Giải quyết tranh chấp biển đông thông qua tòa trọng tài thành lập theo phụ lục vii công ước luật biển quốc tế năm 1982
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG THÔNG QUA
TÒA TRỌNG TÀI THÀNH LẬP THEO PHỤ LỤC VII
CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN QUỐC TẾ NĂM 1982
NGUYỄN ĐĂNG NGHĨA*
Trong những năm gần đây, tình hình biển Đông đang có những diễn biến hết sức phức tạp với các
cuộc xung đột leo thang, gây căng thẳng trong quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia. Bài viết làm
rõ các quy định về giải quyết tranh chấp biển Đông thông qua Tòa trọng tài thành lập theo phụ lục
VII Công ước Luật biển quốc tế năm 1982 và thực tiễn giải quyết tranh chấp biển Đông thông qua
Tòa trọng tài này, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp biển
Đông thông qua cơ chế tài phán quốc tế trong thời gian tới.
Từ khóa: Tòa trọng tài, tranh chấp biển Đông.
Ngày nhận bài: 09/4/2021; Biên tập xong: 16/4/2021; Duyệt đăng: 20/4/2021.
Recently, the situation in the East Sea has been extremely complicated with escalating conflicts
causing tension in diplomatic relations among nations. The article concentrates on clarifying the
provisions related to the seꢀlement of disputes in the East Sea by Arbitration Court provided
for in Annex VII of the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) in 1982;
the practice of seꢀling disputes in the East Sea through Arbitration Court, thereby making some
recommendations to improve the efficiency of resolving disputes in the East Sea by international
arbitration mechanism in upcoming time.
Keywords: Arbitration Court, the East Sea disputes.
ông ước Luật biển quốc tế năm 1982, chấp trên biển Đông giữa các quốc gia trong
viết tắt là UNCLOS 1982 là văn kiện
pháp lý quan trọng nhất trong luật
khu vực hiện nay.
C
1. Về cơ chế giải quyết tranh chấp thông
qua Tòa trọng tài thành lập theo phụ lục VII
Công ước Luật biển quốc tế năm 1982
Cơ quan tài phán quốc tế là những cơ
quan hình thành trên cơ sở thỏa thuận hoặc
thừa nhận của các chủ thể luật quốc tế nhằm
thực hiện chức năng giải quyết bằng trình tự,
thủ tục tư pháp các tranh chấp nảy sinh trong
quá trình các chủ thể thực thi, tuân thủ luật
quốc tế1.
biển, được ví như bản Hiến pháp đầu tiên về
luật biển trên thế giới. UNCLOS 1982 bao gồm
320 điều, được chia thành 17 phần, 9 phụ lục;
ngoài ra còn có 4 Nghị quyết kèm theo. Công
ước quy định nhiều vấn đề quan trọng như các
vùng biển trong luật biển quốc tế, vấn đề phân
định biển, vấn đề bảo vệ môi trường biển…,
đặc biệt là các vấn đề liên quan đến cơ chế tài
phán giải quyết tranh chấp về biển, đảo.
Công ước đã dành 27/320 điều quy định
trực tiếp về thủ tục giải quyết tranh chấp bên
cạnh 4 phụ lục có liên quan đến thủ tục giải
quyết các tranh chấp. Như vậy, UNCLOS
1982 đã tạo ra một hệ thống các quy định khá
cụ thể về các biện pháp giải quyết tranh chấp
trên biển phù hợp với nguyên tắc hoà bình
giải quyết các tranh chấp quốc tế, tạo nhiều
điều kiện thuận lợi để các quốc gia lựa chọn
các biện pháp khác nhau và phù hợp với tình
hình thực tiễn của quốc gia mình. Các biện
pháp UNCLOS 1982 đưa ra gồm biện pháp
ngoại giao và các biện pháp tài phán quốc tế.
Bài viết tập trung phân tích việc áp dụng cơ
chế Tòa trọng tài theo quy định tại phụ lục VII
Giải quyết tranh chấp thông qua các cơ
quan tài phán quốc tế là một trong các biện
pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
được quy định trong Điều 33 Hiến chương
Liên hợp quốc năm 1945. Về tổng thể, các cơ
quan tài phán quốc tế tồn tại chủ yếu dưới ba
dạng là Tòa án Quốc tế, Trọng tài Quốc tế và
cơ quan tài phán được thành lập trong khuôn
khổ các tổ chức quốc tế. Tính chất của mỗi loại
hình tài phán phụ thuộc vào quy chế, điều lệ
* Thạc sĩ, Nghiên cứu sinh, Khoa Luật, Trường Đại
học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
1ꢀ Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà
UNCLOS 1982 trong việc giải quyết các tranh Nội, NXB Công an nhân dân, tr. 411
102 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
NGUYỄN ĐĂNG NGHĨA
và chức năng đặc thù của từng loại, theo sự quyền xét xử bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến
xác định và lựa chọn của chủ thể Luật Quốc tế. việc giải thích hay áp dụng một điều ước quốc tế
Cơ quan tài phán quốc tế có chức năng chính có liên quan đến các mục đích của Công ước và
là giải quyết tranh chấp quốc tế, trong đó có đã được đưa ra cho mình theo đúng điều ước này.
các tranh chấp quốc tế về biển, đảo. Thông
thường, các biện pháp này sẽ được áp dụng
khi các nỗ lực giải quyết tranh chấp thông qua
đàm phán, thương lượng không thu được kết
quả mà các bên mong muốn.
UNCLOS 1982 đã quy định chi tiết những
nguyên tắc chung, những quy định cụ thể liên
quan đến giải quyết các tranh chấp về biển
trong “Phần XV. Giải quyết các tranh chấp” và
những quy định trong các phụ lục cho mỗi
phương thức giải quyết tranh chấp. Theo quy
định tại Điều 287 UNCLOS 1982, khi ký kết
hay phê chuẩn Công ước hoặc tham gia Công
ước ở bất kỳ thời điểm nào, một quốc gia được
quyền lựa chọn một hay nhiều biện pháp sau
đây để giải quyết các tranh chấp có liên quan
đến việc giải thích hay áp dụng Công ước:
- Tòa án quốc tế về Luật biển được
thành lập theo đúng Phụ lục VII (ITLOS -
International Tribunal for the Law of the Sea).
- Tòa án quốc tế (ICJ - International Court
of Justice).
- Một Tòa trọng tài được thành lập theo
phụ lục số VII, UNCLOS 1982.
- Một Tòa trọng tài được thành lập theo
phục lục VIII, UNCLOS 1982 để giải quyết
một hay nhiều loại tranh chấp.
Như vậy, khi giải quyết tranh chấp biển
đảo liên quan đến vấn đề giải thích và áp
dụng UNCLOS 1982, các quốc gia có thể
lựa chọn một hoặc kết hợp nhiều cơ chế tài
phán trên. Trong đó, Tòa trọng tài thành lập
theo phụ lục VII UNCLOS 1982 là Tòa trọng
tài không thường trực, còn gọi là Hội đồng
trọng tài. Đây là cơ chế tài phán quan trọng,
có nhiều ưu thế hơn so với các cơ quan tài
phán khác trong giải quyết tranh chấp biển
Đông. Một số đặc trưng cơ bản của Tòa trọng
tài được thành lập theo phục lục VII UNCLOS
1982 bao gồm thẩm quyền, thành phần, tính
chất của bản án.
Về thẩm quyền, Điều 288 UNCLOS 1982
quy định Tòa trọng tài có thẩm quyền:
“1. Một tòa án đã nêu ở Điều 287 có thẩm
quyền xét xử bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến
việc giải thích hay áp dụng Công ước đã được đưa
ra cho mình theo đúng phần này.
3. Viện giải quyết tranh chấp liên quan đến
đáy biển được lập nên theo đúng phụ lục VI và
bất kỳ viện nào khác, hay tòa trọng tài nào khác,
đã nêu ở Mục 5 của Phần XI, đều có thẩm quyền
xét xử mọi vấn đề đã được đưa ra cho mình theo
đúng mục đó.
4. Trong trường hợp có sự tranh cãi về vấn đề
một tòa án có thẩm quyền hay không, thì vấn đề
này do tòa án đó quyết định”.
Bên cạnh quy định liên quan đến giới hạn
về phạm vi xét xử như trên, thẩm quyền thụ
lý vụ kiện là một yếu tố quan trọng giúp Tòa
trọng tài thành lập theo phụ lục VII UNCLOS
1982 có được ưu thế hơn so với các cơ quan tài
phán còn lại. Đối với cơ chế giải quyết thông
qua Tòa án luật biển quốc tế, Tòa án quốc
tế, Tòa trọng tài thành lập theo phụ lục VIII
UNCLOS 1982, Tòa chỉ có thẩm quyền thụ
lý vụ kiện khi các bên tranh chấp đều chấp
thuận đưa vụ kiện ra tòa. Trong trường hợp
một bên trong số các bên tranh chấp không
chấp thuận đưa vụ kiện ra tòa thì tòa không có
thẩm quyền. Tuy nhiên, đối với Tòa trọng tài
thành lập theo phụ lục VII, tòa có thẩm quyền
thụ lý ngay cả trong trường hợp chỉ có một
bên tranh chấp gửi đơn kiện ra tòa. Khoản 5
Điều 287 UNCLOS 1982 quy định: “Nếu các
bên tranh chấp không chấp nhận cùng một thủ tục
để giải quyết tranh chấp, thì vụ tranh chấp đó chỉ
có thể được đưa ra giải quyết theo thủ tục trọng tài
đã được trù định ở Phụ lục VII, trừ khi các bên có
thỏa thuận khác”; Điều 1 Phụ lục VII UNCLOS
1982 quy định: “Với điều kiện phải tuân thủ Phần
XV, bất kỳ bên nào trong một vụ tranh chấp đều có
thể đưa vụ tranh chấp ra giải quyết bằng thủ tục
trọng tài đã trù định trong Phụ lục này bằng một
thông báo viết gửi tới bên kia hoặc hoặc các bên kia
trong vụ tranh chấp. Thông báo có kèm theo bản
trình bày các yêu sách và các lý do làm căn cứ cho
các yêu sách đó”. Đây cũng là yếu tố quyết định
mà Phillippines đã lựa chọn cơ chế tài phán
này trong vụ kiện với Trung Quốc được phân
tích trong phần sau.
Về thành phần, Tòa trọng tài thành lập theo
phụ lục VII UNCLOS 1982 bao gồm các trọng
tài viên được các quốc gia thành viên chỉ định.
Mỗi quốc gia thành viên có quyền chỉ định
bốn trọng tài viên là những người có năng
2. Một tòa án nói ở Điều 287 cũng có thẩm lực, kinh nghiệm về Luật biển và nổi tiếng
Số Chuyên đề 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 103
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG THÔNG QUA...
về sự công bằng, liêm chính. Dựa trên sự đề trên cơ sở luật pháp, công lý và được các quốc
cử này, Tổng thư ký Liên hợp quốc có trách gia tiến cử4.
nhiệm lập một danh sách các trọng tài viên.
Khi có tranh chấp phát sinh, từ danh sách các
trọng tài viên của Tổng thư ký Liên hợp quốc,
một Hội đồng trọng tài sẽ được thành lập bao
gồm năm thành viên. Mỗi bên tranh chấp có
quyền chỉ định một thành viên tham gia Hội
đồng trọng tài. Ba thành viên còn lại được các
bên thỏa thuận cử ra và chủ tịch Hội đồng
trọng tài sẽ được lựa chọn trong số ba thành
viên đó2.
Khi tiến hành xét xử một vụ kiện, PCA sẽ
trao quyền phán xử cho một Hội đồng trọng
tài (còn được gọi là Tòa Trọng tài) về các tranh
chấp nằm trong thẩm quyền giải quyết của
PCA. Việc chọn lựa luật áp dụng cho Phán
quyết Trọng tài sẽ do các bên tự thỏa thuận.
Trong trường hợp không có thỏa thuận lựa
chọn, Hội đồng trọng tài sẽ quyết định lựa
chọn luật áp dụng dựa trên các nguyên tắc
chung của luật quốc tế về chọn lựa luật áp
Về tính chất của bản án, phán quyết của Tòa dụng cho giải quyết tranh chấp5.
trọng tài được thông qua theo nguyên tắc đa
số. Sự vắng mặt hoặc bỏ phiếu trắng của dưới
một nửa số thành viên không cản trở Toà ra
quyết định. Trong trường hợp số phiếu ngang
nhau, lá phiếu của Chánh toà là lá phiếu quyết
định. Phán quyết này là chung thẩm và không
được kháng cáo, trừ khi các bên có thỏa thuận
khác3.
Trong vụ kiện Philippines và Trung Quốc
năm 2013, Tòa trọng tài thường trực (PCA)
đã trao quyền phán xử cho Tòa trọng tài
Luật biển được thành lập theo phụ lục VII
UNCLOS 1982. Như vậy, trong vụ kiện của
Phillippines về vấn đề biển Đông, PCA không
có chức năng xét xử vụ kiện này mà chỉ đóng
vai trò là thư ký của vụ kiện (thu thập thông
2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp biển tin, đưa ra các thông báo, thay mặt Tòa trọng
Đông thông qua Tòa trọng tài thành lập theo tài thành lập theo phụ lục VII UNCLOS 1982
phụ lục VII Công ước Luật biển quốc tế năm đưa ra phán quyết…). Theo quy định tại Điều
1982
3 Phụ lục VII của Công ước, Tòa trọng tài gồm
có 5 Trọng tài viên là những Thẩm phán, bao
gồm 02 Trọng tài được mỗi bên tranh chấp
lựa chọn khi bắt đầu tiến trình vụ kiện.
Đối với thực tiễn giải quyết tranh chấp
biển Đông thông qua Tòa trọng tài thành
lập theo phụ lục VII UNCLOS 1982, vụ kiện
Philippines với Trung Quốc năm 2013 là vụ
Đối với các hình thức tài phán như Tòa án
việc đầu tiên các quốc gia sử dụng đến cơ chế Công lý quốc tế (International Court Justice –
này để giải quyết tranh chấp. Hiện nay, có ICJ), Tòa án Quốc tế về Luật Biển (International
nhiều thông tin cho rằng Tòa trọng tài thường Tribunal for the Law of the Sea – ITLOS), điều
trực (PCA) là cơ quan xét xử vụ Phillippines kiện khởi kiện đòi hỏi cần phải có sự đồng
kiện Trung Quốc năm 2013 về vấn đề biển thuận của cả 2 bên tranh chấp. Trong vụ việc
Đông. Tuy nhiên, trên thực tế, Tòa trực tiếp này, Philippines không khởi kiện thông qua
giải quyết tranh chấp vụ kiện biển Đông 2 hình thức này bởi phía Trung Quốc không
do Philippines khởi xướng là Tòa Trọng tài đồng ý tham gia vụ kiện. Chính vì vậy,
thành lập theo Phụ lục VII UNCLOS 1982 như Philippines đã sử dụng hình thức Tòa trọng tài
đã phân tích ở trên.
được thành lập theo phụ lục VII của UNCLOS
1982 bởi theo quy định tại Khoản 5 Điều 287
UNCLOS 1982, hình thức tài phán này không
đòi hỏi sự đồng thuận của cả 2 bên tham gia
tranh chấp. Với hình thức này, Philippines có
thể kiện Trung Quốc ngay cả khi Trung Quốc
Tòa trọng tài thường trực (PCA) thành lập
năm 1899 tại La Haye, Hà Lan trên cơ sở Công
ước La Haye 1899 và Công ước 1907 về “Giải
quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế”. PCA
không phải là một tổ chức tồn tại thường trực
dù tên gọi là Tòa trọng tài thường trực. Các
quy định của Công ước La Haye 1899 cũng
như Công ước La Haye 1907 đều cho thấy,
PCA dù có tên gọi là một tổ chức thường trực
nhưng thực tế chỉ là một danh sách các cá
nhân có khả năng xét xử một cách công bằng
4ꢀ Bành Quốc Tuấn, “Tòa trọng tài thường trực La Haye
và vấn đề giải quyết tranh chấp chủ quyền trên biển Đông
của Việt Nam”, Tạp chí phát triển KH&CN, tập 16, số
Q1- 2013, tr. 52
5ꢀ TS. Nguyễn Công Trục, “Tìm hiểu vụ Philippines kiện
Trung Quốc và Phán quyết của PCA”, hꢁps://vov.vn/
the-gioi/ho-so/tim-hieu-vu-philippines-kien-trung-
quoc-va-phan-quyet-cua-pca-531292.vov
2ꢀ Xem Điều 3, Phụ lục VII, UNCLOS 1982
3ꢀ Xem Điều 8, Điều 11, Phụ lục VII UNCLOS 1982
104 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
NGUYỄN ĐĂNG NGHĨA
không chấp nhận tham gia vụ kiện.
kinh tế mà không phụ thuộc vào nguồn tài nguyên
thiên nhiên bên ngoài và cũng không phụ thuộc
vào hoạt động khai thác thuần túy. Việc các nhân
viên công vụ sống và làm việc trên các thực thể,
hay xây dựng và cải tạo mới không làm thay đổi
quy chế pháp lý ban đầu của các thực thể.
Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên về
phạm vi xét xử của Tòa trọng tài, Tòa chỉ
có thẩm quyền xét xử về những nội dung
liên quan đến việc giải thích và áp dụng
UNCLOS 1982. Do vậy, việc lựa chọn nội
dung khởi kiện là một vấn đề hết sức quan
trọng. Philipines đã đệ trình đơn kiện gửi tới
Tòa trọng tài thường trực PCA gồm 13 điểm
(đơn gửi tháng 01/2013) và bổ sung 2 điểm
(tháng 7/2015). Theo đó, nội dung đơn kiện
gồm 3 nhóm yêu cầu chính: (1) Yêu cầu PCA
tuyên bố tính chất vô hiệu của tuyên bố chủ
cái gọi là “đường lưỡi bò” quyền lịch sử của
Trung Quốc đối với biển đảo, đáy biển và
dưới đáy biển trong biển Đông vượt ra ngoài
phạm vi thuộc chủ quyền và quyền Trung
Quốc theo Công ước Liên hợp quốc về Luật
biển năm 1982; (2) Quy chế pháp lý của một
số thực thể đảo, đá bãi cạn nửa nổi nửa chìm
trong quần đảo Trường Sa; (3) Các hành vi
của Trung Quốc mà Philippines cho là không
phù hợp với Công ước Luật biển quốc tế năm
1982 làm tổn hại đến các quyền hợp pháp của
Philippines và môi trường biển.6
Trên cơ sở lập luận này, Tòa đã áp dụng
nguyên tắc tương tự và tuyên bố không có
thực thể nào tại Trường Sa có khả năng duy trì
đời sống kinh tế riêng cho con người trên đó.
Do đó, các thực thể hay các đảo thuộc quần
đảo Trường Sa không có vùng đặc quyền
kinh tế hay vùng thềm lục địa riêng. Đồng
thời, Tòa cũng nhấn mạnh trong phán quyết
rằng: UNCLOS 1982 không quy định việc
một nhóm các đảo như quần đảo Trường Sa
sẽ có các vùng biển với tư cách là một thực thể
thống nhất. Tuyên bố này của Tòa vô cùng có ý
nghĩa bởi đã ngăn chặn ý đồ bành trướng của
Trung Quốc trong việc toan tính sẽ thiết lập
các đường cơ sở thẳng cho quần đảo Trường
Sa như đối với các quốc gia quần đảo.
Thứ ba, Tòa đã ra phán quyết về những
hành vi bất hợp pháp của Trung Quốc trong
việc thực hiện quyền khai thác, cải tạo các bãi
đá, các đảo và cản trở Philippines thực hiện
các quyền hợp pháp trong vùng đặc quyền
kinh tế của Philippines.
Theo nội dung phán quyết của Tòa, phần
thắng nghiêng về phía Philippines. Dư luận
quốc tế đã lên tiếng và ủng hộ tính công lý
của phán quyết do Tòa đưa ra ngày 12/7/2016.
Vụ kiện Trung Quốc của Philippines là một
bài học quý giá cho Việt Nam trong công cuộc
đấu tranh dựa trên nền tảng tôn trọng luật
pháp quốc tế để đáp trả các hành động ngày
càng “leo thang” xâm phạm trực tiếp vùng
biển chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền
tài phán của Việt Nam.
Trong phán quyết mà Tòa PCA đưa ra
ngày 12/7/2016 bao gồm 501 trang đã xác định
rõ những nội dung chính sau đây:
Thứ nhất, tòa tuyên bố “Đường chín đoạn
- nine dashes lines” mà Trung Quốc tuyên bố
là vô lý và bất hợp pháp.
Thứ hai, về quy chế pháp lý của các thực
thể (Features) trong quần đảo Trường Sa và
bãi cạn Scarborough, Tòa đã đồng ý và cho
rằng các thực thể gồm: Bãi Gạc Ma (Johnson
South Reef), Châu Viên (Cuateron Reef), Đảo
Chữ Thập (Fiery Cross) và Scaborough là
các thực thể nổi. Các thực thể gồm: Xubi, Tư
nghĩa (Hughes Reef); Bãi Vành Khăn (Mishief
Reef) và Bãi Cỏ Mây (Second Thomas Reef)
là các thực thể nửa nổi nửa chìm (Features as
above/below water at high tide). Tòa đã giải
thích chi tiết Khoản 3 Điều 121 UNCLOS 1982
và kết luận rằng các quyền được được hưởng
vùng biển của một thực thể phụ thuộc vào: a)
Năng lực khách quan của thực thể; b)Trong điều
kiện tự nhiên thực thể đó được duy trì hoặc; c)Một
cộng đồng dân cư ổn định; hoặc d) Một hoạt động
3. Một số khó khăn trong việc giải quyết
tranh chấp biển Đông thông qua cơ chế Tòa
trọng tài thành lập theo phụ lục VII Công
ước Luật biển quốc tế năm 1982
Có thể nói, UNCLOS 1982 là một bước
tiến quan trọng của luật biển quốc tế trong
điều chỉnh quan hệ phân định, sử dụng, bảo
tồn biển và đại dương. Tuy nhiên, UNCLOS
1982 không phải là một chìa khóa vạn năng
để giải quyết mọi quan hệ về biển, đảo giữa
các quốc gia, bởi lẽ:
6ꢀ Xem thêm: Nguyễn Hồng Thao, Những khía cạnh
pháp lý trong phán quyết của Tòa trọng tài trong vụ
Philippines kiện Trung Quốc ở biển Đông, Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật , số 7/2016, tr 19-25.
Thứ nhất, mặc dù UNCLOS 1982 đã có một
phần riêng (Phần XV - Giải quyết tranh chấp)
Số Chuyên đề 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 105
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG THÔNG QUA...
và các Phụ lục (gồm Phụ lục V, VI, VII, VIII)
Thứ năm, việc giải quyết tranh chấp biển
quy định chi tiết về giải quyết tranh chấp biển Đông thông qua cơ chế trọng tài sẽ không
thể giải quyết được triệt để tranh chấp nếu
không có sự thiện chí của những quốc gia có
liên quan. Thực tế cho thấy Việt Nam luôn
thể hiện lập trường hòa bình trong giải quyết
các tranh chấp biển đảo. Tuy nhiên, có những
nước trong khu vực đã sử dụng vũ lực trong
giải quyết các tranh chấp ở biển Đông. Đặc
biệt, Trung Quốc đã sử dụng vũ lực để chiếm
quần đảo Hoàng Sa của nước ta năm 1974 và
để chiếm đóng một số đảo và bãi cạn thuộc
quần đảo Trường Sa. Hiện nay, đất nước này
đang tiến hành cải tạo các thực thể thuộc quần
đảo Trường Sa, xây dựng sân bay quân sự tại
đá Chữ thập, Gạc Ma. Đây là những hành
động quân sự đơn phương gây tiềm ẩn đến
an ninh trong khu vực biển Đông.
4. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả
giải quyết tranh chấp biển Đông thông qua
cơ chế tài phán quốc tế trong thời gian tới
- Thứ nhất, Liên hợp quốc cần xây dựng văn
bản hướng dẫn, giải thích một số quy định trong
UNCLOS 1982
UNCLOS 1982 có hiệu lực từ năm 1994 là
thành tựu rất lớn của nhân loại trong việc điều
chỉnh các vấn đề pháp lý liên quan đến biển,
đảo nhưng vẫn còn có nhiều điểm quy định
chưa rõ ràng. Chính vì vậy, cần nghiên cứu bổ
sung thêm các quy định giải thích rõ các Điều
121 quy định về đảo, đá; các quy định liên
quan đến cách thức, các điều kiện xác định
đường cơ sở theo phương pháp đường cơ sở
thẳng; các quy định liên quan đến việc đảm
bảo cơ chế thi hành các phán quyết của Tòa
được thực thi hiệu quả trên thực tế…
nhưng Điều 298 Công ước đã quy định những
ngoại lệ không bắt buộc được áp dụng trong
Mục 2, Phần XV của Công ước. Trung Quốc là
một quốc gia tham gia các tranh chấp ở biển
Đông đã đưa ra các bảo lưu theo Điều 298 để
từ chối tham gia các phương thức giải quyết
đã nêu ra trong UNCLOS 1982. Đây là một
trong những rào cản cho các quốc gia thành
viên khi áp dụng Công ước trong thực tiễn.
Thứ hai, mặc dù UNCLOS 1982 quy định
các quốc gia tranh chấp có thể đơn phương
đưa vụ kiện ra Tòa mà không cần sự đồng ý
của tất cả các bên tranh chấp nhưng cơ chế
này bị giới hạn bởi hai yếu tố: Về phạm vi
khởi kiện và về cơ chế thực thi phán quyết
của tòa. Tòa chỉ có thẩm quyền giải quyết đối
với những nội dung liên quan đến việc giải
thích và áp dụng Công ước. Hơn nữa, cơ chế
thực thi các phán quyết của Tòa trọng tài vẫn
dựa vào nguyên tắc các quốc gia tự nguyện
thực hiện các cam kết quốc tế. Điển hình,
phán quyết của Tòa trọng tài ngày 12/7/2016
đã tuyên đường lưỡi bò (đường chín đoạn) ở
biển Đông của Trung Quốc là không hợp pháp
và Trung Quốc đã vi phạm những nghĩa vụ
khác theo UNCLOS 1982. Tuy nhiên, Trung
Quốc đã bất chấp luật pháp quốc tế và đưa
ra tuyên bố không chấp nhận thẩm quyền và
phán quyết của Tòa trọng tài. Điều này thực
sự là một cản trở lớn cho việc vận dụng các
phương thức giải quyết tranh chấp biển Đông
bằng biện pháp hòa bình.
Thứ ba, UNCLOS 1982 vẫn còn nhiều quy
định cần phải được giải thích và làm rõ để tạo
ra cách hiểu thống nhất giữa các quốc gia. Ví
dụ, khái niệm về đảo, đá trên biển theo Điều
121 UNCLOS 1982, các quy định liên quan
đến xác định đường cơ sở thẳng...
Thứ tư, việc sử dụng đến biện pháp khởi
kiện ra Tòa trọng tài quốc tế tuy là biện pháp
hòa bình theo quy định của Luật quốc tế
nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quan
hệ ngoại giao giữa các quốc gia có liên quan.
Bởi lẽ thực tế, ngay cả khi con đường pháp lý
mang tính hòa bình và phụ thuộc vào sự chấp
thuận của cả hai bên, song bên bị kiện vẫn coi
hành động này là mang tính thù địch, do đó
có nguy cơ hủy hoại quan hệ ngoại giao giữa
các nước. Đơn cử là Philippines đã hứng chịu
- Thứ hai, cần nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm
của Phillippiness trong việc lựa chọn cơ quan tài
phán, chuẩn bị điều kiện khởi kiện và tham gia vụ kiện
Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu các quy
định pháp luật có liên quan về giới hạn thẩm
quyền, trình tự, thủ tục, giới hạn về phạm vi
của Tòa trọng tài thành lập theo phụ lục VII
Công ước Luật biển quốc tế 1982 nói riêng và
các cơ quan tài phán nói chung để có phương
án lựa chọn phù hợp với điều kiện và tình
hình thực tế, đặt ra nhiều tình huống khác
nhau để có sự tính toán phù hợp. Chúng ta
cũng cần chuẩn bị đầy đủ các điều kiện như
thu thập, củng cố hồ sơ, tài liệu, chứng cứ liên
quan đến vụ kiện, đặc biệt là chuẩn bị nguồn
việc Trung Quốc áp đặt các lệnh cấm nhập nhân lực có đủ trình độ pháp lý quốc tế để
khẩu hàng nông sản từ Philippines.
tham gia vụ kiện.
106 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
NGUYỄN ĐĂNG NGHĨA
- Thứ ba, việc sử dụng biện pháp pháp lý cần là tranh chấp trên biển mà còn là mọi xung
thực hiện trong mối quan hệ tổng hợp với các biện đột khác từ các quốc gia và giữa các quốc gia
pháp khác
Một là, các quốc gia có liên quan cần tiếp
với nhau, đặc biệt là vai trò của Liên hợp quốc
và ASEAN trong việc giải quyết các vấn đề
tranh chấp biển Đông giữa các quốc gia có
liên quan.
tục đẩy nhanh lộ trình, sớm ký kết Bộ quy tắc
ứng xử của các bên trên biển Đông (COC).
Sau bảy năm đàm phán, vào tháng 11/2002,
Trung Quốc và ASEAN ký kết DOC - được
xây dựng như một bản hướng dẫn các hành
vi liên quốc gia cho đến khi các bên đạt được
một thỏa thuận cuối cùng về quy tắc ứng xử
chính thức. Tuy nhiên, khi nhìn vào các hành
động của Trung Quốc hiện nay thì cả tinh
thần cũng như quy định của DOC vẫn chưa
được Trung Quốc tôn trọng và tuân thủ. Giải
pháp lâu bền mà các bên cần hướng tới là việc
giải quyết tranh chấp phải dựa trên luật pháp
quốc tế. Các quốc gia có liên quan cần nhanh
chóng thảo luận và thông qua một văn bản có
tính pháp lý ràng buộc các quốc gia tuân thủ
luật pháp quốc tế là Bộ quy tắc ứng xử trên
biển Đông (COC).
Có thể thấy, cho đến nay, ngoài biện pháp
ngoại giao, đàm phán, Việt Nam chưa kiện và
chưa bị kiện bởi bất cứ quốc gia nào trong các
tranh chấp quốc tế ở khu vực biển Đông. Tuy
nhiên, trước tình hình tranh chấp biển Đông
diễn ra phức tạp trong những năm vừa qua,
Đảng và Nhà nước ta đã chủ động triển khai
nghiên cứu để tính toán và cân nhắc hợp lý các
phương thức giải quyết tranh chấp thông qua
cơ chế tài phán quốc tế. Trong bối cảnh hiện
nay, việc học hỏi kinh nghiệm của Philippines
trong việc lựa chọn phương thức giải quyết
thông qua Tòa trọng tài là hết sức cần thiết đối
với Việt Nam. Trên cơ sở đó, chúng ta cần tiếp
tục nghiên cứu, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện
để có thể sử dụng đến các biện pháp pháp lý
khi cần thiết, đảm bảo giữ vững độc lập chủ
quyền trên cơ sở tuân thủ các quy định của
Luật quốc tế./.
Hai là, các quốc gia cần tăng cường hợp tác
trong các lĩnh vực biển để tạo ra lợi ích chung
và nhằm giảm căng thẳng. Trong khi chờ đợi
một sự dàn xếp toàn diện và bền vững những
tranh chấp, các bên liên quan có thể tìm kiếm
hoặc tiến hành các hoạt động hợp tác trong các
lĩnh vực ít nhạy cảm như: Bảo vệ môi trường
biển, nghiên cứu khoa học biển, an toàn hàng
hải và thông tin trên biển, hoạt động tìm kiếm
cứu hộ, đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc
gia, hoạt động buôn lậu, hải tặc và cướp có vũ
trang trên biển, hoạt động buôn bán trái phép
vũ khí nhằm tăng cường hợp tác giải quyết
được các vấn đề quốc tế và giảm căng thẳng
trong mâu thuẫn giữa các bên về các vấn đề
tranh chấp biển Đông.
Ba là, cần thúc đẩy vai trò của các tổ chức
trong khu vực và trên thế giới góp phần vào
quá trình giải quyết các tranh chấp chủ quyền
biển, đảo. Sự vắng mặt của cộng đồng quốc
tế, đặc biệt là các tổ chức trong khu vực và
trên thế giới trong việc giải quyết các tranh
chấp giữa các quốc gia trong khu vực thời
gian qua đã đẩy các tranh chấp, mâu thuẫn
đi vào bế tắc. Pháp luật quốc tế cần phải có
một cộng đồng quốc tế thật sự thì mới có khả
năng được tôn trọng và thực thi với tinh thần
thiện chí, tận tâm và công bằng. Vì thế, vai
trò của các tổ chức quốc tế trong khu vực và
trên thế giới có sức ảnh hưởng không hề nhỏ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Thanh Mai, “Trọng tài và phán quyết về giải
thích và áp dụng Công ước Luật Biển 1982”, Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật, số 7/2016.
2. Nguyễn Hồng Thao, “Những khía cạnh
pháp lý trong phán quyết của Tòa trọng tài trong vụ
Philippines kiện Trung Quốc ở biển Đông”, Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật, số 7/2016.
3. TS. Nguyễn Văn Nam (2016), “Giải quyết
tranh chấp ở biển đông bằng biện pháp hòa bình”, đề
tài khoa học cấp cơ sở.
4. Liên hợp quốc (1982), Công ước luật biển
quốc tế năm 1982.
5. Bành Quốc Tuấn, “Tòa trọng tài thường trực
La Haye và vấn đề giải quyết tranh chấp chủ quyền
trên biển Đông của Việt Nam”, Tạp chí phát triển
KH&CN, tập 16, số Q1- 2013
6. Nguyễn Bá Diến, “Cơ chế giải quyết tranh
chấp trên biển theo Công ước Luật biển 1982”, Tạp chí
Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 25
(2009) 19-26
7. TS. Nguyễn Công Trục, “Tìm hiểu vụ
Philippines kiện Trung Quốc và Phán quyết của
PCA”, hꢁps://vov.vn/the-gioi/ho-so/tim-hieu-vu-
philippines-kien-trung-quoc-va-phan-quyet-cua-
pca-531292.vov
8. Thông cáo báo chí phán quyết PCA về biển
đối với việc giải quyết tranh chấp không chỉ Đông.
Số Chuyên đề 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 107
Bạn đang xem tài liệu "Giải quyết tranh chấp biển đông thông qua tòa trọng tài thành lập theo phụ lục vii công ước luật biển quốc tế năm 1982", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giai_quyet_tranh_chap_bien_dong_thong_qua_toa_trong_tai_than.pdf

