Giáo trình Giáo dục quốc phòng và an ninh - Bài 9: Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên

MỞ ĐẦU  
Lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên là một bộ phận trong lực  
lượng vũ trang của Đảng, lực lượng chiến lược của chiến tranh nhân dân, quốc  
phòng toàn dân, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ  
sở. Trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, để bảo vệ  
được những thành quả cách mạng đã đạt được, các cơ quan, đơn vị, địa phương  
cần tiếp tục quan tâm xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng lực  
lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên và chuẩn bị tốt việc động viên  
công nghiệp quốc phòng nhằm củng cố vững chắc nền quốc phòng - an ninh của  
Tổ quốc, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ  
quốc trong thời kì mới.  
Bài giảng được biên soạn dựa trên cơ sở Giáo trình giáo dục quốc phòng –  
an ninh, tập một, dùng cho đại học, cao đẳng, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam,  
năm 2014.  
1
Phần I  
XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN TỰ VỆ  
I. KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ NHIỆM VỤ CỦA LỰC LƯỢNG DÂN  
QUÂN TỰ VỆ.  
1. Khái niệm.  
Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quân chúng, không thoát ly sản xuất,  
công tác, là thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân nước Cộng hào xã hội  
chủ nghĩa Việt Nam; là lực lượng bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính  
mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước, làm nồng cốt cho toàn dân  
đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi có chiến tranh.  
Lực lượng này được tổ chức ở xã, phường, thị trấn gọi là dân quân; được  
tổ chức ở cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, đợn vị  
sự nghiệp, tổ chức kinh tế gọi là tự vệ.  
2. Vị trí, vai trò của lực lượng dân quân tự vệ.  
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Dân quân tự vệ là một lực lượng chiến lược  
trong chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, làm nòng cốt cho toàn dân  
đánh giặc bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ địa phương.  
Đánh giá về vai trò Dân quân tự vệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói "Dân  
quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là lực lượng vô địch, là bức  
tường sắt của Tổ quốc. Vô luận kẻ thù nào dù hung bạo đến đâu hễ đụng vào lực  
lượng đó, bức tường đó thì địch nào cũng phải tan rã”.  
Trong tình hình hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện hai  
nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, chúng  
ta phải đối phó âm mưu, thủ đoạn của chiến lược "Diễn biến hoà bình”, bạo loạn  
lật đổ và sẵn sàng chiến đấu chống mọi tình huống chiến tranh xâm lược của các  
thế lực thù địch.  
Lực lượng dân quân tự vệ là một trong những công cụ để bảo vệ độc lập  
chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đất nước, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính  
mạng và tài sản của Nhà nước và nhân dân tại địa phương, cơ sở.  
3. Nhiệm vụ của lực lượng Dân quân tự vệ. (6 nhiệm vụ).  
- Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và phục vụ chiến đấu để bảo vệ địa  
phương, cơ sở; phối hợp với các đơn vị bộ đội biên phòng, hải quân, cảnh sát  
biển và lực lượng khác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và chủ  
quyền, quyền chủ quyền trên các vùng biển Việt Nam.  
- Phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực  
lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, khu vực  
phòng thủ; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính  
quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước.  
2
- Thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch  
bệnh, tìm kiếm, cứu nạn, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng, bảo vệ môi trường  
và nhiệm vụ phòng thủ dân sự khác.  
- Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối,  
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh; tham gia  
xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội tại  
địa phương, cơ sở.  
- Học tập chính trị, pháp luật, huấn luyện quân sự và diễn tập.  
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.  
II. NỘI DUNG XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN TỰ VỆ.  
1. Phương châm xây dựng.  
Xây dựng dân quân tự vệ theo hướng “vững mạnh, rộng khắp, coi trọng  
chất lượng là chính”.  
a) Vững mạnh : Được thể hiện là chất lượng phải toàn diện cả về chính trị tư  
tưởng, tổ chức, trình độ chính trị, quân sự và chuyên môn nghiệp vụ, biên chế trang bị  
hợp lí, thống nhất, có kỷ luật nghiêm, cơ động nhanh sẵn sàng chiến đấu tốt. Mỗi tổ  
chức dân quân tự vệ phải luôn vững vàng.  
b) Rộng khắp: Lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng ở hầu hết các làng,  
bản, xóm, ấp xã, phường, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội, ở đâu có tổ chức  
Đảng, chính quyền và có dân, đều phải tổ chức dân quân tự vệ, kể cả các doanh  
nghiệp ngoài quốc doanh. Trường hợp các doanh nghiệp ngoài quốc doanh  
không đủ điều kiện (không có tổ chức Đảng) tổ chức dân quân tự vệ nếu có yêu  
cầu thì giám đốc doanh nghiệp đề nghị và được Bộ chỉ huy quân sự tỉnh (thành  
phố trực thuộc trung ương) đồng ý thì công dân được tham gia dân quân tự vệ ở  
địa phương (nơi cư trú). Giám đốc doanh nghiệp phải bảo đảm thời gian và tạo  
điều kiện cho công nhân tham gia dân quân tự vệ hoạt động.  
c) Coi trọng chất lượng là chính: Chỉ tuyển chọn đưa vào đội ngũ những  
công dân có lí lịch rõ ràng, có hộ khẩu thường trú tại địa phương, có phẩm chất  
chính trị, đạo đức tốt, chấp hành đúng các chủ trương, chính sách của Đảng,  
pháp luật Nhà nước, các quy định ở địa phương, có sức khoẻ phù hợp.  
2. Tổ chức, biên chế, trang bị của lực lượng dân quân tự vệ.  
Tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị của lực lượng dân quân tự vệ phải phù  
hợp với tính chất, yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng - an ninh thời bình, thời chiến,  
đặc điểm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và điều kiện cụ thể của từng bộ,  
ngành, địa phương và cơ sở.  
a) Về tổ chức:  
Dân quân tự vệ được tổ chức có 2 lực lượng chính: Lực lượng nòng cốt  
(lực lượng chiến đấu) và lực lượng rộng rãi (lực lượng phục vụ chiến đấu).  
3
- Lực lượng dân quân tự vệ nòng cốt bao gồm: Dân quân tự vệ bộ binh,  
binh chủng, dân quân tự vệ biển (đối với vùng biển), được tổ chức thành lực  
lượng cơ động và lực lượng tại chỗ. Đối với xã thuộc địa bàn trọng điểm có yêu  
cầu chiến đấu cao thì được xem xét tổ chức lực lượng dân quân thường trực.  
Nhiệm vụ của lực lượng cơ động là chiến đấu, tiêu hao, tiêu diệt, chi viện  
cho lực lượng chiến đấu tại chỗ, khi cần thiết có thể cơ động chiến đấu trên địa  
bàn địa phương khác. Nhiệm vụ của lực lượng chiến đấu tại chỗ là chiến đấu,  
sẵn sàng chiến đấu trên địa bàn địa phương theo kế hoạch, phương án, khi cần  
có thể tăng cường cho lực lượng chiến đấu cơ động.  
- Lực lượng dân quân tự vệ rộng rãi: Gồm cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ  
nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ dân quân tự vệ và công dân trong độ tuổi quy  
định (nam từ đủ 18 đến hết 45 nữ từ đủ 18 đến hết 40 tuổi).  
Nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, vận chuyển tiếp tế, khắc phục hậu quả chiến  
đấu, bảo vệ và sơ tán nhân dân.  
Về quy mô: Tổ chức từ cấp tổ, tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn (cấp  
đại đội ở xã, phường lớn; cấp cấp tiểu đoàn ở các doanh nghiệp nhà nước do  
quân khu trở lên quy định).  
b) Biên chế:  
Biên chế dân quân tự vệ được thống nhất trong toàn quốc. Số lượng cán bộ  
cán bộ chiến sĩ từng đơn vị do Bộ Quốc phòng quy định  
c) Về cơ cấu và chức năng của cán bộ quân sự cơ sở, phân đội:  
Cơ cấu biên chế ban chỉ huy quân sự được tổ chức ở xã, phường, thị trấn,  
các doanh nghiệp của địa phương và các ngành của nhà nước gồm 3 người: chỉ  
huy trưởng, chính trị viên và phó chỉ huy trưởng. Ban chỉ huy quân sự cơ sở  
chịu trách nhiệm làm tham mưu giúp cấp uỷ, chính quyền cấp mình tổ chức triển  
khai công tác hoạt động dân quân tự vệ. Cấp xã, phường, thị trấn chỉ huy trưởng  
là thành viên uỷ ban nhân dân, là đảng viên, thường nằm trong cơ cấu cấp uỷ địa  
phương. Các cơ sở khác, chỉ huy trưởng có thể kiêm nhiệm hoặc không kiêm  
nhiệm. Bí thư đảng uỷ, Bí thư chi bộ các cơ sở kiêm chính trị viên chịu trách  
nhiệm về công tác đảng, công tác chính trị trong dân quân tự vệ. Phó chỉ huy  
trưởng ở xã phường là cán bộ chuyên trách, các phó chỉ huy cơ sở còn lại là  
chuyên trách hoặc kiêm nhiệm. Xã đội trưởng, chính trị viên xã đội, xã đội phó  
và tương đương do chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện bổ nhiệm theo đề nghị  
của uỷ ban nhân dân cấp xã sau khi đã thống nhất với huyện đội trưởng. Thôn  
đội trưởng, trung đội trưởng, tiểu đội trưởng và khẩu đội trưởng dân quân tự vệ  
do Huyện đội trưởng bổ nhiệm theo đề nghị của của xã đội trưởng. Cơ cấu cán  
bộ tiểu đoàn, đại đội, gồm chỉ huy trưởng, chính trị viên, phó chỉ huy trưởng.  
Cấp trung đội, tiểu đội và tương đương có một cấp trưởng, một cấp phó.  
d) Về vũ khí, trang bị của dân quân tự vệ:  
4
Vũ khí, trang bị cho dân quân tự vệ từ các nguồn do Bộ Quốc phòng cấp,  
các địa phương tự chế tạo hoặc thu được của địch. Song, dù từ nguồn nào, vũ  
khí trang bị đó cũng đều là tài sản của nhà nước giao cho dân quân tự vệ quản lí.  
Do vậy, phải được đăng kí, quản lí, bảo quản chặt chẽ ; sử dụng đúng mục đích  
và đúng quy định của pháp luật.  
3. Giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự đối với dân quân tự vệ.  
a) Giáo dục chính trị: Giáo dục chính trị cho lực lượng dân quân tự vệ là  
một nội dung quan trọng hàng đầu, nhằm làm cho dân quân tự vệ nâng cao nhận  
thức về chính trị, lập trường tư tưởng vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng.  
Trên cơ sở đó phát huy tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ,  
bảo vệ quê hương, làng xóm, địa phương, đơn vị mình.  
Nội dung giáo dục cần tập trung không ngừng tăng cường bản chất cách  
mạng và ý thức giác ngộ giai cấp cho cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ, trên cơ  
sở đó, thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng, nhận rõ bản chất, âm mưu  
thủ đoạn của kẻ thù. Giáo dục truyền thống dân tộc, tinh thần yêu nước, yêu  
chế độ xã hội chủ nghĩa ; mục tiêu lí tưởng của Đảng; con đường đi lên chủ  
nghĩa xã hội mà đảng và nhân dân ta lựa chọn; quán triệt hai nhiệm vụ chiến  
lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ củng cố quốc phòng - an ninh,  
chống “Diễn biến hoà bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch : công tác  
quốc phòng địa phương, xây dựng lực lượng nhân dân. Một số nội dung cơ bản  
về Hiến pháp, pháp luật, Pháp lệnh về dân quân tự vệ, nội dung phương pháp  
tiến hành vận động quần chúng,...  
b) Huấn luyện quân sự: Hằng năm, lực lượng dân quân tự vệ được huấn  
luyện theo nội dung, chương trình do Bộ Quốc phòng quy định, nội dung huấn  
luyện phải phù hợp và sát với cơ sở do chỉ huy quân sự địa phương các cấp xác  
định cụ thể. Huấn luyện toàn diện cả chiến thuật, kĩ thuật, cả bộ binh và các binh  
chủng, chuyên môn kĩ thuật,... Thời gian huấn luyện theo quy định của pháp  
lệnh.  
III. MỘTSỐBIỆNPHÁP XÂYDỰNGDÂNQUÂNTỰVỆTRONG GIAIĐOẠNHIỆN  
NAY.  
- Thường xuyên giáo dục, quán triệt sâu rộng các quan điểm, chủ trương  
chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác dân quân tự vệ.  
-Phát huysức mạnh tổnghợptrênđịabànđểxâydựnglựclượng dânquântựvệ.  
-Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ gắn với xây dựng cơ sở vững mạnh  
toàn diện.  
-Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các chế độ chính sách của Đảng và Nhà  
nước đối với lực lượng dân quân tự vệ.  
Tóm lại: Dân quân tự vệ là lực lượng chiến đấu tại chỗ ở địa phương, bảo  
vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính mạng  
và tài sản của nhân dân ở cơ sở, là thành phần không thể thiếu của lực lượng vũ  
5
trang nhân dân Việt Nam. Việc xây dựng lực lượng dân quân tự vệ là nhiệm vụ  
của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị trong sự nghiệp  
bảo vệ Tổ quốc.  
Phần II  
XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN  
I. KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ, NHỮNG QUAN ĐIỂM NGUYÊN TẮC.  
1. Khái niệm:  
Lực lượng dự bị dự bị động viên gồm quân nhân dự bị và phương tiện kĩ  
thuật đã xếp trong kế hoạch bổ sung cho lực lượng thường trực của quân đội  
nhằm duy trì tiềm lực quân sự, là yếu tố góp phần quyết định sự thắng lợi trong  
chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.  
Quân nhân dự bị gồm sĩ quan dự bị, quân nhân chuyên nghiệp dự bị và  
hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị. Phương tiện kĩ thuật gồm phương tiện vận tải,  
làm đường, xếp dỡ, thông tin liên lạc, y tế và một số phương tiện khác.  
Danh mục phương tiện kĩ thuật do Chính phủ quy định (Pháp lệnh về Lực  
lượng dự bị động viên năm 1996).  
Quân nhân dự bị, phương tiện kĩ thuật trong kế hoạch biên chế cho lực  
lượng thường trực của quân đội, thông qua các đơn vị dự bị động viên. Trong  
thời bình, lực lượng dự bị động viên được đăng kí, quản lí, huấn luyện theo  
chương trình quy định và sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.  
2. Vị trí, vai trò công tác xây dựng lực lượng dự bị động viên:  
Công tác xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên giữ vị trí rất  
quan trọng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; là một trong  
những nhiệm vụ cơ bản nhất góp phần xây dựng tiềm lực quốc phòng toàn dân,  
thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, bảo đảm nguồn  
nhân lực bổ sung, mở rộng lực lượng quân đội khi chuyển đất nước sang trạng  
thái chiến tranh.  
Lực lượng dự bị động viên phối hợp chặt chẽ với dân quân tự vệ, công  
an... làm tăng thêm sức mạnh chiến đấu trên các địa bàn trong khu vực phòng  
thủ, bảo đảm sự vững chắc của thế trận quốc phòng ở địa phương, cơ sở.  
Công tác xây dựng lực lượng dự bị động viên là biểu hiện quán triệt quan  
điểm về sự kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược trong xây dựng và bảo vệ  
Tổ quốc, sự kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế với  
nhiệm vụ xây dựng và củng cố quốc phòng, quốc phòng với kinh tế.  
Lực lượng dự bị động viên được xây dựng để bổ sung cho lực lượng  
thường trực của quân đội. Lực lượng dự bị động viên được xây dựng tốt sẽ làm  
nòng cốt cho cả xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và cả trong thực hiện chiến  
lược quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc.  
6
II. NHỮNG QUAN ĐIỂM, NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DỰ BỊ  
ĐỘNG VIÊN.  
1. Xây dựng lực lượng dự bị động viên bảo đảm số lượng đủ, chất lượng  
cao, xây dựng toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm.  
Việc tổ chức xây dựng lực lượng dự bị động viên ở nước ta là một vấn đề  
hệ trọng, quan hệ đến vận mệnh của quốc gia, đặc biệt khi phải đối phó với  
chiến tranh quy mô lớn. Do đó, ngay từ thời bình, phải xây dựng lực lượng dự bị  
động viên hùng hậu theo kế hoạch đã xác định mới có khả năng giành thắng lợi  
khi có lệnh động viên.  
Xây dựng lực lượng dự bị động viên phải có chất lượng cao. Chất lượng  
cao được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, tinh thần, tổ chức, lãnh đạo,  
chỉ huy, trình độ kĩ thuật, chiến thuật, chuyên môn nghiệp vụ, trang bị, khả năng  
bảo đảm hậu cần kĩ thuật. Vì vậy, để có chất lượng cao, yêu cầu đầu tiên là phải  
xây dựng lực lượng dự bị động viên vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức,  
có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ,  
trong đó tập trung vào khâu quản lí, giáo dục, tạo nguồn.  
Cùng với xây dựng lực lượng dự bị động viên vững mạnh về chính trị, tư  
tưởng và tổ chức, phải nâng cao trình độ toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ. Việc  
huấn luyện quân sự cho lực lượng dự bị động viên phải được tiến hành nghiêm  
túc theo chương trình quy định của Bộ Quốc phòng.  
2. Xây dựng lực lượng dự bị động viên phải phát huy sức mạnh tổng hợp  
của cả hệ thống chính trị.  
Xây dựng lực lượng dự bị động viên là nhiệm vụ chính trị thường xuyên  
của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, là cuộc vận động chính trị sâu sắc trong  
quần chúng để thực hiện nghĩa vụ bảo vệ chế độ, bảo vệ chế độ. Sự lãnh đạo  
trực tiếp, tuyệt đối, về mọi mặt của Đảng từ Trung ương đến cơ sở, được thể chế  
hoá bằng các văn bản pháp luật của cơ quan lập pháp, sự điều hành của Chính  
phủ, chính quyền địa phương các cấp, sự hiệp đồng thực hiện giữa các đơn vị  
quân đội, cơ quan quân sự với các cơ quan trong hệ thống chính quyền, các tổ  
chức chính trị, kinh tế, xã hội,... và sự chăm lo xây dựng của toàn xã hội. Sự  
lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng dự bị động viên là từ Trung ương đến cơ  
sở, được thể hiện trên tất cả các mặt công tác, từ bước chuẩn bị đến thực hành  
nhiệm vụ động viên.  
Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị,của toàn xã hội và  
của mọi công dân để xây dựng lực lượng dự bị động viên vững mạnh. Đó là yếu  
tố cơ bản nhất luôn bảo đảm cho lực lượng dự bị động viên có số lượng hợp  
lí,chất lượng cao,đáp ứng được yêu cầu trong mọi tình huống.  
3. Xây dựng lực lượng dự bị động viên đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng các  
cấp ở địa phương, bộ, ngành.  
7
Xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng của việc xây dựng lực lượng dự bị động  
viên như trên nên xây dựng lực lượng dự bị động viên phải đặt dưới sự lãnh đạo  
trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng. Đây là nguyên tắc cơ bản nhằm bảo  
đảm cho lực lượng này luôn có nội dung, phương hướng, mục tiêu xây dựng  
đúng đắn, nhằm bảo đảm sức mạnh của quân đội đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững  
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.  
Sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng lực lượng dự bị động viên được thể hiện  
trên tất cả các khâu, các bước, từ chuẩn bị đến thực hành động viên lực lượng.  
III. NỘI DUNG XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN.  
1. Phương thức xây dựng lực lượng dự bị động viên.  
a)Phương thức chung: Phát huy khả năng trách nhiệm cao nhất của địa  
phương, các ngành kinh tế, kết hợp chặt chẽ với khả năng, trách nhiệm đầy đủ  
của các đơn vị quân đội để tổ chức xây dựng lực lượng dự bị động viên.Với  
phương thức địa phương chuyển việc giao nguồn cho các đơn vị chủ lực sang tổ  
chức hình thành các đơn vị dự bị động viên theo nhiệm vụ trên giao. Trong đó địa  
phương thực hiện là chính (trừ vũ khí trang bị và huấn luyện), các đơn vị chủ lực  
nhận nguồn cung cấp biểu biên chế, phối hợp cùng địa phương tổ chức thực hiện.  
b) Phương thức tổ chức các đơn vị dự bị động viên: Đơn vị biên chế khung  
thường trực và đơn vị không biên chế khung thường trực.  
2. Nội dung xây dựng.  
a) Tạo nguồn, đăng kí, quản lí lực lượng dự bị động viên.  
- Tạo nguồn: Là cơ sở quan trọng nhất để lập kế hoạch xây dựng và huy  
động lực lượng dự bị động viên.  
Biện pháp tạo nguồn đối với sĩ quan dự bị, cơ quan quân sự địa phương  
quản lí chắc số sĩ quan phục viên, xuất ngũ. Hàng năm, lựa chọn những đồng chí  
tuổi đời còn trẻ, có sức khoẻ, phẩm chất năng lực tốt đưa họ vào tạo nguồn. Số  
cán bộ chuyên môn kĩ thuật của nền kinh tế quốc dân (y tế, bưu chính viễn  
thông, giao thông vận tải...) có thể phục vụ lợi ích quốc phòng khi có chiến  
tranh. Hằng năm, tuyển chọn số hạ sĩ quan có phẩm chất năng lực tốt trước khi  
xuất ngũ cho đi huấn luyện, đào tạo họ thành sĩ quan dự bị.Học sinh viên từ các  
trường đại học, sau khi tốt nghiệp được đào tạo thành sĩ quan dự bị.Bộ Quốc  
phòng phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện liên kết đào tạo theo nhu  
cầu chuyên môn kĩ thuật. Đào tạo xong có thể chuyển một số sang quân đội, số  
còn lại đưa vào ngạch lực lượng dự bị động viên. Đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ  
sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự phục viên xuất ngũ, có đủ điều kiện về  
phẩm chất năng lực, sức khoẻ đưa họ vào nguồn. Ngoài ra, đưa cả số thanh niên  
đã được tuyển chọn xếp vào diện sẵn sàng nhập ngũ, nhưng chưa nhập ngũ vào  
nguồn quân nhân dự bị. Đối với phương tiện kĩ thuật (theo Điều 4, 24, 26 Pháp  
lệnh dự bị động viên ).  
8
- Đăng kí quản lí nguồn: Việc đăng kí, quản lí lực lượng dự bị động  
viên phải có kế hoạch thường xuyên, chặt chẽ và chính xác, đăng kí quản lí cả  
con người và phương tiện kĩ thuật.  
Đối với quân nhân dự bị, được tiến hành đăng kí, quản lí tại nơi cư trú, do  
Ban chỉ huy quân sự xã (phường), ban chỉ huy quân sự huyện (quận, thị xã,  
thành phố trực thuộc tỉnh) thực hiện. Đăng kí quản lí phải chính xác theo từng  
chuyên ngành quân sự, độ tuổi, loại sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình, trình độ văn  
hoá, nhận thức về chính trị, trình độ hiểu biết về quân sự, chuyên môn, nghiệp  
vụ. Đối với phương tiện kĩ thuật, phải đăng kí, quản lí chính xác thường xuyên  
cả số lượng, chất lượng, tình trạng kĩ thuật của từng phương tiện.  
b) Tổ chức, biên chế đơn vị dự bị động viên: Tổ chức, biên chế lực lượng  
dự bị động viên là tổ chức sắp xếp quân nhân dự bị, phương tiện kĩ thuật thành  
từng đơn vị dự bị động viên theo kế hoạch để quản lí, huấn luyện nâng cao khả  
năng sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu. Các đơn vị dự bị động viên phải  
duy trì đủ quân số, trang bị và phương tiện kĩ thuật. Hiện nay, đơn vị dự bị động  
viên được tổ chức theo các loại hình: đơn vị biên chế thiếu, đơn vị biên chế  
khung thường trực, đơn vị không có khung thường trực, đơn vị biên chế đủ nhân  
đôi và đơn vị chuyên môn thời chiến. Khi sắp xếp quân nhân dự bị vào các đơn  
vị dự bị động viên phải theo nguyên tắc:  
Sắp xếp người có trình độ chuyên nghiệp quân sự, chuyên môn kĩ thuật  
phù hợp với chức danh biên chế, nếu thiếu thì sắp xếp người có trình độ chuyên  
nghiệp quân sự, chuyên môn kĩ thuật tương ứng.  
Sắp xếp quân nhân dự bị hạng một trước, nếu thiếu thì sắp xếp quân nhân  
dự bi hạng hai. Sắp xếp những quân nhân dự bị cư trú gần nhau vào từng đơn vị.  
c) Giáo dục chính trị, huấn luyện diễn tập, kiểm tra đơn v ị dự bị động viên.  
- Giáo dục chính trị: Giáo dục chính trị là nhiệm vụ hàng đầu trong xây  
dựng lực lượng dự bị động viên, làm cho cán bộ chiến sĩ nâng cao nhận thức về  
chính trị, có lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định mục tiêu, lí tưởng.  
Nội dung giáo dục: Cần tập trung vào đường lối, chủ trương, chính sách  
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quan điểm quốc phòng toàn dân, chiến tranh  
nhân dân, xây dựng lực lượng dự bị động viên, âm mưu thủ đoạn của kẻ thù đối  
với cách mạng, truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta. Giáo dục chính  
trị phải thường xuyên liên tục cho tất cả các đối tượng; được thực hiện xen kẽ  
trong từng giai đoạn, từng đợt huấn luyện, diễn tập.  
- Công tác huấn luyện: Phương châm huấn luyện: “Chất lượng, thiết thực,  
hiệu quả, tập trung có trọng tâm, trọng điểm”. Nội dung huấn luyện gồm kĩ  
thuật bộ binh, binh chủng; chiến thuật từng người đến cấp đại đội, công tác hậu  
cần, băng bó cứu thương và hoạt động chống “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật  
đổ. Có thể huấn luyện tập trung tại các đơn vị dự bị động viên hoặc phân tán tại  
các địa phương, cơ sở. Cần vận dụng sáng tạo, linh hoạt những phương pháp  
huấn luyện thích hợp sát đối tượng, sát thực tế.  
9
Hàng năm, sau khoá huấn luyện, lực lượng dự bị động viên sẽ tham gia hợp  
luyện, diễn tập. Kết thúc diễn tập, tổ chức rút kinh nghiệm để kịp thời bổ sung,  
nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục trong các đơn vị.  
Cùng với huấn luyện diễn tập, chế độ kiểm tra thực hiện nhiệm vụ được  
tiến hành theo quy định nhằm giúp lãnh đạo, chỉ huy nắm được thực trạng tổ chức,  
xây dựng lực lượng DBĐV để có chủ trương, biện pháp sát đúng.  
d) Bảo đảm hậu cần, kĩ thuật, tài chính cho xây dựng lực lượng dự bị động  
viên: Vật chất kĩ thuật, kinh phí là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm xây dựng  
lực lượng dự bị động viên gồm vũ khí trang bị, hậu cần kĩ thuật và tài chính.  
Yêu cầu phải bảo đảm đúng mức, đủ để triển khai xây dựng lực lượng dự bị  
động viên chất lượng ngày càng cao.  
Việc bảo đảm vật chất, kinh phí hàng năm do Chính phủ giao chỉ tiêu  
nhiệm vụ cụ thể cho các bộ ngành, địa phương thực hiện.  
IV. MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN.  
- Thường xuyên giáo dục sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về  
vị trí, nhiệm vụ, những quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với lực lượng dự bị  
động viên.  
- Thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự  
và các cơ quan chức năng làm tham mưu và tổ chức thực hiện.  
- Thường xuyên củng cố, kiện toàn, bồi dưỡng cơ quan và đội ngũ cán bộ  
làm công tác xây dựng lực lượng dự bị động viên.  
- Thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà  
nước đối với lực lượng dự bị động viên.  
Tóm lại, xây dựng lực lượng dự bị động viên có vị trí hết sức quan trọng  
trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là nhiệm vụ của  
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị ở nước ta.  
Phần III  
ĐỘNG VIÊN CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG  
I. KHÁI NIỆM, NGUYÊN TẮC, YÊU CẦU ĐỘNG VIÊN CÔNG NGHIỆP  
QUỐC PHÒNG.  
1. Khái niệm:  
Động viên công nghiệp quốc phòng là huy động một phần hoặc toàn bộ  
năng lực sản xuất, sửa chữa trang bị cho Quân đội của doanh nghiệp công  
nghiệp ngoài lực lượng quốc phòng, nhằm huy động mọi nguồn lực của đất  
nước hoặc một số địa phương,... phục vụ cho quốc phòng, nhằm giành thế chủ  
động, bảo toàn, phát huy tiềm lực mọi mặt của quốc gia, duy trì, ổn định sản  
xuất và đời sống của nhân dân, giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong  
mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.  
10  
Khái niệm trên thể hiện khái quát một số nội dung chính sau đây:  
- Động viên công nghiệp quốc phòng được chuẩn bị từ thời bình, là việc  
làm thường xuyên từ Trung ương đến địa phương.  
- Động viên công nghiệp quốc phòng không áp dụng đối với các doanh  
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.  
- Có thể tổng động viên hoặc động viên cục bộ: Chiến tranh tương lai nếu  
xảy ra là một cuộc chiến tranh hiện đại, đối phương chủ yếu sử dụng vũ khí  
công nghệ cao, bất ngờ, tiến công từ xa vào các mục tiêu trọng yếu trên phạm cả  
nước, bằng pháo binh, không quân, tên lửa hành trình... Vì vậy, động viên công  
nghiệp quốc phòng chúng ta phải được chuẩn bị từ thời bình, bảo đảm cho đất  
nước luôn ở trạng thái sẵn sàng đáp ứng được với mọi tình huống.  
2. Nguyên tắc động viên công nghiệp quốc phòng:  
- Động viên công nghiệp quốc phòng được tiến hành trên cơ sở năng lực  
sản xuất, sửa chữa đã có của các doanh nghiệp công nghiệp, Nhà nước chỉ đầu  
tư thêm trang thiết bị chuyên dùng để hoàn chỉnh dây chuyền sản xuất, sửa chữa  
trang bị cho Quân đội.  
- Việc lựa chọn, giao nhiệm vụ động viên công nghiệp quốc phòng cho các  
doanh nghiệp công nghiệp phải bảo đảm tính đồng bộ theo nhu cầu sản xuất, sửa  
chữa trang bị của Quân đội và phù hợp với năng lực sản xuất, sửa chữa trang bị  
của doanh nghiệp.  
- Nhà nước bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp công nghiệp,  
người lao động trong chuẩn bị và thực hành động viên công nghiệp quốc phòng.  
3. Yêu cầu động viên công nghiệp quốc phòng:  
- Chuẩn bị và thực hành động viên công nghiệp quốc phòng phải bảo đảm bí  
mật, an toàn, tiết kiệm, hiệu quả, đúng kế hoạch, nhanh chóng tăng cường sức  
mạnh về mọi mặt, sẵn sàng đối phó với các tình huống chiến tranh.  
Đây là yêu cầu cơ bản, có tính quyết định đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ  
động viên công nghiệp quốc phòng. Trước hết về kế hoạch động viên công nghiệp  
quốc phòng của các cấp, theo quy định của Nhà nước thuộc tài liệu tuyệt mật, vì  
vậy việc xây dựng, quản lí, khai thác kế hoạch phải tuân thủ chặt chẽ theo quy định  
của pháp luật ; các doanh nghiệp công nghiệp phải có trách nhiệm thực hiện chế độ  
quản lí, sử dụng, bảo mật theo đúng quy định.  
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, việc bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả là  
một yêu cầu rất quan trọng, nhất là trong điều kiện ngân sách bảo đảm cho  
động viên công nghiệp quốc phòng của Nhà nước và Bộ quốc phòng còn  
nhiều hạn hẹp.Khi có lệnh thực hành động viên công nghiệp, nếu không bảo đảm  
đủ số lượng, đúng thời gian quy định theo kế hoạch được giao sẽ gây ảnh hưởng rất  
lớn đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ của quân đội.  
11  
- Chuẩn bị và thực hành động viên công nghiệp quốc phòng phải bảo đảm cho  
yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của các địa phương trong thời  
chiến. Đây là một yêu cầu rất quan trọng trong chuẩn bị và thực hành động viên  
công nghiệp xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của các địa phương trong thế trận  
quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.  
Trên đây là yêu cầu cơ bản, có tính quyết định đến kết quả của công tác  
động viên công nghiệp quốc phòng. Vì vậy, kế hoạch động viên công nghiệp  
quốc phòng của các cấp các ngành phải theo đúng quy định của nhà nước thuộc  
tài liệu mật, phải tuân thủ chặt chẽ theo quy định của pháp luật.  
II. MỘT SỐ NỘI DUNG ĐỘNG VIÊN CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG.  
1.Chuẩn bị động viên công nghiệp quốc phòng.  
- Khảo sát, lựa chọn doanh nghiệp công nghiệp có khả năng sản xuất, sửa  
chữa trang bị, nội dung khảo sát gồm:  
Đặc điểm tình hình; cơ cấu tổ chức, số lượng, chất lượng cán bộ, công  
nhân, viên chức và những người lao động khác; Nhiệm vụ sản xuất, công suất  
thiết kế, công suất thực tế; số lượng, chất lượng trang thiết bị hiện có; phương  
hướng sản xuất và đổi mới công nghệ. Căn cứ vào nhu cầu sản xuất, sửa chữa  
trang bị của Quân đội và kết quả khảo sát năng lực sản xuất, sửa chữa của các  
doanh nghiệp công nghiệp Chính phủ quyết định các doanh nghiệp công nghiệp  
đủ điều kiện động viên công nghiệp quốc phòng.  
- Xây dựng kế hoạch động viên công nghiệp quốc phòng, nội dung gồm:  
Quyết định của Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Tổng công ti; kế hoạch  
thông báo quyết định động viên công nghiệp quốc phòng; quyết định di chuyển  
địa điểm; kế hoạch chỉ huy điều hành; kế hoạch bảo đảm vật tư cho sản xuất,  
sửa chữa trang bị theo chỉ tiêu động viên công nghiệp quốc phòng; kế hoạch  
nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ phục vụ động viên  
công nghiệp quốc phòng (nếu có) theo quy định của pháp luật về công tác  
nghiên cứu khoa học; kế hoạch bảo đảm kinh phí cho động viên công nghiệp  
quốc phòng.  
Trên cơ sở kế hoạch của cấp trên, các doanh nghiệp công nghiệp lập kế  
hoạch động viên công nghiệp quốc phong cho doanh nghiệp mình.  
Nội dung gồm: Kế hoạch bảo dưỡng trang thiết bị do Nhà nước giao; kế  
hoạch thông báo quyết định động viên công nghiệp quốc phòng; kế hoạch di  
chuyển địa điểm; kế hoạch chỉ huy điều hành; kế hoạch bảo đảm vật tư cho sản  
xuất, sửa chữa trang bị theo chỉ tiêu động viên công nghiệp quốc phòng; kế  
hoạch sản xuất, sửa chữa trang bị; kế hoạch ứng dụng tiến bộ khoa học, công  
nghệ phục vụ động viên công nghiệp công nghiệp (nếu có) theo quy định  
của pháp luật về công tác nghiên cứu khoa học; kế hoạch bảo đảm kinh phí  
- Giao chỉ tiêu động viên công nghiệp quốc phòng  
- Hoàn chỉnh dây chuyền sản xuất, sửa chữa trang bị  
12  
- Quản lí, duy trì dây chuyền sản xuất  
- Bồi dưỡng chuyên môn cho người lao động và diễn tập động viên công  
nghiệp quốc phòng  
- Dự trữ vật chất  
2. Thực hành động viên công nghiệp quốc phòng.  
Thực hành động viên công nghiệp quốc phòng gồm :  
- Quyết định và thông báo quyết định động viên công nghiệp quốc phòng  
(do Chính phủ quy định).  
- Tổ chức di chuyển địa điểm đối với doanh nghiệp công nghiệp phải  
di chuyển.  
- Tổ chức bảo đảm vật tư, tài chính.  
- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ sản xuất, sửa chữa trang bị.  
- Giao, nhận sản phẩm động viên công nghiệp quốc phòng.  
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHÍNH THỰC HIỆN ĐỘNG VIÊN CÔNG NGHIỆP  
QUỐC PHÒNG.  
- Nhà nước, Chính phủ chỉ đạo chặt chẽ các Bộ, cơ quan ngang bộ, địa  
phương, tổng công ti, thực hiện nghiêm Pháp lệnh động viên công nghiệp quốc  
phòng. Các Bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương, Tổng công ti phối hợp hiệp đồng chặt  
chẽ thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ động viên công nghiệp quốc phòng.  
- Các Bộ, cơ quan ngang bộ, các địa phương, các Tổng công ty cần quán  
triệt sâu sắc cho cán bộ, công nhân viên về Pháp lệnh, Nghị định, các văn bản  
hướng dẫn về động viên công nghiệp quốc phòng của Nhà nước, Chính phủ.  
- Các doanh nghiệp công nghiệp được lựa chọn và giao chỉ tiêu động viên  
công nghiệp quốc phong cần chủ động lập kế hoạch động viên công nghiệp quốc  
phòng và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch, chỉ tiêu trên giao.  
Tóm lại, động viên công nghiệp là một vấn đề lớn có tính chiến lược của  
quốc gia để đất nước chủ động trong mọi tình huống trong sự nghiệp xây dựng  
và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, hơn lúc nào hết ngay từ thời bình, công tác động  
viên công nghiệp quốc phòng phải được sự quan tâm một cách đầy đủ của toàn  
xã hội.  
KẾT LUẬN  
Chúng ta có quyền tự hào về những đóng góp to lớn của lực lượng dân  
quân tự vệ, cũng như lực lượng dự bị động viên trong sự nghiệp đấu tranh giải  
phóng dân tộc trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc  
ngày nay. Đồng thời, tiếp tục khẳng định xây dựng lực lượng dân quân tự vệ,  
lực lượng dự bị động viên là nhiệm vụ quan trọng, là trách nhiệm của cả hệ  
thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Xây dựng lực lượng dân  
quân tự vệ "vững mạnh, rộng khắp", lực lượng dự bị động viên đảm bảo số  
13  
lượng đủ, chất lượng cao, xây dựng toàn diện nhưng có trọng tâm, trong điểm  
với chất lượng tổng hợp ngày càng cao, góp phần quan trọng giữ vững an ninh  
chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đối phó kịp thời, hiệu quả với mọi tình huống.  
Với truyền thống lịch sử trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng  
và bảo vệ Tổ quốc, lực lượng lực lượng dân quân tự vệ lực lượng dự bị động  
viên có đầy đủ nhiệt huyết, bản lĩnh, trí tuệ, khả năng cùng toàn Đảng, toàn dân,  
toàn quân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững  
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.  
HƯỚNG DẪN NGHIÊN CỨU  
1. Phương châm xây dân quân tự vệ theo hướng “vững mạnh, rộng khắp,  
coi trọng chất lượng là chính”, anh (chị) hiểu vấn đề này như thế nào ? Tại sao  
phải coi trọng chất lượng là chính ?  
2. Nội dung xây dựng lực lượng dự bị động viên hiện nay như thế nào?  
Là học sinh, anh (chị) có suy nghĩ gì để góp phần nâng cao chất lượng tạo  
nguồn dự bị động viên ở các địa phương trong tình hình hiện nay ?  
3. Những nguyên tắc động viên công nghiệp quốc phòng của Đảng và Nhà  
nước ta như thế nào ? Hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay và trong  
tương lai có tác động như thế nào đến tổ chức và thực hành động viên công  
nghiệp ?  
14  
pdf 14 trang Thùy Anh 24441 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giáo trình Giáo dục quốc phòng và an ninh - Bài 9: Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_giao_duc_quoc_phong_va_an_ninh_bai_9_xay_dung_luc.pdf