Tội phạm mạng và việc khai thác dữ liệu điện tử phục vụ buộc tội, tranh tụng tại phiên tòa hình sự

TỘI PHẠM MẠNG VÀ VIỆC KHAI THÁC DỮ LIỆU ĐIỆN TỬ...  
PHỤC VỤ BUỘC TỘI, TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ  
NGUYỄN ĐỨC HẠNH*  
Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã có những quy định về việc bổ sung dữ  
liệu điện tử là một nguồn chứng cứ mới. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với các  
chủ thể tham gia tiến hành tố tụng, đặc biệt là Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) trong  
việc khai thác dữ liệu điện tử phục vụ cho quá trình buộc tội, tranh tụng tại phiên tòa. Bài  
viết phân tích về tội phạm mạng, vai trò của dữ liệu điện tử trong quá trình tiến hành tố  
tụng hình sự; nêu lên những khó khăn, thách thức trong việc khai thác nguồn dữ liệu này  
và đề xuất các giải pháp khắc phục.  
Từ khóa: Dữ liệu điện tử, tội phạm mạng, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.  
Ngày nhận bài: 22/12/2020; Biên tập xong: 12/01/2020; Duyệt đăng: 15/01/2021  
The2015CriminalProcedureCodehassupplementedspecificregulationsthatelectronic  
data is one source of evidence. That is very important for participants in the procedures,  
especially for the People’s Procuracy in using electronic data for accusation and ligitation in  
trail. The article clarifies cybercrime, the role of electronic data in the criminal proceedings;  
points out difficulities in using electronic data and proposed solutions.  
Keywords: Electronic data, cybercrime, the 2015 Criminal Procedure Code.  
1. Khái niệm tội phạm mạng và phân hành vi phạm tội thông thường.1, 2, 3, 4, 5  
.
Khoản 7 Điều 2 Luật an ninh mạng năm  
2018 cũng nêu khái niệm về Tội phạm  
mạng. Đó là hành vi sử dụng không gian  
mạng, công nghệ thông tin hoặc phương  
tiện điện tử để thực hiện tội phạm được  
quy định tại Bộ luật hình sự.  
Một cách khái quát, có thể thấy tội  
phạm mạng có các đặc điểm cơ bản rất  
khác so với tội phạm truyền thống, đó là:  
loại tội phạm mạng  
1.1. Khái niệm tội phạm mạng và đặc  
điểm cơ bản  
Tội phạm mạng là một khái niệm hiện  
nay đã được dùng tương đối phổ biến  
trong đời sống xã hội. Đề cập đến khái  
niệm này có nhiều nghiên cứu khác nhau,  
nhưng nhìn chung, có thể hiểu Tội phạm  
mạng là một hành vi gây nguy hiểm đáng  
kể cho xã hội, vi phạm pháp luật, được  
thực hiện bằng cách sử dụng công nghệ  
thông tin và truyền thông (ICT- information  
and communication technology) để nhắm  
vào các mục tiêu là mạng máy tính, hệ  
thống, dữ liệu, trang web hoặc thông qua  
các công nghệ thông tin và truyền thông  
* Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Phó Hiệu trưởng Trường Đại  
học Kiểm sát Hà Nội  
1ꢀ Goodman, Marc D. and Brenner, Susan W. (2002).  
“The Emerging Consensus on Criminal Conduct in  
Cyberspace”, International Journal of Law and  
Information Technology, Vol. 10, No. 2, 139-223  
2ꢀ Wall, David. (2007) “Cybercrime: The Transformation  
of Crime in the Information Age Polity”  
3ꢀ Wilson, Clay. (2008), “Botnets, Cybercrime, and  
Cyberterrorism: Vulnerabilities and Policy Issues for Congress”  
4ꢀ Maras, Marie-Helen. (2014) “Computer Forensics:  
Cybercriminals, Laws and Evidence,second edition”,  
Jones and Bartleꢁ;  
5ꢀ  
Maras, Marie-Helen. (2016). “Cybercriminology”,  
(ICT) tạo tiền đề, điều kiện để thực hiện Oxford University Press;  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát  
8
NGUYỄN ĐỨC HẠNH  
- Tội phạm mạng không bị giới hạn tiêu của hành vi phạm tội, tính nguy hiểm  
của hành vi phạm tội gây ảnh hưởng tiêu  
cực đến tính bảo mật, tính toàn vẹn, tính  
khả dụng của dữ liệu hoặc hệ thống máy  
tính6. Nói một cách đơn giản, thông tin cá  
nhân phải ở chế độ riêng tư, không được  
thay đổi nếu không có sự cho phép của  
chủ sở hữu và dữ liệu, dịch vụ và hệ thống  
nên được chủ sở hữu truy cập mọi lúc. Tội  
phạm này có các hành vi đặc trưng như  
tấn công mạng, gián điệp mạng. Trong  
đó, Tấn công mạng là hành vi sử dụng  
không gian mạng, công nghệ thông tin  
hoặc phương tiện điện tử để phá hoại,  
gây gián đoạn hoạt động của mạng viễn  
thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ  
thống thông tin, hệ thống xử lý và điều  
khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương  
tiện điện tử. Gián điꢀp mạng là hành vi cố ý  
vượt qua cảnh báo, mã truy cập, mật mã,  
tường lửa, sử dụng quyền quản trị của  
người khác hoặc bằng phương thức khác  
để chiếm đoạt, thu thập trái phép thông  
tin, tài nguyên thông tin trên mạng viễn  
thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ  
thống thông tin, hệ thống xử lý và điều  
khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương  
tiện điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân.  
bởi ranh giới địa lý hoặc vật lý;  
- Tội phạm mạng khi thực hiện  
thường dễ dàng hơn, nhanh hơn và mất  
ít công sức thực hiện hơn so với tội phạm  
truyền thống;  
- Để thực hiện được tội phạm mạng  
thì bắt buộc phải có máy tính, mạng máy  
tính, các hình thức công nghệ truyền  
thông khác làm công cụ, phương tiện thực  
hiện tội phạm;  
- Để thực hiện được tội phạm bắt buộc  
phải thông qua không gian mạng, sử dụng  
Internet, công nghệ kỹ thuật số như là một  
phương thức thực hiện tội phạm cho dù  
nó là tội phạm truyền thống. Điều đó có  
nghĩa vai trò của công nghệ thông tin và  
truyền thông (ICT) đối với hành vi phạm  
tội là hết sức quan trọng. Công nghệ thông  
tin và truyền thông (ICT) có thể là mục tiêu  
của hành vi phạm tội nhưng cũng có thể là  
phương thức để thực hiện tội phạm.  
1.2. Phân loại tội phạm mạng phổ biến  
Tội phạm mạng gắn với nhiều yếu tố  
xã hội, tự nhiên, pháp lý nên có thể được  
phân ra làm rất nhiều loại khác nhau dựa  
trên các tiêu chí khác nhau như căn cứ  
vào tính chất, quy mô; căn cứ vào động  
cơ, mục đích; căn cứ vào điều luật… Tuy  
nhiên, trong bài viết này, để phục vụ cho  
việc khai thác chứng cứ từ nguồn dữ liệu  
điện tử xuất hiện khi tội phạm mạng được  
chuẩn bị, thực hiện, che giấu, với tiêu chí  
là vai trò của không gian mạng đối với  
việc hình thành tính nguy hiểm cho xã  
hội, có thể chia tội phạm mạng thành hai  
loại chính là: Tội phạm được hình thành  
từ hành vi gây nguy hiểm cho không gian  
mạng và tội phạm được hình thành bằng  
việc thực hiện các hành vi phạm tội truyền  
thống có sử dụng không gian mạng và  
công nghệ thông tin để phạm tội.  
Khi ICT là phương thức, phương tiện  
thực hiện hành vi phạm tội thì tính nguy  
hiểm của hành vi phạm tội chính là tính  
nguy hiểm của tội phạm truyền thống mà  
thông qua ICT để thực hiện6. Ví dụ: Hành  
vi sử dụng Internet, các công nghệ kỹ thuật  
số để lừa đảo, trộm cắp, khủng bố, tài trợ  
khủng bố...  
2. Dữ liệu điện tử, sự xuất hiện và  
phân loại dữ liệu điện tử khi tội phạm  
mạng được thực hiện  
2.1. Khái niệm dữ liệu điện tử  
Điều 99 BLTTHS năm 2015 quy định:  
“1. Dữ liꢀu điꢀn tử là ký hiꢀu, chữ viết, chữ số,  
Chúng ta biết rằng, khi ICT là mục 6 ꢀUNODC(2013)“ComprehensiveStudyonCybercrime”  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát  
9
TỘI PHẠM MẠNG VÀ VIỆC KHAI THÁC DỮ LIỆU ĐIỆN TỬ...  
hình ảnh, âm thanh hoꢁc dạng tương tự được liệu điện tử như sau: “Dữ liꢀu điꢀn tử là  
tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoꢁc nhận được bởi một trong các nguồn chứng cứ được quy định  
phương tiꢀn điꢀn tử. 2. Dữ liꢀu điꢀn tử được trong Bộ luật tố tụng hình sự ở trạng thái tự  
thu thập từ phương tiꢀn điꢀn tử, mạng máy  
tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và  
các nguồn điꢀn tử khác”.  
nhiên; dữ liꢀu điꢀn tử có trong các thiết bị,  
phương tiꢀn điꢀn tử hoꢁc được truyền đi, tiếp  
nhận từ các thiết bị, phương tiꢀn điꢀn tử, khi  
thông qua một phần mềm thích hợp các dữ liꢀu  
điꢀn tử sẽ biểu hiꢀn dưới dạng ký hiꢀu, chữ  
viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoꢁc dạng  
tương tự mà con người có thể nhận biết được  
bằng các giác quan”.  
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng đối với  
các ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm  
thanh hoặc dạng tương tự, con người chỉ  
có thể nhận biết được thông qua các thiết  
bị, phương tiện điện tử, phần mềm thích  
hợp bởi nó tồn tại dưới dạng kỹ thuật số  
gồm các số “0” và số “1” trong các thiết bị  
được chứa bằng các đơn vị nhớ là byte, bit,  
mà ở trạng thái tự nhiên chúng ta không  
thể nhìn thấy, nghe thấy hoặc nhận biết  
những dữ liệu trong các thiết bị chứa đựng  
nó. Ví dụ: Bộc lộ một thẻ nhớ bằng trực  
quan chúng ta không thể thấy được hình  
ảnh, âm thanh, ký tự… nhưng khi lắp vào  
máy tính, sử dụng phần mềm thích hợp  
để đọc thẻ nhớ chúng ta có thể thấy, nhận  
biết được các âm thanh, hình ảnh, ký tự…  
hoặc nếu sử dụng phần mềm không thích  
hợp thì mặc dù vẫn máy tính đó, thẻ nhớ  
đó nhưng cũng không thể thấy, nhận biết  
được các âm thanh, hình ảnh… Bên cạnh  
đó, còn đòi hỏi có chuyên gia biết sử dụng  
các phần mềm này.  
Khoản 1 Điều 87 BLTTHS năm 2015  
quy định dữ liệu điện tử là một trong các  
nguồn chứng cứ. Đây là một trong những  
cơ sở để những người có thẩm quyền tiến  
hành tố tụng có thể khai thác chứng cứ  
dùng để chứng minh tội phạm, kết tội  
đối người bị buộc tội và cũng là căn cứ  
để người bị buộc tội, người bào chữa khai  
thác chứng cứ nhằm tranh tụng, bào chữa  
trong tiến trình tố tụng.  
2.2. Sự xuất hiện của dữ liệu điện tử khi  
tội phạm mạng được thực hiện, trong tiến  
trình tố tụng và phân loại dữ liệu điện tử  
Dữ liệu điện tử, thông qua phần mềm  
thích hợp và phương tiện điện tử thích  
hợp, có thể biểu hiện dưới dạng ký hiệu,  
chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc  
dạng tương tự mà con người có thể nhận  
biết được bằng các giác quan.  
Để thực hiện một tội phạm mạng,  
ngoài yếu tố con người, còn có ba yếu  
tố cần thiết bao gồm: Các thiết bị phần  
cứng, phần mềm và mạng Internet có khả  
năng truy cập của các thiết bị7. Trường  
hợp tội phạm tấn công mạng máy tính,  
ngoài các hành vi tác động mang tính  
vật lý thì những đối tượng phạm tội sử  
dụng thiết bị điện tử thông qua đường  
mạng Internet cùng với các phần mềm  
điều khiển hệ thống máy tính để tiếp  
cận đối tượng tấn công và can thiệp vào  
các đối tượng này làm mất tính năng sử  
dụng, hoạt động như vốn có ban đầu của  
nó. Quá trình này diễn ra luôn có các dữ  
liệu điện tử trong không gian mạng, trên  
đường truyền và trong các thiết bị máy  
tính (phần cứng) của đối tượng thực hiện  
hành vi phạm tội và thiết bị máy tính là  
đối tượng tấn công của tội phạm. Tương  
tự như vậy, khi một tội phạm truyền  
Như vậy, nếu xem xét dưới góc độ khả  
năng nhận biết về dữ liệu điện tử bằng các  
giác quan của con người gắn với ý nghĩa  
khai thác, sử dụng trong việc tranh tụng,  
7ꢀ Marco Gercke (2009), “An introduction to cybercrime”,  
buộc tội, có thể đưa ra khái niệm về dữ Resource Material series No. 79, UNAFEI, 8  
10 Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
NGUYỄN ĐỨC HẠNH  
thống được thực hiện như tội lừa đảo dữ liệu này là mang tính khách quan,  
qua mạng, đối tượng phạm tội thông qua không phụ thuộc vào ý thức của người bị  
không gian mạng để tiếp cận người bị hại hại hoặc các đối tượng sử dụng các thiết  
thực hiện hành vi gian dối để người bị  
hại chuyển tiền cho đối tượng bằng trực  
tuyến hoặc ngoại tuyến thì dữ liệu điện  
tử cũng luôn có trong không gian mạng,  
thiết bị máy tính của đối tượng phạm tội,  
người bị hại và các phần mềm giúp đối  
tượng phạm tội và người bị hại giao dịch,  
trao đổi, giao tiếp với nhau.  
Sau khi tội phạm được thực hiện,  
trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ  
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có  
thể áp dụng các biện pháp điều tra nhằm  
phát hiện và thu thập chứng cứ như trưng  
cầu giám định, thực nghiệm điều tra,  
ghi âm, ghi hình, các biện pháp điều tra  
bằng phương pháp kỹ thuật số (ghi âm,  
ghi hình có âm thanh khi lấy lời khai, hỏi  
cung bị can), áp dụng các biện pháp điều  
tra đặc biệt… Kết quả của việc áp dụng  
các biện pháp điều tra này cũng có thể  
tạo ra, hình thành các dữ liệu điện tử là  
nguồn chứng cứ có khả năng xác định sự  
thật khách quan của vụ án.  
bị, phương tiện điện tử nếu không phải là  
đối tượng quản lý có khả năng điều chỉnh  
các thiết bị, phương tiện điện tử này.  
- Dữ liệu điện tử do đối tượng thực  
hiện hành vi phạm tội hoặc người bị hại  
tạo ra như: Các văn bản, bảng biểu, hình  
ảnh, thông tin… là nội dung của các thông  
điệp điện tử như email, chat, các dữ liệu  
tải xuống (download) và tải lên (upload)  
mạng... Các dữ liệu này có thể mang tới  
những thông điệp thông tin như nó vốn  
có nhưng cũng có thể mang lại những  
thông điệp thông tin không đúng với bản  
chất sự vật, hiện tượng bởi sự chỉnh sửa,  
xóa bỏ bớt dữ liệu hoặc bổ sung thêm vào  
dữ liệu.  
- Dữ liệu điện tử do các cơ quan chức  
năng hoặc cơ quan có thẩm quyền tố  
tụng tạo ra như: Dữ liệu trong các thiết  
bị, phương tiện điện tử khi tiến hành các  
biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, ghi lại  
việc thực nghiệm điều tra, khám nghiệm  
hiện trường, hỏi cung bị can…  
Như vậy, có thể thấy, trong quá trình  
giải quyết một vụ án hình sự, dữ liệu điện  
tử có thể được hình thành từ khi tội phạm  
được chuẩn bị, thực hiện, che giấu hoặc  
dữ liệu cũng có thể được hình thành khi  
các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan,  
tổ chức, cá nhân khác tạo ra sau khi tội  
phạm đã được thực hiện nhằm góp phần  
giải quyết vụ án hình sự.  
Căn cứ vào mức độ khách quan, độ tin  
cậy của các dữ liệu điện tử trong việc khai  
thác thông tin từ nguồn dữ liệu điện tử  
nhằm giải quyết vụ án hình sự, có thể chia  
dữ liệu điện tử thành các loại sau:  
3. Khái niệm chứng cứ điện tử và việc  
khai thác chứng cứ điện tử phục vụ việc  
buộc tội, tranh tụng tại phiên tòa  
3.1. Khái niệm chứng cứ điện tử  
Trong quá trình giải quyết vụ án hình  
sự, các chủ thể tiến hành và tham gia tố  
tụng bắt buộc phải sử dụng chứng cứ để  
đưa ra các quyết định và hành vi tố tụng,  
có như vậy mới phù hợp với quy định  
của pháp luật và thực hiện tốt chức năng,  
nhiệm vụ của các chủ thể được Luật tố  
tụng hình sự quy định. Trong quá trình  
tham gia tố tụng, không chỉ Viện kiểm sát  
mà ngay cả đối với các chủ thể khác, để có  
- Dữ liệu điện tử do máy tính tự động  
tạo ra như: “Cookies”, “URL”, E-mail logs, thể buộc tội và tranh tụng thành công thì  
web server logs, IP, thông tin truy cập tài chứng cứ là “vũ khí” quyết định thắng lợi.  
khoản, website… Đặc điểm của các dạng Nếu không có chứng cứ, không đủ chứng  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 11  
TỘI PHẠM MẠNG VÀ VIỆC KHAI THÁC DỮ LIỆU ĐIỆN TỬ...  
cứ tất yếu sẽ dẫn đến oan, sai và bỏ lọt niệm về “chứng cứ điꢀn tử”, đó là chứng  
cứ được khai thác hoặc thu thập được từ  
nguồn dữ liệu điện tử.  
tội phạm, đồng thời cũng không có đủ lý  
lẽ đối đáp khi tranh tụng. BLTTHS năm  
2015 lần đầu tiên quy định dữ liệu điện  
tử là một trong số những nguồn chứng  
cứ, đòi hỏi các chủ thể tiến hành và tham  
gia tố tụng muốn thực hiện tốt chức năng,  
nhiệm vụ của mình phải hiểu biết và khai  
thác tốt chứng cứ từ nguồn này, cũng như  
hiểu được mối tương quan giữa dữ liệu  
điện tử và các nguồn chứng cứ khác.  
Theo quy định của Điều 86 BLTTHS  
năm 2015 thì: “Chứng cứ là những gì có  
thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do  
Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ  
để xác định có hay không có hành vi phạm tội,  
người thực hiꢀn hành vi phạm tội và những  
tình tiết khác có ý nghĩa trong viꢀc giải quyết  
vụ án”. Trong đó, “những gì” ở đây có thể  
hiểu là những thông tin mà mọi người có  
thể nhận biết được trực tiếp bằng các giác  
quan hoặc thông qua một phương tiện  
nhất định. Những thông tin này có thật,  
tức là nó phản ánh khách quan về một sự  
vật, hiện tượng cụ thể, đồng thời có liên  
quan đến việc giải quyết vụ án hình sự và  
đảm bảo tính hợp pháp thông qua việc  
được thu thập theo trình tự, thủ tục do  
Luật tố tụng hình sự quy định.  
3.2. Khai thác chứng cứ điện tử phục vụ  
việc buộc tội, tranh tụng tại phiên tòa xét  
xử vụ án hình sự  
Trên cơ sở khái niệm chứng cứ điện tử  
nêu trên, có thể hiểu khai thác chứng cứ  
điện tử là việc các chủ thể có thẩm quyền  
tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố  
tụng, trong đó có Viện kiểm sát lựa chọn  
những thông tin có được từ nguồn dữ liệu  
điện tử để bảo vệ quan điểm của mình đối  
với quá trình giải quyết vụ án hình sự  
nhằm thực hiện chức năng tố tụng hình  
sự của chủ thể đó. VKSND tham gia tố  
tụng có hai chức năng là thực hành quyền  
công tố và kiểm sát việc giải quyết vụ án  
hình sự. Do đó, Viện kiểm sát khai thác  
chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử nhằm  
mục đích chủ yếu là buộc tội người thực  
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi  
là tội phạm, thực hiện việc tranh tụng  
với các chủ thể đối tụng khác bằng việc  
bảo vệ quan điểm truy tố, bác bỏ những  
luận điểm bào chữa của người bào chữa  
không chính xác, không có căn cứ và bảo  
đảm việc giải quyết vụ án hình sự được  
nhanh chóng, kịp thời, đúng người, đúng  
Để có được chứng cứ, những chủ thể tội, đúng pháp luật, không làm oan người  
vô tội, không bỏ lọt tội phạm, phát hiện  
và làm rõ những vi phạm thiếu sót trong  
hoạt động giải quyết vụ án hình sự để có  
những yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị  
nhằm khắc phục vi phạm.  
Buộc tội và tranh tụng tại phiên tòa  
xét xử vụ án hình sự là một trong những  
hoạt động thực hành quyền công tố của  
VKSND, sử dụng các chứng cứ đã thu  
thập được từ các nguồn chứng cứ khác  
nhau nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự  
đối với bị cáo tại phiên tòa và bảo vệ quan  
điểm truy tố của Viện kiểm sát, phản bác  
có thẩm quyền thu thập chứng cứ chỉ  
được tìm kiếm, phát hiện và thu thập từ  
các nguồn chứng cứ được quy định tại  
khoản 1 Điều 87 BLTTHS năm 2015, trong  
đó có nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử.  
Mặc dù BLTTHS năm 2015 không đề cập  
đến thuật ngữ “chứng cứ điꢀn tử” và không  
đưa ra khái niệm về “chứng cứ điꢀn tử”,  
nhưng trong thực tiễn hoạt động tố tụng,  
trong nghiên cứu khoa học, nhiều người  
vẫn sử dụng thuật ngữ này. Chúng tôi  
đồng tình với việc sử dụng thuật ngữ này  
với ý nghĩa như là một trường hợp đặc  
biệt của chứng cứ và có thể đưa ra khái lại những luận cứu bào chữa của bị cáo  
12 Khoa học Kiểm sát Số 01 - 2021  
NGUYỄN ĐỨC HẠNH  
và người bào chữa. Dữ liệu điện tử có ý phương tiện điện tử có cùng thuộc tính,  
nghĩa hết sức quan trọng đối với VKSND tiêu chuẩn với cùng một loại phần mềm  
trong việc buộc tội, tranh tụng tại phiên thì sẽ có các thông điệp chứa đựng thông  
tòa, bởi đây là một trong số nguồn chứng tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số,  
cứ đã được BLTTHS ghi nhận. Để dữ liệu hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự  
điện tử thực sự trở thành nguồn chứng mà con người có thể nhận biết, cảm nhận  
cứ hữu dụng trong quá trình tiến hành tố được. Do đó, Cơ quan điều tra, Viện kiểm  
tụng cần lưu ý một vài điểm như sau:  
sát có thể sao chép các dữ liệu từ hệ thống  
máy chủ, nhà mạng, đám mây… phục vụ  
cho việc giải quyết vụ án hình sự.  
+ Dữ liệu điện tử luôn được chứa  
đựng hoặc truyền, phát, tiếp nhận bởi các  
thiết bị, phương tiện điện tử nên các thiết  
+ Dữ liệu điện tử có thể truyền trong  
bị, phương tiện điện tử này tất yếu sẽ trở không gian từ thiết bị, phương tiện điện  
thành vật chứng của vụ án hình sự. Để thu tử này đến thiết bị, phương tiện điện tử  
giữ, kiểm tra, xem xét, đánh giá đối với dữ khác trong một khoảng thời gian mà  
liệu điện tử, đôi khi các cơ quan tiến hành không cần dây dẫn, với khoảng cách xa  
tố tụng phải lập biên bản đối với từng nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có  
hoạt động và như vậy, nguồn chứng cứ là thể tìm kiếm, phát hiện và thu giữ các  
biên bản phản ánh các hoạt động tố tụng dữ liệu điện tử này trong không gian khi  
đã song hành và củng cố, thống nhất với đang được truyền phát mà không cần  
dữ liệu điện tử, tạo thành sự thống nhất, phải thu giữ được thiết bị thu, phát. Việc  
phù hợp giữa hệ thống chứng cứ mà Viện phát hiện, thu giữ dữ liệu điện tử khi cần  
kiểm sát có thể khai thác để buộc tội và thiết sẽ cần đến sự trợ giúp từ những cán  
tranh tụng.  
+ Do dữ liệu điện tử có thuộc tính  
khôi phục sau khi bị xóa nên thông qua  
những phần mềm chuyên biệt, với những  
bộ có chuyên môn nghiệp vụ và cần phải  
tuân theo những quy định cụ thể có trong  
BLTTHS.  
Lời khai, lời trình bày của bị can, bị  
thiết bị, phương tiện điện tử nhất định, hại, nhân chứng… trong nhiều trường  
các chuyên gia có thể khôi phục lại dữ hợp được ghi âm, ghi hình có âm thanh  
liệu điện tử. Có thể lý giải điều này là việc hoặc việc ghi hình, chụp ảnh việc khám  
đưa dữ liệu điện tử trở về trạng thái ban nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều  
đầu mà khi thông qua thiết bị, phương tra…, tức là được lưu trữ dưới dạng dữ  
tiện điện tử, phần mềm có thể biểu hiện liệu điện tử có ý nghĩa trong việc buộc  
thành các thông điệp chứa đựng thông tin tội và tranh tụng đối với Viện kiểm sát.  
dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình Đặc biệt là trong trường hợp sau khi khai  
ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự mà con nhận, bị can, bị cáo và những người được  
người có thể nhận biết được như trước khi lấy lời khai phản cung, thay đổi lời khai  
bị xóa. Từ đó, Cơ quan điều tra, Viện kiểm tại phiên tòa.  
sát có thể trưng cầu chuyên gia khôi phục  
lại dữ liệu điện tử bị xóa trong các thiết bị  
và phương tiện điện tử thu giữ được.  
Để đưa ra những kết luận giám định  
khách quan, chính xác, các giám định viên  
có thể phải tiến hành thực nghiệm, phải so  
+ Dữ liệu điện tử có thể được sao sánh các mẫu vật, cũng như có nhiều hoạt  
chép từ dữ liệu điện tử gốc thành nhiều động khác sử dụng các thiết bị, phương  
dữ liệu điện tử mới có cùng thuộc tính, tiện điện tử nên sẽ khởi tạo ra các dữ liệu  
nội dung và khi thông qua thiết bị, điện tử. Khi đó, các thiết bị, phương tiện  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 13  
TỘI PHẠM MẠNG VÀ VIỆC KHAI THÁC DỮ LIỆU ĐIỆN TỬ...  
điện tử càng hiện đại, tiện nghi thì kết quả dọc tuyến đường mà đối tượng di chuyển  
giám định càng khách quan, chính xác,  
giúp cho việc buộc tội là đúng đắn và quá  
trình tranh tụng của Viện kiểm sát được  
thuyết phục, đầy đủ, thuận lợi.  
cùng nạn nhân, rút lists (danh sách) điện  
thoại di động theo số thuê bao của nạn  
nhân và đối tượng, thu thập các video  
clips (băng ghi hình) được ghi lại trong  
điện thoại của đối tượng để chứng minh  
hành vi phạm tội (Đây là trường hợp thông  
qua các nguồn chứng cứ khác để phát hiꢀn dữ  
liꢀu điꢀn tử), củng cố chứng cứ chứng minh  
hành vi phạm tội. Ngay cả khi bị cáo phản  
cung vẫn có đủ chứng cứ để buộc tội.  
Nói cách khác, chứng cứ điện tử có  
khả năng củng cố các chứng cứ có được  
từ các nguồn chứng cứ khác và ngược lại,  
các chứng cứ có được từ các nguồn chứng  
cứ khác cũng có khả năng củng cố chứng  
cứ thu thập được từ nguồn dữ liệu điện  
tử, giúp cho việc buộc tội và tranh tụng  
của Viện kiểm sát dễ dàng, thuyết phục  
và chính xác. Nắm vững và khai thác tốt  
mối quan hệ này còn giúp Viện kiểm sát  
có căn cứ vững chắc buộc tội, tranh tụng  
và đề nghị giải quyết các vấn đề khác của  
vụ án hình sự ngay cả khi có việc phản  
cung hoặc thay đổi lời khai trước đó.  
Có những trường hợp kết quả ủy  
thác tư pháp hình sự và hợp tác quốc tế  
giữa các quốc gia, cơ quan tư pháp được  
trao đổi, thực hiện thông qua các thiết bị,  
phương tiện điện tử để hạn chế chi phí tố  
tụng và rút ngắn thời gian thực hiện nên  
sẽ có các dữ liệu điện tử chứa đựng kết  
quả này, hỗ trợ tích cực cho việc buộc tội  
và tranh tụng của Viện kiểm sát tại các  
phiên tòa xét xử vụ án hình sự. Ví dụ, có  
thể sử dụng cầu truyền hình, email... để  
lấy lời khai nhân chứng, bị hại.  
Thông qua dữ liệu điện tử liên quan  
trực tiếp đến hành vi phạm tội khi tội  
phạm được chuẩn bị, thực hiện hoặc che  
giấu mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát  
có thể tìm kiếm, phát hiện, thu thập, củng  
cố các nguồn chứng cứ khác và ngược lại,  
cụ thể như:  
+ Trong quá trình giải quyết vụ án  
hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng  
thường xuyên thông qua dữ liệu điện tử  
để phát hiện ra nguồn chứng cứ khác và  
ngược lại. Ví dụ: Đối tượng lạ mặt vào  
nhà nạn nhân để hiếp dâm sau đó bỏ trốn,  
Cơ quan điều tra đã trích xuất camera  
an ninh nhà hàng xóm để nhận diện đối  
tượng, trên cơ sở đó tiến hành lập biên  
bản ghi lời khai các đối tượng hiềm nghi  
(Đây là trường hợp thông qua nguồn dữ liꢀu  
điꢀn tử để phát hiꢀn nguồn chứng cứ khác).  
+ Khi lấy lời khai, đối tượng hiềm  
nghi trình bày rằng: Trước đó đã gọi điện  
cho nạn nhân bằng sim điện thoại rác để  
hẹn gặp, sau đó đã khống chế nạn nhân  
và đưa nạn nhân về nhà đối tượng để  
thực hiện hành vi hiếp dâm và có dùng  
điện thoại ghi lại. Căn cứ vào lời khai này,  
4. Khó khăn, vướng mắc và thách thức  
trong việc khai thác nguồn dữ liệu điện  
tử phục vụ việc buộc tội, tranh tụng tại  
phiên tòa  
Mặc dù dữ liệu điện tử rất quan trọng  
và có ý nghĩa trong việc khai thác nhằm  
phục vụ việc buộc tội, tranh tụng tại phiên  
tòa xét xử hình sự, nhưng trong thực tiễn  
hiện nay, việc tổ chức thực hiện áp dụng  
các quy định pháp luật có liên quan và  
việc triển khai hoạt động khai thác dữ liệu  
điện tử nhằm phục vụ việc buộc tội, tranh  
tụng tại phiên tòa hình sự gặp không ít  
khó khăn, vướng mắc. Có thể kể đến như:  
- Hiện nay, hệ thống các khung pháp  
lý quy định về việc khai thác dữ liệu điện  
tử nhằm phục vụ việc buộc tội, tranh tụng  
Cơ quan điều tra đã trích xuất các camera tại phiên tòa xét xử hình sự chưa được  
14 Khoa học Kiểm sát Số 01 - 2021  
NGUYỄN ĐỨC HẠNH  
ban hành một cách đầy đủ, thống nhất.  
+ Chưa có quy định và sự thống  
Chưa có một quy trình chuẩn để thực hiện nhất trong việc quy định nghĩa vụ của  
các công ty viễn thông, các nhà cung cấp  
dịch vụ mạng máy tính, mạng viễn thông.  
Những đơn vị này phải cung cấp cho các  
cơ quan thực thi pháp luật dữ liệu điện tử  
về người dùng bao gồm nội dung về hoạt  
động của họ và địa chỉ IP, các thông tin  
khác không thuộc nội dung sử dụng dịch  
vụ hoặc không có quy định thống nhất về  
trách nhiệm lưu giữ các dữ liệu này trong  
khoảng thời gian là bao lâu. Do đó, trong  
trường hợp tội phạm sử dụng các phần  
mềm, trang Web có máy chủ đặt bên ngoài  
quốc gia mà hành vi phạm tội được diễn  
ra, các cơ quan tố tụng càng khó thu thập  
được các dữ liệu điện tử từ nhà mạng.  
+ Việc quy định người dùng Internet  
bắt buộc phải thể hiện rõ danh tính không  
được sự thống nhất ở các quốc gia, nhiều  
quốc gia cho phép người dùng có thể  
ẩn danh (không phải đăng ký tên khi sử  
dụng). Điều này cũng khiến công tác điều  
tra, phát hiện tội phạm và buộc tội gặp  
khó khăn hơn.  
việc ghi âm, ghi hình có âm thanh bằng  
kỹ thuật số khi hỏi cung bị can, lấy lời  
khai, thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận  
dạng… Chưa có các văn bản quy định về  
cách thức, tiểu chuẩn khi khôi phục dữ  
liệu điện tử bị xóa từ các thiết bị điện tử,  
phương tiện điện tử. Chưa có quy định về  
việc bảo quản, sao chép, lưu trữ các dữ  
liệu điện tử hình thành từ các hoạt động  
tố tụng hình sự.  
- Các Kiểm sát viên chưa được đào tạo  
một cách bài bản, đầy đủ để có hiểu biết  
sâu sắc về dữ liệu điện tử, thiết bị, phương  
tiện điện tử, phần mềm ứng dụng trên các  
thiết bị, phương tiện điện tử để có thể  
khai thác đầy đủ, triệt để các dữ liệu điện  
tử nhằm phục vụ việc buộc tội, tranh tụng  
tại phiên tòa xét xử hình sự.  
- Các điều kiện đảm bảo, hỗ trợ việc khai  
thác dữ liệu điện tử phục vụ việc giải quyết  
các vụ án theo quy định của tố tụng hình  
sự vẫn còn nhiều hạn chế. Hầu hết các Cơ  
quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chưa  
được trang bị các thiết bị, phương tiện điện  
tử và phần mềm tương thích phục vụ cho  
các hoạt động tố tụng hình sự.  
- Việc nhận thức và tổ chức thực hiện  
các quy định liên quan đến dữ liệu điện tử  
phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử  
đến nay vẫn chưa được các cấp, các ngành,  
các cơ quan tư pháp đánh giá cao và quan  
tâm một cách đúng mức. Trong phạm vi  
cả nước, có nhiều khu vực trình độ dân trí  
còn thấp, kém nên còn xa lạ với các thiết bị,  
phương tiện điện tử, kỹ thuật số.  
+ Khung pháp lý trong việc bảo quản,  
thu giữ dữ liệu điện tử theo yêu cầu của  
quốc gia khác vẫn còn là vấn đề nhạy  
cảm, hoạt động gián điệp thông qua hệ  
thống mạng máy tính chưa có những quy  
định thống nhất giữa các quốc gia, chưa  
có những Công ước quốc tế điều chỉnh cụ  
thể vấn đề này.  
5. Giải pháp nhằm nâng cao chất  
lượng việc khai thác nguồn dữ liệu điện  
tử phục vụ việc buộc tội, tranh tụng tại  
phiên tòa  
- Ngoài những khó khăn nêu trên, còn  
tồn tại một số thách thức, khó khăn mà  
nhiều nước trên thế giới cũng gặp phải  
khi khai thác nguồn dữ liệu điện tử phục  
vụ việc điều tra, giải quyết vụ án như8:  
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên  
quan đến việc triển khai thực hiện, quản  
lý, khai thác dữ liệu điện tử phục vụ việc  
buộc tội, tranh tụng tại phiên tòa hình sự.  
cybercrime investigation”, Resource Material series  
8ꢀ Group 2 (2009) “Challenges and best practices in No. 79, UNAFEI, 107-112  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 15  
TỘI PHẠM MẠNG VÀ VIỆC KHAI THÁC DỮ LIỆU ĐIỆN TỬ...  
- Sớm số hóa các tài liệu thông thường, sao lưu dữ liệu điện tử trước khi đưa đi  
các tàng thư tội phạm, thông tin về công giám định; thu giữ các dữ liệu điện tử  
dân Việt Nam, người không có quốc tịch,  
công dân nước ngoài nhập cảnh, xuất  
cảnh, các kết luận điều tra, cáo trạng, bản  
án… Hình thành những kho dữ liệu điện  
tử hỗ trợ việc khai thác để phục vụ việc  
điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự.  
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn  
để những người có thẩm quyền tố tụng  
đều hiểu biết sâu sắc về dữ liệu điện tử và  
chứng cứ điện tử như:  
+ Đưa vào chương trình giảng dạy  
tại các cơ sở đào tạo về tư pháp hình sự  
chuyên đề chuyên sâu về dữ liệu điện tử,  
chứng cứ điện tử.  
+ Triển khai bồi dưỡng, tập huấn cho  
lực lượng có thẩm quyền tố tụng đang  
thực thi pháp luật mà chưa được đào tạo  
về dữ liệu điện tử, chứng cứ trước đây.  
- Trang bị cơ sở vật chất cho các cơ quan  
tiến hành tố tụng, trong đó có các phương  
tiện điện tử, thiết bị điện tử, phần mềm uy  
tín để hỗ trợ việc tìm kiếm, phát hiện, ghi  
nhận, thu thập, bảo quản, củng cố, đánh  
giá, sử dụng các dữ liệu điện tử, chứng  
cứ điện tử trong giải quyết vụ án hình  
sự. Đồng thời, củng cố các chứng cứ khác  
thông qua chứng cứ điện tử và ngược lại.  
- Hình thành đội ngũ hỗ trợ và bổ trợ  
tư pháp có kiến thức chuyên môn sâu, có  
khả năng sử dụng các trang thiết bị điện  
tử, phương tiện điện tử, phần mềm để có  
thể phát hiện các dấu vết phi truyền thống,  
dấu vết điện tử… nhằm thu thập, bảo  
quản, giám định, khai thác tốt nhất nguồn  
chứng cứ điện tử phục vụ giải quyết vụ án.  
đang truyền trong không gian…  
- Hoàn thiện các quy định của tố tụng  
hình sự trong việc tìm kiếm, phát hiện,  
ghi nhận, thu thập, bảo quản, đánh giá,  
sử dụng chứng cứ điện tử bởi loại chứng  
cứ này có rất nhiều đặc điểm khác biệt so  
với chứng cứ truyền thống.  
- Tăng cường hợp tác quốc tế, chia sẻ  
thông tin, hiểu biết về dữ liệu điện tử,  
chứng cứ điện tử trong việc điều tra, truy  
tố, xét xử các vụ án hình sự; việc sử dụng  
các thành tựu khoa học kỹ thuật hình sự  
đặc biệt là kỹ thuật số, kỹ thuật điện tử, trí  
tuệ nhân tạo trong phát hiện và đấu tranh  
với các loại tội phạm.  
- Sử dụng các phương tiện điện tử,  
thiết bị điện tử để hỗ trợ việc tương trợ  
tư pháp hình sự và hợp tác quốc tế trong  
điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự  
có nhiều đối tượng phạm tội ở các quốc  
gia khác nhau, tội phạm xuyên quốc gia,  
tội phạm mạng, tội phạm công nghệ cao…  
nhằm giảm các chi phí tố tụng, rút ngắn  
thời gian giải quyết vụ án nhưng vẫn đạt  
được hiệu quả như mong muốn.  
- Các quốc gia trên thế giới cần thống  
nhất đối với quy định về việc lưu trữ thông  
tin của nhà cung cấp dịch vụ và kiểm soát  
thông tin về người dùng, cụ thể9:  
+ Quy định các nhà cung cấp dịch vụ  
có nghĩa vụ lưu giữ dữ liệu điện tử liên  
quan đến người dùng Internet trong thời  
gian tối thiểu là 180 ngày.  
+ Quy định việc yêu cầu xác định  
người truy cập Internet thông qua các thiết  
bị đầu cuối tại nơi công cộng thì buộc chủ  
sở hữu hoặc người phụ trách xác định  
những thông tin của các cá nhân này./.  
- Hoàn thiện các quy định pháp lý  
liên quan khác đến quản lý, khai thác, sử  
dụng dữ liệu điện tử từ các thiết bị điện  
tử, phương tiện điện tử, phần mềm… để  
đảm bảo tính liên quan, khách quan, hợp  
pháp của chứng cứ điện tử trong những  
trường hợp dữ liệu điện tử được khôi  
9ꢀ Group 1 (2009) “Issues and measure concerning  
the legal framework to combat cybercrime”, Resource  
phục sau khi bị xóa; phát hiện, bảo quản, Material series No. 79, UNAFEI, 98-106  
16 Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
pdf 9 trang Thùy Anh 11540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tội phạm mạng và việc khai thác dữ liệu điện tử phục vụ buộc tội, tranh tụng tại phiên tòa hình sự", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftoi_pham_mang_va_viec_khai_thac_du_lieu_dien_tu_phuc_vu_buoc.pdf