toàn xã hội, trong đó nhiệm  
vụ trọng tâm thuộc về các cơ quan thuộc hệ thống tư pháp hình sự.  
4.1.3. Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa  
Pháp luật hình sự Việt Nam, các qui phạm của nó phản ánh ý thức  
pháp luật và các quan niệm đạo đức của dân tộc ta có mục đích, nội dung  
nhân đạo sâu sắc và được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp rất nhân  
đạo. Nguyên tắc nhân đạo và các đòi hỏi của nó xuyên suốt toàn bộ pháp  
luật hình sự của Nhà nước ta, và do vậy trở thành bản chất của Luật hình sự  
Việt Nam.  
Nguyên tắc nhân đạo thể hiện ở chỗ đối với người đã phạm tội thì xã  
hội, Nhà nước không có mục đích trả thù, mà ngược lại, tạo mọi điều kiện có  
thể được để cho người đó cải tạo tốt, trở lại làm ăn lương thiện, có ích cho xã  
hội. Luật hình sự Việt Nam có nhiều qui định tạo điều kiện cho người phạm  
tội tự cải tạo và tích cực cải tạo như: Miễn thách nhiệm hình sự, miễn hình  
phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, miễn việc chấp hành hình phạt,  
quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ Luật hình sự, án treo.  
Bên cạnh đó, nguyên tắc này còn thể hiện ở việc áp dụng hình phạt  
đối với người phạm tội chủ yếu nhằm cải tạo, giáo dục họ trở thành người  
có ích cho xã hội. Hình phạt cũng như các biện pháp tác động pháp lý hình  
sự khác không nhằm gây đau đớn về thể xác, không nhằm hạ thấp phẩm giá  
của con người và chỉ được áp dụng đến mức độ cần thiết tối thiểu cho sự cải  
tạo và giáo dục. Luật hình sự Việt Nam khoan hồng đối với những người  
17  
nhất thời phạm tội ít nghiêm trọng, đối với người tự thú, thật thà khai báo,  
tố giác đồng bọn, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa  
hoặc bồi thường thiệt hại.  
Hình phạt tù chung thân và tử hình chỉ được áp dụng trong những  
trường hợp đặc biệt nghiêm trọng và với những điều kiện chặt chẽ, trong  
phạm vi nhất định. Hình phạt tù chung thân và tử hình không được phép áp  
dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc  
phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử.  
4.1.4. Nguyên tắc kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước và đoàn kết quốc tế  
Nguyên tắc này thể hiện là luật hình sự Việt Nam trừng trị các hành vi  
phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược, chống loài người và can thiệp  
vào công việc nội bộ của nước khác. Luật hình sự Việt Nam ghi nhận và bảo  
đảm việc thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia.  
Luật hình sự Việt Nam đấu tranh không khoan nhượng, trừng trị một  
cách nghiêm khắc mọi hành vi phạm tội xâm phạm chế độ xã hội và chế độ  
Nhà nước, an ninh quốc gia và khả năng phòng thủ của nước ta. Pháp luật hình  
sự nước ta giáo dục tinh thần yêu Tổ quốc, tinh thần trung thành với Tổ quốc  
và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.  
Luật hình sự Việt Nam trừng trị nghiêm khắc các hành vi phạm tội  
chống lại cuộc chiến tranh chính nghĩa của các dân tộc bị áp bức, những hành  
vi gây chiến tranh phi nghĩa.  
Những hành vi xâm phạm tài sản của các nước khác và các tổ chức  
quốc tế, xâm phạm tài sản của người nước ngoài đều bị quật hình sự Việt  
Nam trừng trị nghiêm khắc.  
Nguyên tắc chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế thể hiện sự đoàn  
kết, hợp tác hữu nghị, tương trợ tư pháp trong chính sách đối ngoại của Luật  
hình sự Việt Nam.  
4.2. Các nguyên tắc chuyên ngành của luật hình sự Việt Nam  
4.2.1. Nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm hình sự và hình phạt  
Đây chính là nguyên tắc "mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện  
và xử lý kịp thời và nghiêm minh", hay nói cách khác là không để sót,  
không đế lọt người phạm tội. Nguyên tắc này gắn liền với nguyên tắc pháp  
chế và nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.  
Nguyên tắc này xuất phát từ quan điểm của Lê nin về ý nghĩa giáo dục  
kịp thời, không để tồn tại trong xã hội tâm lý khinh nhờn kỷ cương, pháp  
18  
luật, thói bao che, dung dưỡng đối với người phạm tội. Không tránh khỏi  
trách nhiệm về tội phạm đã thực hiện có ý nghĩa phòng ngừa rất lớn. Việc ý  
thức được rằng tội phạm tất yếu kéo theo trách nhiệm có tác dụng răn đe,  
kìm chế rất hiệu quả đối với những người không vững vàng, có nguy cơ  
thực hiện tội phạm trong xã hội.  
Về mặt thực tế, nguyên tắc này được các cơ quan điều tra, truy tố và  
xét xử, đưa vào đời sống bằng việc phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử  
lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không  
làm oan người vô tội.  
4.2.2. Nguyên tắc trách nhiệm cá nhân  
Tội phạm thường do một cá nhân cụ thể thực hiện và tội phạm đã được  
thực hiện là sự thể hiện ý chí của cá nhân đó. Điều đó cho thấy người đó là  
người nguy hiểm cho xã hội. Do vậy, trong Luật hình sự Việt Nam có nguyên  
tắc trách nhiệm cá nhân của chủ thể đối với hành vi do mình thực hiện.  
Nguyên tắc này có nghĩa là người phạm tội chịu trách nhiệm hình sự  
về hành vi mà chính người đó thực hiện chứ không phải do người khác hoặc  
tập thể đã gây ra. Điều đó được khẳng định tại Điều 2 Bộ luật hình sự “chỉ  
người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự qui định mới phải chịu  
trách nhiệm hình sự”.  
4.2.3. Nguyên tắc trách nhiệm trên cơ sở lỗi  
Nguyên tắc này xuất phát từ nội dung của Điều 8 BLHS về khái niệm  
và các dấu hiệu của tội phạm. Lỗi (cố ý hoặc vô ý) được coi là một trong  
những dấu hiệu đặc trưng, một trong bốn yếu tố cấu thành chung của tội  
phạm và do đó là cơ sở không thể thiếu được của tội phạm.  
Nội dung nguyên tắc này thể hiện ở chỗ chỉ người nào có lỗi trong  
việc thực hiện tội phạm, tức là cố ý hoặc vô ý thực hiện tội phạm mới phải  
chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt. Không thể truy cứu một người nào  
đó trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội nếu không xác định  
được rằng người đó có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó. Lỗi sẽ không có  
nếu hành vi được thực hiện trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm  
hình sự, hoặc trong những trường hợp loại trừ lỗi như phòng vệ chính đáng,  
hay trong trường hợp sự kiện bất ngờ.  
4.2.4. Nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt  
Mọi tội phạm, ngay cả tội phạm cùng một loại (tội trộm cắp tài sản,  
tội cướp tài sản, tội giết người) theo hoàn cảnh của việc thực hiện và các  
19  
dấu hiệu thực tế của nó bao giờ cũng có tính xác định riêng cho mỗi trường  
hợp. Người thực hiện tội phạm cũng có các đặc điểm cá nhân của mình: Các  
đặc điểm thể lực, tâm lý, xã hội, đạo đức. Chính vì vậy, trong từng trường  
hợp phạm tội cụ thể cần phải có cách tiếp cận phân hóa đối với việc xác  
định trách nhiệm và hình phạt. Do vậy, nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm  
và hình phạt đòi hỏi khi xác định trách nhiệm và hình phạt phải cân nhắc  
các tình tiết của tội phạm đã thực hiện, các đặc điểm nhân thân người phạm  
tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự có trong vụ án.  
Hay trong đồng phạm, mức độ trách nhiệm và hình phạt phụ thuộc vào mức  
độ đóng góp thực tế của mỗi người trong đồng phạm.  
4.2.5. Nguyên tắc công bằng  
Nguyên tắc này thể hiện sự tiếp tục bổ sung cho nguyên tắc phân hóa  
trách nhiệm hình sự tùy thuộc vào các tình tiết của việc thực hiện tội phạm  
và nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm và hình phạt. Nguyên tắc này thể hiện  
ở các khía cạnh sau:  
- Xác định rõ giới hạn giữa hành vi bị coi là tội phạm và hành vi vi  
phạm pháp luật khác để từ đó qui định các biện pháp xử lý tương ứng.  
- Thực hiện nhất quán quan điểm phân hóa trách nhiệm hình sự đối  
với tội phạm.  
- Hệ thống các hình phạt được qui định phải có các thang bậc về mức  
độ nghiêm khắc là loại và mức hình phạt tương ứng với các thang bậc về  
mức độ nghiêm trọng của các loại tội phạm.  
- Khi quyết định hình phạt phải bảo đảm sự tương xứng của hình phạt  
được tuyên với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã  
thực hiện, với các đặc điểm của nhân thân người phạm tội, với các tình tiết  
tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Điều đó được thực hiện trong  
phạm vi chế tài của Điều luật phần các tội phạm và phù hợp với các qui  
định của phần chung của Bộ luật hình sự.  
CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HỌC TẬP  
Câu 1: Phân biệt đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của  
luật hình sự với luật hành chính.  
Câu 2: Chứng minh biểu hiện của nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ  
nghĩa trong một số điều luật cụ thể của bộ luật hình sự 1999.  
20  
CHƯƠNG 2  
KHÁI NIỆM, CẤU TẠO VÀ HIỆU LỰC CỦA ĐẠO  
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM  
1. KHÁI NIỆM ĐẠO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM  
Đạo luật hình sự Việt Nam (ĐLHSVN) là văn bản quy phạm pháp luật  
do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành, quy định về tội phạm và  
hình phạt cũng như các chế định khác liên quan đến việc xác định tội phạm  
và hình phạt, đồng thời quy định nhiệm vụ và những nguyên tắc chung của  
luật hình sự Việt Nam  
Với khái niệm trên cho thấy, Đạo luật hình sự có 3 đặc điểm như sau:  
1. Về hình thức pháp lý: Đạo luật hình sự là văn bản quy phạm pháp luật.  
2. Về thẩm quyền ban hành: Đạo luật hình sự do Quốc Hội ban hành.  
3. Về nội dung: Đạo luật hình sự chứa đựng các quy phạm pháp luật  
quy định về tội phạm và hình phạt.  
Với các đặc điểm trên thì Đạo luật hình sự hiện hành chỉ là Bộ luật  
hình sự Việt Nam 1999. Song đánh giá cả quá trình lịch sử lập pháp hình sự  
của Nhà nước ta cho thấy Đạo luật hình sự Việt Nam bao gồm: Bộ luật hình  
sự năm 1985, Bộ luật hình sự năm 1999; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều  
của Bộ luật hình sự năm 1985 vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997, 2009.  
Nội dung bên trong của Đạo luật hình sự Việt Nam chứa đựng các quy  
phạm pháp luật. Tính chất của các quy phạm pháp luật hình sự trong đạo  
luật hình sự thể hiện ở tính chất cấm chỉ và tính chất bắt buộc:  
- Về tính chất cấm chỉ của quy phạm pháp luật hình sự được thể  
hiện ở việc không cho phép người ta thực hiện những hành vi được quy  
định trong bộ luật hình sự là tội phạm bằng cách răn đe áp dụng hình  
phạt đối với người thực hiện hành vi đó.  
Tuy nhiên, Bộ luật hình sự Việt Nam vẫn cho phép một người được  
quyền hành động để gây một thiệt hại nhất định cho xã hội trong hai trường  
hợp: Phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết (Điều 15, Điều 16 BLHS).  
- Về tính chất bắt buộc của các quy phạm pháp luật hình sự thể hiện ở  
hai phương diện là đối với người phạm tội luôn phải chịu một biện pháp trách  
nhiệm hình sự nhất định, còn đối với các cơ quan có trách nhiệm tiến hành  
điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội một cách nghiêm minh, kịp thời.  
Các quy phạm pháp luật trong Đạo luật hình sự được chia làm hai loại  
với vị trí pháp lý khác nhau:  
21  
Nhóm quy phạm thứ nhất là các quy phạm quy định các vấn đề có tính  
chất là nền tảng, cơ sở lý luận chung, như các quy phạm về hiệu lực, về  
nhiệm vụ, về khái niệm, điều kiện cho việc xác định tội phạm và hình phạt.  
Các quy phạm này hợp thành phần chung của BLHS (được quy định từ  
Điều 1 đến Điều 77 BLHS).  
Nhóm quy phạm thứ hai là các quy phạm quy định các tội phạm cụ thể và  
hình phạt cần áp dụng đối với từng tội phạm đó. Các quy phạm này hợp thành  
phần các tội phạm cụ thể (được quy định từ Điều 78 đến Điều 344 BLHS).  
2. CẤU TẠO CỦA ĐẠO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM  
2.1. Về hình thức cấu trúc bên ngoài của Đạo luật hình sự Việt Nam  
Bộ luật hình sự được cấu tạo gồm hai phần: Phần chung và phần các  
tội phạm.  
Phần chung của Bộ luật hình sự hiện hành có 10 chương. Đó là: Điều  
Khoản cơ bản; Hiệu lực của Bộ luật hình sự; Tội phạm; Thời hiệu truy cứu  
trách nhiệm hình sự. Miễn trách nhiệm hình sự; Hình phạt; Các biện pháp tư  
pháp; Quyết định hình phạt; Thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình  
phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt; Xóa án tích; Những qui định đối  
với người chưa thành niên phạm tội.  
Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự có 14 chương được hệ thống  
hóa và sắp xếp theo khách thể loại của sự xâm hại, tức là theo các nhóm  
quan hệ xã hội cùng loại được Luật hình sự bảo vệ. Đó là các chương: Các  
tội xâm phạm an ninh quốc gia; Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe,  
nhân phẩm, danh dự của con người; Các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ  
của công dân; Các tội xâm phạm sở hữu; Các tội xâm phạm chế độ hôn  
nhân và gia đình; Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; Các tội phạm về  
môi trường; Các tội phạm về ma túy; Các tội xâm phạm an toàn công cộng,  
trật tự công cộng; Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính; Các tội  
phạm về chức vụ; Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp; Các tội xâm phạm  
nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; Các tội phá hoại hòa bình, chống loài  
người và tội phạm chiến tranh.  
Ở mỗi chương của phần các tội phạm cụ thể nhà làm luật qui định các  
tội phạm cụ thể và các loại và mức hình phạt cụ thể đối với các tội phạm đó.  
Phần chung và phần các tội phạm của BLHS có liên hệ chặt chẽ với  
nhau, tạo thành một hệ thống các qui phạm của luật hình sự. Các quy phạm  
22  
đó là cơ sở pháp lý cho việc định tội danh, quyết định hình phạt và giải  
quyết những vấn đề pháp lý hình sự khác.  
Hình thức cấu tạo bên ngoài của Đạo luật hình sự Việt Nam được thể  
hiện theo sơ đồ sau:  
Khoản  
Phần riêng  
Đoạn  
ĐLHS (BLHS)  
Chương (Mục) - Điều  
Phần chung  
Điểm  
2.2. Hình thức cấu trúc bên trong của Đạo luật hình sự (Chính là cấu  
trúc của các quy phạm pháp luật hình sự)  
Các Điều luật ở phần chung và ở phần các tội phạm cụ thể của Bộ luật  
hình sự có cấu tạo khác nhau. Ở các điều luật của phần chung, qui định  
những khái niệm và nguyên tắc chung của Luật hình sự không phân ra phần  
giả định, qui định, chế tài như chúng ta thường gặp ở một loạt các qui phạm  
của một số ngành pháp luật khác.  
Ở các điều luật của phần các tội phạm mô tả cấu thành tội phạm cụ thể  
và qui định các loại và mức hình phạt cụ thể được qui định đối với trường  
hợp các tội phạm đó được thực hiện.  
Cấu trúc của một quy phạm pháp luật nói chung bao gồm ba bộ phận,  
đó là: Bộ phận giả định, quy định và chế tài.  
Phần giả định của một quy phạm pháp luật trả lời câu hỏi ai? Ở đâu?  
hoàn cảnh nào? Đối với phần giả định của quy phạm PLHS nó trả lời cho  
câu hỏi: Trong điều kiện nào họ được coi là có lỗi, người phạm tội là công  
dân Việt Nam, người nước ngoài, độ tuổi, tình trạng năng lực trách nhiệm  
hình sự, phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam, hay ngoài lãnh thổ Việt Nam.  
Những nội dung này được nêu trong phần chung của Bộ luật hình sự. Như  
vậy phần giả định của quy phạm pháp luật hình sự được quy định trong  
phần chung của Bộ luật hình sự.  
Còn lại, cấu trúc của một quy phạm PLHS phần các tội phạm gồm hai  
bộ phận quy định và chế tài. Phần quy định của quy phạm PLHS đưa ra quy  
tắc xử sự mang tính cấm chỉ. Phần chế tài chính là việc quy định khung hình  
phạt. Do đó, khi áp dụng BLHS phải kết hợp đầy đủ các QPPL phần chung  
và các QPPL phần các tội phạm cụ thể.  
Phần qui định của qui phạm pháp luật hình sự có ba loại: Qui định  
đơn giản; qui định mô tả; qui định viện dẫn.  
23  
Qui định đơn giản là qui định chỉ nêu tên của tội phạm mà không chỉ rõ  
các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đó hoặc chỉ nêu những dấu hiệu chung  
nhất trong số các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đó. Ví dụ, Khoản 1 Điều  
136 BLHS qui định về tội cướp giật tài sản: "Người nào cướp giật tài sản của  
người khác...". Ở đây nhà làm luật chỉ nêu tên tội danh chứ không chỉ rõ các  
dấu hiệu của nó. Trong pháp luật hình sự qui định đơn giản được sử dụng  
phần lớn trong những trường hợp khi các dấu hiệu của hành vi phạm tội được  
thể hiện đã rõ ràng, dễ hiểu không cần đến việc mô tả trong luật.  
Qui định mô tả là qui định xác định một cách trực tiếp trong luật các  
dấu hiệu đặc trưng của cấu thành tội phạm cụ thể. Ví dụ, Khoản 1 Điều 133  
BLHS qui định: "Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc  
hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể  
chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản...”. Trong pháp luật hình sự nước ta,  
qui định mô tả chiếm đa số và ngày càng có chiều hướng tăng.  
Qui định viện dẫn là qui định không xác định một cách trực tiếp trong  
Luật hình sự hành vi phạm tội và các dấu hiệu của nó mà xác định tội phạm  
bằng cách viện dẫn đến các điều luật khác, hoặc đạo luật khác, hoặc các văn  
bản qui phạm pháp luật khác. Ví dụ, Khoản 1 Điều 285 BLHS qui định về  
tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng: "Người nào vì thiếu trách  
nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao  
gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các  
điều 144, 235 và 301 của Bộ luật này...".  
Phần chế tài của qui phạm pháp luật hình sự là phần xác định loại và  
mức hình phạt cụ thể đối với người thực hiện tội phạm được nêu trong phần  
qui định của qui phạm pháp luật hình sự. Chế tài của qui phạm pháp luật  
hình sự có hai loại: Chế tài xác định tương đối và chế tài lựa chọn. Việc nhà  
làm luật sử dụng hai loại chế tài đó là nhằm mục đích tạo điều kiện cho Tòa  
án chủ động trong việc cá thể hóa hình phạt.  
Chế tài xác định tương đối là chế tài qui định mức hình phạt ở những  
giới hạn nhất định (mức tối thiểu và mức độ tối đa). Ví dụ, Khoản 1 Điều  
278 BLHS qui định tội tham ô tài sản thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.  
Một số qui phạm pháp luật hình sự chỉ nêu mức tối đa của hình phạt, mà  
không nêu mức tối thiểu. Đối với loại quy phạm này, mức tối thiểu của  
khung hình phạt của tội phạm đó được hiểu là mức tối thiểu của loại hình  
phạt đó đã được qui định ở phần chung của Bộ luật hình sự. Cụ thể đối với  
tù có thời hạn là ba tháng; đối với cải tạo không giam giữ là sáu tháng; đối  
với cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm  
24  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 75 trang Thùy Anh 12000 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật hình sự (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_hinh_su_phan_1.pdf