Pháp luật về thừa kế qua góc nhìn từ một vụ án tranh chấp chia thừa kế
No.20_Mar 2021|p.85-91
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO
ISSN: 2354 - 1431
INHERITANCE LAW FROM THE PERSPECTIVE
OF INHERITANCE DISTRIBUTION DISPUTE CASE
Nguyen Thi Thuy Trang1*, Tran Thi Kim Anh1 , Tran Thi Binh An1
1 Thainguyen University of Economics and Business Administration
Article info
Abstract
The inheritance institution is a particularly important in the civil law of Vietnam,
recognizing a very popular kind of social relations. In fact, the number of
inheritance disputes always accounts for a large proportion in civil disputes. In
particular, inheritance disputes are very diverse and highly complex, sometimes
still exist many different views on how the Court applies the law to settle disputes.
This article will study a specific verdict on the settlement of a dispute over the
inheritance of property that is land use rights and assets on land, thereby giving the
direction on applying the law of inheritance in a specific case.
Recieved:
10/12/2020
Accepted:
22/02/2021
Keywords:
Inheritance; disputes;
civil, case.
No.20_Mar 2021|p.85-91
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO
ISSN: 2354 - 1431
PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ QUA GÓC NHÌN
TỪ MỘT VỤ ÁN TRANH CHẤP CHIA THỪA KẾ
Nguyễn Thị Thùy Trang1,* , Trần Thị Kim Anh1, Trần Thị Bình An1
1 Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh Thái Nguyên
Tóm tắt:
Thông tin tác giả
Chế định thừa kế là một chế định đặc biệt quan trọng trong ngành luật dân sự
Việt Nam, điều chỉnh một loại quan hệ xã hội hết sức phổ biến, gần gũi với
thực tiễn cuộc sống. Trên thực tế, số vụ tranh chấp về thừa kế luôn chiếm tỷ
trọng lớn trong các tranh chấp dân sự. Đặc biệt, các tranh chấp về thừa kế hết
sức đa dạng và có tính phức tạp cao, đôi khi còn tồn tại nhiều quan điểm khác
nhau trong quá trình Tòa án áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp. Trên
cơ sở nghiên cứu một bản án cụ thể về giải quyết tranh chấp về thừa kế tài sản
là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, bài viết tập trung bình luận và đưa ra
phương hướng áp dụng pháp luật về thừa kế trong một tình huống cụ thể.
Ngày nhận bài:
10/12/2020
Ngày duyệt đăng:
22/02/2021
Từ khóa:
Thừa kế; tranh chấp; dân
sự, vụ án.
1. Đặt vấn đề
Trong pháp luật dân sự, vấn đề thừa kế luôn là
vấn đề phức tạp do xung đột quyền lợi của các bên
và xuất phát từ đặc trưng là các bên tham gia quan
hệ này đều có quan hệ huyết thống hoặc nuôi
dưỡng. Ở nước ta, pháp luật về quyền thừa kế lần
đầu tiên được quy định trong Bộ luật Hồng Đức
dưới triều đại của Vua Lê Thái Tổ và vấn đề này
nằm trong chương Điền Sản của Bộ luật. Trải qua
quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, chế
định này đã được quy định, mở rộng và được quy
định rất cụ thể trong các bản Hiến pháp của nhà
nước ta như: Điều 19 Hiến pháp năm 1959 quy
định: “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo vệ quyền
thừa kế tài sản tư hữu của công dân”; Điều 27
Hiến pháp năm 1980 “Nhà nước bảo hộ quyền thừa
kế tài sản của công dân”; Điều 58 Hiến pháp năm
1992 “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và
quyền thừa kế công dân”… Chưa dừng lại ở đó,
Hiến pháp năm 2013 còn quy định khá chặt chẽ về
quyền thừa kế, cụ thể tại Điều 32 “Quyền sở hữu tư
nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”.
Trải qua một thời gian dài xây dựng và phát
triển, chế định thừa kế luôn được ghi nhận là một
chế định quan trọng trong hệ thống các quy phạm
pháp luật dân sự Việt Nam từ Pháp lệnh thừa kế
năm 1990 đến Bộ luật dân sự 2005 và mới đây nhất là
Bộ luật dân sự 2015, những quy định của pháp luật
thừa kế đã tỏ ra phù hợp với thực tiễn, không ngừng
hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của công dân nói
chung, nhất là những người được hưởng thừa kế.
Thời gian gần đây số lượng các vụ tranh chấp
về thừa kế luôn chiếm tỷ trọng lớn trong các tranh
chấp dân sự và có tính phức tạp. Bởi vậy việc
nghiên cứu, nắm rõ và vận dụng tốt các quy định
N.T.T.Trang/ No.20_Mar 2021|p.85-91
pháp luật về thừa kế là đòi hỏi cấp thiết của các cơ
Hai cụ là: cụ ông Nguyễn Văn H, sinh năm
1939 (chết năm 2017) và cụ bà Nguyễn Thị C, sinh
năm 1935 (chết năm 2017), có tất cả 05 người con
gồm: 1. Nguyễn Thị Xuân L, 2. Nguyễn Thị Xuân
N, 3. Nguyễn Thành T, 4. Nguyễn Thành H, 5.
Nguyễn Thị Thu M; cha mẹ bà không có con nuôi,
con riêng, con ngoài giá thú.
quan tiến hành tố tụng khi giải quyết loại tranh
chấp này.
Trong số các loại di sản thừa kế, có thể khẳng
định, quyền sử dụng đất và tài sản trên đất luôn là
loại di sản chiếm tỷ lệ lớn nhất. Một dạng tranh
chấp về thừa kế phổ biến nhất thường xảy ra đó là
con cái – những người thừa kế không tìm được
tiếng nói chung trong việc phân chia di sản thừa kế
là nhà và đất mà bố mẹ của họ để lại sau khi mất.
Lúc sinh thời cha mẹ bà N có tạo lập được tài
sản là: Căn nhà và quyền sử dụng đất (QSDĐ) tọa
lạc tại địa chỉ: Số 19, đường T, phường H, thành
phố T, tỉnh T, thửa đất số 139, tờ bản đồ số 48, diện
tích 142.7m2, theo Giấy chứng nhận QSDĐ số BR
014374, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH05170
do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp cho ông
Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị C vào ngày
08/5/2015. Ngoài căn nhà trên còn có một số tài sản
trên đất gồm mái che phía trước, nhà chính, nhà
sau, bể nước…
Bản án của Tòa án nhân dân thành phố T dưới
đây ghi nhận một tranh chấp như thế. Bài viết sẽ
phân tích các quy định hiện hành trong chế định
thừa kế của Bộ luật dân sự 2015 để làm cơ sở áp
dụng cho việc giải quyết tranh chấp trong trường
hợp vụ án cụ thể trên, từ đó rút ra một số kết luận
để áp dụng cho các trường hợp tương tự.
2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng:
phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp.
Theo kết quả định giá tài sản ngày 29/6/2020
của Công ty cổ phần định giá và đầu tư kinh doanh
bất động sản X xác định tổng giá trị QSDĐ và tài
sản trên đất là 2.613.655.000 đồng (hai tỷ sáu trăm
mười ba triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn). Các
bên liên quan đã nhất trí với kết quả giám định này.
Phương pháp phân tích, bình luận bản án, qua
đó có thể giúp người đọc nhận diện vấn đề pháp lý,
nắm bắt được các quy tắc pháp lý, cách giải thích,
áp dụng chúng trong thực tiễn. Đồng thời, qua đó
mô tả, giải thích, khái quát hóa các hiện tượng pháp
lý, đưa ra những logic pháp lý để áp dụng trong
những tình huống tương tự.
Còn căn cứ vào khung giá của Nhà nước quy
định do TAND thành phố T định giá, giá trị QSDĐ
và tài sản trên đất là 618.754.000 (sáu trăm mười
tám triệu bảy trăm năm mươi tư nghìn).
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Tóm tắt vụ án
Trước khi chết, hai cụ C và H không để lại di
chúc và cũng không để lại bất kỳ nghĩa vụ về tài
sản nào; ngoài tài sản trên thì cha mẹ bà không còn
tài sản nào khác. Từ trước đến nay, căn nhà và đất
trên do cha mẹ bà trực tiếp quản lý, sử dụng; bà
Nguyễn Thị Thu M đến ở cùng hai cụ C và H trong
vòng hai năm trước khi các cụ mất. Sau khi hai cụ
mất, bà M là người thờ cúng, hương khói cho hai
cụ. Khi các anh chị em bà M đề nghị phân chia di
sản thừa kế, bà M không đồng ý mà có ý định
chiếm giữ tài sản này làm của riêng. Sau đó, bà M
đưa ra điều kiện là bà chỉ đồng ý chia thừa kế nếu
di sản được chia thành sáu (06) phần, năm người
con mỗi người được một phần và bà M phải được
nhận thêm một suất thừa kế vì bà đã nuôi dưỡng và
chăm sóc bố mẹ khi sống cũng như có công hương
khói, thờ cúng các cụ. Đồng thời, bà M yêu cầu
phải được nhận thừa kế bằng hiện vật (nhà và đất).
Bà M đề nghị trả lại giá trị kỷ phần thừa kế cho
những đồng thừa kế khác theo giá trị di sản được
xác định theo khung giá nhà nước.
Ngày 07 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án
nhân dân thành phố T xét xử sơ thẩm công khai vụ
án thụ lý số: 136/2019/TLST - DS ngày 17 tháng
12 năm 2019 về việc tranh chấp chia thừa kế, theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
72/2020/QĐXXST-DS ngày 06/7/2020, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn là bà: Bà Nguyễn Thị Xuân N,
sinh năm 1957; địa chỉ: Số 167, đường L, phường
P, thành phố T, tỉnh T.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu M, sinh năm
1972; địa chỉ: Số 19, đường T, phường H, thành
phố T, tỉnh T.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm
03 ông bà: Ông Nguyễn Thành T (sinh năm 1959);
bà Nguyễn Thị Xuân L (sinh năm 1963), Ông
Nguyễn Thành H (sinh năm 1967), đều trú tại thành
phố T, tỉnh T.
N.T.T.Trang/ No.20_Mar 2021|p.85-91
Các anh em của bà M không đồng ý, trong đó,
ở cùng và trực tiếp chăm sóc cha mẹ khi còn sống
cũng như thờ cúng cha mẹ sau khi cha mẹ qua đời
có được chia di sản thừa kế nhiều hơn các đồng
thừa kế khác hay không; (2) trường hợp các đồng
thừa kế đều muốn nhận thừa kế bằng hiện vật thì
Tòa án phải giải quyết như thế nào?
bà N – là chị cả trong gia đình đã khởi kiện bà M ra
tòa vào tháng 12 năm 2019. Bà N yêu cầu Tòa án
giải quyết phân chia di sản thừa kế theo pháp luật.
Trong đó, giữa bà N ông H có thỏa thuận về việc
ông H tặng phần thừa kế mà mình được hưởng cho
bà N, nên bà N được 02 phần (gồm phần của bà và
phần của ông H).
(1) Người thừa kế có công chăm sóc, nuôi
dưỡng cũng như thờ cúng đối với người để lại di
sản có được hưởng phần thừa kế nhiều hơn?
Từ đó, bà N yêu cầu Tòa án giao cho mình nhận
hiện vật là nhà và đất nêu trên; bà N sẽ trả lại giá trị
kỷ phần thừa kế cho những đồng thừa kế khác theo
giá thị trường.
Trong vụ án này, người để lại di sản thừa kế là
cụ H và cụ C, hai cụ có tất cả 05 người con, tất cả
đều còn sống gồm: bà N, ông T, bà L, ông H và bà
M. Ngoài ra, cụ H và cụ C không có con nuôi, con
riêng, con ngoài giá thú nào khác; cha mẹ cụ H và
cụ C đều đã chết.
3.2. Kết quả giải quyết của Tòa án nhân dân
thành phố T
Ngày 07 tháng 9 năm 2020, Tòa án nhân dân
thành phố T đã xét xử sơ thẩm và tuyên án - bản án số:
32/2020/DS-ST về việc “Tranh chấp chia thừa kế”.
Vào năm 2015, bà M ly hôn với chồng (bà
không có con) nên sau đó bà dọn về ở với hai cụ C
và H. Từ đó cho đến khi hai cụ mất, bà M là người
trực tiếp chăm sóc hai cụ C và H. Các anh chị em
khác của bà đều có gia đình riêng và sống cùng
thành phố với cha mẹ bà, thi thoảng sang thăm,
mua quà và biếu tiền cho hai cụ. Sau khi hai cụ
mất, do bà M không có nơi ở nào khác nên bà đề
nghị các anh chị để mình tiếp tục ở nhà cha mẹ và
lo việc thờ cúng cha mẹ.
Theo đó, kết quả giải quyết như sau: Di sản thừa
kế được chia theo pháp luật thành 05 phần bằng
nhau, 05 người con - mỗi người được nhận một
suất, trong đó ông H đã tặng cho suất thừa kế của
mình cho bà N nên bà N được nhận 02 suất, ba ông
bà còn lại: ông T, bà L, bà M mỗi người được nhận
một suất. Bà N được Tòa án tuyên nhận di sản bằng
hiện vật và trả lại kỷ phần thừa kế cho ba người còn
lại với giá trị một kỷ phần được tính theo giá thị
trường. Bà M có trách nhiệm chuyển ra khỏi nhà và
giao trả nhà, đất nêu trên cho bà N.
Trong vụ án này, Tòa án đã dựa vào các quy
định hiện hành trong chế định thừa kế của Bộ luật
dân sự để giải quyết yêu cầu trên. Do hai cụ C và H
mất đi mà không để lại di chúc nên căn cứ vào điểm
a, khoản 1, Điều 650 Bộ luật dân sự (BLDS),
trường hợp này được xét vào dạng thừa kế theo
pháp luật: “là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện
và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.
3.3. Phân tích, bình luận các khía cạnh pháp
lý của vụ án
Đối với tranh chấp này, Tòa án đã vận dụng các
quy định của pháp luật hiện hành làm cơ sở pháp lý
để giải quyết vụ án, bao gồm: Bộ luật dân sự năm
2015; Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Luật hôn
nhân gia đình năm 2014.
Theo quy định về Người thừa kế và Hàng thừa
kế theo pháp luật (tại Điều 613 và khoản 1 Điều
651), cụ H và cụ C có 05 người thừa kế thuộc
hàng thừa kế thứ nhất gồm: Bà L, bà N, ông T,
ông H và bà M. Đồng thời pháp luật quy định rất
rõ ràng về việc “những người thừa kế cùng hàng
được hưởng phần di sản bằng nhau” (khoản 2
Điều 651 BLDS). Như vậy, di sản thừa kế cần
được chia đều cho 05 người con là 05 người thừa
kế ở hàng thừa kế thứ nhất.
Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015, quan hệ pháp luật
tranh chấp được là “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân thành phố T theo quy định tại khoản 5
điều 28, khoản 2 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều
39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo các thời
điểm của các sự kiện pháp lý, vụ án còn thời hiệu
khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ
luật Dân sự năm 2015.
Điều 660 BLDS năm 2015, di sản thừa kế nêu
trên phải được phân chia theo pháp luật. Yêu cầu
của bà M về việc di sản thừa kế phải được chia làm
Đối với vụ tranh chấp này, có hai vấn đề chính
mà Tòa án phải giải quyết, bao gồm: (1) người con
N.T.T.Trang/ No.20_Mar 2021|p.85-91
06 phần bằng nhau vì lý do nuôi dưỡng và thờ cúng
cha mẹ là hoàn toàn thiếu cơ sở pháp lý.
Việc thờ cúng tổ tiên được thực hiện trên cơ sở của
quan niệm mang tính chất đạo đức và văn hoá: tôn
trọng và biết ơn công sinh thành, dưỡng dục; con
người có nguồn cội, tổ tông vì vậy con, cháu phải
tôn trọng và biết ơn những thế hệ cha ông đã sinh ra
mình. Thờ cúng tổ tiên, di sản thờ cúng có ý nghĩa
quan trọng, nó không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất
mà còn có giá trị về mặt tinh thần.
Thứ nhất: Việc bà M chăm sóc, nuôi dưỡng cha
mẹ nên đòi chia thêm di sản thừa kế
Căn cứ vào quy định về Nghĩa vụ và quyền
chăm sóc, nuôi dưỡng tại khoản 2 Điều 71 Luật
Hôn nhân và Gia đình năm 2014:
“2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi
dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực
hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường
hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng
nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ”.
Trong vụ án này, cụ H và cụ C chết không để lại
di chúc, nên không xác định được di sản dùng vào
việc thờ cúng và chỉ định người được giao quản lý
để thực hiện việc thờ cúng theo quy định tại khoản
1 Điều 645 BLDS năm 2015.
Có thể thấy, việc bà M chăm sóc, nuôi dưỡng
cha mẹ được coi là nghĩa vụ và quyền của con đối
với cha mẹ. Không những được ghi nhận như nghĩa
vụ đương nhiên, một cách hành xử bắt buộc được
Nhà nước đảm bảo thực hiện, việc con cái chăm
sóc, nuôi dưỡng cha mẹ còn thể hiện đạo hiếu của
con với cha mẹ, đền đáp công ơn sinh thành dưỡng
dục, thể hiện văn hóa, đạo lý của người Việt Nam.
Thậm chí khi cha mẹ khó khăn, không có tài sản gì,
con cái cũng phải thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ
này mà không được phép lơ là hay có những hành
vi bỏ mặc, ngược đãi cha mẹ.
Điều 645. Di sản dùng vào việc thờ cúng
“1. Trường hợp người lập di chúc để lại một
phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản
đó không được chia thừa kế và được giao cho
người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để
thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định
không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa
thuận của những người thừa kế thì những người
thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc
thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.”
Pháp luật không có quy định bắt buộc nào về
vấn đề này, cũng không có quy định nào về việc
người thờ cúng cha mẹ được hưởng phần di sản
nhiều hơn những người thừa kế cùng hàng khác (trừ
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 645 BLDS).
Trong vụ án này, các đương sự đều thừa nhận
bà M do ở cùng nên hàng ngày bà có điều kiện
chăm sóc trực tiếp cho hai cụ C và H từ năm 2015
đến năm 2017. Tuy nhiên, cả hai cụ đều có lương
hưu để đảm bảo các chi phí sinh hoạt, đồng thời cả
bốn người con còn lại đều luôn quan tâm, thăm
nom hai cụ chứ không hề vi phạm nghĩa vụ nuôi
dưỡng, chăm sóc cha mẹ.
Xuất phát từ các lý do trên, yêu cầu của bà M về
việc nhận gấp đôi suất thừa kế so với người khác là
hoàn toàn thiếu cơ sở pháp lý, Tòa án bác bỏ yêu
cầu này là có cơ sở pháp lý.
(2) Khi những người thừa kế đều mong muốn
nhận thừa kế bằng hiện vật thì Tòa án giải quyết
như thế nào?
Như vậy có thể kết luận, pháp luật không có quy
định nào về việc người nào ở cùng với cha mẹ và
có công chăm sóc cha mẹ khi còn sống sẽ được
hưởng phần di sản nhiều hơn những người thừa kế
cùng hàng khác trong trường hợp chia thừa kế theo
pháp luật. Vì vậy, bà M không thể lấy mình có công
chăm sóc cho bố mẹ khi còn sống để đòi hỏi về
việc nhận được suất di sản thừa kế gấp đôi người
khác.
Có thể thấy, căn nhà số 19 và đất gắn liền thửa
đất số 139, tờ bản đồ số 48, tọa lạc như đã nêu trên
có diện diện tích nhỏ là 142.7 m2, không thể chia
đều bằng hiện vật. Trong khi đó, cả bà N và bà M
đều có nguyện vọng được nhận thừa kế bằng hiện
vật là nhà và đất, hai ông bà T và L mong muốn
nhận kỷ phần thừa kế bằng tiền, còn ông H tặng cho
suất thừa kế của mình cho bà N.
Thứ hai, việc bà M có công thờ cúng cha mẹ
nên bà M yêu cầu được chia thêm một phần di sản
thừa kế.
Theo quy định tại khoản 2, Điều 660 BLDS:
“Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia
di sản bằng hiện vật, nếu không thể chia đều bằng
Thờ cúng tổ tiên là phong tục đã có từ rất xa
xưa của người Việt và hiện nay vẫn được coi trọng.
N.T.T.Trang/ No.20_Mar 2021|p.85-91
hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận
giao trả nhà đất nêu trên cho bà N. Sau khi nhận
thừa kế bằng nhà và đất, bà N có trách nhiệm trả
giá trị kỷ phần thừa kế bằng tiền cho những người
thừa kế khác gồm bà M, bà L, ông T mỗi người 01
kỷ phần di sản của cụ H và cụ C có tổng giá trị số
tiền 2.613.655.000 đồng (mỗi kỷ phần tương ứng
với số tiền 522.731.000 đồng).
về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người
nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện
vật được bán để chia”.
Quy định trên cho thấy pháp luật hoàn toàn tôn
trọng ý nguyện và sự tự do thỏa thuận của những
người thừa kế. Việc ai nhận thừa kế bằng hiện vật
trong trường hợp không thể chia đều di sản bằng
hiện vật hoàn toàn do những người thừa kế bàn bạc
và quyết định.
4. Một số vướng mắc, tồn tại và phương
hướng hoàn thiện pháp luật trong việc phân chia
di sản thừa kế
Mặc dù cả ba ông bà L, T, H đều nhất trí giao căn
nhà cho bà N để bà N thờ cúng tổ tiên, nhưng bà M
không đồng ý nên các đương sự chưa có sự thỏa
thuận thống nhất. Vì vậy, việc giao di sản bằng hiện
vật cho ai phụ thuộc vào quyết định của Tòa án.
4.1. Vấn đề di sản dùng vào việc thờ cúng
Về căn cứ xác lập di sản dùng vào việc thờ
cúng: Di sản dùng vào việc thờ cúng một người,
hay các thành viên đã chết của gia đình, dòng họ
được xác lập từ nhiều căn cứ khác nhau, nhưng
pháp luật quy định căn cứ xác lập di sản dùng vào
việc thờ cúng do một người để lại theo di chúc và
căn cứ này có ý nghĩa pháp lý trong việc giải quyết
những tranh chấp liên quan đến di sản dùng vào
việc thờ cúng do người lập di chúc để lại. Ý nguyện
của người chết thể hiện trong di chúc về việc định
đoạt di sản thờ cúng được coi là căn cứ pháp lý duy
nhất để xác lập có hay không việc di sản được dùng
vào việc thờ chúng. Còn đối với trường hợp thừa kế
theo pháp luật, chế định thừa kế trong Bộ luật dân
sự không có quy định nào về việc người thờ cúng
cha mẹ được hưởng phần di sản nhiều hơn những
người thừa kế cùng hàng khác.
Trong trường hợp này, bà N được nhận hai phần
(do có thỏa thuận tặng cho giữa ông H và bà N),
trong khi đó bà M chỉ được nhận một suất thừa kế -
đây là yếu tố thứ nhất để Tòa án cân nhắc chia thừa
kế bằng hiện vật cho bà N.
Ngoài ra còn một yếu tố nữa để Tòa án xem xét
- đó là vấn đề định giá di sản thừa kế được sử dụng
làm căn cứ để chia thừa kế cho các đồng thừa kế.
Trong vụ án này, di sản thừa kế được định giá
theo giá trị trường là: 2.613.655.000 đồng (hai tỷ
sáu trăm mười ba triệu sáu trăm năm mươi lăm
nghìn) và được định giá theo khung giá nhà nước là
618.754.000 đồng (sáu trăm mười tám triệu bảy
trăm năm mươi tư nghìn đồng).
Trong vụ án này, bà M không phải là người
thừa kế theo di chúc, không được bố mẹ bà để lại
một phần di sản và giao cho bà dùng vào việc thờ
cúng. Bà M chỉ là một người thừa kế giống như các
đồng thừa kế khác, được nhận một suất thừa kế
theo luật. Cách phân chia này dựa trên cơ sở pháp
lý vững chắc là điều 645 Bộ luật dân sự 2015. Tuy
nhiên trên thực tế, người dân do thiếu hiểu biết
pháp luật nên vẫn có những trường hợp giống bà M
- hiểu sai về vấn đề di sản dùng vào việc thờ cúng.
Chính vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ án, các
Tòa án cần thống nhất cách giải quyết, dựa trên
điều 645 Bộ luật dân sự 2015 để xác lập di sản vào
việc thờ cúng.
Bà N sẵn sàng đồng ý trả kỷ phần thừa kế cho
những người thừa kế khác với giá trị di sản thừa kế
được tính theo giá thị trường, trong khi bà N chỉ
đồng ý trả kỷ phần thừa kế cho những người thừa
kế khác với giá trị di sản thừa kế được tính theo giá
nhà nước (giá thị trường cao hơn giá Nhà nước số
tiền 1.994.900.000 đồng).
Như vậy, nếu chia thừa kế cho bà N bằng hiện
vật thì ông H, bà L, bà M mỗi người được chia thừa
kế với một kỷ phần trị giá là: 522.731.000 (năm
trăm hai mươi hai triệu bảy trăm ba mươi mốt
nghìn), là có lợi hơn rất nhiều cho những người
thừa kế khác nếu phải nhận một kỷ phần mà bà M
chấp nhận trả trị giá 123.750.000 (một trăm hai
mươi ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn).
4.2. Vấn đề chia di sản bằng hiện vật
Hiện nay, chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự
2015 mới chỉ đề cập đến việc phân chia di sản bằng
hiện vật tại khoản 2 Điều 660 như sau:
Từ các căn cứ nêu trên, Tòa đã tuyên án cho bà
N nhận thừa kế bằng hiện vật, bà M có trách nhiệm
N.T.T.Trang/ No.20_Mar 2021|p.85-91
Khoản 2, Điều 660, BLDS 2015 quy định:
quy định rõ cơ quan nào có thẩm quyền định giá mà
hoàn toàn phụ thuộc và sự lựa chọn của các đương
sự cũng như phụ thuộc vào giai đoạn giải quyết vụ
án. Chính vì thiếu quy định pháp luật, nên Tòa án
sẽ xem xét và lựa chọn phương án nào có lợi nhất
cho số đông các đương sự, ví dụ lựa chọn kết quả
định giá cao nhất để chia bằng giá trị cho các đương
sự. Trường hợp kết quả định giá không được tất các
các đương sự chấp nhận thì việc giải quyết vụ án
được thực hiện như nào vẫn là một vấn đề mà pháp
luật còn bỏ ngỏ.
“Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia
di sản bằng hiện vật, nếu không thể chia đều bằng
hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận
về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người
nhận hiện vật, nếu không thỏa thuận được thì hiện
vật được bán để chia”.
Theo quy định này, trước tiên những người thừa
kế có quyền yêu cầu Tòa án phân chia di sản bằng
hiện vật. Nếu những người thừa kế không có thỏa
thuận nào khác trong việc phân chia di sản bằng
hiện vật thì di sản được chia đều cho họ. Trong
trường hợp di sản bao gồm nhiều hiện vật, mỗi hiện
vật có giá trị khác nhau, thì trước khi chia di sản
phải xác định giá trị của từng hiện vật, trên cơ sở
cùng định giá của những người thừa kế.
Qua phân tích ở trên, có thể thấy pháp luật hiện
hành còn thiếu quy định cụ thể về tiêu chí người
nhận di sản thừa kế bằng hiện vật, đồng thời thiếu
hướng dẫn cụ thể về vấn đề định giá di sản thừa kế.
Các nhà làm luật cần nghiên cứu để đưa ra tiêu
chí rõ ràng về việc ai sẽ được nhận di sản bằng hiện
vật, có thể xem xét để luật hóa các tiêu chí sau: chia
di sản bằng hiện vật cho người thừa kế được hưởng
phần thừa kế nhiều nhất (tương tự trường hợp bà N
trong vụ án này); người nào có hoàn cảnh khó khăn
nhất mà việc nhận di sản bằng hiện vật có thể giúp
giải quyết khó khăn đó (ví dụ người thừa kế không
có nơi ở sẽ được ưu tiên chia di sản bằng nhà ở);
người thừa kế nào có đóng góp nhiều nhất cho việc
tạo lập di sản… Về vấn đề định giá, cần bổ sung
thêm hướng dẫn chi tiết về cơ quan có thẩm quyền
định giá tài sản; dự liệu hậu quả pháp lý trong
trường hợp kết quả định giá không được các đương
sự chấp nhận.
Mặc dù pháp luật đã có quy định nhưng do quy
định còn chưa thực sự hoàn thiện dẫn việc chia di sản
bằng hiện vật vẫn còn gặp nhiều khó khăn, cụ thể:
(1) Việc người nào nhận phần nào cụ thể của di
sản cũng là một vấn đề cần được giải quyết, vì di
sản rất đa dạng, các phần bằng hiện vật có thể có
giá trị bằng nhau nhưng bản chất (tính năng) của
từng phần không luôn giống nhau (phần là quyền
sử dụng đất, phần là nhà, phần là nhà đất…). Ngoài
ra, có những vật theo tính chất là vật chia được,
nhưng vật khi phân chia trong hoàn cảnh cụ thể thì
được xác định là vật không chia được (như diện
tích một ngôi nhà là vật chia được nhưng ngôi nhà
đó có diện tích nhỏ nếu chia diện tích nhà cho
những người thừa kế thì ngôi nhà không thể sử
dụng được).
5. Kết luận
Quyền thừa kế là một chế định trong hệ thống
pháp luật dân sự của nước ta, là tổng hợp các quy
phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản
của người chết cho người khác theo di chúc hoặc
theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định
phạm vi, quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ
các quyền, nghĩa vụ của người thừa kế.
Trong trường hợp một số người đều muốn nhận
bằng hiện vật, trong khi đó di sản không thể chia
bằng hiện vật, thì cũng cần phải xác định ai nhận
bằng hiện vật (người không nhận bằng hiện vật sẽ
được nhận bằng giá trị). Vấn đề này còn bị bỏ ngỏ,
việc giải quyết hoàn toàn phụ thuộc vào cách áp
dụng pháp luật của Tòa án.
Vụ án phân chia di sản thừa kế nêu trên có nội
dung tương đối đơn giản, tuy nhiên nội dung vụ án
hết sức gần gũi và xảy ra khá phổ biến trong thực tế
cuộc sống. Qua việc phân tích các quy định pháp
luật cũng như cách giải quyết của Tòa án, chúng ta
có thể khắc phục một cách hiểu sai hiện nay của
một bộ phận người dân - đó là khi con cái chăm
sóc, thờ cúng cha mẹ thì sẽ mặc nhiên được chia
thừa kế nhiều hơn so với các đồng thừa kế khác.
Đồng thời, cách giải quyết của Tòa án trong vụ án
này (định giá di sản thừa kế theo hướng có lợi nhất
cho các đương sự) cũng là một yếu tố để các nhà
(2) Vấn đề định giá di sản thừa kế là hiện vật
vẫn tồn tại rất nhiều vướng mắc, đơn cử như trường
hợp những người thừa kế không thỏa thuận được
việc định giá, không thống nhất được việc lựa chọn
cơ quan nào là cơ quan định giá tài sản. Như trong
vụ án được nghiên cứu ở trên, có hai cơ quan tham
gia vào việc định giá: một là Công ty cổ phần định
giá bất động sản và hai là Tòa án. Pháp luật chưa
N.T.T.Trang/ No.20_Mar 2021|p.85-91
làm luật cân nhắc và xây dựng quy định pháp luật
4. Danh Pì Sách, Nguyễn Trường Thọ (2020).
Completing regulations on inheritance distribution,
Cong Thuong Industry and Trade magazine.
làm cơ sở giải quyết thống nhất cho các vụ việc
tương tự về sau.
REFERENCES
Accessed on: January 19 2021. From
dinh-phap-luat-ve-phan-chia-di-san-thua-ke-
72436.htm
1. Assoc. Prof. Ph.D Nguyen Van Cu, Assoc.
Prof. Ph.D Tran Thi Hue (2017), Scientific
commentary of Vietnam Civil Code 2015, Cong an
nhan dan Publisher.
5. Soc Trang People’s Court (07.9.2020),
Judgment No.32/2020/DS-ST about “inheritance
distribution dispute case”
2. Tuong Duy Luong (2019), Civil Legal and
trial practice, Chinh tri quoc gia Publisher.
3. Phùng Bích Ngọc (2020), Completion of the
legal provisions on conditional wills, Dan chu &
Phap luat magazine, No 11 (344) November 2020.
Accessed on: Octorber 17 2020. From
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật về thừa kế qua góc nhìn từ một vụ án tranh chấp chia thừa kế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phap_luat_ve_thua_ke_qua_goc_nhin_tu_mot_vu_an_tranh_chap_ch.pdf

