Pháp luật về thừa kế qua góc nhìn từ một vụ án tranh chấp chia thừa kế

No.20_Mar 2021|p.85-91  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
INHERITANCE LAW FROM THE PERSPECTIVE  
OF INHERITANCE DISTRIBUTION DISPUTE CASE  
Nguyen Thi Thuy Trang1*, Tran Thi Kim Anh1 , Tran Thi Binh An1  
1 Thainguyen University of Economics and Business Administration  
Article info  
Abstract  
The inheritance institution is a particularly important in the civil law of Vietnam,  
recognizing a very popular kind of social relations. In fact, the number of  
inheritance disputes always accounts for a large proportion in civil disputes. In  
particular, inheritance disputes are very diverse and highly complex, sometimes  
still exist many different views on how the Court applies the law to settle disputes.  
This article will study a specific verdict on the settlement of a dispute over the  
inheritance of property that is land use rights and assets on land, thereby giving the  
direction on applying the law of inheritance in a specific case.  
Recieved:  
10/12/2020  
Accepted:  
22/02/2021  
Keywords:  
Inheritance; disputes;  
civil, case.  
No.20_Mar 2021|p.85-91  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ QUA GÓC NHÌN  
TỪ MỘT VỤ ÁN TRANH CHẤP CHIA THỪA KẾ  
Nguyễn Thị Thùy Trang1,* , Trần Thị Kim Anh1, Trần Thị Bình An1  
1 Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh Thái Nguyên  
* Địa chỉ email: [email protected]  
Tóm tắt:  
Thông tin tác giả  
Chế định thừa kế là một chế định đặc biệt quan trọng trong ngành luật dân sự  
Việt Nam, điều chỉnh một loại quan hệ xã hội hết sức phổ biến, gần gũi với  
thực tiễn cuộc sống. Trên thực tế, số vụ tranh chấp về thừa kế luôn chiếm tỷ  
trọng lớn trong các tranh chấp dân sự. Đặc biệt, các tranh chấp về thừa kế hết  
sức đa dạng và có tính phức tạp cao, đôi khi còn tồn tại nhiều quan điểm khác  
nhau trong quá trình Tòa án áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp. Trên  
cơ sở nghiên cứu một bản án cụ thể về giải quyết tranh chấp về thừa kế tài sản  
là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, bài viết tập trung bình luận và đưa ra  
phương hướng áp dụng pháp luật về thừa kế trong một tình huống cụ thể.  
Ngày nhận bài:  
10/12/2020  
Ngày duyệt đăng:  
22/02/2021  
Từ khóa:  
Thừa kế; tranh chấp; dân  
sự, vụ án.  
1. Đặt vấn đề  
Trong pháp luật dân sự, vấn đề thừa kế luôn là  
vấn đề phức tạp do xung đột quyền lợi của các bên  
và xuất phát từ đặc trưng là các bên tham gia quan  
hệ này đều có quan hệ huyết thống hoặc nuôi  
dưỡng. Ở nước ta, pháp luật về quyền thừa kế lần  
đầu tiên được quy định trong Bộ luật Hồng Đức  
dưới triều đại của Vua Lê Thái Tổ và vấn đề này  
nằm trong chương Điền Sản của Bộ luật. Trải qua  
quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, chế  
định này đã được quy định, mở rộng và được quy  
định rất cụ thể trong các bản Hiến pháp của nhà  
nước ta như: Điều 19 Hiến pháp năm 1959 quy  
định: “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo vệ quyền  
thừa kế tài sản tư hữu của công dân”; Điều 27  
Hiến pháp năm 1980 “Nhà nước bảo hộ quyền thừa  
kế tài sản của công dân”; Điều 58 Hiến pháp năm  
1992 “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và  
quyền thừa kế công dân”… Chưa dừng lại ở đó,  
Hiến pháp năm 2013 còn quy định khá chặt chẽ về  
quyền thừa kế, cụ thể tại Điều 32 “Quyền sở hữu tư  
nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”.  
Trải qua một thời gian dài xây dựng và phát  
triển, chế định thừa kế luôn được ghi nhận là một  
chế định quan trọng trong hệ thống các quy phạm  
pháp luật dân sự Việt Nam từ Pháp lệnh thừa kế  
năm 1990 đến Bộ luật dân sự 2005 và mới đây nhất là  
Bộ luật dân sự 2015, những quy định của pháp luật  
thừa kế đã tỏ ra phù hợp với thực tiễn, không ngừng  
hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của công dân nói  
chung, nhất là những người được hưởng thừa kế.  
Thời gian gần đây số lượng các vụ tranh chấp  
về thừa kế luôn chiếm tỷ trọng lớn trong các tranh  
chấp dân sự và có tính phức tạp. Bởi vậy việc  
nghiên cứu, nắm rõ và vận dụng tốt các quy định  
N.T.T.Trang/ No.20_Mar 2021|p.85-91  
pháp luật về thừa kế là đòi hỏi cấp thiết của các cơ  
Hai cụ là: cụ ông Nguyễn Văn H, sinh năm  
1939 (chết năm 2017) và cụ bà Nguyễn Thị C, sinh  
năm 1935 (chết năm 2017), có tất cả 05 người con  
gồm: 1. Nguyễn Thị Xuân L, 2. Nguyễn Thị Xuân  
N, 3. Nguyễn Thành T, 4. Nguyễn Thành H, 5.  
Nguyễn Thị Thu M; cha mẹ bà không có con nuôi,  
con riêng, con ngoài giá thú.  
quan tiến hành tố tụng khi giải quyết loại tranh  
chấp này.  
Trong số các loại di sản thừa kế, có thể khẳng  
định, quyền sử dụng đất và tài sản trên đất luôn là  
loại di sản chiếm tỷ lệ lớn nhất. Một dạng tranh  
chấp về thừa kế phổ biến nhất thường xảy ra đó là  
con cái – những người thừa kế không tìm được  
tiếng nói chung trong việc phân chia di sản thừa kế  
là nhà và đất mà bố mẹ của họ để lại sau khi mất.  
Lúc sinh thời cha mẹ bà N có tạo lập được tài  
sản là: Căn nhà và quyền sử dụng đất (QSDĐ) tọa  
lạc tại địa chỉ: Số 19, đường T, phường H, thành  
phố T, tỉnh T, thửa đất số 139, tờ bản đồ số 48, diện  
tích 142.7m2, theo Giấy chứng nhận QSDĐ số BR  
014374, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH05170  
do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp cho ông  
Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị C vào ngày  
08/5/2015. Ngoài căn nhà trên còn có một số tài sản  
trên đất gồm mái che phía trước, nhà chính, nhà  
sau, bể nước…  
Bản án của Tòa án nhân dân thành phố T dưới  
đây ghi nhận một tranh chấp như thế. Bài viết sẽ  
phân tích các quy định hiện hành trong chế định  
thừa kế của Bộ luật dân sự 2015 để làm cơ sở áp  
dụng cho việc giải quyết tranh chấp trong trường  
hợp vụ án cụ thể trên, từ đó rút ra một số kết luận  
để áp dụng cho các trường hợp tương tự.  
2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu  
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng:  
phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp.  
Theo kết quả định giá tài sản ngày 29/6/2020  
của Công ty cổ phần định giá và đầu tư kinh doanh  
bất động sản X xác định tổng giá trị QSDĐ và tài  
sản trên đất là 2.613.655.000 đồng (hai tỷ sáu trăm  
mười ba triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn). Các  
bên liên quan đã nhất trí với kết quả giám định này.  
Phương pháp phân tích, bình luận bản án, qua  
đó có thể giúp người đọc nhận diện vấn đề pháp lý,  
nắm bắt được các quy tắc pháp lý, cách giải thích,  
áp dụng chúng trong thực tiễn. Đồng thời, qua đó  
mô tả, giải thích, khái quát hóa các hiện tượng pháp  
lý, đưa ra những logic pháp lý để áp dụng trong  
những tình huống tương tự.  
Còn căn cứ vào khung giá của Nhà nước quy  
định do TAND thành phố T định giá, giá trị QSDĐ  
và tài sản trên đất là 618.754.000 (sáu trăm mười  
tám triệu bảy trăm năm mươi tư nghìn).  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Tóm tắt vụ án  
Trước khi chết, hai cụ C và H không để lại di  
chúc và cũng không để lại bất kỳ nghĩa vụ về tài  
sản nào; ngoài tài sản trên thì cha mẹ bà không còn  
tài sản nào khác. Từ trước đến nay, căn nhà và đất  
trên do cha mẹ bà trực tiếp quản lý, sử dụng; bà  
Nguyễn Thị Thu M đến ở cùng hai cụ C và H trong  
vòng hai năm trước khi các cụ mất. Sau khi hai cụ  
mất, bà M là người thờ cúng, hương khói cho hai  
cụ. Khi các anh chị em bà M đề nghị phân chia di  
sản thừa kế, bà M không đồng ý mà có ý định  
chiếm giữ tài sản này làm của riêng. Sau đó, bà M  
đưa ra điều kiện là bà chỉ đồng ý chia thừa kế nếu  
di sản được chia thành sáu (06) phần, năm người  
con mỗi người được một phần và bà M phải được  
nhận thêm một suất thừa kế vì bà đã nuôi dưỡng và  
chăm sóc bố mẹ khi sống cũng như có công hương  
khói, thờ cúng các cụ. Đồng thời, bà M yêu cầu  
phải được nhận thừa kế bằng hiện vật (nhà và đất).  
Bà M đề nghị trả lại giá trị kỷ phần thừa kế cho  
những đồng thừa kế khác theo giá trị di sản được  
xác định theo khung giá nhà nước.  
Ngày 07 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án  
nhân dân thành phố T xét xử sơ thẩm công khai vụ  
án thụ lý số: 136/2019/TLST - DS ngày 17 tháng  
12 năm 2019 về việc tranh chấp chia thừa kế, theo  
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:  
72/2020/QĐXXST-DS ngày 06/7/2020, giữa các  
đương sự:  
- Nguyên đơn là bà: Bà Nguyễn Thị Xuân N,  
sinh năm 1957; địa chỉ: Số 167, đường L, phường  
P, thành phố T, tỉnh T.  
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu M, sinh năm  
1972; địa chỉ: Số 19, đường T, phường H, thành  
phố T, tỉnh T.  
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm  
03 ông bà: Ông Nguyễn Thành T (sinh năm 1959);  
bà Nguyễn Thị Xuân L (sinh năm 1963), Ông  
Nguyễn Thành H (sinh năm 1967), đều trú tại thành  
phố T, tỉnh T.  
N.T.T.Trang/ No.20_Mar 2021|p.85-91  
Các anh em của bà M không đồng ý, trong đó,  
ở cùng và trực tiếp chăm sóc cha mẹ khi còn sống  
cũng như thờ cúng cha mẹ sau khi cha mẹ qua đời  
có được chia di sản thừa kế nhiều hơn các đồng  
thừa kế khác hay không; (2) trường hợp các đồng  
thừa kế đều muốn nhận thừa kế bằng hiện vật thì  
Tòa án phải giải quyết như thế nào?  
bà N – là chị cả trong gia đình đã khởi kiện bà M ra  
tòa vào tháng 12 năm 2019. Bà N yêu cầu Tòa án  
giải quyết phân chia di sản thừa kế theo pháp luật.  
Trong đó, giữa bà N ông H có thỏa thuận về việc  
ông H tặng phần thừa kế mà mình được hưởng cho  
bà N, nên bà N được 02 phần (gồm phần của bà và  
phần của ông H).  
(1) Người thừa kế có công chăm sóc, nuôi  
dưỡng cũng như thờ cúng đối với người để lại di  
sản có được hưởng phần thừa kế nhiều hơn?  
Từ đó, bà N yêu cầu Tòa án giao cho mình nhận  
hiện vật là nhà và đất nêu trên; bà N sẽ trả lại giá trị  
kỷ phần thừa kế cho những đồng thừa kế khác theo  
giá thị trường.  
Trong vụ án này, người để lại di sản thừa kế là  
cụ H và cụ C, hai cụ có tất cả 05 người con, tất cả  
đều còn sống gồm: bà N, ông T, bà L, ông H và bà  
M. Ngoài ra, cụ H và cụ C không có con nuôi, con  
riêng, con ngoài giá thú nào khác; cha mẹ cụ H và  
cụ C đều đã chết.  
3.2. Kết quả giải quyết của Tòa án nhân dân  
thành phố T  
Ngày 07 tháng 9 năm 2020, Tòa án nhân dân  
thành phố T đã xét xử sơ thẩm và tuyên án - bản án số:  
32/2020/DS-ST về việc “Tranh chấp chia thừa kế”.  
Vào năm 2015, bà M ly hôn với chồng (bà  
không có con) nên sau đó bà dọn về ở với hai cụ C  
và H. Từ đó cho đến khi hai cụ mất, bà M là người  
trực tiếp chăm sóc hai cụ C và H. Các anh chị em  
khác của bà đều có gia đình riêng và sống cùng  
thành phố với cha mẹ bà, thi thoảng sang thăm,  
mua quà và biếu tiền cho hai cụ. Sau khi hai cụ  
mất, do bà M không có nơi ở nào khác nên bà đề  
nghị các anh chị để mình tiếp tục ở nhà cha mẹ và  
lo việc thờ cúng cha mẹ.  
Theo đó, kết quả giải quyết như sau: Di sản thừa  
kế được chia theo pháp luật thành 05 phần bằng  
nhau, 05 người con - mỗi người được nhận một  
suất, trong đó ông H đã tặng cho suất thừa kế của  
mình cho bà N nên bà N được nhận 02 suất, ba ông  
bà còn lại: ông T, bà L, bà M mỗi người được nhận  
một suất. Bà N được Tòa án tuyên nhận di sản bằng  
hiện vật và trả lại kỷ phần thừa kế cho ba người còn  
lại với giá trị một kỷ phần được tính theo giá thị  
trường. Bà M có trách nhiệm chuyển ra khỏi nhà và  
giao trả nhà, đất nêu trên cho bà N.  
Trong vụ án này, Tòa án đã dựa vào các quy  
định hiện hành trong chế định thừa kế của Bộ luật  
dân sự để giải quyết yêu cầu trên. Do hai cụ C và H  
mất đi mà không để lại di chúc nên căn cứ vào điểm  
a, khoản 1, Điều 650 Bộ luật dân sự (BLDS),  
trường hợp này được xét vào dạng thừa kế theo  
pháp luật: “là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện  
và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.  
3.3. Phân tích, bình luận các khía cạnh pháp  
lý của vụ án  
Đối với tranh chấp này, Tòa án đã vận dụng các  
quy định của pháp luật hiện hành làm cơ sở pháp lý  
để giải quyết vụ án, bao gồm: Bộ luật dân sự năm  
2015; Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Luật hôn  
nhân gia đình năm 2014.  
Theo quy định về Người thừa kế và Hàng thừa  
kế theo pháp luật (tại Điều 613 và khoản 1 Điều  
651), cụ H và cụ C có 05 người thừa kế thuộc  
hàng thừa kế thứ nhất gồm: Bà L, bà N, ông T,  
ông H và bà M. Đồng thời pháp luật quy định rất  
rõ ràng về việc “những người thừa kế cùng hàng  
được hưởng phần di sản bằng nhau” (khoản 2  
Điều 651 BLDS). Như vậy, di sản thừa kế cần  
được chia đều cho 05 người con là 05 người thừa  
kế ở hàng thừa kế thứ nhất.  
Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ  
luật Tố tụng dân sự năm 2015, quan hệ pháp luật  
tranh chấp được là “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.  
Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án  
nhân dân thành phố T theo quy định tại khoản 5  
điều 28, khoản 2 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều  
39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo các thời  
điểm của các sự kiện pháp lý, vụ án còn thời hiệu  
khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ  
luật Dân sự năm 2015.  
Điều 660 BLDS năm 2015, di sản thừa kế nêu  
trên phải được phân chia theo pháp luật. Yêu cầu  
của bà M về việc di sản thừa kế phải được chia làm  
Đối với vụ tranh chấp này, có hai vấn đề chính  
mà Tòa án phải giải quyết, bao gồm: (1) người con  
N.T.T.Trang/ No.20_Mar 2021|p.85-91  
06 phần bằng nhau vì lý do nuôi dưỡng và thờ cúng  
cha mẹ là hoàn toàn thiếu cơ sở pháp lý.  
Việc thờ cúng tổ tiên được thực hiện trên cơ sở của  
quan niệm mang tính chất đạo đức và văn hoá: tôn  
trọng và biết ơn công sinh thành, dưỡng dục; con  
người có nguồn cội, tổ tông vì vậy con, cháu phải  
tôn trọng và biết ơn những thế hệ cha ông đã sinh ra  
mình. Thờ cúng tổ tiên, di sản thờ cúng có ý nghĩa  
quan trọng, nó không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất  
mà còn có giá trị về mặt tinh thần.  
Thứ nhất: Việc bà M chăm sóc, nuôi dưỡng cha  
mẹ nên đòi chia thêm di sản thừa kế  
Căn cứ vào quy định về Nghĩa vụ và quyền  
chăm sóc, nuôi dưỡng tại khoản 2 Điều 71 Luật  
Hôn nhân và Gia đình năm 2014:  
“2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi  
dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực  
hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường  
hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng  
nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ”.  
Trong vụ án này, cụ H và cụ C chết không để lại  
di chúc, nên không xác định được di sản dùng vào  
việc thờ cúng và chỉ định người được giao quản lý  
để thực hiện việc thờ cúng theo quy định tại khoản  
1 Điều 645 BLDS năm 2015.  
Có thể thấy, việc bà M chăm sóc, nuôi dưỡng  
cha mẹ được coi là nghĩa vụ và quyền của con đối  
với cha mẹ. Không những được ghi nhận như nghĩa  
vụ đương nhiên, một cách hành xử bắt buộc được  
Nhà nước đảm bảo thực hiện, việc con cái chăm  
sóc, nuôi dưỡng cha mẹ còn thể hiện đạo hiếu của  
con với cha mẹ, đền đáp công ơn sinh thành dưỡng  
dục, thể hiện văn hóa, đạo lý của người Việt Nam.  
Thậm chí khi cha mẹ khó khăn, không có tài sản gì,  
con cái cũng phải thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ  
này mà không được phép lơ là hay có những hành  
vi bỏ mặc, ngược đãi cha mẹ.  
Điều 645. Di sản dùng vào việc thờ cúng  
“1. Trường hợp người lập di chúc để lại một  
phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản  
đó không được chia thừa kế và được giao cho  
người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để  
thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định  
không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa  
thuận của những người thừa kế thì những người  
thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc  
thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.”  
Pháp luật không có quy định bắt buộc nào về  
vấn đề này, cũng không có quy định nào về việc  
người thờ cúng cha mẹ được hưởng phần di sản  
nhiều hơn những người thừa kế cùng hàng khác (trừ  
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 645 BLDS).  
Trong vụ án này, các đương sự đều thừa nhận  
bà M do ở cùng nên hàng ngày bà có điều kiện  
chăm sóc trực tiếp cho hai cụ C và H từ năm 2015  
đến năm 2017. Tuy nhiên, cả hai cụ đều có lương  
hưu để đảm bảo các chi phí sinh hoạt, đồng thời cả  
bốn người con còn lại đều luôn quan tâm, thăm  
nom hai cụ chứ không hề vi phạm nghĩa vụ nuôi  
dưỡng, chăm sóc cha mẹ.  
Xuất phát từ các lý do trên, yêu cầu của bà M về  
việc nhận gấp đôi suất thừa kế so với người khác là  
hoàn toàn thiếu cơ sở pháp lý, Tòa án bác bỏ yêu  
cầu này là có cơ sở pháp lý.  
(2) Khi những người thừa kế đều mong muốn  
nhận thừa kế bằng hiện vật thì Tòa án giải quyết  
như thế nào?  
Như vậy có thể kết luận, pháp luật không có quy  
định nào về việc người nào ở cùng với cha mẹ và  
có công chăm sóc cha mẹ khi còn sống sẽ được  
hưởng phần di sản nhiều hơn những người thừa kế  
cùng hàng khác trong trường hợp chia thừa kế theo  
pháp luật. Vì vậy, bà M không thể lấy mình có công  
chăm sóc cho bố mẹ khi còn sống để đòi hỏi về  
việc nhận được suất di sản thừa kế gấp đôi người  
khác.  
Có thể thấy, căn nhà số 19 và đất gắn liền thửa  
đất số 139, tờ bản đồ số 48, tọa lạc như đã nêu trên  
có diện diện tích nhỏ là 142.7 m2, không thể chia  
đều bằng hiện vật. Trong khi đó, cả bà N và bà M  
đều có nguyện vọng được nhận thừa kế bằng hiện  
vật là nhà và đất, hai ông bà T và L mong muốn  
nhận kỷ phần thừa kế bằng tiền, còn ông H tặng cho  
suất thừa kế của mình cho bà N.  
Thứ hai, việc bà M có công thờ cúng cha mẹ  
nên bà M yêu cầu được chia thêm một phần di sản  
thừa kế.  
Theo quy định tại khoản 2, Điều 660 BLDS:  
“Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia  
di sản bằng hiện vật, nếu không thể chia đều bằng  
Thờ cúng tổ tiên là phong tục đã có từ rất xa  
xưa của người Việt và hiện nay vẫn được coi trọng.  
N.T.T.Trang/ No.20_Mar 2021|p.85-91  
hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận  
giao trả nhà đất nêu trên cho bà N. Sau khi nhận  
thừa kế bằng nhà và đất, bà N có trách nhiệm trả  
giá trị kỷ phần thừa kế bằng tiền cho những người  
thừa kế khác gồm bà M, bà L, ông T mỗi người 01  
kỷ phần di sản của cụ H và cụ C có tổng giá trị số  
tiền 2.613.655.000 đồng (mỗi kỷ phần tương ứng  
với số tiền 522.731.000 đồng).  
về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người  
nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện  
vật được bán để chia”.  
Quy định trên cho thấy pháp luật hoàn toàn tôn  
trọng ý nguyện và sự tự do thỏa thuận của những  
người thừa kế. Việc ai nhận thừa kế bằng hiện vật  
trong trường hợp không thể chia đều di sản bằng  
hiện vật hoàn toàn do những người thừa kế bàn bạc  
và quyết định.  
4. Một số vướng mắc, tồn tại và phương  
hướng hoàn thiện pháp luật trong việc phân chia  
di sản thừa kế  
Mặc dù cả ba ông bà L, T, H đều nhất trí giao căn  
nhà cho bà N để bà N thờ cúng tổ tiên, nhưng bà M  
không đồng ý nên các đương sự chưa có sự thỏa  
thuận thống nhất. Vì vậy, việc giao di sản bằng hiện  
vật cho ai phụ thuộc vào quyết định của Tòa án.  
4.1. Vấn đề di sản dùng vào việc thờ cúng  
Về căn cứ xác lập di sản dùng vào việc thờ  
cúng: Di sản dùng vào việc thờ cúng một người,  
hay các thành viên đã chết của gia đình, dòng họ  
được xác lập từ nhiều căn cứ khác nhau, nhưng  
pháp luật quy định căn cứ xác lập di sản dùng vào  
việc thờ cúng do một người để lại theo di chúc và  
căn cứ này có ý nghĩa pháp lý trong việc giải quyết  
những tranh chấp liên quan đến di sản dùng vào  
việc thờ cúng do người lập di chúc để lại. Ý nguyện  
của người chết thể hiện trong di chúc về việc định  
đoạt di sản thờ cúng được coi là căn cứ pháp lý duy  
nhất để xác lập có hay không việc di sản được dùng  
vào việc thờ chúng. Còn đối với trường hợp thừa kế  
theo pháp luật, chế định thừa kế trong Bộ luật dân  
sự không có quy định nào về việc người thờ cúng  
cha mẹ được hưởng phần di sản nhiều hơn những  
người thừa kế cùng hàng khác.  
Trong trường hợp này, bà N được nhận hai phần  
(do có thỏa thuận tặng cho giữa ông H và bà N),  
trong khi đó bà M chỉ được nhận một suất thừa kế -  
đây là yếu tố thứ nhất để Tòa án cân nhắc chia thừa  
kế bằng hiện vật cho bà N.  
Ngoài ra còn một yếu tố nữa để Tòa án xem xét  
- đó là vấn đề định giá di sản thừa kế được sử dụng  
làm căn cứ để chia thừa kế cho các đồng thừa kế.  
Trong vụ án này, di sản thừa kế được định giá  
theo giá trị trường là: 2.613.655.000 đồng (hai tỷ  
sáu trăm mười ba triệu sáu trăm năm mươi lăm  
nghìn) và được định giá theo khung giá nhà nước là  
618.754.000 đồng (sáu trăm mười tám triệu bảy  
trăm năm mươi tư nghìn đồng).  
Trong vụ án này, bà M không phải là người  
thừa kế theo di chúc, không được bố mẹ bà để lại  
một phần di sản và giao cho bà dùng vào việc thờ  
cúng. Bà M chỉ là một người thừa kế giống như các  
đồng thừa kế khác, được nhận một suất thừa kế  
theo luật. Cách phân chia này dựa trên cơ sở pháp  
lý vững chắc là điều 645 Bộ luật dân sự 2015. Tuy  
nhiên trên thực tế, người dân do thiếu hiểu biết  
pháp luật nên vẫn có những trường hợp giống bà M  
- hiểu sai về vấn đề di sản dùng vào việc thờ cúng.  
Chính vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ án, các  
Tòa án cần thống nhất cách giải quyết, dựa trên  
điều 645 Bộ luật dân sự 2015 để xác lập di sản vào  
việc thờ cúng.  
Bà N sẵn sàng đồng ý trả kỷ phần thừa kế cho  
những người thừa kế khác với giá trị di sản thừa kế  
được tính theo giá thị trường, trong khi bà N chỉ  
đồng ý trả kỷ phần thừa kế cho những người thừa  
kế khác với giá trị di sản thừa kế được tính theo giá  
nhà nước (giá thị trường cao hơn giá Nhà nước số  
tiền 1.994.900.000 đồng).  
Như vậy, nếu chia thừa kế cho bà N bằng hiện  
vật thì ông H, bà L, bà M mỗi người được chia thừa  
kế với một kỷ phần trị giá là: 522.731.000 (năm  
trăm hai mươi hai triệu bảy trăm ba mươi mốt  
nghìn), là có lợi hơn rất nhiều cho những người  
thừa kế khác nếu phải nhận một kỷ phần mà bà M  
chấp nhận trả trị giá 123.750.000 (một trăm hai  
mươi ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn).  
4.2. Vấn đề chia di sản bằng hiện vật  
Hiện nay, chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự  
2015 mới chỉ đề cập đến việc phân chia di sản bằng  
hiện vật tại khoản 2 Điều 660 như sau:  
Từ các căn cứ nêu trên, Tòa đã tuyên án cho bà  
N nhận thừa kế bằng hiện vật, bà M có trách nhiệm  
N.T.T.Trang/ No.20_Mar 2021|p.85-91  
Khoản 2, Điều 660, BLDS 2015 quy định:  
quy định rõ cơ quan nào có thẩm quyền định giá mà  
hoàn toàn phụ thuộc và sự lựa chọn của các đương  
sự cũng như phụ thuộc vào giai đoạn giải quyết vụ  
án. Chính vì thiếu quy định pháp luật, nên Tòa án  
sẽ xem xét và lựa chọn phương án nào có lợi nhất  
cho số đông các đương sự, ví dụ lựa chọn kết quả  
định giá cao nhất để chia bằng giá trị cho các đương  
sự. Trường hợp kết quả định giá không được tất các  
các đương sự chấp nhận thì việc giải quyết vụ án  
được thực hiện như nào vẫn là một vấn đề mà pháp  
luật còn bỏ ngỏ.  
“Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia  
di sản bằng hiện vật, nếu không thể chia đều bằng  
hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận  
về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người  
nhận hiện vật, nếu không thỏa thuận được thì hiện  
vật được bán để chia”.  
Theo quy định này, trước tiên những người thừa  
kế có quyền yêu cầu Tòa án phân chia di sản bằng  
hiện vật. Nếu những người thừa kế không có thỏa  
thuận nào khác trong việc phân chia di sản bằng  
hiện vật thì di sản được chia đều cho họ. Trong  
trường hợp di sản bao gồm nhiều hiện vật, mỗi hiện  
vật có giá trị khác nhau, thì trước khi chia di sản  
phải xác định giá trị của từng hiện vật, trên cơ sở  
cùng định giá của những người thừa kế.  
Qua phân tích ở trên, có thể thấy pháp luật hiện  
hành còn thiếu quy định cụ thể về tiêu chí người  
nhận di sản thừa kế bằng hiện vật, đồng thời thiếu  
hướng dẫn cụ thể về vấn đề định giá di sản thừa kế.  
Các nhà làm luật cần nghiên cứu để đưa ra tiêu  
chí rõ ràng về việc ai sẽ được nhận di sản bằng hiện  
vật, có thể xem xét để luật hóa các tiêu chí sau: chia  
di sản bằng hiện vật cho người thừa kế được hưởng  
phần thừa kế nhiều nhất (tương tự trường hợp bà N  
trong vụ án này); người nào có hoàn cảnh khó khăn  
nhất mà việc nhận di sản bằng hiện vật có thể giúp  
giải quyết khó khăn đó (ví dụ người thừa kế không  
có nơi ở sẽ được ưu tiên chia di sản bằng nhà ở);  
người thừa kế nào có đóng góp nhiều nhất cho việc  
tạo lập di sản… Về vấn đề định giá, cần bổ sung  
thêm hướng dẫn chi tiết về cơ quan có thẩm quyền  
định giá tài sản; dự liệu hậu quả pháp lý trong  
trường hợp kết quả định giá không được các đương  
sự chấp nhận.  
Mặc dù pháp luật đã có quy định nhưng do quy  
định còn chưa thực sự hoàn thiện dẫn việc chia di sản  
bằng hiện vật vẫn còn gặp nhiều khó khăn, cụ thể:  
(1) Việc người nào nhận phần nào cụ thể của di  
sản cũng là một vấn đề cần được giải quyết, vì di  
sản rất đa dạng, các phần bằng hiện vật có thể có  
giá trị bằng nhau nhưng bản chất (tính năng) của  
từng phần không luôn giống nhau (phần là quyền  
sử dụng đất, phần là nhà, phần là nhà đất…). Ngoài  
ra, có những vật theo tính chất là vật chia được,  
nhưng vật khi phân chia trong hoàn cảnh cụ thể thì  
được xác định là vật không chia được (như diện  
tích một ngôi nhà là vật chia được nhưng ngôi nhà  
đó có diện tích nhỏ nếu chia diện tích nhà cho  
những người thừa kế thì ngôi nhà không thể sử  
dụng được).  
5. Kết luận  
Quyền thừa kế là một chế định trong hệ thống  
pháp luật dân sự của nước ta, là tổng hợp các quy  
phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản  
của người chết cho người khác theo di chúc hoặc  
theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định  
phạm vi, quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ  
các quyền, nghĩa vụ của người thừa kế.  
Trong trường hợp một số người đều muốn nhận  
bằng hiện vật, trong khi đó di sản không thể chia  
bằng hiện vật, thì cũng cần phải xác định ai nhận  
bằng hiện vật (người không nhận bằng hiện vật sẽ  
được nhận bằng giá trị). Vấn đề này còn bị bỏ ngỏ,  
việc giải quyết hoàn toàn phụ thuộc vào cách áp  
dụng pháp luật của Tòa án.  
Vụ án phân chia di sản thừa kế nêu trên có nội  
dung tương đối đơn giản, tuy nhiên nội dung vụ án  
hết sức gần gũi và xảy ra khá phổ biến trong thực tế  
cuộc sống. Qua việc phân tích các quy định pháp  
luật cũng như cách giải quyết của Tòa án, chúng ta  
có thể khắc phục một cách hiểu sai hiện nay của  
một bộ phận người dân - đó là khi con cái chăm  
sóc, thờ cúng cha mẹ thì sẽ mặc nhiên được chia  
thừa kế nhiều hơn so với các đồng thừa kế khác.  
Đồng thời, cách giải quyết của Tòa án trong vụ án  
này (định giá di sản thừa kế theo hướng có lợi nhất  
cho các đương sự) cũng là một yếu tố để các nhà  
(2) Vấn đề định giá di sản thừa kế là hiện vật  
vẫn tồn tại rất nhiều vướng mắc, đơn cử như trường  
hợp những người thừa kế không thỏa thuận được  
việc định giá, không thống nhất được việc lựa chọn  
cơ quan nào là cơ quan định giá tài sản. Như trong  
vụ án được nghiên cứu ở trên, có hai cơ quan tham  
gia vào việc định giá: một là Công ty cổ phần định  
giá bất động sản và hai là Tòa án. Pháp luật chưa  
N.T.T.Trang/ No.20_Mar 2021|p.85-91  
làm luật cân nhắc và xây dựng quy định pháp luật  
4. Danh Pì Sách, Nguyễn Trường Thọ (2020).  
Completing regulations on inheritance distribution,  
Cong Thuong Industry and Trade magazine.  
làm cơ sở giải quyết thống nhất cho các vụ việc  
tương tự về sau.  
REFERENCES  
Accessed on: January 19 2021. From  
dinh-phap-luat-ve-phan-chia-di-san-thua-ke-  
72436.htm  
1. Assoc. Prof. Ph.D Nguyen Van Cu, Assoc.  
Prof. Ph.D Tran Thi Hue (2017), Scientific  
commentary of Vietnam Civil Code 2015, Cong an  
nhan dan Publisher.  
5. Soc Trang People’s Court (07.9.2020),  
Judgment No.32/2020/DS-ST about “inheritance  
distribution dispute case”  
2. Tuong Duy Luong (2019), Civil Legal and  
trial practice, Chinh tri quoc gia Publisher.  
3. Phùng Bích Ngọc (2020), Completion of the  
legal provisions on conditional wills, Dan chu &  
Phap luat magazine, No 11 (344) November 2020.  
Accessed on: Octorber 17 2020. From  
pdf 8 trang Thùy Anh 9560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật về thừa kế qua góc nhìn từ một vụ án tranh chấp chia thừa kế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphap_luat_ve_thua_ke_qua_goc_nhin_tu_mot_vu_an_tranh_chap_ch.pdf