Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Phạm Mạnh Thắng  
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO THU HÚT ĐẦU TƯ  
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO NƯỚC TA TRONG THỜI KỲ  
ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA  
THE VIETNAMESE COMMUNIST PARTY LEADED TO ATTRACT FOREIGN DIRECT  
INVESTMENT IN THE PERIOD OF INDUSTRIALIZATION AND MODERNIZATION  
PHẠM MẠNH THẮNG  
TÓM TẮT: Phát triển kinh tế đối ngoại là một trong những chủ trương của Đảng trong thời kỳ đổi  
mới và hội nhập quốc tế. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương  
và chỉ đạo ban hành nhiều chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực  
quản lý để thu hút có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Bài viết khái quát một cách hệ  
thống chủ trương và quá trình tổ chức thực hiện thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của  
Đảng Cộng sản Việt Nam và một số kinh nghiệm đúc rút trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,  
hiện đại hóa.  
Từ khóa: đầu tư trực tiếp nước ngoài; lãnh đạo; công nghiệp hóa; hiện đại hóa.  
ABSTRACT: External economic development is one of the Party's policies in the period of  
renovation and international integration. During the leading process, Communist Party of Vietnam  
has proposed and directed to issue many policies in order to improve the investment environment  
and improve management capacity to effectively attract foreign direct investment (FDI). The  
article systematically summarizes the guidelines and process of organizing the implementation of  
foreign direct investment attraction of the Communist Party of Vietnam and some experiences  
gained in the period of accelerating industrialization, modernization.  
Key words: foreign direct investment; leading; industrial; modernization.  
đại hóa Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra chủ  
trương, biện pháp tổ chức thực hiện nhằm thu hút  
vốn FDI vào phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh  
kết quả đạt được, thu hút vốn FDI vào Việt Nam  
cũng bộc lộ những hạn chế như dự án đầu tư  
thường có quy mô nhỏ, công nghệ trong giai đoạn  
lắp ghép, nhiều dự án bị rút giấy phép do triển khai  
chậm,… Việc tổng kết, đánh giá quá trình Đảng  
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thu hút vốn FDI cung  
cấp những luận cứ khoa học góp phần hoạch định  
chủ trương về thu hút vốn FDI trong các giai đoạn  
tiếp theo thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện  
đại hóa là điều cần thiết.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam  
luôn đổi mới và ban hành các chính sách tiến bộ để  
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đặc  
biệt, kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài được ban  
hành vào tháng 12-1987 thì vốn FDI vào Việt Nam  
đạt những kết quả khả quan, đóng góp quan trọng  
vào tăng trưởng kinh tế. Việt Nam đã và đang tích  
cực cải thiện môi trường đầu tư để thu hút nguồn  
vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh hội nhập  
quốc tế và xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra. Nắm  
bắt được tầm quan trọng cũng như tính tất yếu phải  
thu hút FDI trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện  
 TS. Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, [email protected], Mã số: TCKH24-22-2020  
27  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 24, Tháng 11 – 2020  
nổi bật trong chủ trương của Đảng là xác định  
lĩnh vực ưu tiên tập trung thu hút vốn: Khuyến  
khích đầu tư nước ngoài vào các ngành công  
nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp  
chế biến, các ngành công nghệ cao, vật liệu  
mới, điện tử, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế,  
xã hội và các ngành mà Việt Nam có lợi thế,  
gắn với công nghiệp hiện đại và tạo việc làm.  
Tập trung thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào  
các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công  
nghệ cao. Đặc biệt, Hội nghị lần thứ 9 khóa IX  
(2-2004) khẳng định cần phải tạo chuyển biến  
cơ bản trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thực  
sự coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một  
bộ phận hữu cơ trong nền kinh tế thị trường định  
hướng xã hội chủ nghĩa và cần thu hút mạnh hơn  
nữa đầu tư trực tiếp nước ngoài…  
2. NỘI DUNG  
2.1. Chủ trương thu hút đầu tư trực tiếp nước  
ngoài của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ  
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa  
Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế góp phần  
chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì điều quan trọng  
nhất là phải thu hút được nguồn vốn trong nước  
cũng như của nước ngoài, trong đó nguồn vốn  
trong nước là quyết định nhưng vốn đầu tư  
nước ngoài có vai trò quan trọng trong bối cảnh  
toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Nghị quyết  
Đại hội VIII (6-1996) xác định: “Dựa vào  
nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh  
thủ tối đa nguồn lực bên ngoài” [2, tr.86]. Nghị  
quyết tuy không tách riêng khu vực có vốn đầu  
tư nước ngoài thành một thành phần kinh tế  
song đã phần nào ghi nhận sự hợp tác liên  
doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản nước  
ngoài và khẳng định vai trò của khu vực đầu tư  
nước ngoài “có vai trò quan trọng trong việc  
động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ,  
khả năng quản lý của các nhà tư bản vì lợi ích  
của bản thân họ, cũng như của công cuộc xây  
dựng và phát triển đất nước” [4, tr.347].  
Từ thực tiễn của 5 năm (2001-2005), báo  
cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương  
khóa IX của Đảng còn chỉ ra bài học kinh  
nghiệm trong quá trình thu hút vốn FDI “phải  
chủ động mở cửa thị trường trong nước, kể cả  
thị trường dịch vụ, để thu hút mạnh vốn đầu tư,  
công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến, nâng  
cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế”  
[5, tr.685]. Từ đó, Nghị quyết Đại hội X (4-  
2006) của Đảng đã đề ra những định hướng thu  
hút vốn FDI trong phương hướng nhiệm vụ  
phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm (2006-  
2010) là: tăng cường thu hút vốn đầu tư nước  
ngoài, mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức  
thu hút FDI, cần tập trung hướng vào những thị  
trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế  
hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ  
về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn FDI.  
Để thực hiện được định hướng đó, Nghị quyết  
Đại hội X (4-2006) của Đảng Cộng sản Việt  
Nam vạch ra các chính sách và giải pháp như  
sau: Thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu  
tư nước ngoài và xem doanh nghiệp có vốn đầu  
tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của  
nền kinh tế; đa dạng hóa hình thức và cơ chế  
đầu tư để thu hút mạnh nguồn lực của các nhà  
Sau 05 năm tiến hành đổi mới (1986-  
1991), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục đề ra  
những chủ trương thu hút vốn FDI, trong đó  
khắc phục những bất cập, yếu kém trong công  
tác thu hút vốn FDI như: vốn FDI giảm mạnh,  
công tác quản lý còn nhiều yếu kém, cơ chế  
chính sách chưa nhất quán, thiếu sự thông suốt  
ở các cấp, các ngành,... Đại hội IX của Đảng  
(4-2001) xác định tạo điều kiện để thành phần  
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được phát  
triển thuận lợi, nhấn mạnh: “Cải thiện môi  
trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn  
đầu tư nước ngoài” [3, tr.99]. Đây là thành  
phần kinh tế mới được bổ sung bởi thực tế  
trong 10 năm (1991-2001), kinh tế có vốn đầu  
tư nước ngoài phát triển nhanh và chiếm tỷ  
trọng cao trong nền kinh tế quốc dân do đó việc  
thừa nhận và khuyến khích thành phần kinh tế  
có vốn FDI là tất yếu. Một trong những điểm  
28  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Phạm Mạnh Thắng  
đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực quan trọng  
của nền kinh tế, nhất là lĩnh vực công nghệ cao,  
công nghệ nguồn, xây dựng kết cấu hạ tầng  
kinh tế - xã hội; đơn giản hóa thủ tục cấp phép  
đầu tư đối với đầu tư nước ngoài.  
công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất  
hàng xuất khẩu, công nghệ cao và những ngành  
mà Việt Nam đang có lợi nhằm đẩy mạnh thu  
hút vốn FDI tạo điều kiện kích thích cho thành  
phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát  
triển, đóng góp vào sự phát triển chung của nền  
kinh tế thế giới trong quá trình đẩy mạnh công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.  
Trước những cơ hội lớn mở ra và thách  
thức phải đối diện, Đại hội Đảng toàn quốc lần  
thứ XI (1-2011) đưa ra định hướng: “Thu hút  
đầu tư nước ngoài với công nghệ hiện đại, thân  
thiện môi trường và tăng cường sự liên kết với  
các doanh nghiệp trong nước” [5, tr.758] và đề  
cập đến một trong những vấn đề nổi bật là  
hướng đến thu hút vốn FDI với công nghệ hiện  
đại, thân thiện với môi trường. Đây là điều mà  
mỗi quốc gia khi tiến hành thu hút vốn FDI đều  
lo ngại về vấn đề các dự án đầu tư nước ngoài  
chưa quan tâm đến môi trường đúng mức khiến  
ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng, ảnh hưởng  
đến sinh thái và cuộc sống của người dân. Đặc  
biệt, cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời  
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát  
triển năm 2011) nhấn mạnh: “kinh tế có vốn  
đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát  
triển” [5, tr.737]. Đây là nhận thức mới của  
Đảng về thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước  
ngoài. Đó là sự khẳng định vị trí không thể  
thiếu của thành phần kinh tế này trong nền kinh  
tế quốc dân. Theo đó, chính sách thu hút FDI  
trong những năm tới tập trung vào nâng cao  
chất lượng của dòng vốn thông qua việc thu hút  
các nhà đầu tư lớn, các tập đoàn xuyên quốc  
gia vào các ngành, lĩnh vực quan trọng như  
công nghệ cao, công nghệ nguồn, thân thiện với  
môi trường.  
2.2. Quá trình tổ chức thực hiện thu hút đầu  
tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ đẩy mạnh  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa  
Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tập trung  
chỉ đạo thực hiện hoàn thiện thể chế kinh tế thị  
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách  
hành chính, tư pháp, cải thiện môi trường đầu  
tư, tập trung vào khắc phục những bất cập trong  
cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn  
nhân lực. Định hướng thu hút vốn đầu tư được  
tập trung vào các khía cạnh sau: 1) Ưu tiên thu  
hút đầu tư nước ngoài vào các ngành, lĩnh vực  
công nghệ cao, tiên tiến, công nghệ thân thiện  
với môi trường, năng lượng sạch, đặc biệt là  
các ngành nghề mới trên nền tảng công nghiệp  
4.0,…; 2) Tăng cường thu hút nhà đầu tư, đặc  
biệt là các tập đoàn đa quốc gia liên kết với  
doanh nghiệp trong nước hình thành và phát  
triển cụm liên kết ngành theo từng chuỗi giá trị;  
3) Đa phương hóa, đa dạng hóa thu hút đầu tư  
từ các thị trường và đối tác tiềm năng; …  
Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Chính  
phủ và các Bộ, ngành ban hành nhiều văn bản  
với nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư để tiếp  
tục thu hút vốn FDI. Trường hợp được xem là  
điểm nhấn trong việc thay đổi chính sách về thu  
hút vốn FDI là Luật Đầu tư nước ngoài được  
sửa đổi năm 2000 trong kỳ họp thứ 7, khóa X  
của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam (6-2000). Luật Đầu tư nước ngoài  
sửa đổi xác định danh mục doanh nghiệp có  
vốn FDI được kinh doanh không cần giấy phép,  
danh mục kêu gọi đầu tư theo giai đoạn và mở  
rộng lĩnh vực đầu tư. Luật Đầu tư nước ngoài  
sửa đổi những chính sách về thuế, đất đai như  
Như vậy, Đảng và Nhà nước đánh giá  
đúng tầm quan trọng của nguồn vốn FDI và  
không ngừng đưa ra những quan điểm định  
hướng cho công tác thu hút vốn FDI vào Việt  
Nam. Với đường lối đối ngoại rộng mở, đa  
phương hóa, đa dạng, tích cực và chủ động hội  
nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ  
trương đẩy mạnh, khuyến khích thu hút vốn  
FDI vào những ngành công nghiệp mũi nhọn:  
29  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 24, Tháng 11 – 2020  
được quyền cho thuê lại đất tại các khu công  
nghiệp, khu chế xuất miễn thuế nhập khẩu với  
những lĩnh vực ưu tiên, được cân đối ngoại tệ  
và được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất,  
được mở tài khoản ở nước ngoài. Đây là sự sửa  
đổi quan trọng nhằm tạo sức bật thúc đẩy thu  
hút vốn FDI vào Việt Nam.  
hướng, giải pháp thu hút và quản lý vốn đầu tư  
trực tiếp nước ngoài nhằm khắc phục những hạn  
chế trong thu hút vốn FDI và đẩy mạnh hơn nữa  
công tác thu hút vốn FDI theo tinh thần Nghị  
quyết Đại hội lần thứ X của Đảng.  
Ngoài ra, Chính phủ đã ban hành Nghị  
quyết số 103/NQ của Chính phủ về định hướng  
nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng và quản lý  
đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới  
và Nghị quyết số 19/NQ của Chính phủ về  
những nhiệm vụ và giải pháp cải thiện môi  
trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh  
tranh quốc gia đưa ra những giải pháp cho các  
Bộ, cơ quan, địa phương rà soát, công khai thủ  
tục hành chính trên Internet, đơn giản hóa thủ  
tục và hoàn thiện các quy định pháp luật để cải  
thiện môi trường kinh doanh, hoàn thiện những  
chính sách khuyến khích thu hút các dự án  
công nghệ cao, tạo điều kiện thuận lợi cho  
chuyển giao công nghệ,...  
Ngoài ra, Chính phủ ban hành các văn bản  
đưa ra các biện pháp khuyến khích nhà đầu tư  
FDI như Nghị định số 10/1998/NĐ-CP về một  
số biện pháp khuyến khích và đảm bảo hoạt  
động FDI tại Việt Nam, Chỉ thị số 11/1998/CT-  
TTg về việc thực hiện Nghị định 10/1998/NĐ-  
CP của Chính phủ về cải tiến các thủ tục đầu tư  
trực tiếp của nước ngoài, Quyết định số  
53/2000/QĐ-TTg về một số biện pháp khuyến  
khích đầu tư trực tiếp nước ngoài,… tháo gỡ  
những khó khăn, loại bỏ những cản trở ách tắc  
với việc thu hút vốn đầu tư và triển khai các dự  
án đầu tư nước ngoài.  
Năm 2005, Quốc hội đã ban hành Luật  
Đầu tư 2005 thay thế Luật Đầu tư nước ngoài  
tại Việt Nam; Chính phủ đã ban hành Nghị  
định 108/2006/NĐ của Chính phủ quy định chi  
một số điều của Luật Đầu tư như ban hành các  
ưu đãi: ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp,  
thuế nhập khẩu, thuế sử dụng đất, tiền sử dụng  
đất, tiền thuê đất và tiền thuê mặt nước để  
khuyến khích các nhà đầu tư vào đầu tư tại  
nước ta; Nghị định số 101/2006/NĐ của Chính  
phủ về quy định việc đăng ký lại, chuyển đổi và  
đăng ký đổi giấy chứng nhận đầu tư của các  
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo  
quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu  
tư; Nghị định số 78/2007/NĐ của Chính phủ về  
đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, BTO,  
BT; Nghị định số 29/2009/NĐ của Chính phủ  
quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và  
khu kinh tế; Nghị định số 133/2009/NĐ của  
Chính phủ về giám sát và đánh giá đầu tư; Chỉ thị  
số 15/2007/CT-TTg về một số giải pháp chủ yếu  
nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam  
và Nghị quyết số 13/NQ của Chính phủ về định  
Từ chủ trương của Đảng, Chính phủ và  
các Bộ, ngành đã thể chế hóa bằng những chính  
sách, biện pháp cụ thể tập trung vào nâng cao  
chất lượng vốn FDI qua việc thu hút mạnh các  
tập đoàn xuyên quốc gia đầu tư vào các ngành,  
lĩnh vực quan trọng như công nghệ cao, công  
nghệ nguồn và những lĩnh vực mà Việt Nam có  
lợi thế cạnh tranh.  
2.3. Một số nhận xét và kinh nghiệm  
Nắm bắt được tính tất yếu khách quan và  
vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài,  
Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra những quan  
điểm, định hướng thu hút phù hợp với từng giai  
đoạn phát triển và mạnh dạn tìm tòi những giải  
pháp mang tính đột phá trong thu hút đầu tư. Do  
đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng  
đều theo các năm, đóng góp quan trọng vào quá  
trình phát triển đất nước, tác động tích cực đến  
chuyển dịch cơ cấu kinh tế… góp phần thực  
hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.  
Xét về số vốn và dự án, từ năm 1989 đến  
năm 2017, có tổng 331 tỷ USD vốn FDI vào  
Việt Nam. Tính đến năm 2017, Việt Nam đã có  
30  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Phạm Mạnh Thắng  
25.000 dự án đầu tư trực tiếp với tổng mức  
đăng ký hơn 333 tỷ USD [1, tr.25]. Lũy kế tính  
đến ngày 20-9-2018, cả nước có 26.646 dự án  
đầu tư nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn  
đăng ký 334 tỷ USD và tổng vốn thực hiện  
khoảng 185,62 tỷ USD, bằng 55,5% tổng vốn  
đăng ký còn hiệu lực. Tổng vốn đăng ký mới,  
điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu  
tư nước ngoài đạt 38,02 tỷ USD. Tính lũy kế đến  
ngày 20-02-2020, cả nước có 31.345 dự án còn  
hiệu lực với tổng vốn đăng ký 369,4 tỷ USD. Vốn  
thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư trực tiếp  
nước ngoài ước đạt 214,23 tỷ USD, bằng 58%  
tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.  
mua cổ phần vào công ty TNHH Vietnam Beverage  
tại Hà Nội, chiếm 48,9% tổng vốn đầu tư của Hồng  
Kông); Singapore đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu  
tư đăng ký là 4,5 tỷ USD, chiếm 11,8% tổng vốn  
đầu tư. Tiếp theo là Nhật Bản, Trung Quốc,... Trong  
02 tháng đầu năm 2020, đã có 73 quốc gia và vùng  
lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Singapore dẫn đầu  
với tổng vốn đầu tư 4,12 tỷ USD, chiếm 63,7% tổng  
vốn đầu tư vào Việt Nam; Trung Quốc đứng thứ hai  
với tổng vốn đầu tư 720,4 triệu USD, chiếm 11,1%  
tổng vốn đầu tư. Hàn Quốc đứng vị trí thứ 3 với  
tổng vốn đầu tư đăng ký gần 425,4 triệu USD,  
chiếm 6,6% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là Hồng  
Kông, Đài Loan, Nhật Bản,...  
Xét về lĩnh vực đầu tư, trong năm 2019  
các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19  
ngành lĩnh vực, trong đó đầu tư tập trung nhiều  
nhất vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo  
với tổng số vốn đạt 24,56 tỷ USD, chiếm  
64,6% tổng vốn đầu tư đăng ký. Đây cũng là  
lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn trong vốn đăng ký  
cả về đăng ký vào các dự án đầu tư mới, dự án  
đầu tư mở rộng và góp vốn, mua cổ phần. Lĩnh  
vực hoạt động kinh doanh bất động sản đứng  
thứ hai với tổng vốn đầu tư 3,88 tỷ USD, chiếm  
10,2% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo là  
các lĩnh vực buôn bán lẻ, hoạt động chuyên  
môn khoa học công nghệ,…Trong 2 tháng đầu  
năm 2020, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư  
vào 18 ngành lĩnh vực, trong đó lĩnh vực sản  
xuất phân phối điện dẫn đầu với tổng số vốn  
đạt 3,89 tỷ USD, chiếm 60,2% tổng vốn đầu tư  
đăng ký. Lĩnh vực công nghiệp chế biến chế  
tạo đứng thứ 2 với tổng vốn đầu tư 1,76 tỷ  
USD, chiếm 27,3% tổng vốn đầu tư đăng ký.  
Xét về đối tác đầu tư, các nhà đầu từ Châu  
Á chiếm tỷ lệ lớn như Đài Loan, Hồng Kông,  
Nhật Bản, Hàn Quốc,… Trong năm 2019, đã có  
125 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại  
Việt Nam. Hàn Quốc dẫn đầu với tổng vốn đầu  
tư 7,92 tỷ USD, chiếm 20,8% tổng vốn đầu tư  
Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn tồn  
tại những hạn chế như: Công nghệ chuyển giao  
vào Việt Nam phần lớn có trình độ đạt mức  
trung bình hoặc trung bình tiên tiến so với các  
nước trong khu vực nên việc chuyển giao công  
nghệ chưa nhiều và chưa tạo ra sự lan tỏa công  
nghệ từ doanh nghiệp có vốn FDI tới doanh  
nghiệp trong nước; một bộ phận doanh nghiệp  
vi phạm luật lao động, chưa thực sự quan tâm  
đến quyền lợi chính đáng của người lao động;  
năng lực phòng ngừa, kiểm soát, bảo vệ môi  
trường của một số doanh nghiệp FDI còn bất  
cập và trình độ quản lý của cơ quan quản lý còn  
hạn chế. Thực tiễn quá trình lãnh đạo thu hút đầu  
tư trực tiếp nước ngoài của Đảng Cộng sản Việt  
Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế  
quốc tế có thể đúc rút một số kinh nghiệm như  
sau: nhận thức đúng tầm quan trọng của đầu tư  
trực tiếp nước ngoài; xác định đúng lĩnh vực ưu  
tiên thu hút đầu tư phù hợp với từng giai đoạn;  
chủ động cải thiện môi trường đầu tư; chú trọng  
nâng cao hiệu quả phối hợp quản lý nhà nước đối  
với hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.  
3. KẾT LUẬN  
Nhận thức được tính tất yếu khách quan  
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, Đảng Cộng  
sản Việt Nam đề ra chủ trương và xác định  
vào Việt Nam; Hồng Kông đứng thứ hai với tổng đúng lĩnh vực ưu tiên thu hút vốn ở mỗi giai  
vốn đầu tư 7,87 tỷ USD (trong đó, có 3,85 tỷ USD đoạn cụ thể, tập trung chỉ đạo quyết liệt cải  
31  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 24, Tháng 11 – 2020  
thiện môi trường đầu tư nhằm tạo lợi thế so  
sánh tốt nhất thu hút các nhà đầu tư. Những  
thành tựu ở trên khẳng định tính đúng đắn  
trong chủ trương và sự quyết liệt trong quá  
trình tổ chức thực hiện dưới sự lãnh đạo của  
Đảng. Mặc dù còn tồn tại những hạn chế đòi  
hỏi Đảng tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và điều  
chỉnh phù hợp với tình hình thực tiễn. Có thể  
thấy, hơn 30 năm qua, kết quả thu hút vốn đầu tư  
trực tiếp nước ngoài đã tạo một cú hích để khai  
thác, tận dụng lợi thế trong nước và đóng góp cho  
sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2018), 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Tầm nhìn và  
cơ hội mới trong kỷ nguyên mới, Nxb Thống kê, Hà Nội.  
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính  
trị Quốc gia, Hà Nội.  
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính  
trị Quốc gia, Hà Nội.  
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đảng thời kỳ Đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX),  
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Đảng thời kỳ Đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII,  
VIII, IX, X, XI), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
Ngày nhận bài: 07-3-2020. Ngày biên tập xong: 22-10-2020. Duyệt đăng: 27-11-2020  
32  
pdf 6 trang Thùy Anh 20100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdang_cong_san_viet_nam_lanh_dao_thu_hut_dau_tu_truc_tiep_nuo.pdf