Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà nước

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
TRÁCH NHIỆM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CỦA NHÀ NƯỚC  
Phạm Thị Duyên Thảo  
TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Trợ giúp pháp lý, trách  
nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà  
nước, Luật Trợ giúp pháp lý  
năm 2017.  
Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà nước đã được pháp luật quốc tế  
ghi nhận trong tương quan với quyền được trợ giúp pháp lý của người  
dân. Một hệ các quy chuẩn và hướng dẫn cụ thể về vấn đề này cũng đã  
được gợi ý cho các nước trong những văn kiện quốc tế liên quan. Tham  
chiếu với các văn kiện đó cho thấy, pháp luật hiện hành của Việt Nam  
đã có những quy định cơ bản, thể hiện độ tương thích nhất định, nhưng  
cũng còn những bất cập cần tiếp tục được hoàn thiện nhằm góp phần  
nâng cao hiệu quả của hoạt động trợ giúp pháp lý, bảo đảm quyền con  
người, quyền công dân.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 10/02/2021  
: 04/3/2021  
: 07/3/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Keywords: Legal aid; the state's  
legal aid responsibilities, Law on  
Legal Aid of 2017.  
The state's legal aid responsibility has been recognized in international laws  
in relation to the people's right to legal aid. Aportfolio of specific standards  
and guidelines on this issue has also been recommended to the countries  
in relevant international documents. References to those documents show  
that the current law of Vietnam has basic provisions, reflecting certain  
compatibility, but there are also shortcomings that need to be review for  
further improvements in order to contribute to improving the quality of  
legal aid activities, ensuring human rights, and citizens' rights.  
History:  
Received  
Edited  
: 10 Feb. 2021  
: 04 Mar. 2021  
: 07 Mar. 2021  
Approved  
Trợ giúp pháp lý (TGPL) là việc cung  
cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho đối tượng  
được trợ giúp pháp lý nhằm bảo vệ quyền,  
lợi ích hợp pháp của đối tượng này; nâng  
cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng  
và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc  
phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công  
lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa,  
hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.  
Quyền được TGPL là một quyền con người  
cơ bản, thuộc nội hàm của quyền tiếp cận  
tư pháp, “là cơ sở cho việc thụ hưởng các  
quyền khác, bao gồm quyền được xét xử  
công bằng và là một biện pháp bảo vệ quan  
trọng để bảo đảm sự công bằng cơ bản và  
niềm tin của công chúng đối với quá trình  
tư pháp...”1. Bản chất của quyền TGPL là  
khả năng chính đáng của cá nhân được pháp  
luật đảm bảo, được tiếp cận hệ thống dịch  
vụ tư vấn pháp lý miễn phí, được đại diện  
và được xét xử một cách công bằng mà  
không phải trả tiền.  
1. Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà  
nước trong các văn kiện quốc tế  
Nhu cầu được TGPL luôn tồn tại trong  
xã hội và có xu thế ngày một tăng; do đó,  
nếu để xã hội tự đáp ứng, sẽ có nhiều vấn  
đề nảy sinh, từ sự đa dạng, phức tạp về chủ  
thể, đối tượng, tính chất các vụ việc. Những  
đối tượng thuộc diện TGPL là những người  
1 Hướng dẫn của Liên hợp quốc (LHQ) về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình sự (Nguyên  
nghien-cuu-trao-doi/gioi-thieu-huong-dan-cua-lien-hop-quoc-ve-tiep-can-tro-giup-phap-ly-trong-tu.  
Số 09(433) - T5/2021  
11  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
gặp những khó khăn nhất định, mà đôi  
khi không phải do bản thân người đó; nếu  
không có sự can thiệp, hỗ trợ, họ không thể  
hoặc hiếm có được cơ hội như người khác  
trong tiếp cận công lý.  
gia cần bảo đảm quyền được TGPL trong  
hệ thống pháp luật quốc nội ở mức độ cao  
nhất có thể, bao gồm cả Hiến pháp2. Luật  
hóa quyền TGPL của công dân là một trong  
những trách nhiệm của Nhà nước, tạo cơ sở  
pháp lý cho việc xây dựng cơ chế bảo đảm  
thực hiện TGPL cho công dân. Để thực hiện,  
Nhà nước phải có các kế hoạch, chương trình  
hành động cụ thể nhằm đảm bảo cho công  
dân có quyền được TGPL. Thông qua pháp  
luật, quyền TGPL được quy định rõ ràng, từ  
đó xác định khung khổ hành động của các  
chủ thể công quyền, hạn chế sự lạm quyền  
vốn dễ xảy ra trong quá trình thực thi.  
Nhà nước là chủ thể chính thức và chủ  
yếu của quan hệ pháp luật, trong đó có quan  
hệ liên quan đến nhân quyền. Quyền được  
TGPL là quyền cơ bản, Nhà nước là tổ chức  
thích hợp nhất cho việc đáp ứng cam kết,  
chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế và sử dụng  
nguồn lực, cũng như phát triển các quan hệ  
hợp tác trong lĩnh vực TGPL. Bên cạnh đó,  
TGPL là hoạt động không sinh lợi trực tiếp  
đối với chủ thể thực hiện, nếu không có sự  
can thiệp của Nhà nước, các chủ thể khác  
có thể không muốn làm hoặc không đủ khả  
năng làm, dẫn đến tính bền vững của hoạt  
động TGPL bị hạn chế.  
- Bảo đảm nguyên tắc không phân biệt,  
bình đẳng trong quá trình cung cấp TGPL:  
Khi cung cấp dịch vụ TGPL, Nhà nước phải  
đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử  
về tất cả các khía cạnh: “giới, chủng tộc,  
màu da, tôn giáo, tài sản, quan điểm chính  
trị và các quan điểm khác, quốc tịch, dân  
tộc, tư cách công dân hoặc nơi ở, nơi sinh,  
trình độ giáo dục, địa vị xã hội và các vấn đề  
khác”3, “bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận  
TGPL cho phụ nữ, trẻ em hoặc nhóm người  
có nhu cầu đặc biệt, người tị nạn, người di  
cư, người dân tộc thiểu số, nạn nhân bị mua  
bán, người già và những người khuyết tật”4.  
Trách nhiệm TGPL của Nhà nước đã  
được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế  
như: Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948  
(Điều 10), Công ước quốc tế về các quyền  
dân sự và chính trị năm 1966 (Điều 14),  
Công ước chống phân biệt đối xử với phụ  
nữ năm 1981 (Điều 2), Công ước quốc tế  
về quyền trẻ em năm 1982 (Điều 37), Công  
ước quốc tế về quyền của người khuyết tật...  
Trong các văn kiện pháp lý quốc tế nêu  
trên, trách nhiệm của Nhà nước là bảo đảm  
quyền TGPL của công dân được thể hiện ở  
các khía cạnh sau:  
- Bảo đảm quyền sớm được tiếp cận  
TGPL: Quyền sớm được tiếp cận TGPL là  
quyền tiếp cận với TGPL ngay từ thời điểm  
mà một người bị tình nghi, bị bắt giữ, bị  
tạm giam hoặc bị buộc tội đã phạm tội, tùy  
thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Đồng  
thời, trong suốt thời gian từ lần tiếp cận  
- Chủ động tạo cơ sở pháp lý cho việc  
đảm bảo quyền được TGPL của công dân:  
Văn kiện quốc tế khẳng định, các quốc  
2 Hướng dẫn của Liên hợp quốc (LHQ) về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình sự (Nguyên  
nghien-cuu-trao-doi/gioi-thieu-huong-dan-cua-lien-hop-quoc-ve-tiep-can-tro-giup-phap-ly-trong-tu.  
3 Luật mẫu trợ giúp pháp lý, Cơ quan phòng, chống tội phạm và ma túy của LHQ chủ trì xây dựng năm 2017,  
justice-and-prison-reform/LegalAid/Model_Law_on_Legal_Aid.pdf.  
4 Luật mẫu trợ giúp pháp lý, Cơ quan phòng, chống tội phạm và ma túy của LHQ chủ trì xây dựng năm 2017  
(Điều 5 Không phân biệt đối xử), Model Law on Legal Aid in Criminal Justice Systems with Commentaries,  
12  
Số 09(433) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
TGPL đầu tiên đó, TGPL được tiến hành  
liên tục cho tới và trong lần xuất hiện đầu  
tiên trước khi có phán quyết bởi thẩm phán  
xem người đó sẽ bị tạm giam hoặc được thả  
tự do trong thời gian chờ xét xử. Cụ thể, “từ  
thời điểm một người nhận thức được mình  
là đối tượng điều tra, kể cả trong trường hợp  
bị bắt hoặc bị tạm giữ và trong toàn bộ các  
giai đoạn của tiến trình tư pháp hình sự”5.  
Theo các Nguyên tắc và Hướng dẫn của  
Liên hợp quốc (LHQ), quyền được trợ giúp  
pháp lý là quyền cần phải được đảm bảo ở  
mức cao nhất có thể, một thẩm phán không  
nên có những suy luận hoặc kết luận bất  
lợi về việc một người bị tình nghi hoặc bị  
cáo buộc thực hiện quyền được TGPL. Việc  
bảo đảm quyền được tiếp cận sớm TGPL  
nhằm giảm thiểu nguy cơ người bị cáo  
buộc bị ngược đãi hoặc ép phải nhận tội,  
nhất là những người thuộc nhóm yếu thế,  
đồng thời, khắc phục được những hạn chế  
có thể đến từ sự thiếu kiến thức, nguồn lực  
tài chính hoặc năng lực pháp luật của các  
chủ thể. Việc đảm bảo quyền tiếp cận sớm  
TGPL đòi hỏi Nhà nước có trách nhiệm tạo  
cơ chế cho các các luật sư, cán bộ tư pháp,  
các tổ chức xã hội tham gia vào hoạt động  
giáo dục, phổ biến pháp luật, tăng cường  
kiến thức và hiểu biết của công chúng đối  
với quyền này.  
vấn đề về hành chính, dân sự và hình sự và  
các công chức có nghĩa vụ thông báo, giải  
thích các khía cạnh về thủ tục và nội dung  
của các vấn đề pháp lý cho mọi thành viên  
trong xã hội”6. “Chính phủ và các nhà tài  
trợ quốc tế đảm bảo rằng các chương trình  
hỗ trợ cho hệ thống tư pháp ở cả các quốc  
gia đang phát triển và chuyển đổi bao gồm  
việc cung cấp thông tin về TGPL và các  
biện pháp khác để tăng cường quyền tiếp  
cận công lý, đặc biệt là đối với người nghèo  
và nhóm đối tượng dễ bị tổn thương một  
cách bền vững”7. Sự đa dạng và toàn diện  
của các thông tin cần cung cấp phải phù hợp  
với các nhóm chủ thể của quyền, liên quan  
cả đến các luật hiện hành, các mô hình, quy  
trình và thủ tục có thể hỗ trợ trong TGPL.  
Việc đảm bảo cung cấp thông tin góp phần  
làm gia tăng trách nhiệm của quốc gia trong  
quá trình thực hiện nghĩa vụ TGPL.  
- Kết nối, tạo điều kiện để xã hội tham  
gia TGPL: Nhà nước cần hợp tác với các  
chủ thể có liên quan khác như các tổ chức  
phi chính phủ, các tổ chức cộng đồng, các  
tổ chức từ thiện có hoặc không có tính chất  
tôn giáo, các cơ quan, các hiệp hội nghề  
nghiệp và các tổ chức nghiên cứu và bảo  
đảm sự tham gia có hiệu quả của cộng đồng  
trong việc xây dựng các chính sách, chương  
trình và pháp luật về TGPL. Các Chính phủ  
cần sử dụng nhiều loại chủ thể để thực hiện  
TGPL như: văn phòng bào chữa công do  
Chính phủ tài trợ, các chương trình sử dụng  
luật sư, các trung tâm TGPL, các trung tâm  
thực hành nghề luật của trường đại học  
cũng như sự hợp tác với các tổ chức xã hội  
dân sự và các tổ chức tôn giáo8. Tham gia  
- Bảo đảm cung cấp thông tin, thông báo  
cho các chủ thể có thẩm quyền liên quan:  
Nhằm đảm bảo tính toàn diện của hoạt  
động TCPL cũng như đảm bảo quyền của  
nhóm được TGPL mang tính đặc thù, “các  
Chính phủ có nghĩa vụ đảm bảo việc cung  
cấp thông tin pháp luật đối với tất cả các  
5 Luật mẫu trợ giúp pháp lý, Cơ quan phòng, chống tội phạm và ma túy của LHQ chủ trì xây dựng năm 2017  
(Điều 8 Quyền được tiếp cận sớm), Model Law on Legal Aid in Criminal Justice Systems with Commentaries,  
6 Tuyên bố Ky-ép năm 2007 về trợ giúp pháp lý, https://www.legalaidrwanda.org/legal_text/Kyiv_Declaration_  
Right_to_Legal_Aid.pdf.  
7 Tlđd, https://www.legalaidrwanda.org/legal_text/Kyiv_Declaration_Right_to_Legal_Aid.pdf.  
8 Tlđd, https://www.legalaidrwanda.org/legal_text/Kyiv_Declaration_Right_to_Legal_Aid.pdf.  
Số 09(433) - T5/2021  
13  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
TGPL vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của xã  
hội trong tương quan với trách nhiệm TGPL  
của Nhà nước, vì “TGPL mang lại lợi ích  
cho xã hội bằng cách bảo vệ các cộng đồng  
lành mạnh, tiết kiệm nguồn lực, và tạo cảm  
giác an toàn cho người dân”9; qua đó, thúc  
đẩy TGPL phát triển, hiệu quả.  
TGPL, bảo đảm cho luật sư và những người  
thực hiện TGPL tránh khỏi sự quấy rầy, dọa  
dẫm và đe dọa đối với an ninh, an toàn của  
bản thân họ13.  
Như vậy, trách nhiệm của Nhà nước đã  
được các văn bản pháp lý quốc tế ghi nhận ở  
nhiều khía cạnh, từ nghĩa vụ chính thức, đảm  
bảo tính chất bền vững, nguồn tài chính cho  
TGPL, bảo đảm chất lượng đội ngũ nhân lực,  
tạo lập cơ chế để có nhiều chủ thể tham gia  
hoạt động TGPL, cho đến việc bảo đảm các  
nguyên tắc cần tuân thủ đối với từng nhóm  
chủ thể, từng hoạt động TGPL ...  
- Bảo đảm cung cấp về mặt tài chính và  
đội ngũ nhân lực có chất lượng: Các Chính  
phủ cần bảo đảm cung cấp đầy đủ tài chính  
và các nguồn lực khác cho dịch vụ pháp  
lý dành cho người nghèo và người yếu thế  
khác nếu cần thiết10; bố trí nguồn nhân lực  
và tài lực cần thiết cho hệ thống TGPL, bảo  
đảm biên chế đầy đủ cho hệ thống TGPL  
trong toàn quốc và bảo đảm các chuyên gia  
làm việc cho hệ thống TGPL quốc gia có  
trình độ và được đào tạo phù hợp với dịch  
vụ họ cung cấp11; bảo đảm quy trình tố tụng  
và cơ chế tiếp cận luật sư thuận lợi, có hiệu  
quả và bình đẳng dành cho tất cả mọi người  
mà không có bất kỳ sự phân biệt nào12.  
2. Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của  
Nhà nước theo quy định của pháp luật  
Việt Nam  
Theo quy định của Điều 2 Luật TGPL  
năm 2017, lần đầu tiên TGPL được tiếp  
cận dưới góc độ là một hoạt động. Theo  
đó, “TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp  
lý miễn phí cho người được TGPL trong vụ  
việc TGPL”. Sự thay đổi này không những  
giúp cho việc xây dựng một cơ chế TGPL  
phù hợp, mà còn góp phần xác định cụ thể  
được các trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà  
nước trong hoạt động TGPL; phân tách  
trách nhiệm TGPL với trách nhiệm giáo  
dục, phổ biến pháp luật, tránh bỏ sót nhu  
cầu TGPL của người dân.  
Bảo đảm về tài chính cho TGPL chính  
là cách Nhà nước xóa bỏ trở ngại lớn nhất  
ngăn cản các chủ thể thụ hưởng quyền  
TGPL trong quá trình tiếp cận công lý. Bảo  
đảm này cần đặt trong tương quan với bảo  
đảm quyền tiếp cận sớm với TGPL.  
- Bảo đảm môi trường an toàn cho việc  
thực hiện TGPL: Các Chính phủ cần bảo  
đảm môi trường an toàn cho việc thực hiện  
Khoản 1 Điều 4 Luật TGPL năm 2017  
tiếp tục khẳng định, TGPL là trách nhiệm  
9
Tiếp cận sớm trợ giúp pháp lý trong các quá trình tố tụng hình sự: Sổ tay cho các nhà hoạch định chính  
sách và các nhà thực tiễn, Tuyển tập ấn phẩm về tư pháp hình sự, Cơ quan Phòng, chống ma túy và tội phạm  
Vie_final.pdf.  
10  
Linh-vuc-khac/Nguyen-tac-co-ban-ve-vai-tro-cua-luat-su-1990-275828.aspx.  
11 Hướng dẫn số 13, Hướng dẫn của Liên hợp quốc về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình  
huong-dan-cua-lien-hop-quoc-ve-tiep-can-tro-giup-phap-ly-trong-tu.  
12 Điểm 2, các nguyên tắc của Liên hợp quốc năm 1990 về vai trò của luật sư, https://thuvienphapluat.vn/van-  
ban/Linh-vuc-khac/Nguyen-tac-co-ban-ve-vai-tro-cua-luat-su-1990-275828.aspx.  
13 Điểm 14 Tuyên bố Ky-ép năm 2007 về trợ giúp pháp lý, https://www.legalaidrwanda.org/legal_text/Kyiv_  
Declaration_Right_to_Legal_Aid.pdf.  
14  
Số 09(433) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
của Nhà nước”, đồng thời quy định rõ  
“chính sách về TGPL” là của “Nhà nước”.  
Quy định này bảo đảm phù hợp với chính  
sách về TGPL của Nhà nước được quy định  
trong các văn bản luật liên quan như: Luật  
Tố tụng hành chính (khoản 3 Điều 19); Bộ  
luật Tố tụng dân sự (khoản 3 Điều 9); Bộ  
luật Tố tụng hình sự (khoản 2 Điều 76).  
Mục đích của TGPL cũng được khẳng định,  
nhằm: “góp phần bảo đảm quyền con người,  
quyền công dân trong tiếp cận công lý và  
bình đẳng trước pháp luật”. Trách nhiệm  
quản lý nhà nước được giao cho Chính phủ,  
Bộ Tư pháp, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy  
ban nhân dân cấp tỉnh.  
năm 2017 quy định theo hướng tăng cường  
tính chịu trách nhiệm, hạn chế thành lập ồ  
ạt, nhằm TGPL được triển khai chất lượng,  
tránh thụ động, hình thức.  
Bên cạnh đó, Luật TGPL năm 2017 còn  
quy định tiêu chuẩn tham gia thực hiện  
TGPL đối với tổ chức hành nghề luật sư,  
tổ chức tư vấn pháp luật và quản lý chất  
lượng vụ việc TGPL; tiêu chuẩn đối với trợ  
giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện TGPL  
theo hợp đồng với Trung tâm TGPL nhà  
nước và theo phân công của tổ chức tham  
gia TGPL. Theo đó, trợ giúp viên pháp lý,  
luật sư phải trải qua tập sự, đề cao sự tham  
gia của đội ngũ luật sư, tư vấn viên pháp  
luật có kiến thức pháp luật, kinh nghiệm,  
hiệu quả làm việc tốt; trợ giúp viên pháp lý  
là viên chức nhà nước phải có trách nhiệm  
tập trung thực hiện vụ việc tố tụng, nếu  
không thực hiện trong thời gian 02 năm  
liên tục sẽ bị miễn nhiệm, trừ trường hợp do  
nguyên nhân khách quan (điểm 1 khoản 1  
Điều 22).  
Điều 5 Luật TGPL năm 2017 quy định  
Nhà nước bố trí kinh phí trong dự toán ngân  
sách hằng năm của cơ quan thực hiện quản lý  
nhà nước về TGPL theo quy định của pháp  
luật về ngân sách nhà nước. Đối với các tỉnh  
chưa tự cân đối được ngân sách, Nhà nước sẽ  
ưu tiên bố trí ngân sách từ số bổ sung cân đối  
ngân sách hằng năm để hỗ trợ cho việc thực  
hiện vụ việc TGPL phức tạp, điển hình. Quy  
định này nhằm khắc phục tình trạng nhu cầu  
TGPL của người dân không được đáp ứng vì  
lý do thiếu kinh phí.  
Luật TGPL năm 2017 đã mở rộng đối  
tượng được TGPL với 14 nhóm người (thay  
vì 6 nhóm như trước); tăng người được  
TGPL thuộc nhóm yếu thế. Khía cạnh này  
thể hiện nhận thức, sự cam kết của Nhà  
nước trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý  
có chất lượng và công bằng cho mọi nhóm  
xã hội.  
Luật TGPL năm 2017 cũng quy định cụ  
thể trách nhiệm của các cơ quan nhà nước  
trong TGPL. Ví dụ, Sở Tư pháp được giao  
quyền lựa chọn ký hợp đồng thực hiện TGPL  
với các cá nhân, tổ chức có nhu cầu tham  
gia hoạt động TGPL; phối hợp với cơ quan  
tiến hành tố tụng là Tòa án nhân dân tối cao,  
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an  
để tạo điều kiện cho người được TGPL được  
hưởng quyền TGPL, người thực hiện TGPL  
tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật;  
các cơ quan nhà nước có liên quan có trách  
nhiệm giải thích quyền được TGPL và giới  
thiệu đến tổ chức thực hiện TGPL...  
Luật TGPL năm 2017 cũng thể hiện  
chính sách của Nhà nước đảm bảo đối với  
việc tiếp cận sớm với TGPL. Theo quy định  
của khoản 3 Điều 31 Luật TGPL 2017,  
trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm nhận  
được yêu cầu TGPL của người bị bắt, người  
bị tạm giữ hoặc trong 24 giờ kể từ thời điểm  
nhận được yêu cầu TGPL của bị can, bị cáo,  
người bị hại thuộc diện được TGPL, thì cơ  
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố  
tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung  
tâm TGPL nhà nước tại địa phương cử  
Điều kiện thành lập các chi nhánh Trung  
tâm TGPL của Nhà nước được Luật TGPL  
Số 09(433) - T5/2021  
15  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
người thực hiện TGPL cho bị can, bị cáo  
trong thời hạn tạm giữ, tạm giam theo quy  
định của pháp luật tố tụng.  
quan với quyền được đảm bảo TGPL của  
người dân.  
Thứ hai, mặc dù Luật TGPL năm 2017  
đã mở rộng đối tượng được TGPL, nhưng  
quy định hiện hành còn bỏ sót đối tượng cần  
được TGPL. Cụ thể: Người từ đủ 16 tuổi  
đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình  
sự chỉ được TGPL khi khó khăn về tài chính  
là chưa tương thích với pháp luật quốc tế  
về TGPL.  
Đặc biệt, Luật TGPL năm 2017 bổ sung  
quy định về quản lý và đánh giá chất lượng  
đối với vụ việc TGPL. Các tiêu chí đánh  
giá gồm: tuân thủ đầy đủ các quy định của  
pháp luật về TGPL; đáp ứng điều kiện, tiêu  
chuẩn về kỹ năng, đạo đức, trách nhiệm; đáp  
ứng được mục tiêu của hoạt động TGPL;  
đáp ứng nhu cầu hợp pháp của người được  
TGPL. Quản lý chất lượng bao gồm: thẩm  
định chất lượng vụ việc TGPL của tổ chức  
thực hiện trợ giúp pháp lý và đánh giá chất  
lượng hoạt động của cơ quan quản lý nhà  
nước về TGPL.  
Thứ ba, pháp luật về TGPL hiện hành  
còn thiếu quy định về cơ chế giám sát đối  
với những người thực hiện TGPL để ngăn  
chặn tham nhũng theo hướng dẫn của Liên  
hợp quốc. Quy định hiện nay về giám sát  
hoạt động TGPL chủ yếu dừng trong nội bộ  
tổ chức hoặc trong hệ thống quản lý; chưa  
có quy định về giám sát của một tổ chức có  
thẩm quyền hoặc giám sát của xã hội - bên  
thứ ba đối với công tác này.  
Nhìn chung, quy định của Luật TGPL  
năm 2017 đã đáp ứng khá đầy đủ yêu cầu,  
chuẩn mực của pháp luật quốc tế đối với  
quốc gia trong TGPL. Bên cạnh đó, pháp  
luật về TGPL của nước ta còn một số hạn  
chế sau đây:  
3. Hoàn thiện quy định của pháp luật về  
trợ giúp pháp lý  
Để bảo đảm nâng cao hiệu quả hoạt động  
TGPL ở nước ta hiện nay, bảo đảm quyền  
con người, tác giả cho rằng, cần sửa đổi, bổ  
sung các quy định của pháp luật hiện hành  
về TGPL như sau:  
Thứ nhất, theo các quy định hiện hành,  
trách nhiệm TGPL của Nhà nước chủ yếu  
mới dừng ở góc độ nghĩa vụ pháp lý tích  
cực, thể hiện ở các quy định về thẩm quyền  
quản lý, nghĩa vụ phối hợp, các quy định  
về quyền, nghĩa vụ liên quan (Chương VI  
Luật TGPL năm 2017). Còn trách nhiệm  
dưới góc độ trách nhiệm pháp lý - hậu quả  
bất lợi đối với hành vi vi phạm của các chủ  
thể TGPL hầu như không được đề cập, hoặc  
nếu có, thì cũng mang tính chung chung,  
dẫn chiếu đến các văn bản quy phạm pháp  
luật khác. Trong khi đó, các văn bản liên  
quan cũng không có chế tài cụ thể cho các  
dạng hành vi này, dẫn đến tính răn đe đối  
với chủ thể vi phạm rất thấp. Cùng với đó,  
các quy định mang tính giới hạn quyền đối  
với các chủ thể công quyền (hạn chế sự lạm  
quyền) trong quá trình quản lý, thực hiện  
TGPL cũng không được thể hiện. Điều này  
tạo nên sự thiếu tương thích trong tương  
Thứ nhất, bổ sung quy định về trách  
nhiệm pháp lý của các chủ thể công đối  
với vi phạm hoặc để xảy ra thiệt hại trong  
TGPL; bổ sung quy định về giám sát đối  
với mọi hoạt động TGPL.  
Thứ hai, sửa đổi điểm đ khoản 7 Điều 7  
Luật TGPL năm 2017 theo hướng chuyển  
đối tượng quy định ở điểm đ thành đối  
tượng được TGPL không phụ thuộc vào  
điều kiện khó khăn về tài chính.  
Thứ ba, sửa đổi, bổ sung quy định nhằm  
đơn giản hóa thủ tục hành chính và tạo ra sự  
linh hoạt trong hoạt động TGPL; xây dựng  
hệ thống phần mền quản lý TGPL nhằm  
giảm bớt chi phí, gia tăng hiệu quả hoạt  
động TGPL  
16  
Số 09(433) - T5/2021  
pdf 6 trang Thùy Anh 10940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà nước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftrach_nhiem_tro_giup_phap_ly_cua_nha_nuoc.pdf