Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Phạm Mạnh Thắng
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO THU HÚT ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO NƯỚC TA TRONG THỜI KỲ
ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
THE VIETNAMESE COMMUNIST PARTY LEADED TO ATTRACT FOREIGN DIRECT
INVESTMENT IN THE PERIOD OF INDUSTRIALIZATION AND MODERNIZATION
PHẠM MẠNH THẮNG
TÓM TẮT: Phát triển kinh tế đối ngoại là một trong những chủ trương của Đảng trong thời kỳ đổi
mới và hội nhập quốc tế. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương
và chỉ đạo ban hành nhiều chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực
quản lý để thu hút có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Bài viết khái quát một cách hệ
thống chủ trương và quá trình tổ chức thực hiện thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của
Đảng Cộng sản Việt Nam và một số kinh nghiệm đúc rút trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
Từ khóa: đầu tư trực tiếp nước ngoài; lãnh đạo; công nghiệp hóa; hiện đại hóa.
ABSTRACT: External economic development is one of the Party's policies in the period of
renovation and international integration. During the leading process, Communist Party of Vietnam
has proposed and directed to issue many policies in order to improve the investment environment
and improve management capacity to effectively attract foreign direct investment (FDI). The
article systematically summarizes the guidelines and process of organizing the implementation of
foreign direct investment attraction of the Communist Party of Vietnam and some experiences
gained in the period of accelerating industrialization, modernization.
Key words: foreign direct investment; leading; industrial; modernization.
đại hóa Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra chủ
trương, biện pháp tổ chức thực hiện nhằm thu hút
vốn FDI vào phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh
kết quả đạt được, thu hút vốn FDI vào Việt Nam
cũng bộc lộ những hạn chế như dự án đầu tư
thường có quy mô nhỏ, công nghệ trong giai đoạn
lắp ghép, nhiều dự án bị rút giấy phép do triển khai
chậm,… Việc tổng kết, đánh giá quá trình Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thu hút vốn FDI cung
cấp những luận cứ khoa học góp phần hoạch định
chủ trương về thu hút vốn FDI trong các giai đoạn
tiếp theo thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa là điều cần thiết.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam
luôn đổi mới và ban hành các chính sách tiến bộ để
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đặc
biệt, kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài được ban
hành vào tháng 12-1987 thì vốn FDI vào Việt Nam
đạt những kết quả khả quan, đóng góp quan trọng
vào tăng trưởng kinh tế. Việt Nam đã và đang tích
cực cải thiện môi trường đầu tư để thu hút nguồn
vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh hội nhập
quốc tế và xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra. Nắm
bắt được tầm quan trọng cũng như tính tất yếu phải
thu hút FDI trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
27
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 24, Tháng 11 – 2020
nổi bật trong chủ trương của Đảng là xác định
lĩnh vực ưu tiên tập trung thu hút vốn: Khuyến
khích đầu tư nước ngoài vào các ngành công
nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp
chế biến, các ngành công nghệ cao, vật liệu
mới, điện tử, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế,
xã hội và các ngành mà Việt Nam có lợi thế,
gắn với công nghiệp hiện đại và tạo việc làm.
Tập trung thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào
các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công
nghệ cao. Đặc biệt, Hội nghị lần thứ 9 khóa IX
(2-2004) khẳng định cần phải tạo chuyển biến
cơ bản trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thực
sự coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một
bộ phận hữu cơ trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và cần thu hút mạnh hơn
nữa đầu tư trực tiếp nước ngoài…
2. NỘI DUNG
2.1. Chủ trương thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì điều quan trọng
nhất là phải thu hút được nguồn vốn trong nước
cũng như của nước ngoài, trong đó nguồn vốn
trong nước là quyết định nhưng vốn đầu tư
nước ngoài có vai trò quan trọng trong bối cảnh
toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Nghị quyết
Đại hội VIII (6-1996) xác định: “Dựa vào
nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh
thủ tối đa nguồn lực bên ngoài” [2, tr.86]. Nghị
quyết tuy không tách riêng khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài thành một thành phần kinh tế
song đã phần nào ghi nhận sự hợp tác liên
doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản nước
ngoài và khẳng định vai trò của khu vực đầu tư
nước ngoài “có vai trò quan trọng trong việc
động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ,
khả năng quản lý của các nhà tư bản vì lợi ích
của bản thân họ, cũng như của công cuộc xây
dựng và phát triển đất nước” [4, tr.347].
Từ thực tiễn của 5 năm (2001-2005), báo
cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương
khóa IX của Đảng còn chỉ ra bài học kinh
nghiệm trong quá trình thu hút vốn FDI “phải
chủ động mở cửa thị trường trong nước, kể cả
thị trường dịch vụ, để thu hút mạnh vốn đầu tư,
công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến, nâng
cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế”
[5, tr.685]. Từ đó, Nghị quyết Đại hội X (4-
2006) của Đảng đã đề ra những định hướng thu
hút vốn FDI trong phương hướng nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm (2006-
2010) là: tăng cường thu hút vốn đầu tư nước
ngoài, mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức
thu hút FDI, cần tập trung hướng vào những thị
trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế
hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ
về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn FDI.
Để thực hiện được định hướng đó, Nghị quyết
Đại hội X (4-2006) của Đảng Cộng sản Việt
Nam vạch ra các chính sách và giải pháp như
sau: Thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu
tư nước ngoài và xem doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của
nền kinh tế; đa dạng hóa hình thức và cơ chế
đầu tư để thu hút mạnh nguồn lực của các nhà
Sau 05 năm tiến hành đổi mới (1986-
1991), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục đề ra
những chủ trương thu hút vốn FDI, trong đó
khắc phục những bất cập, yếu kém trong công
tác thu hút vốn FDI như: vốn FDI giảm mạnh,
công tác quản lý còn nhiều yếu kém, cơ chế
chính sách chưa nhất quán, thiếu sự thông suốt
ở các cấp, các ngành,... Đại hội IX của Đảng
(4-2001) xác định tạo điều kiện để thành phần
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được phát
triển thuận lợi, nhấn mạnh: “Cải thiện môi
trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn
đầu tư nước ngoài” [3, tr.99]. Đây là thành
phần kinh tế mới được bổ sung bởi thực tế
trong 10 năm (1991-2001), kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài phát triển nhanh và chiếm tỷ
trọng cao trong nền kinh tế quốc dân do đó việc
thừa nhận và khuyến khích thành phần kinh tế
có vốn FDI là tất yếu. Một trong những điểm
28
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Phạm Mạnh Thắng
đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực quan trọng
của nền kinh tế, nhất là lĩnh vực công nghệ cao,
công nghệ nguồn, xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội; đơn giản hóa thủ tục cấp phép
đầu tư đối với đầu tư nước ngoài.
công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất
hàng xuất khẩu, công nghệ cao và những ngành
mà Việt Nam đang có lợi nhằm đẩy mạnh thu
hút vốn FDI tạo điều kiện kích thích cho thành
phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát
triển, đóng góp vào sự phát triển chung của nền
kinh tế thế giới trong quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trước những cơ hội lớn mở ra và thách
thức phải đối diện, Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XI (1-2011) đưa ra định hướng: “Thu hút
đầu tư nước ngoài với công nghệ hiện đại, thân
thiện môi trường và tăng cường sự liên kết với
các doanh nghiệp trong nước” [5, tr.758] và đề
cập đến một trong những vấn đề nổi bật là
hướng đến thu hút vốn FDI với công nghệ hiện
đại, thân thiện với môi trường. Đây là điều mà
mỗi quốc gia khi tiến hành thu hút vốn FDI đều
lo ngại về vấn đề các dự án đầu tư nước ngoài
chưa quan tâm đến môi trường đúng mức khiến
ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng, ảnh hưởng
đến sinh thái và cuộc sống của người dân. Đặc
biệt, cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát
triển năm 2011) nhấn mạnh: “kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát
triển” [5, tr.737]. Đây là nhận thức mới của
Đảng về thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài. Đó là sự khẳng định vị trí không thể
thiếu của thành phần kinh tế này trong nền kinh
tế quốc dân. Theo đó, chính sách thu hút FDI
trong những năm tới tập trung vào nâng cao
chất lượng của dòng vốn thông qua việc thu hút
các nhà đầu tư lớn, các tập đoàn xuyên quốc
gia vào các ngành, lĩnh vực quan trọng như
công nghệ cao, công nghệ nguồn, thân thiện với
môi trường.
2.2. Quá trình tổ chức thực hiện thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tập trung
chỉ đạo thực hiện hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách
hành chính, tư pháp, cải thiện môi trường đầu
tư, tập trung vào khắc phục những bất cập trong
cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực. Định hướng thu hút vốn đầu tư được
tập trung vào các khía cạnh sau: 1) Ưu tiên thu
hút đầu tư nước ngoài vào các ngành, lĩnh vực
công nghệ cao, tiên tiến, công nghệ thân thiện
với môi trường, năng lượng sạch, đặc biệt là
các ngành nghề mới trên nền tảng công nghiệp
4.0,…; 2) Tăng cường thu hút nhà đầu tư, đặc
biệt là các tập đoàn đa quốc gia liên kết với
doanh nghiệp trong nước hình thành và phát
triển cụm liên kết ngành theo từng chuỗi giá trị;
3) Đa phương hóa, đa dạng hóa thu hút đầu tư
từ các thị trường và đối tác tiềm năng; …
Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Chính
phủ và các Bộ, ngành ban hành nhiều văn bản
với nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư để tiếp
tục thu hút vốn FDI. Trường hợp được xem là
điểm nhấn trong việc thay đổi chính sách về thu
hút vốn FDI là Luật Đầu tư nước ngoài được
sửa đổi năm 2000 trong kỳ họp thứ 7, khóa X
của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (6-2000). Luật Đầu tư nước ngoài
sửa đổi xác định danh mục doanh nghiệp có
vốn FDI được kinh doanh không cần giấy phép,
danh mục kêu gọi đầu tư theo giai đoạn và mở
rộng lĩnh vực đầu tư. Luật Đầu tư nước ngoài
sửa đổi những chính sách về thuế, đất đai như
Như vậy, Đảng và Nhà nước đánh giá
đúng tầm quan trọng của nguồn vốn FDI và
không ngừng đưa ra những quan điểm định
hướng cho công tác thu hút vốn FDI vào Việt
Nam. Với đường lối đối ngoại rộng mở, đa
phương hóa, đa dạng, tích cực và chủ động hội
nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ
trương đẩy mạnh, khuyến khích thu hút vốn
FDI vào những ngành công nghiệp mũi nhọn:
29
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 24, Tháng 11 – 2020
được quyền cho thuê lại đất tại các khu công
nghiệp, khu chế xuất miễn thuế nhập khẩu với
những lĩnh vực ưu tiên, được cân đối ngoại tệ
và được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất,
được mở tài khoản ở nước ngoài. Đây là sự sửa
đổi quan trọng nhằm tạo sức bật thúc đẩy thu
hút vốn FDI vào Việt Nam.
hướng, giải pháp thu hút và quản lý vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài nhằm khắc phục những hạn
chế trong thu hút vốn FDI và đẩy mạnh hơn nữa
công tác thu hút vốn FDI theo tinh thần Nghị
quyết Đại hội lần thứ X của Đảng.
Ngoài ra, Chính phủ đã ban hành Nghị
quyết số 103/NQ của Chính phủ về định hướng
nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng và quản lý
đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới
và Nghị quyết số 19/NQ của Chính phủ về
những nhiệm vụ và giải pháp cải thiện môi
trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh
tranh quốc gia đưa ra những giải pháp cho các
Bộ, cơ quan, địa phương rà soát, công khai thủ
tục hành chính trên Internet, đơn giản hóa thủ
tục và hoàn thiện các quy định pháp luật để cải
thiện môi trường kinh doanh, hoàn thiện những
chính sách khuyến khích thu hút các dự án
công nghệ cao, tạo điều kiện thuận lợi cho
chuyển giao công nghệ,...
Ngoài ra, Chính phủ ban hành các văn bản
đưa ra các biện pháp khuyến khích nhà đầu tư
FDI như Nghị định số 10/1998/NĐ-CP về một
số biện pháp khuyến khích và đảm bảo hoạt
động FDI tại Việt Nam, Chỉ thị số 11/1998/CT-
TTg về việc thực hiện Nghị định 10/1998/NĐ-
CP của Chính phủ về cải tiến các thủ tục đầu tư
trực tiếp của nước ngoài, Quyết định số
53/2000/QĐ-TTg về một số biện pháp khuyến
khích đầu tư trực tiếp nước ngoài,… tháo gỡ
những khó khăn, loại bỏ những cản trở ách tắc
với việc thu hút vốn đầu tư và triển khai các dự
án đầu tư nước ngoài.
Năm 2005, Quốc hội đã ban hành Luật
Đầu tư 2005 thay thế Luật Đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam; Chính phủ đã ban hành Nghị
định 108/2006/NĐ của Chính phủ quy định chi
một số điều của Luật Đầu tư như ban hành các
ưu đãi: ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp,
thuế nhập khẩu, thuế sử dụng đất, tiền sử dụng
đất, tiền thuê đất và tiền thuê mặt nước để
khuyến khích các nhà đầu tư vào đầu tư tại
nước ta; Nghị định số 101/2006/NĐ của Chính
phủ về quy định việc đăng ký lại, chuyển đổi và
đăng ký đổi giấy chứng nhận đầu tư của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo
quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu
tư; Nghị định số 78/2007/NĐ của Chính phủ về
đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, BTO,
BT; Nghị định số 29/2009/NĐ của Chính phủ
quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và
khu kinh tế; Nghị định số 133/2009/NĐ của
Chính phủ về giám sát và đánh giá đầu tư; Chỉ thị
số 15/2007/CT-TTg về một số giải pháp chủ yếu
nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
và Nghị quyết số 13/NQ của Chính phủ về định
Từ chủ trương của Đảng, Chính phủ và
các Bộ, ngành đã thể chế hóa bằng những chính
sách, biện pháp cụ thể tập trung vào nâng cao
chất lượng vốn FDI qua việc thu hút mạnh các
tập đoàn xuyên quốc gia đầu tư vào các ngành,
lĩnh vực quan trọng như công nghệ cao, công
nghệ nguồn và những lĩnh vực mà Việt Nam có
lợi thế cạnh tranh.
2.3. Một số nhận xét và kinh nghiệm
Nắm bắt được tính tất yếu khách quan và
vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài,
Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra những quan
điểm, định hướng thu hút phù hợp với từng giai
đoạn phát triển và mạnh dạn tìm tòi những giải
pháp mang tính đột phá trong thu hút đầu tư. Do
đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng
đều theo các năm, đóng góp quan trọng vào quá
trình phát triển đất nước, tác động tích cực đến
chuyển dịch cơ cấu kinh tế… góp phần thực
hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Xét về số vốn và dự án, từ năm 1989 đến
năm 2017, có tổng 331 tỷ USD vốn FDI vào
Việt Nam. Tính đến năm 2017, Việt Nam đã có
30
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Phạm Mạnh Thắng
25.000 dự án đầu tư trực tiếp với tổng mức
đăng ký hơn 333 tỷ USD [1, tr.25]. Lũy kế tính
đến ngày 20-9-2018, cả nước có 26.646 dự án
đầu tư nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn
đăng ký 334 tỷ USD và tổng vốn thực hiện
khoảng 185,62 tỷ USD, bằng 55,5% tổng vốn
đăng ký còn hiệu lực. Tổng vốn đăng ký mới,
điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu
tư nước ngoài đạt 38,02 tỷ USD. Tính lũy kế đến
ngày 20-02-2020, cả nước có 31.345 dự án còn
hiệu lực với tổng vốn đăng ký 369,4 tỷ USD. Vốn
thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài ước đạt 214,23 tỷ USD, bằng 58%
tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.
mua cổ phần vào công ty TNHH Vietnam Beverage
tại Hà Nội, chiếm 48,9% tổng vốn đầu tư của Hồng
Kông); Singapore đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu
tư đăng ký là 4,5 tỷ USD, chiếm 11,8% tổng vốn
đầu tư. Tiếp theo là Nhật Bản, Trung Quốc,... Trong
02 tháng đầu năm 2020, đã có 73 quốc gia và vùng
lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Singapore dẫn đầu
với tổng vốn đầu tư 4,12 tỷ USD, chiếm 63,7% tổng
vốn đầu tư vào Việt Nam; Trung Quốc đứng thứ hai
với tổng vốn đầu tư 720,4 triệu USD, chiếm 11,1%
tổng vốn đầu tư. Hàn Quốc đứng vị trí thứ 3 với
tổng vốn đầu tư đăng ký gần 425,4 triệu USD,
chiếm 6,6% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là Hồng
Kông, Đài Loan, Nhật Bản,...
Xét về lĩnh vực đầu tư, trong năm 2019
các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19
ngành lĩnh vực, trong đó đầu tư tập trung nhiều
nhất vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo
với tổng số vốn đạt 24,56 tỷ USD, chiếm
64,6% tổng vốn đầu tư đăng ký. Đây cũng là
lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn trong vốn đăng ký
cả về đăng ký vào các dự án đầu tư mới, dự án
đầu tư mở rộng và góp vốn, mua cổ phần. Lĩnh
vực hoạt động kinh doanh bất động sản đứng
thứ hai với tổng vốn đầu tư 3,88 tỷ USD, chiếm
10,2% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo là
các lĩnh vực buôn bán lẻ, hoạt động chuyên
môn khoa học công nghệ,…Trong 2 tháng đầu
năm 2020, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư
vào 18 ngành lĩnh vực, trong đó lĩnh vực sản
xuất phân phối điện dẫn đầu với tổng số vốn
đạt 3,89 tỷ USD, chiếm 60,2% tổng vốn đầu tư
đăng ký. Lĩnh vực công nghiệp chế biến chế
tạo đứng thứ 2 với tổng vốn đầu tư 1,76 tỷ
USD, chiếm 27,3% tổng vốn đầu tư đăng ký.
Xét về đối tác đầu tư, các nhà đầu từ Châu
Á chiếm tỷ lệ lớn như Đài Loan, Hồng Kông,
Nhật Bản, Hàn Quốc,… Trong năm 2019, đã có
125 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại
Việt Nam. Hàn Quốc dẫn đầu với tổng vốn đầu
tư 7,92 tỷ USD, chiếm 20,8% tổng vốn đầu tư
Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn tồn
tại những hạn chế như: Công nghệ chuyển giao
vào Việt Nam phần lớn có trình độ đạt mức
trung bình hoặc trung bình tiên tiến so với các
nước trong khu vực nên việc chuyển giao công
nghệ chưa nhiều và chưa tạo ra sự lan tỏa công
nghệ từ doanh nghiệp có vốn FDI tới doanh
nghiệp trong nước; một bộ phận doanh nghiệp
vi phạm luật lao động, chưa thực sự quan tâm
đến quyền lợi chính đáng của người lao động;
năng lực phòng ngừa, kiểm soát, bảo vệ môi
trường của một số doanh nghiệp FDI còn bất
cập và trình độ quản lý của cơ quan quản lý còn
hạn chế. Thực tiễn quá trình lãnh đạo thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế
quốc tế có thể đúc rút một số kinh nghiệm như
sau: nhận thức đúng tầm quan trọng của đầu tư
trực tiếp nước ngoài; xác định đúng lĩnh vực ưu
tiên thu hút đầu tư phù hợp với từng giai đoạn;
chủ động cải thiện môi trường đầu tư; chú trọng
nâng cao hiệu quả phối hợp quản lý nhà nước đối
với hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
3. KẾT LUẬN
Nhận thức được tính tất yếu khách quan
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, Đảng Cộng
sản Việt Nam đề ra chủ trương và xác định
vào Việt Nam; Hồng Kông đứng thứ hai với tổng đúng lĩnh vực ưu tiên thu hút vốn ở mỗi giai
vốn đầu tư 7,87 tỷ USD (trong đó, có 3,85 tỷ USD đoạn cụ thể, tập trung chỉ đạo quyết liệt cải
31
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 24, Tháng 11 – 2020
thiện môi trường đầu tư nhằm tạo lợi thế so
sánh tốt nhất thu hút các nhà đầu tư. Những
thành tựu ở trên khẳng định tính đúng đắn
trong chủ trương và sự quyết liệt trong quá
trình tổ chức thực hiện dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Mặc dù còn tồn tại những hạn chế đòi
hỏi Đảng tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và điều
chỉnh phù hợp với tình hình thực tiễn. Có thể
thấy, hơn 30 năm qua, kết quả thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài đã tạo một cú hích để khai
thác, tận dụng lợi thế trong nước và đóng góp cho
sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2018), 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Tầm nhìn và
cơ hội mới trong kỷ nguyên mới, Nxb Thống kê, Hà Nội.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đảng thời kỳ Đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX),
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII,
VIII, IX, X, XI), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Ngày nhận bài: 07-3-2020. Ngày biên tập xong: 22-10-2020. Duyệt đăng: 27-11-2020
32
Bạn đang xem tài liệu "Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
dang_cong_san_viet_nam_lanh_dao_thu_hut_dau_tu_truc_tiep_nuo.pdf

