Chính sách dân tộc – một nguyên nhân tan rã của Liên bang Xô Viết

342  
CHÍNH SÁCH DÂN TỘC –  
MỘT NGUYÊN NHÂN TAN RÃ CỦA LIÊN BANG XÔ VIẾT  
SV. Trần Quốc Giang  
ThS. Nguyễn Thế Hồng  
Tóm tắt. Liên bang Xô Viết (gọi tắt là Liên Xô) tan rã tháng 12/1991,15 nước  
cộng hoà trong liên bang tuyên bố độc lập, 11 nước liên kết với nhau hình thành nên  
cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG). Đây là hậu quả của sự khủng hoảng kinh tế,  
chính trị, xã hội kéo dài từ nhiều thập kỉ ở Liên Xô. Một trong những nhân tố sụp đổ là  
do chính sách về dân tộc mắc nhiều sai lầm không được sửa chữa kịp thời và triệt để  
từ thời I.V. Stalin đến M.S.Gorbachov.  
1. Mở đầu  
Ngày 30/12/1922, trên cơ sở tự nguyện của các dân tộc, liên bang Cộng hòa xã  
hội chủ nghĩa Xô Viết ra đời, đó là thắng lợi quan trọng trong chính sách dân tộc  
Lêninnít. Một trong những đặc điểm quan trọng của Liên Xô là có nhiều dân tộc cùng  
sinh sống, trong đó phần lớn là người Nga, còn lại nhiều dân tộc thiểu số sống ở những  
miền biên thùy khá xa thủ đô Moscow. Lênin và sau đó là các vị Tổng Bí thư kế nhiệm  
đã rất chú trọng giải quyết vấn đề dân tộc, các ông đã đưa ra những quan điểm trong  
thực hiện chính sách dân tộc ở Liên Xô qua các Đại Đại hội VIII Đảng Cộng sản Nga  
(3/1919), lần X (3/1921), lần XII (4/1923), lần VIII (1/1936). Tuy nhiên, trong quá  
trình thực hiện chính sách dân tộc, Liên Xô đã vấp phải một số sai lầm nghiêm trọng  
về vấn đề này và trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của liên  
bang Xô Viết.  
Bài viết đề cập khái quát về chính sách dân tộc ở Liên Xô từ thời Tổng Bí thư  
Stalin đến Gorbachov.  
2. Nội dung chính  
2.1. Khái quát về chính sách dân tộc của Liên Xô qua các đời Tổng Bí thư  
2.1.1. Thời kì I.V.Stalin (1924-1953)  
Ngày 3/4/1922, Stalin được bầu làm Tổng bí thư ban chấp hành Trung ương  
Đảng, cao ủy viên Hội đồng dân tộc và ủy viên ban kiểm tra công – nông. Trong 10  
năm đầu, về cơ bản Stalin vẫn chấp nhận những chính sách dân tộc do Lênin đề ra  
trước đó nhưng về sau đã xa rời từng bước.  
Thời kì Stalin cầm quyền đã thực hiện 2 lần chính sách cưỡng bức di dân. Lần  
thứ nhất vào năm 1929 với khẩu hiệu tập thể hóa toàn diện, Stalin đã sử dụng những  
biện pháp cưỡng chế đối với những cán bộ dân tộc ít người có tinh thần dân tộc. Đến  
năm 1930, trong thời kì cải tạo xã hội chủ nghĩa, Liên Xô đã phát động phong trào tiêu  
diệt phú nông, tiến hành thanh trừng các phần tử chống đối, trong nghị quyết ngày  
5/1/1930 Ban chấp hành Trung ương Đảng nêu “hoàn thành tập thể hóa toàn bộ nền  
nông nghiệp và thủ tiêu culắc (phú nông) với tư cách là một giai cấp”28. Theo đó, đưa  
các phú nông chống đối vào trại tập trung hoặc ra khỏi nơi cư trú tới những miền xa  
vắng ở phía Bắc và Sibir. Điều này, trái với tinh thần tập thể hóa nông nghiệp phải dựa  
trên tinh thần tự nguyện.  
28 Nguyễn Quốc Hùng - Nguyễn Thị Thư, 2002, Lược sử Liên Bang Nga 1917-1991, Nxb Giáo dục, Hà Nội,  
tr.90.  
343  
Đợt di dân lần hai diễn ra vào thời kì cuộc chiến tranh vệ quốc (1941 – 1945).  
Trong các văn kiện, sắc lệnh chính thức lúc bấy giờ nguyên nhân của các đợt di dân  
các dân tộc ít người được lí giải là nhà nước muốn cố gắng giảm bớt căng thẳng dân  
tộc ở nhiều vùng của đất nước nhằm ổn định tình hình chính trị, tiêu diệt thổ phỉ, trừng  
trị những kẻ phản bội theo phát xít chống lại nhân dân và chính quyền Xô Viết. Trong  
thời kì này, một số dân tộc ở Bắc Kavkaz, vùng Volga như Chechnya, Balkar,  
Karmuk…bị chuyển sang phía Đông vì lí do hợp tác với phát xít. Người Đức ở Nga là  
một cộng đồng lớn, sống tập trung chủ yếu ở hạ lưu sông Volga, họ được chuyển sang  
phía Đông theo sắc lệnh ngày 28/8/1941 vì lí do an ninh. Người Do Thái bị kì thị, kết  
tội quy lụy phương Tây, hoạt động lật đổ và gián điệp.  
Stalin đã từng công khai đề cao vai trò của người Nga “Dân tộc Nga đã giành  
được trong cuộc chiến tranh này (Chiến tranh thế giới thứ hai) quyền được công nhận  
29  
là người dẫn dắt của toàn liên bang” , hay tại buổi tiệc mừng chiến thắng ngày  
24/5/1945 Stalin đã giành lời ca ngợi nhân dân Nga và dân tộc Nga “Tôi (Stalin) xin  
nâng cốc chúc mừng sức khoẻ của nhân dân Xô Viết chúng ta và trước hết chúc mừng  
sức khỏe nhân dân Nga…Vì đó là dân tộc lỗi lạc nhất trong tất cả các dân tộc hợp  
thành liên bang Xô Viết...Vì trong tất cả các dân tộc trên đất nước chúng ta, nhân dân  
Nga đã được nơi nơi, người người công nhận là lực lượng lãnh đạo của Liên Xô trong  
cuộc đấu tranh này…vì nhân dân Nga rất xuất chúng với trí tuệ sáng suốt, ý chí kiên  
cường đức tính nhẫn nại…” 30. Trong thời kì Stalin nắm quyền, những mâu thuẫn dân  
tộc ở Liên Xô bắt đầu có biểu hiện gay gắt nhưng nó đã bị che đậy bởi việc xác lập thể  
chế tập trung cao độ. Đặc điểm của chính sách dân tộc thời Stalin có những nét cơ bản:  
Thứ nhất, quản lí quá tập trung, một trong những đặc trưng chủ yếu của chủ nghĩa liên  
bang là phân chia quyền lực giữa trung ương và các cơ quan quyền lực ở các nước  
cộng hòa thì thực tế đã mất đi hiệu lực, xóa nhòa hoàn toàn; Thứ hai, về chính sách  
ngôn ngữ, bằng chỉ thị năm 1938 bắt buộc học tiếng Nga trong các trường phổ thông  
dân tộc. Trong khi đó, nguyên tắc của Lênin về việc học tiếng Nga là tự nguyện; Thứ  
ba, bộ máy nhà nước trung ương và địa phương những năm 40 không phản ánh tính  
chất của một đất nước liên bang đa sắc tộc, dân tộc. Nhìn chung, chính sách dân tộc  
của Stalin bề ngoài không bác bỏ nguyên tắc của Lênin là mọi nước cộng hòa, mọi dân  
tộc, mọi ngôn ngữ đều bình đẳng nhưng trên thực tế việc thực thi không hoàn toàn  
tuân thủ theo nguyên tắc bình đẳng.  
2.1.2. Thời kì N.S. Khrushchov (1956-1964)  
Chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước Xô Viết thời kì này có những thay  
đổi theo hướng trao nhiều quyền tự chủ hơn cho các nước cộng hòa liên bang nhằm  
củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Sau Đại hội XXII của Đảng Cộng sản Liên Xô  
(năm 1956) thì các dân tộc thiểu số bị cưỡng bức, di cư thời kì Stalin đã được phục hồi  
danh dự “tháng 4/1956 người Tácta-Crưm, người Bankac, Meskhetian, Khemsn, người  
Cuốc… được trả tự do khỏi các trại lao động tập trung. Vào tháng 1/1957 nước cộng  
hòa tự trị Chenhen-Trgusơ tái xuất hiện, vùng tự trị Kan-mức được thành lập, cộng  
hòa tự trị Kabardin lại trở thành cộng hòa tự trị Kanbardino-Bankac và vùng tự trị  
Cherkess, được đổi thành vùng tự trị Karachai và Cherkess. Đến tháng 8/1958 vùng tự  
29 Nguyễn Quốc Hùng - Nguyễn Thị Thư, 2002, Lược sử Liên Bang Nga 1917-1991, Nxb Giáo dục, Hà Nội,  
tr.164.  
30 Nguyễn Quốc Hùng - Nguyễn Thị Thư, 2002, Lược sử Liên Bang Nga 1917-1991, Nxb Giáo dục, Hà Nội,  
tr.140  
344  
trị Kan-múc được nâng thành cộng hòa tự trị như trước kia” 31. Trước đó các sắc lệnh  
phục hồi cho các dân tộc đã được ban hành như sắc lệnh tháng 7/1954 công nhận địa  
vị hợp pháp của các dân tộc bị trừng phạt, sắc lệnh tháng 12/1955, người Đức trở  
thành dân tộc đầu tiên được trả tự do khỏi các trại lao động và khôi phục quyền tự do  
công dân. Đây là những việc làm có ý nghĩa quan trọng, góp phần khắc phục hậu quả  
dưới thời Stalin đối với các dân tộc trong liên bang.  
Tuy nhiên, việc phục hồi và trả lại lãnh thổ của các dân tộc bị trừng phạt đã gây  
ra sự xáo trộn căng thẳng ở các nước cộng hòa trong một thời gian như việc chính phủ  
liên bang cho phép người Chechnya trở về Kavkaz nhưng bản đồ của nước cộng hòa  
này đã không được khôi phục một cách nguyên trạng như trước kia. Người Đức ở phía  
bờ sông Volga được trút bỏ những lời buộc tội nhưng không được trở về nơi sinh sống  
như trước kia và khôi phục lại tài sản. Người Tatar được phục hồi lại danh dự nhưng  
không được khôi phục quyền tự trị về dân tộc, không được phép trở về nơi cư trú cũ.  
Nhà nước Xô Viết vẫn coi tiếng Nga là ngôn ngữ chính thức của liên bang, là phương  
tiện thống nhất, phương tiện để hiện đại hóa đất nước. Đại hội lần XXII (năm 1961) đã  
thông qua cương lĩnh của Đảng, tuyên bố tiếng Nga là thứ tiếng của tất cả các dân tộc.  
Cải cách giáo dục 1958 đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu học tiếng Nga như ngôn ngữ thứ  
hai. Bên cạnh đó, việc tăng cường di dân (chủ yếu là người Nga) đến vùng các dân tộc  
ít người đẩy mạnh việc “Nga hóa” các dân tộc, làm cho mối quan hệ không thiện cảm  
của các dân tộc ngày càng thêm căng thẳng. Ở tất cả các nước cộng hòa đều có người  
Nga sinh sống, dân tộc Nga di dân đến các vùng dân tộc ít người quá nhiều làm cho tỉ  
lệ dân số tại chổ giảm xuống thấp và về những mặt nào đó đã gây thiệt hại đến lợi ích  
các dân tộc bản địa.  
2.1.3. Thời kì L.I.Brezhnev (1964-1982)  
Chính sách dân tộc thời kì Brezhnev nói chung vẫn tiếp tục đường lối do Đại  
hội lần XXII vạch ra. Ban lãnh đạo đất nước kiên trì thực hiện chủ trương hình thành  
một cộng đồng dân tộc mang tính chất lịch sử - nhân dân Xô Viết. Tiếng Nga vẫn  
được coi là phương tiện học tập và giao tiếp chung, từ năm 1978 – 1979 ban hành  
nhiều sắc luật để thúc đẩy dạy tiếng Nga ở các nước cộng hòa dân tộc. Thêm vào đó là  
việc quản lý của nhà nước ở các vùng lại có tính chất phiến diện, coi thường các đặc  
điểm lãnh thổ riêng biệt.  
Trong giai đoạn này, chính sách về giáo dục dân tộc của nhà nước Xô Viết đạt  
những thành tựu to lớn, cho đến năm 1970 tất cả các nước cộng hòa đã hoàn thành phổ  
cập giáo dục cấp II theo chương trình 7 năm. Tuy vậy, nhiều nước cộng hòa dân tộc  
không đào tạo đủ đội ngũ chuyên gia thuộc tất cả các ngành, chuyên gia các ngành văn  
hóa, giáo dục và khoa học xã hội có đủ nhưng các ngành khoa học tự nhiên lại thiếu,  
nhất là vùng Trung Á. Tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển công  
nghiệp của các nước cộng hòa dân tộc. Vấn đề ưu tiên phát triển công nghiệp nặng và  
các vùng công nghiệp là tư tưởng chủ đạo của Stalin vẫn được coi là một quy luật  
tuyệt đối để phát triển công nghiệp xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là xây dựng và phát  
triển kinh tế ở vùng trung tâm Liên Xô, còn ở các vùng biên cương, kinh tế vẫn kém  
phát triển, đời sống kinh tế, văn hóa của các dân tộc thiểu số vẫn hết sức lạc hậu  
“chính sách của chính quyền trung ương nhằm hình thành một dân tộc Xô Viết với  
31 Nguyễn Quốc Hùng - Nguyễn Thị Thư, 2002, Lược sử Liên Bang Nga 1917-1991, Nxb Giáo dục, Hà Nội,  
tr.203  
345  
tiếng Nga là ngôn ngữ chung và vai trò chủ đạo thuộc về người Nga trong bộ máy  
Liên Bang đã gây sự lo ngại của các dân tộc trong liên bang về một sự Nga hóa, chính  
trong thời kỳ này, thời kỳ mà người ta cho rằng vấn đề dân tộc đã được giải quyết căn  
bản” 32. Brezhnev đã phát biểu trong báo cáo tổng kết tại Đại hội Đảng Cộng sản Liên  
Xô lần thứ XXIV: trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, trên đất nước Liên Xô  
đã hình thành nên cộng đồng có tính chất lịch sử mới của con người nhân dân Xô Viết.  
Còn trong Cương lĩnh sữa đổi của Đảng Cộng sản Liên Xô được thông qua tại Đại hội  
lần XXVII đã sửa “cộng đồng có tính lịch sử mới” thành “công đồng xã hội và quốc tế  
mới” nghĩa là ở Liên Xô lúc đó không còn dân tộc nữa. Nhìn chung, mục tiêu nhất thể  
hóa các dân tộc tỏ ra càng xa rời thì chính sách dân tộc của Liên Xô bộc lộ nhiều điều  
bất cập. Việc các nhà lãnh đạo Liên Xô tuyên bố như trên hoàn toàn không phù hợp  
với thực tế khách quan của sự phát triển của xã hội loài người nói chung cũng như sự  
phát triển của xã hội Liên Xô nói riêng.  
2.1.4. Thời kì M.S.Gorbachov (1982 – 1991)  
Đại hội lần thứ XXVII của Đảng Cộng sản Liên Xô lại một lần nữa khẳng định  
dứt khoát rằng vấn đề dân tộc ở Liên Xô đã được giải quyết. Năm 1989 khi Gorbachov  
tiến hành chủ trương “dân chủ hóa, công khai hóa” thì những uất ức những hận thù  
dân tộc trên đất nước đa dân tộc này được cơ hội bùng phát, các khuynh hướng dân tộc  
chủ nghĩa ngày càng lan rộng làm rõ mâu thuẫn dân tộc là vấn đề đã âm ĩ trong một  
thời gian dài kiềm nén, bị che đậy đi bởi sự tập trung quyền lực cao độ. Trong báo cáo  
chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Liên Xô ngày 19/9/1989 Gorbachov đã phải  
thừa nhận rằng vấn đề dân tộc ở Liên Xô thực sự còn gay gắt, “xung đột”, “bi kịch”,  
“xô xát” liên tiếp xảy ra, không có một ngày yên bình. Thực tế, dưới thời cầm quyền  
của Gorbachov thì mâu thuẫn dân tộc ở Liên Xô bùng phát và bắt đầu phát triển theo  
diện rộng. Tháng 8/1985 tại các nước cộng hòa như Armenia, Azerbaijan, Gruzia,  
Uzbekistan, Tajikistan, Moldova và 3 nước cộng hòa vùng Baltic liên tiếp xảy ra  
những vụ tranh chấp, xung đột dân tộc, sắc tộc. Đầu năm 1988 cuộc xung đột giữa  
Armenia và Azerbaijan về vấn đề Nagorno -Karabakh. Ở Gruzia, tháng 3/1989 khu tự  
trị Abkhazia mít tinh đòi thành lập nước cộng hòa liên bang, yêu cầu rút khỏi Liên Xô.  
Ngày 9/4/1989 diễn ra “vụ Tbilisi”, ở Baku (1/1990), ở Vinius và Riga (1/1991). Tại  
vùng Trung Á ở Uzbekistan vào tháng 6/1989 nổ ra bạo loạn giữa người theo đạo Hồi  
và người Uzbekistan. Ở Moldova diễn ra cuộc tranh chấp đòi thay đổi chữ viết từ kí tự  
Slav sang kí tự Latinh, đòi dùng tiếng Moldova làm tiếng chính thức. Tháng 8/1987  
các lực lượng đối lập của các nước cộng hòa vùng Baltic khởi xướng phong trào đòi  
tách khỏi Liên Xô.  
Trước những diễn biến của mâu thuẩn, xung đột sắc tộc ngày càng trở nên gay  
gắt diễn ra, chính quyền liên bang đã đề ra những nhiệm vụ chiến lược và những  
phương hướng cơ bản cho chính sách dân tộc. Thứ nhất, hoàn thiện chế độ liên bang  
Xô Viết, bổ sung nội dung kinh tế và chính trị thực tế. Thứ hai, mở rộng quyền và khả  
năng của tất cả các dạng tự trị dân tộc. Thứ ba, đảm bảo các quyền bình đẳng cho các  
dân tộc. Thứ tư, tạo điều kiện để phát triển tự do các nền văn hoá và ngôn ngữ dân tộc.  
Thứ năm, củng cố những bảo đảm loại trừ quyền chèn ép các quyền của các công dân  
theo đặc trưng dân tộc. Thứ sáu, đổi mới toàn bộ công tác nghiên cứu khoa học và giáo  
dục, công tác tư tưởng trong lĩnh vực quan hệ dân tộc. Thứ bảy, trong việc giao tiếp  
32 Nguyễn Quốc Hùng - Nguyễn Thị Thư, 2002, Lược sử Liên Bang Nga 1917-1991, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.  
239 – 240.  
346  
giữa các dân tộc khẳng định sự tôn trọng lẫn nhau của các truyền thống lịch sử và đặc  
thù dân tộc, coi trọng những quyền lợi kinh tế và tinh thần từng dân tộc. Đây là những  
vấn đề nằm trong cương lĩnh của Đảng cộng sản Liên Xô năm 1989 với nhiệm vụ  
quan trọng nhất được đề ra để giải quyết vấn đề dân tộc là lập ra cơ chế nhà nước hữu  
hiệu, cơ chế kinh tế và xã hội, đảm bảo sự kết hợp hữu cơ những lợi ích và giá trị quốc  
tế và dân tộc. Nhiệm vụ này sẽ không tách rời cải tổ các quan hệ kinh tế, xã hội, chính  
trị. Nó chỉ có thể giải quyết trên con đưòng dân chủ hoá xã hội Xô Viết và khẳng định  
chế độ tự quản xã hội chủ nghĩa của nhân dân.  
Trước đó, vào tháng 4/1985 chính quyền liên bang đã thực hiện Chương trình  
cải cách kinh tế, chính trị. Về vấn đề dân tộc và các quyền của công dân, Cương lĩnh  
cải tổ nêu rõ “nhiệm vụ quan trọng nhất của việc củng cố sự hợp tác giữa các dân tộc  
Xô Viết và đồng thời của việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là thực hiện đầy  
đủ và triệt để trong đời sống có tính nguyên tắc Hiến pháp về quyền bình đẳng giữa  
các công dân, không lệ thuộc vào nguồn gốc dân tộc, chủng tộc và tôn giáo của họ” 33.  
Trong bài phát biểu của Gorbachov vào tháng 7/1989 đã đề cập “…giải quyết đúng  
đắn vấn đề quan hệ giữa các dân tộc sẽ quyết định phần lớn sự an ninh và yên ổn của  
mọi người, vận mệnh của cải tổ tức là số phận và sự toàn vẹn của quốc gia chúng ta.  
Tất cả chúng ta thật sự không thể không lo ngại gần thời gian qua ở nơi này, nơi kia  
xuất hiện sự bất bình, sự rạn nứt kể cả xung đột trên cơ sở dân tộc. Những xung dột  
đang đẩy mọi người ra khỏi cuộc sống bình thường…” 34  
Những quan điểm của Đảng Cộng sản Liên Xô và Gorbachov đưa ra để giải  
quyết vấn đề dân tộc đang trở thành mối quan tâm hàng đầu ở liên bang là rất đúng, để  
cứu vãn những gì đang xảy ra nhưng tất cả đã quá muộn. Thời kì Gorbachov nằm  
quyền chỉ là để chứng kiến sự tan rã của liên bang bởi những mâu thuẫn xung đột sắc  
tộc, dân tộc vốn đã âm ĩ từ nhiều thập niên qua. Đảng Cộng sản Liên Xô và nhà nước  
liên bang phải áp dụng một số biện pháp nhằm giải quyết cấp bách vấn đề dân tộc,  
nhưng hành động lại không cương quyết, dứt khoát và tiến hành chậm nên không thể  
nào chặn đứng được chủ nghĩa chia rẽ dân tộc đang ngày càng lan rộng trên khắp đất  
nước. Kết quả là ngày 11/3/1990 Lítvia dẫn đầu tuyên bố độc lập, sau đó lần lượt là  
Estonia, Latvija và Moldova tuyên bố về địa vị nước nhà, hàng loạt các nước cộng hòa  
khác cũng lần lượt tuyên bố theo đuổi đường lối đối nội, đối ngoại riêng.  
Vào trung tuần tháng 8/1991 cuộc khủng hoảng ở Liên Xô đã lên đến đỉnh điểm  
và kết quả là xảy ra cuộc chính biến ngày 19/8. Cuộc đảo chính không thành công đã  
gây ra hậu quả nghiêm trọng, ngày 6/11, tổng thống Nga Enxin ra sắc lệnh thủ tiêu bộ  
máy nhà nước của Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Nga, trên toàn lãnh thổ  
Nga một làn sóng chống chủ nghĩa xã hội được dấy lên. Ngày 21/12/1991 tại Alma-  
Ata 11 nước cộng hòa trong liên bang Xô Viết đã ký nghị định thư thành lập Cộng  
đồng các quốc gia độc lập (SNG) và ra tuyên ngôn Alma-Ata, tuyên bố Liên Xô không  
còn tồn tại nữa. Sự kiện chính trị quan trọng này đã đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của  
chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và sự tan rã của nhà nước đa dân tộc lớn nhất trên thế giới.  
2.2. Tác động của chính sách dân tộc dẫn đến sự tan rã của Liên bang Xô Viết  
Trong quá trình tồn tại của liên bang Xô Viết, nhiều tài liệu chính trị và khoa học  
đã chứng minh tính bền vững của liên bang. Phải khách quan thừa nhận, liên bang Xô  
33 Lê Ngọc Ái, 1990, Quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc trong CNXH, Viện thông tin KHXH, Hà Nội tr.58.  
34 Lê Ngọc Ái, 1990, Quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc trong CNXH, Viện thông tin KHXH, Hà Nội, tr.25.  
347  
Viết đã phải vượt qua rất nhiều thử thách để tồn tại và phát triển trong đó khó khăn, gian  
khổ nhất là trong những năm của cuộc chiến tranh vệ quốc (1941 – 1945). Công cuộc  
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đạt được nhiều thành tựu đều là sự chung tay góp  
sức của tất cả các dân tộc trong liên bang. Điều đáng tiếc, một số nhận định đã quá  
cường điệu coi như ở Liên Xô mọi vấn đề đã được giải quyết xong, đã xây dựng được  
chủ nghĩa xã hội phát triển và bắt đầu xây dựng Chủ nghĩa cộng sản, trong đó có cả vấn  
đề dân tộc. Trong báo cáo của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tại Đại hội  
Đảng lần thứ XXVII: Nhân dân Xô Viết hiện nay là một khối cộng đồng xã hội và quốc  
tế, mới về chất, nhất trí về lợi ích kinh tế, tư tưởng và mục đích chính trị.  
Cách mạng Tháng Mười nổ ra phá tan nhà tù của các dân tộc. Để thành công và  
xây dựng một nhà nước mới, cách mạng phải có sự liên hiệp và thống nhất của các dân  
tộc chịu sự áp bức của chế độ Nga hoàng với khẩu hiệu “các dân tộc bị áp bức hãy  
vùng lên”. Sức mạnh của cuộc cách mạng tháng Mười là ở đó, song cũng chính ở đó  
tiềm ẩn những vấn đề sâu sắc trong quan hệ của các dân tộc. Theo con đường phát  
triển của lịch sử tự nhiên, thì mỗi dân tộc phải trãi qua quá trình hình thành, phát triển  
đầy đủ về mọi mặt, mọi lĩnh vực, phải phát triển và hoàn thiện mọi bản sắc của nó,  
phải có được chủ quyền của nó trước khi hòa nhập với những tộc người khác để tạo ra  
một cộng đồng dân tộc thống nhất. Nhưng ở Liên Xô do nhiều nguyên nhân chủ quan  
và khách quan, các tộc người, dân tộc ít người đã không có điều kiện phát triển trọn  
vẹn. Do đó, nhu cầu tự khẳng định, bảo lưu bản sắc văn hóa dân tộc luôn tồn tại và chờ  
có điều kiện là khởi phát bùng lên. Đến lúc trước khi bị sụp đổ, trên lãnh thổ Liên Xô  
đã có hơn 100 dân tộc sinh sống. Số dân 281,7 triệu người (thống kê ngày 1/8/1987).  
Bộ phận cơ bản của dân tộc Liên Xô đi vào thành phần của 5 ngữ hệ: Ấn – Âu 79,4%  
toàn bộ cư dân, Altai (16,2%), Ural (1,6%), KavKaz (1,2%), Kartvel (1,4%). Các dân  
tộc ở Liên Xô khác nhau cơ bản về số dân. Hơn 20 dân tộc có số dân hơn 10 triệu  
người chiếm 96,2% dân số toàn liên bang. Đông nhất là người Nga (137 triệu), Ukaine  
(42 triệu), Ucbets (12 triệu), Belarus (9,5 triệu),…Có hơn 30 dân tộc có số dân từ  
100.000 đến 2 triệu người tạo thành 3,4 % cư dân, còn lại hàng chục dân tộc chỉ gồm  
1000 người và ít hơn chiếm 0,4% dân số. Lịch sử của một số dân tộc còn được đo  
bằng niên kỷ của một số tộc người khác về thực chất chỉ hình thành sau khi cách mạng  
Tháng Mười Nga thành công 35.  
Sự sụp đổ của liên bang bắt nguồn từ sự không đúng đắn, không khoa học của  
mô hình CNXH được xây dựng qua nhiều thập kỷ ở Liên Xô. Trong đó, sự yếu kém về  
kinh tế đã không tạo ra được đầy đủ những tiền đề kinh tế để giải quyết vấn đề dân tộc.  
Những cơ sở lí luận về đường lối và chính sách trong việc giải quyết vấn đề dân tộc ở  
Liên Xô do Lênin vạch ra là đúng đắn, trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện. Khi thành lập  
liên bang Lênin đã bày tỏ quan điểm về vấn đề dân tộc, vấn đề tự trị hóa. Lênin đã đưa  
ra các quan điểm và các nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề dân tộc ở Nga: Thứ  
nhất, thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc trên thực tế; Thứ hai, cải tổ bộ máy Xô  
Viết, giữ lại liên minh các nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết trên lĩnh vực quân  
sự và ngoại giao; Thứ ba, bảo đảm quyền tự do sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc36.  
Sau khi Lênin mất, cùng với việc thiết lập một nhà nước liên bang thì quan hệ giữa các  
nước cộng hòa với trung ương đã trở thành những quan hệ một chiều phụ thuộc, nội  
35 Lê Ngọc Ái, 1990, Quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc trong CNXH, Viện thông tin KHXH, Hà Nội, tr.89  
– 90.  
36 V.I. Lênin toàn tập, 1978, Nxb Tiến bộ Mátcơva, tập 45, tr.412- 413.  
348  
dung chính của cương lĩnh dân tộc bị vi phạm nghiêm trọng. Trong đó quyền dân tộc  
tự quyết đã không được thực hiện trọn vẹn “Quyền dân tộc tự quyết có nghĩa là sự  
phân lập của các dân tộc đó, với tư cách là quốc gia ra khỏi các tập thể dân tộc khác  
có nghĩa là sự thành lập một quốc gia dân tộc độc lập”37. Quyền dân tộc tự quyết hoàn  
toàn chỉ có nghĩa là các dân tộc có quyền được độc lập về chính trị, có quyền được tự  
do phân lập về mặt chính trị khỏi dân tộc áp bức.  
Qua thực tiễn lịch sử cho thấy, vấn đề dân tộc là một vấn đề khó khăn nhất,  
phức tạp nhất trong lịch sử loài người. Vấn đề này nảy sinh và hình thành từ lịch sử  
với những nhận thức, định kiến lâu đời, vì thế không dễ dàng gì giải quyết nhanh  
chóng mà phải trải qua những thử thách và kiểm nghiệm lịch sử để từng bước cải tạo  
và biến đổi. Mặc khác, khi trên thế giới còn có các giai cấp đa dân tộc và trong các  
quốc gia đó còn có sự áp bức giai cấp và bức dân tộc thì chừng đó mâu thuẫn dân tộc  
vẫn còn cơ sở xã hội và thực tiễn để bùng phát. Để các dân tộc sinh sống hòa thuận  
trong một quốc gia nhiều thành phần dân tộc thì Đảng, giai cấp, tổ chức chính trị cầm  
quyền phải nhận thức và đảm bảo các quyền như: Quyền được sinh tồn trong đó bao  
gồm cả việc nhà nước công nhận sự tồn tại của các cộng đồng dân tộc nhằm tránh việc  
hòa tan các dân tộc ít người vào các dân tộc đông hơn, ít người nhưng vẫn tồn tại.  
Quyền tự xác định thành phần dân tộc mình. Quyền tự quyết, tự quản và chủ quyền  
của dân tộc. Quyền bảo lưu bản sắc văn hóa dân tộc trong đó có ngôn ngữ, các di sản  
văn hóa dân tộc, truyền thống dân tộc. Quyền kiểm soát và sử dụng các nguồn tài  
nguyên thiên nhiên. Quyền được tiếp xúc và sử dụng thành tựu của nền văn minh thế  
giới. Quan trọng là quyền cá nhân cho tất cả các dân tộc phải được đảm bảo, không  
được phép phân biệt nguồn gốc dân tộc của cá nhân.  
3. Kết luận  
Từ việc sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã cho Việt Nam bài học kinh  
nghiệm, trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc  
phải được coi là một trong những điều rất cơ bản và rất cần thiết. Tăng cường đoàn kết  
dân tộc luôn là một nhiệm vụ quan trọng phải được quán triệt và thực hiện nghiêm  
chỉnh. Cần thực hiện tốt sự bình đẳng giữa các dân tộc coi trọng việc phát triển kinh tế  
- xã hội- văn hóa ở các vùng dân tộc thiểu số, ổn định tình hình chính trị xã hội trên  
mọi miền của đất nước, đẩy mạnh hơn sự nghiệp đổi mới một cách toàn diện và triệt  
để để xây dựng Việt Nam ngày càng phồn vinh hiện đại, thực hiện thắng lợi mục tiêu  
dân giàu nước, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hiến Pháp nước  
Cộng hòa chủ nghĩa xã hội Việt Nam đã ghi rõ: Nhà nước Cộng hòa chủ nghĩa xã hội  
Việt Nam là nhà nước thống nhất các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.  
Lịch sử của một trong những trang bi hùng của thời đại đã khép lại nhưng có thể  
khẳng định rằng sự sụp đổ mô hình dân tộc ở Liên bang Xô Viết không phải bắt nguồn  
từ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà là do những nội dung, chính sách và biện  
pháp cụ thể đã thực hiện không đúng đắn, thiếu khoa học, mắc nhiều sai lầm nghiêm  
trọng. Chủ nghĩa xã hội vẫn là lí tưởng cao đẹp của loài người tiến bộ và sự nghiệp giải  
phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã  
hội vẫn là con đường đúng đắn và khoa học để các dân tộc bị áp bức noi theo.  
37 V.I. Lênin toàn tập, 1978, Nxb Tiến bộ Mátcơva, tập 45, tr. 68.  
349  
Tài liệu tham khảo  
[1]. Lê Ngọc Ái, 1990, Quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc trong CNXH, Hà  
Nội, Viện thông tin KHXH.  
[2]. Hà Mỹ Hương, 2004, Về quan hệ dân tộc hiện nay ở các nước thuộc Liên bang  
Xô Viết và Liên bang Nam Tư cũ, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử Đảng, số 1.  
[3]. Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Thị Thư, 2002, Lược sử Liên Bang Nga 1917-  
1991, Hà Nội, Nxb Giáo dục.  
[4]. Tiêu Phong, 2004, Hai chủ nghĩa một trăm năm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà  
Nội.  
[5]. Nguyễn Anh Thái, 1994, Sự sụp đổ của một mô hình dân tộc và đôi điều suy  
nghĩ về nhận thức vấn đề dân tộc trong bối cảnh hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu  
Lịch sử số 2.  
[6]. Nguyễn Chí Tình, 1999, Mâu thuẫn dân tộc và sắc tộc phải chăng là định  
mệnh, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 6.  
[7]. V.I. Lênin toàn tập, 1978, tập 45, Moscow, Nxb Tiến bộ.  
[8]. V.I.Lênin, 1984, Về quyền dân tộc tự quyết, Moscow, Nxb Tiến bộ.  
pdf 8 trang Thùy Anh 25520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chính sách dân tộc – một nguyên nhân tan rã của Liên bang Xô Viết", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchinh_sach_dan_toc_mot_nguyen_nhan_tan_ra_cua_lien_bang_xo_v.pdf