Chính sách, pháp luật về đất đai đối với người dân tộc thiểu số tại chỗ của Campuchia và Philippines – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 100-108  
Original Article  
Land Policies and Law for Indigenous Ethnic Minorities  
in Philippines and Cambodia: Situation and Recommendation  
for Viet Nam  
Luu Thi Tuyet*  
Academy of Policy and Development,  
Nam An Khanh Urban Area, An Thuong Commune, Hoai Duc District, Hanoi City  
Received 06 July 2021  
Revised 7 August 2021; Accepted 17 September 2021  
Abstract: Land plays a very important role in agriculture production, especially to ethnic minorities  
located in mountainous and rural regions of Vietnam. Basing on the research on policies and laws  
regarding the right of land possession of local ethnic population in Cambodia and Philippines, this  
article gives some suggestions for improving Vietnam’s legal system on this issue.  
Keywords: Land, ethnic minorities, local ethnic population.  
Tuyet Luu Thi1,, Tam Vu Thi2  
________  
Corresponding author.  
Email address: [email protected]m  
100  
L. T. Tuyet / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 100-108  
101  
Chính sách, pháp luật về đất đai đối với người dân tộc thiểu số  
tại chỗ của Campuchia và Philippines – Bài học kinh nghiệm  
cho Việt Nam  
Lưu Thị Tuyết*  
Học viện Chính sách và Phát triển,  
Khu đô thị Nam An Khánh, xã An Thượng, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội  
Nhận ngày 06 tháng 7 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 07 tháng 8 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 18 tháng 9 năm 2021  
Tóm tắt: Đất đai luôn là nguồn sản xuất quan trọng đối với các dân tộc, đặc biệt đối với các dân tộc  
thiểu số sống ở những vùng xa xôi hẻo lánh. Nghiên cứu quyền về đất đai của người dân tộc thiểu  
số tại chỗ trong hệ thống chính sách và pháp luật của Campuchia và Philippines, bài viết đưa ra một  
số khuyến nghị để hoàn thiện chính sách, pháp luật Việt Nam trong vấn đề này.  
Từ khóa: Đất đai, dân tộc thiểu số, dân tộc thiểu số bản địa  
1. Mở đầu  
Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc anh em,  
thực tế rằng nhiều dân tộc thiểu số còn nghèo và  
còn tách rời khỏi nhịp phát triển của xã hội.  
Chính vì vậy, đối với cộng đồng dân tộc thiểu số  
luôn cần được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc  
biệt và dành cho các chính sách, quy định pháp  
luật phù hợp với đặc thù văn hóa, truyền thống,  
điều kiện kinh tế - xã hội vùng, miền.  
theo số liệu của Tổng cục Thống kê ngày  
01/4/2019, người Kinh chiếm 85,4% dân số Việt  
Nam, với 78,32 triệu người. 53 dân tộc thiểu số  
còn lại chỉ chiếm 14,6% dân số cả nước. Từ xưa  
đến nay, đất đai luôn là nguồn sản xuất quan  
trọng đối với các dân tộc, đặc biệt đối với các  
dân tộc sống ở những vùng xa xôi hẻo lánh. Rất  
nhiều cộng đồng đã xem đất đai cũng như quyền  
kiểm soát đất đai có tầm quan trọng về chính trị  
và văn hóa. Tuy nhà nước đã có nhiều biện pháp  
hỗ trợ nhưng tình hình đất sản xuất vẫn đang là  
nhu cầu đòi hỏi hết sức bức xúc của người Dân  
tộc thiểu số [1]. Khoản 2 Điều 5 Hiến pháp năm  
2013 quy định: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn  
kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”.  
Điều khoản này chỉ rõ chính sách công bằng đối  
với các cộng đồng thiểu số khác nhau trong cả  
nước. Tuy nhiên, điều khoản này chưa chỉ ra một  
Cũng giống như Việt Nam, Campuchia và  
Philippines cũng là các quốc gia đa dân tộc. Ở  
Campuchia dân tộc chủ thể là người Khơ Me,  
dân tộc thiểu số chủ yếu sinh sống ở phía Đông  
Bắc Campuchia giáp với Lào và vùng Tây  
Nguyên Việt Nam. Philippines cũng tương tự,  
dân tộc thiểu số thường tụ cư ở các quần đảo lớn  
như người Ifugao, người Botos,… Liên quan đến  
quyền trong lĩnh vực đất đai của người dân tộc  
thiểu số, mỗi quốc gia này lại có các chính sách,  
pháp luật khác nhau, với các thành công và hạn  
chế nhất định trong quá trình thực thi. Bài viết  
này đề cập đến quyền trong lĩnh vực đất đai của  
________  
Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]  
https://doi.org/10.25073/2588-1116/vnupam.4329/doi.org/10.25073/2588-1116/vnupam.4329  
L. T. Tuyet / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 100-108  
102  
người dân tộc thiểu số tại chỗ tại Campuchia,  
Quyền được thừa nhận là cộng đồng bản địa;  
Quyền được đăng ký như là pháp nhân;  
Philippines và trên cơ sở đó, đưa ra một số  
khuyến nghị chính sách, pháp luật liên quan cho  
Việt Nam.  
Quyền được thỏa thuận về ranh giới với cộng  
đồng liền kề và với cơ quan hành chính nhà  
nước.  
Theo Nghị định này, các loại đất sau đây  
được đăng ký cho cộng đồng dân tộc thiểu số bản  
địa:  
2. Chính sách, pháp luật về đất đai cho người  
dân tộc thiểu số tại chỗ của Campuchia và  
Philippines  
Đất thổ cư hoặc đất được dành để xây dựng  
nhà ở.  
2.1. Chính sách, pháp luật về đất đai cho người  
dân tộc thiểu số tại chỗ của Campuchia  
Đất nông nghiệp truyền thống, đất canh tác  
thực tế, đất vườn và đất dự trữ cần thiết cho  
chuyển đổi canh tác được công nhận bởi các cơ  
quan hành chính và cộng đồng láng giềng.  
Chính sách đất đai của Campuchia đối với  
dân tộc thiểu số tại chỗ được quy định trong Luật  
đất đai năm 2001 và Luật lâm nghiệp năm 2002.  
Đất rừng thiêng với tổng diện tích đất không  
quá 7 ha.  
Luật đất đai năm 2001 của Campuchia quy  
định: đất của dân tộc thiểu số tại chỗ là một trong  
năm loại đất của Luật này điều chỉnh [2]. Điều  
25 Luật đất đai 2001 quy định:  
Đất rừng nghĩa trang với tổng diện tích đất  
không quá 7 ha.  
Pháp luật Campuchia đã rất tiến bộ khi công  
nhận quyền đăng ký đất đai của cộng đồng dân  
tộc thiểu số bản địa.  
“Vùng đất của các cộng đồng tại chỗ là  
những vùng đất nơi các cộng đồng đó cư trú,  
canh tác nông nghiệp truyền thống. Vùng đất của  
các cộng đồng tại chỗ bao gồm không chỉ những  
vùng đất thực sự được canh tác mà còn bao gồm  
những vùng đất dự trữ cần thiết để chuyển đổi  
canh tác theo yêu cầu bởi các phương thức canh  
tác nông nghiệp mà họ hiện đang thực hiện và  
được các cơ quan hành chính công nhận. Việc đo  
lường và phân định ranh giới các bất động sản  
của các cộng đồng tại chỗ sẽ được xác định tùy  
theo thực trạng mà cộng đồng yêu cầu và sự thỏa  
thuận với các cộng đồng láng giềng…”  
Dân tộc thiểu số tại chỗ ở Campuchia sống  
chủ yếu ở vùng cao, vùng rừng núi, chính vì vậy  
quyền tiếp cận đất của dân tộc thiểu số tại chỗ  
gắn liền với rừng và đất rừng có ý nghĩa vô cùng  
quan trọng. Ngay sau khi ban hành Luật đất đai  
2001, Campuchia đã ban hành Luật Lâm nghiệp  
năm 2002. Luật này không quy định cụ thể về  
dân tộc thiểu số bản địa, rừng của dân tộc thiểu  
số bản địa. Tuy nhiên, nhiều quy định của Luật  
Lâm nghiệp có liên quan đến quyền tiếp cận,  
quản lý và sở hữu rừng của dân tộc thiểu số  
bản địa. Nhà nước Campuchia coi rừng tự  
nhiên, bao gồm cả rừng tự nhiên trên các vùng  
đất của dân tộc thiểu số tại chỗ là sở hữu nhà  
nước. Nhà nước thừa nhận quyền của dân tộc  
thiểu số tại chỗ trong việc chiếm hữu, khai thác  
rừng theo tập quán và truyền thống của họ như:  
khai thác gỗ để xây nhà, thu lượm cây gỗ chế,  
quả dại, lấy mật ong,… Tuy nhiên, cộng đồng  
địa phương không được phép chuyển bất kỳ  
quyền sử dụng rừng theo phương thức truyền  
thống cho bên thứ ba.  
Luật đất đai năm 2001 của Campuchia tuy  
không quy định rõ loại đất, diện tích đất mà dân  
tộc thiểu số tại chỗ được đăng ký, song đã tạo  
nền tảng cho các văn bản dưới luật thực hiện mục  
tiêu này. Cụ thể, năm 2009, Chính phủ  
Campuchia đã ban hành Nghị định quy định các  
quyền quan trọng sau đây của dân tộc thiểu số  
bản địa:  
Quyền quản lý cộng đồng và tài sản của cộng  
động, đăng ký đất của các dân tộc thiểu số bản  
địa;  
Quyền xác định tài sản chung của cộng đồng  
và đăng ký tài sản đó tại cơ quan địa chính;  
Một điểm đáng chú ý của Luật Lâm nghiệp  
2002 liên quan đến quyền tiếp cận rừng của dân  
L. T. Tuyet / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 100-108  
103  
tộc thiểu số tại chỗ là việc cấm khai thác gỗ trong  
rừng thiêng. Theo điều 44, Luật Lâm nghiệp  
2002 của Campuchia thì: các cây gỗ trong rừng  
thiêng phải được đóng dấu và được xác định  
trong Kế hoạch quản lý rừng cộng đồng.  
Liên quan đến lĩnh vực đất đai, IPRA thừa  
nhận các quyền của người tại chỗ Philippines đối  
với lãnh địa/đất đai mà tổ tiên họ để lại. IPRA  
đưa ra hai khái niệm riêng biệt là lãnh địa của tổ  
tiên và đất đai của tổ tiên. Theo đó:  
Có thể thấy, Luật đất đai 2001 và Luật Lâm  
nghiệp 2002 của Campuchia đã có nhiều quy  
định nhằm bảo vệ lợi ích của cộng đồng dân tộc  
thiểu số trong lĩnh vực đất đai. Tuy nhiên, trong  
thực tế, một số quy định được đánh giá là vẫn  
chưa thực sự bảo vệ quyền lợi của nhóm cộng  
đồng này. Ví dụ: theo pháp luật lâm nghiệp, đất  
rừng thiêng của dân tộc thiểu số tại chỗ được  
công nhận theo định mức và không quá 7 ha cho  
mỗi cộng đồng thiểu số bản địa. Trong thực tế,  
các cộng đồng thiểu số tại chỗ thường có đất  
rừng thiêng rộng hơn nhiều. Do vậy, khi thực  
hiện việc đăng ký đất rừng, phần diện tích đất  
rừng thiêng dư ra (ngoài 7 ha) được coi thuộc sở  
hữu nhà nước.  
Lãnh địa của tổ tiên (Ancestral Domains)  
người tại chỗ được IPRA định nghĩa là tất cả các  
khu vực nói chung thuộc về cộng đồng bản địa,  
bao gồm đất đai, vùng nước nội địa, khu vực ven  
biển và các tài nguyên thiên nhiên trong đó.  
Những khu vực này được xác lập quyền sở hữu,  
sử dụng hoặc chiếm giữ bởi cộng đồng bản địa,  
mà cụ thể là bởi chính họ hoặc tổ tiên của họ, từ  
thời xa xưa liên tục đến hiện tại trừ những lúc bị  
gián đoạn bởi chiến tranh, bởi các sự kiện bất khả  
kháng hoặc trừ những lúc họ bị buộc phải di dời  
khỏi vùng lãnh địa đó do sự cưỡng chế, lừa dối,  
lén lút hoặc do việc thực hiện các dự án của chính  
phủ hoặc do bất kỳ thỏa thuận tự nguyện nào  
khác được chính phủ và các cá nhân hoặc tập  
đoàn tư nhân tham gia mà được coi là cần thiết  
để đảm bảo phúc lợi kinh tế, xã hội và văn hóa  
của cộng đồng bản địa. Lãnh địa này sẽ bao gồm  
đất tổ tiên, rừng, đồng cỏ, dân cư, nông nghiệp  
và các vùng đất khác thuộc sở hữu cá nhân dù là  
có thể chuyển nhượng hay không, bãi săn, bãi  
chôn lấp, khu vực thờ cúng, nước, khoáng sản và  
các tài nguyên thiên nhiên khác, và đất không thể  
còn bị chiếm giữ độc quyền bởi các cộng động  
tại chỗ nhưng ở đó họ có quyền tiếp cập để sinh  
hoạt và thực hiện các hoạt động truyền thống,  
đặc biệt là các khu nhà của người dân tộc thiểu  
số tại chỗ mà họ là những người trồng trọt du cư  
và/hoặc du canh.  
Mặt khác, ngay cả một số khu rừng gần cộng  
đồng dân tộc thiểu số tại chỗ được coi là rừng  
cộng đồng thì chúng vẫn nằm dưới sự kiểm soát  
của nhà nước và thỏa thuận rừng cộng đồng  
(giữa nhà nước - cộng đồng dân tộc thiểu số bản  
địa) chỉ có hiệu lực trong vòng 15 năm [3]. Như  
vậy, có thể thấy việc công nhận rừng cộng đồng  
trong Luật Lâm nghiệp 2002 của Campuchia vẫn  
chưa thực sự đảm bảo quyền của dân tộc thiểu số  
tại chỗ trong việc tiếp cận đất rừng.  
2.2. Chính sách, pháp luật về đất đai cho người  
dân tộc thiểu số tại chỗ của Philippines  
Không giống với nhiều quốc gia khác trong  
khu vực, vốn không sử dụng thuật ngữ người tại  
chỗ khi nhắc tới các dân tộc thiểu số, Philippines  
đã chính thức sử dụng thuật ngữ này trong Hiến  
pháp năm 1987. Nhằm cụ thể hóa các chính sách  
đối với cộng đồng người bản địa, tháng 10 năm  
1997, Philippines đã chính thức thông qua Đạo  
luật về các quyền của người tại chỗ (The  
Indigenous Peoples Rights Act of 1997 - IPRA).  
Đạo luật này được tuyên bố là nhằm mục đích  
công nhận, bảo vệ cũng như thúc đẩy các quyền  
của cộng đồng thiểu số tại chỗ Philippines.  
Đất đai của tổ tiên (Ancestral Lands) người  
dân tộc thiểu số tại chỗ được hiểu là những vùng  
đất được chiếm giữ, sở hữu hoặc sử dụng bởi các  
cá nhân, gia đình và gia tộc là thành viên của  
cộng đồng tại chỗ kể từ thời xa xưa bởi chính họ  
hoặc thông qua tổ tiên của họ, dưới hình thức sở  
hữu cá nhân hoặc sở hữu nhóm truyền thống.  
Quá trình sở hữu này là liên tục cho đến hiện tại,  
trừ những lúc bị gián đoạn bởi chiến tranh, bởi  
các sự kiện bất khả kháng hoặc bị di dời bằng vũ  
lực, lừa dối, lén lút hoặc do hậu quả của các dự  
án của chính phủ và các thỏa thuận tự nguyện  
khác được chính phủ và các công ty tư nhân tham  
L. T. Tuyet / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 100-108  
104  
gia. Những vùng đất này bao gồm (không giới  
trách nhiệm tuân thủ pháp luật mà cụ thể là tuân  
thủ các quy định của IPRA.  
hạn) các khu đất ở, ruộng bậc thang hoặc ruộng  
lúa, rừng tư nhân, trang trại nương rẫy và đất  
trồng cây [4].  
Để bảo đảm quyền lợi của cộng đồng bản địa,  
IPRA còn đề cập đến một nguyên tắc rất tiến bộ  
là Nguyên tắc tự do, báo trước, được cung cấp  
thông tin và đồng thuận (Tiếng Anh là Free and  
Prior Informed Consent – viết tắt là FPIC). IPRA  
đã đưa ra định nghĩa riêng về FPIC, theo đó FPIC  
được hiểu là:  
IPRA công nhận đầy đủ các quyền của người  
tại chỗ đối với lãnh địa tổ tiên, bao gồm: Quyền  
sở hữu; Quyền phát triển đất đai và các tài  
nguyên thiên nhiên có trong lãnh địa; Quyền ở  
lại vùng lãnh địa và không bị di chuyển khỏi đó;  
Các quyền trong trường hợp bị di dời khỏi lãnh  
địa do có thảm hoạ tự nhiên; Quyền kiểm soát sự  
xâm nhập vào lãnh địa của các tổ chức hoặc  
người di cư, Quyền được tiếp cận không khí và  
nước sạch, an toàn; Quyền đối với một số phần  
của các khu bảo tồn; Quyền được giải quyết các  
xung đột liên quan tới đất đai theo luật tục. Đối  
với đất đai tổ tiên, IPRA công nhận cho người tại  
chỗ hai quyền sau:  
Sự đồng thuận của tất cả các thành viên của  
cộng đồng tại chỗ được xác định theo luật lệ và  
thông lệ tương ứng của họ, không có bất kỳ thao  
túng, can thiệp và ép buộc bên ngoài nào và có  
được sau khi tiết lộ đầy đủ mục đích và phạm vi  
của hoạt động, bằng ngôn ngữ và quá trình dễ  
hiểu đối với cộng đồng.  
FPIC có thể được miêu tả như là việc hình  
thành các điều kiện mà theo đó người dân có thể  
thực hành các quyền cơ bản của mình trong đàm  
phán về các điều kiện của các chính sách,  
Quyền chuyển nhượng đất/tài sản (Right to  
transfer land/property): Quyền này sẽ bao gồm  
quyền chuyển nhượng đất hoặc tài sản giữa các  
thành viên của cùng một cộng đồng bản địa, việc  
này được thực hiện tuân theo luật tục và truyền  
thống của cộng đồng tại chỗ liên quan.  
chương trình và hoạt động được sắp đặt tư bên  
̀
ngoài, có tác động trực tiếp tới sinh kế hoặc cuộc  
sống của họ và từ đó có thể đưa ra sự đồng thuận  
hay rút lại sự đồng thuận đối với các chính sách,  
chương trình và hoạt động này. Như vậy, FPIC  
chính là cơ sở pháp lý rõ ràng nhất, buộc các dự  
án, chính sách, kế hoạch có ảnh hưởng đến sinh  
kế của cộng đồng tại chỗ trước khi được triển  
khai, phải được cung cấp thông tin minh bạch,  
đầy đủ đến cộng đồng và phải được cộng đồng  
đồng thuận.  
Quyền chuộc lại quyền sử dụng đất/tài sản  
(Right to Redemption): Trong trường hợp chứng  
minh được rằng việc chuyển nhượng đất/tài sản  
theo bất kỳ thỏa thuận hoặc hợp đồng nào, cho  
một người không phải là thành viên của cộng  
đồng bản địa, mà không được sự đồng ý của cộng  
đồng tại chỗ hoặc việc chuyển nhượng được  
thực hiện một cách hoàn toàn không hợp lý về  
giá cả, cộng đồng tại chỗ của người chuyển  
nhượng có quyền chuộc lại đất/tài sản đó trong  
khoảng thời gian không quá mười lăm năm kể từ  
ngày chuyển nhượng.  
FPIC được thể hiện trong nhiều điều luật  
khác nhau của IPRA, chẳng hạn như tại Mục 33a  
Chương VI, IPRA yêu cầu việc khám phá, khai  
quật hoặc thực hiện các cuộc đào bới trên các địa  
điểm khảo cổ của cộng đồng tại chỗ với mục đích  
lấy tài liệu về các giá trị văn hóa cần phải được  
thực hiện theo nguyên tắc FPIC.  
IPRA cũng có các quy định liên quan tới việc  
công nhận các quyền truyền thống của người tại  
chỗ đối với lãnh địa tổ tiên/đất đai tổ tiên của họ  
thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở  
hữu lãnh địa tổ tiên/đất đai tổ tiên.  
Năm 2012 với Lệnh hành chính số 03, NCIP  
đã ban hành các quy tắc mới để triển khai FPIC.  
Các quy tắc này nhằm làm rõ các điều khoản dễ  
bị lạm dụng hoặc giải thích sai. Trong Lệnh này,  
NCIP tuyên bố rõ về chính sách thực thi FPIC  
như sau:  
Bên cạnh các quy định về quyền, IPRA cũng  
đề cập tới vấn đề trách nhiệm của cộng đồng tại  
chỗ đối với vùng lãnh địa tổ tiên của họ, cụ thể  
là trách nhiệm duy trì sự cân bằng sinh thái, trách  
nhiệm khôi phục lại những khu vực bị xói mòn,  
- FPIC hiện thực hóa và tăng cường khả năng  
thực thi các quyền của các cộng đồng tại chỗ đối  
L. T. Tuyet / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 100-108  
105  
với lãnh địa tổ tiên, công lý xã hội và nhân  
quyền, tự quản và trao quyền, và toàn vẹn văn  
hóa;  
hành trung ương Đảng đã khẳng định, một trong  
những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách của Đảng  
và Chính phủ là “Giải quyết cơ bản tình trạng  
thiếu đất sản xuất, đất ở và vấn đề tranh chấp đất  
đai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở  
Tây Nguyên, Tây Bắc và vùng đồng bào dân tộc  
Khơ-me Nam Bộ.”  
- Trao quyền tối đa cho cộng đồng tại chỗ đối  
với việc quản lý, phát triển, sử dụng đất đai và  
tài nguyên của họ trong phạm vi lãnh địa tổ tiên  
của chính họ;  
Để thực thi Nghị quyết này, nhà nước cũng  
đã ban hành nhiều Luật và văn bản dưới Luật  
nhằm đưa ra những quy định cụ thể giải quyết  
các vấn đề liên quan tới đất sản xuất, đất ở cho  
đồng bào dân tộc thiểu số, như Luật Đất đai, Luật  
Bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên sau 10 năm  
thực thi Nghị quyết 24, đến năm 2013 vẫn còn  
trên 300.000 hộ dân tộc thiểu số nghèo, thiếu và  
không có đất ở, đất sản xuất. Các tranh chấp về  
đất đai giữa đồng bào dân tộc thiểu số với các  
nông trường, lâm trường vẫn còn phổ biến, khi  
mà đồng bào thì thiếu đất để sản xuất, còn đất đai  
lại bị các lâm trường chiếm giữ nhưng sử dụng  
kém hiệu quả, không sử dụng, hoặc sử dụng sai  
mục đích. Tại nhiều địa phương mâu thuẫn giữa  
người dân và các lâm trường liên quan tới đất đai  
rất phổ biến và phức tạp, đặc biệt khi tại một số  
địa phương thay vì chia đất cho người dân  
- Các thoả thuận về nhượng quyền, quyền sử  
dụng, cho phép hoặc cho thuê, thoả thuận chia sẻ  
sản xuất hoặc các thoả thuận khác ảnh hưởng đến  
các lãnh địa tổ tiên sẽ không được cấp phép hoặc  
gia hạn nếu không thông qua quy trình được quy  
định bởi luật pháp và Hướng dẫn này (Lệnh hành  
chính số 03 của NCIP, Phần I, Mục 3).  
Ngoài ra, để thực thi các quy định của IPRA,  
IPRA đã tạo ra Ủy ban quốc gia về người tại chỗ  
(National Commission on Indigenous Peoples -  
viết tắt là NCIP) thuộc Văn phòng của Tổng  
thống. Uỷ ban này chịu trách nhiệm xây dựng và  
thực hiện các chính sách, kế hoạch và chương  
trình nhằm công nhận, bảo vệ và thúc đẩy quyền  
của cộng đồng bản địa. NCIP chịu trách nhiệm  
trong việc tiến hành các bước cần thiết để xác  
định, mô tả và xếp loại những vùng đất mà người  
dân tại chỗ quản lý theo truyền thống và bảo vệ  
quyền của họ. Sau khi các yêu cầu và các văn  
bản pháp luật cần thiết được hoàn thiện, NCIP sẽ  
cấp một giấy chứng nhận về quyền đối với đất  
do ông cha để lại (CADT), chứng nhận này sẽ là  
sự thừa nhận chính thức về quyền của người dân  
tại chỗ đối với đất đai của ông cha. Cho tới thời  
điểm này, NCIP đã ban hành 71 giấy chứng nhận  
về quyền sở hữu đất, bao gồm 1.635.973 ha và  
180 giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất cho  
5.628 ha. Tóm lại là 251 giấy chứng nhận đã  
được ban hành cho 1.641.601 ha đất [5].  
̂
̀ ́ ́  
nghèo, chinh quyên đã căt đât tư cac lam truơng  
̀ ́ ̀  
̛
́
̂
̂
̉
va đem giao cho cac cong ty tu nhan đê phat  
̀
́
́
̛
̂
̂
̂
̂
̣ ̣  
triên cay cong nghiẹp vơi muc đich lơi nhuạn  
́
̉
́
cao. Tính đến năm 2019, vẫn còn rất nhiều đồng  
bào dân tộc thiểu số nghèo thiếu đất ở, đất sản  
xuất [6].  
Tại Việt Nam, tuy các dân tộc thiểu số tại chỗ  
có sự khác biệt với nhau về phong tục tập quán  
nhưng đất rừng vẫn luôn đóng vai trò quan trọng  
với phần lớn các đồng bào. Nếu người Kinh có  
đền thờ và nhà thờ dòng họ thì người Mông,  
Thái, Dao đỏ, Vân Kiều, Ja Rai, Ê Đê và Ba  
Na… sinh sống trên nhiều tỉnh thành trên cả  
nước có những khu rừng thiêng phục vụ mục  
đích về tâm linh tín ngưỡng. Luật tục cũng quy  
định những khu rừng đầu nguồn, rừng nguồn  
nước nơi người dân thờ Thần Nước. Ngoài ra còn  
có các khu rừng khai thác sản phẩm chung của  
cả làng bản, ví dụ như dược liệu, củi, và vật liệu  
để làm đồ thủ công. Hình thức quản lý rừng  
truyền thống theo cộng đồng đóng vai trò quan  
trọng trong phong tục tập quán cũng như sinh  
3. Thực tiễn thi hành chính sách, pháp luật về  
đất đai cho người dân tộc thiểu số tại chỗ của  
Việt Nam  
Tương tự như Campuchia, Philippines và  
nhiều quốc gia khác, đất đai cũng là một vấn đề  
hết sức then chốt trong chính sách về dân tộc  
thiểu số của Việt Nam. Trong Nghị quyết số 24-  
NQ/TW năm 2003 về vấn đề dân tộc, Ban chấp  
L. T. Tuyet / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 100-108  
106  
kế của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Ngoài  
lâm nghiệp, mặc dù lâu nay họ sử dụng đất này  
cho canh tác và chăn thả gia súc. Việc phân loại  
thành đất lâm nghiệp đã gây ra hệ quả tiêu cực  
đối với cuộc sống người dân địa phương và dẫn  
tới xung đột nghiêm trọng giữa cán bộ kiểm lâm  
và người dân.  
sản xuất lâm nghiệp, sản xuất nông nghiệp là  
sinh kế với nhiều dân tộc thiểu số. Cả hai hình  
thức canh tác lâm nghiệp và nông nghiệp đều  
cần có đất. Trong nỗ lực bảo vệ sinh kế và  
khuyến khích bảo vệ môi trường, một số cộng  
đồng đã được chính phủ giao đất để họ tiếp tục  
quản lý rừng truyền thống theo cộng đồng. Tuy  
nhiên việc làm này chưa được phổ biến rộng rãi.  
Năm 2015, chỉ có 26% tổng diện tích đất rừng  
được giao cho các hộ, và chỉ có 2% được giao  
cho cộng đồng quản lý [6].  
- Thứ hai, Luật đất đai Việt Nam còn chưa  
quan tâm tới vai trò và tính đặc thù của cộng  
đồng trong quản trị đất đai - việc được các cộng  
đồng dân tộc thiểu số quan tâm đặc biệt. Theo  
quy định tại khoản 3 điều 5 Luật đất đai 2013,  
cộng đồng dân cư (bao gồm trong đó là cộng  
đồng người dân tộc thiểu số) đã được nhà nước  
công nhận là một trong các chủ thể được cấp giấy  
chứng nhận quyền sử dụng đất. Quy định này đã  
hợp pháp hóa vai trò và quyền lợi của cộng đồng  
dân tộc thiểu số trong quá trình sử dụng và khai  
thác đất đai. Tuy vậy, hiện nay còn tồn tại sự  
chồng chéo, mâu thuẫn giữa luật tục, tập quán sử  
dụng đất với pháp luật và các quy phạm hành  
chính trong quản lý đất đai vùng các tộc người  
thiểu số. Nếu ở Tây Bắc, Tây Nam Bộ, người dân  
nói chung, đồng bào các tộc người thiểu số nói  
riêng sử dụng đất theo tập quán thì ở Tây Nguyên  
chủ yếu theo luật tục. Vấn đề đặt ra là hệ thống  
pháp luật đất đai không những không bao chứa  
được những vấn đề của tập quán và luật tục mà  
còn xung đột với chúng. Hiến pháp và Luật đất  
đai hiện nay chưa thể giải quyết hết các vấn đề  
về quan hệ đất đai do chưa phù hợp với tình hình  
thực tế. Bà con các tộc người thiểu số theo thói  
quen từ lâu đời đã quan niệm sở hữu đất đai theo  
luật tục hoặc tập quán. Nhiều khu vực, người dân  
coi đất mà họ sử dụng là của họ, người dân chưa  
từng làm sổ đỏ và chưa hiểu về cấp sổ đỏ gây  
khó khăn cho quản lý đất đai.  
4. Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện chính  
sách, pháp luật về đất đai cho người dân tộc  
thiểu số tại chỗ tại Việt Nam - Bài học kinh  
nghiệm từ Campuchia và Philippines  
Những thông tin ở trên cho thấy hiệu quả  
thực thi công tác đất đai đối với các dân tộc thiểu  
số tại chỗ ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập,  
nhiều quỹ đất đáng lẽ phải dành cho người dân  
thì lại được phân bổ cho các lâm trường hoặc các  
doanh nghiệp nhằm mục đích lợi nhuận. Với  
thực trạng đó, nhà nước Việt Nam cần có những  
sửa đổi, bổ sung pháp lý cần thiết để đảm bảo  
quyền lợi và trách nhiệm của cộng đồng dân tộc  
thiểu số tại chỗ trong lĩnh vực đất đai. Bài viết  
đề xuất một số khuyến nghị sau:  
4.1. Sửa đổi Luật đất đai 2013, tăng cường  
quyền quản trị đất đai của cộng đồng dân tộc  
thiểu số trong theo hướng phù hợp với phong tục,  
tập quán của cộng đồng dân tộc thiểu số.  
Chính sách đất đai hiện nay nhìn chung  
mang tính tiến bộ vì nó thừa nhận việc giao đất  
nông nghiệp và đất rừng cho cá nhân và tổ chức  
với mục đích sử dụng lâu dài. Do vậy người dân  
tộc thiểu số cũng như người Kinh trên toàn quốc  
được nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  
cho đất nông nghiệp và một phần đất rừng. Tuy  
nhiên, có hai vấn đề chính với chính sách đất đai  
hiện tại từ góc nhìn của người dân tộc thiểu số  
sống tại các vùng xa xôi hẻo lánh.  
Pháp luật Việt Nam về đất đai hiện nay chưa  
quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ đặc thù  
người dân tộc thiểu số đối với đất đai. Điều 181  
Luật đất đai năm 2013 quy định về quyền và  
nghĩa vụ sử dụng đất của cộng đồng dân cư,  
trong đó dẫn chiếu Quyền sử dụng đất của cộng  
đồng theo Điều 166 và Nghĩa vụ sử dụng đất của  
cộng đồng theo Điều 170 Luật đất đai 2013. Như  
vậy, có thể thấy, quyền và nghĩa vụ sử dụng đất  
của cộng đồng dân tộc thiểu số không khác  
quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, hộ gia đình,  
- Thứ nhất, hầu hết các vùng đất đai quan  
trọng đối với người dân đều được phân loại là đất  
L. T. Tuyet / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 100-108  
107  
thậm chí còn có thêm một số nghĩa vụ khác (theo  
khoản 2 điều 181). Nội dung quy định này rõ  
ràng chưa xét đến các đặc thù về luật tục, tập  
quán của bà con dân tộc thiểu số, gây khó khăn  
trong quá trình triển khai, thi hành Luật đất đai  
tại các cộng đồng dân cư thiểu số.  
và cán bộ hoạch định chính sách vẫn chưa đứng  
ở góc độ của người dân, họ mới chỉ thực hiện  
nhiệm vụ đưa chính sách, tài chính đến hỗ trợ  
cho đồng bào, chứ chưa đặt mình vào vị trí là  
người gián tiếp định hướng cho người dân cách  
giải quyết vấn đề của họ, cùng với sự hỗ trợ của  
nhà nước. Nên chăng, cần có cách thức thay đổi  
tư duy này để phát huy tính chủ động của cộng  
đồng. Đồng bào dân tộc cũng là một nhân tố  
tham gia xây dựng chính sách, chứ không thuần  
túy là đối tượng thụ hưởng chính sách như cách  
chúng ta làm lâu nay. Bên cạnh đó, người hoạch  
định chính sách cần tôn trọng sự đa dạng về mặt  
văn hóa. Việc áp đặt dựa trên sự thiếu hiểu biết về  
bối cảnh văn hóa tộc người đôi khi đem lại những  
hệ quả tiêu cực và có tác dụng ngược chiều [8].  
4.2. Đảm bảo cơ sở pháp lý và thực tiễn thực thi  
nguyên tắc FPIC  
Bên cạnh đó, không giống như Hiến pháp  
Philippines, Hiến pháp Việt Nam hiện nay chưa  
chỉ ra mục tiêu bảo vệ quyền lợi của người dân  
tộc thiểu số khi xem xét tới những đặc thù trong  
lối sống, văn hóa và lịch sử của họ. Các dân tộc  
thiểu số, đặc biệt là những dân tộc ở những vùng  
xa xôi hẻo lánh, vẫn luôn bị tụt hậu so với sự phát  
triển của xã hội và trở thành những dân tộc thiệt  
thòi nhất, mặc dù chính sách quốc gia đã được  
ban hành và triển khai rộng rãi. Tháng 9 năm  
2007, Việt Nam trở thành thành viên của Công  
ước của Liên hợp quốc về Quyền của người tại  
chỗ (UNDRIP), trong đó thừa nhận nguyên tắc  
FPIC đối với các hoạt động can thiệp của nhà  
nước. Tuy nhiên, nếu Philippines đã luật hóa  
nguyên tắc này trong Đạo luật về các quyền của  
người tại chỗ (IPRA) thì Việt Nam vẫn còn thiếu  
những luật cụ thể cho người dân tộc thiểu số,  
đồng thời các quy định liên quan đến FPIC còn  
rất hạn chế trong pháp luật Việt Nam. Cần phải  
nhấn mạnh lại, việc tham gia của các cộng đồng  
dân tộc thiểu số cũng như chính quyền địa  
phương trong quá trình hoạch định các chính  
sách, kế hoạch, dự án… có liên quan đến cộng  
đồng dân tộc thiểu số tại chỗ là vô cùng cần thiết,  
giúp cho các chính sách, kế hoạch, dự án đó đáp  
ứng được đúng nhu cầu thực tế của cộng đồng  
dân tộc thiểu số và có hiệu quả thực thi tốt hơn.  
Thực tế, quá trình xây dựng một số chính sách  
của nước ta thời gian qua áp dụng đối với cộng  
4.3. Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và quyền  
hạn của Ủy ban dân tộc  
Nếu Philippines có Ủy ban quốc gia về người  
tại chỗ (NICP) thì tại Việt Nam cũng có cơ quan  
ngang Bộ, phụ trách về công tác dân tộc – đó là Ủy  
ban dân tộc. Hiện nay, tại Việt Nam, chức năng,  
nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban dân tộc được  
quy định tại Nghị định số 13/2017/NĐ-CP. Tuy  
nhiên, trong văn bản này chưa đề cập rõ vai trò của  
Ủyban dân tộc trongcác công tác thực tiễn gắn liền  
với đất đai của cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa.  
Học tập kinh nghiệm của Philippines, tác giả  
đề xuất cần trao thêm quyền hạn cho Ủy ban dân  
tộc trong các công tác thực tiễn gắn liền với đất  
đai của đồng bào dân tộc thiểu số bản địa. Cụ thể,  
cần ban hành cơ chế phối hợp giữa Bộ Tài  
nguyên và Môi trường và Ủy ban Dân tộc để mô  
tả và xác định những vùng đất thiêng của người  
dân tộc thiểu số như núi, rừng, hồ, suối, sông,  
khu mồ mả, khu thờ cúng và khu vực săn bắt.  
Trên cơ sở các vùng đất thiêng đã xác định, trao  
quyền và cấp giấy chứng nhận cho đồng bào dân  
tộc thiểu số được quản lý theo phong tục, truyền  
thống của cộng đồng.  
̂
́
đồng dân tộc thiểu số đã khong theo cach tiêp  
́
̂
̂
cạn tư duơi len, tức không có sự tham gia của  
̀
́
̛
cộng đồng hay địa phương, và dẫn tới trường hợp  
phải sửa đổi bổ sung ngay từ khi mới ban hành  
bởi vì nắm bắt sai tình hình thực tế [7]. Theo quy  
trình, khi tiến hành xây dựng chính sách đều có  
nội dung phải lấy ý kiến cộng đồng. Vấn đề là  
cách tiếp cận và phương thức lấy ý kiến dường  
như chưa đúng hướng. Hầu hết cán bộ thực hiện  
5. Kết luận  
Cũng giống như đại đa số các quốc gia trong  
khu vực Đông Nam Á, Campuchia và  
L. T. Tuyet / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 100-108  
108  
[2] Cambodia, Land Law 2001, Chapter 3, Part 2  
[3] Cambodia, Forest Law 2002, Article 42.  
Philippines là các quốc gia đa dạng về sắc tộc với  
nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ khác  
nhau cùng sinh sống. Trong đó mỗi dân tộc lại  
có một nền văn hoá, phong tục, tập quán độc đáo  
riêng biệt. Với bối cảnh như vậy chính phủ  
Campuchia và Philippines đã và đang xây dựng,  
hoàn thiện các chính sách và pháp luật dành cho  
cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa. Trong quá  
trình đó, chính phủ hai nước đã gặp phải những  
khó khăn cũng như thu được những thành tựu  
nhất định. Trên cơ sở kinh nghiệm của hai quốc  
gia này, nhà nước Việt Nam cũng có thể học hỏi  
để xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách,  
pháp luật phù hợp dành cho cộng đồng dân tộc  
thiểu số tại chỗ nước ta.  
[5] L. T. Truong & O. M. Genotiva, Recognition of  
Land Use Rights of Ethnic Minorities in Vietnam,  
ESRC, RECOFTC, DEV, 2011 (in Vietnamese).  
[6] N. P. Thao, Ensuring Policies on Residential Land  
and Production Land for Ethnic Minorities,  
2013 (accessed on July 10th, 2019) (in  
Vietnamese).  
[7] Mekong Development Research Institute, Report  
Overview of Socio-Economic Status of 53 Ethnic  
Minorities, 2017 (in Vietnamese).  
[8] M. Vu, P. Thao, Policy on Development of Ethnic  
Minority Areas in the Face of New Requirements,  
nhung-doi-hoi-moi-262241/, 2016, (accessed on  
August 20th, 2019) (in Vietnamese).  
Tài liệu tham khảo  
[1] Research Center for Human Rights in Ethnic,  
Moutainous Areas (HRC), Production Land of  
cua-nguoi-dan-toc-thieu-so/, 2019 (accessed on  
August 20th, 2019) (in Vietnamese).  
pdf 9 trang Thùy Anh 18780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chính sách, pháp luật về đất đai đối với người dân tộc thiểu số tại chỗ của Campuchia và Philippines – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchinh_sach_phap_luat_ve_dat_dai_doi_voi_nguoi_dan_toc_thieu.pdf