Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà nước
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
TRÁCH NHIỆM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CỦA NHÀ NƯỚC
Phạm Thị Duyên Thảo
TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Trợ giúp pháp lý, trách
nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà
nước, Luật Trợ giúp pháp lý
năm 2017.
Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà nước đã được pháp luật quốc tế
ghi nhận trong tương quan với quyền được trợ giúp pháp lý của người
dân. Một hệ các quy chuẩn và hướng dẫn cụ thể về vấn đề này cũng đã
được gợi ý cho các nước trong những văn kiện quốc tế liên quan. Tham
chiếu với các văn kiện đó cho thấy, pháp luật hiện hành của Việt Nam
đã có những quy định cơ bản, thể hiện độ tương thích nhất định, nhưng
cũng còn những bất cập cần tiếp tục được hoàn thiện nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả của hoạt động trợ giúp pháp lý, bảo đảm quyền con
người, quyền công dân.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 10/02/2021
: 04/3/2021
: 07/3/2021
Article Infomation:
Abstract:
Keywords: Legal aid; the state's
legal aid responsibilities, Law on
Legal Aid of 2017.
The state's legal aid responsibility has been recognized in international laws
in relation to the people's right to legal aid. Aportfolio of specific standards
and guidelines on this issue has also been recommended to the countries
in relevant international documents. References to those documents show
that the current law of Vietnam has basic provisions, reflecting certain
compatibility, but there are also shortcomings that need to be review for
further improvements in order to contribute to improving the quality of
legal aid activities, ensuring human rights, and citizens' rights.
History:
Received
Edited
: 10 Feb. 2021
: 04 Mar. 2021
: 07 Mar. 2021
Approved
Trợ giúp pháp lý (TGPL) là việc cung
cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho đối tượng
được trợ giúp pháp lý nhằm bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của đối tượng này; nâng
cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng
và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc
phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công
lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa,
hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.
Quyền được TGPL là một quyền con người
cơ bản, thuộc nội hàm của quyền tiếp cận
tư pháp, “là cơ sở cho việc thụ hưởng các
quyền khác, bao gồm quyền được xét xử
công bằng và là một biện pháp bảo vệ quan
trọng để bảo đảm sự công bằng cơ bản và
niềm tin của công chúng đối với quá trình
tư pháp...”1. Bản chất của quyền TGPL là
khả năng chính đáng của cá nhân được pháp
luật đảm bảo, được tiếp cận hệ thống dịch
vụ tư vấn pháp lý miễn phí, được đại diện
và được xét xử một cách công bằng mà
không phải trả tiền.
1. Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà
nước trong các văn kiện quốc tế
Nhu cầu được TGPL luôn tồn tại trong
xã hội và có xu thế ngày một tăng; do đó,
nếu để xã hội tự đáp ứng, sẽ có nhiều vấn
đề nảy sinh, từ sự đa dạng, phức tạp về chủ
thể, đối tượng, tính chất các vụ việc. Những
đối tượng thuộc diện TGPL là những người
1 Hướng dẫn của Liên hợp quốc (LHQ) về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình sự (Nguyên
nghien-cuu-trao-doi/gioi-thieu-huong-dan-cua-lien-hop-quoc-ve-tiep-can-tro-giup-phap-ly-trong-tu.
Số 09(433) - T5/2021
11
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
gặp những khó khăn nhất định, mà đôi
khi không phải do bản thân người đó; nếu
không có sự can thiệp, hỗ trợ, họ không thể
hoặc hiếm có được cơ hội như người khác
trong tiếp cận công lý.
gia cần bảo đảm quyền được TGPL trong
hệ thống pháp luật quốc nội ở mức độ cao
nhất có thể, bao gồm cả Hiến pháp2. Luật
hóa quyền TGPL của công dân là một trong
những trách nhiệm của Nhà nước, tạo cơ sở
pháp lý cho việc xây dựng cơ chế bảo đảm
thực hiện TGPL cho công dân. Để thực hiện,
Nhà nước phải có các kế hoạch, chương trình
hành động cụ thể nhằm đảm bảo cho công
dân có quyền được TGPL. Thông qua pháp
luật, quyền TGPL được quy định rõ ràng, từ
đó xác định khung khổ hành động của các
chủ thể công quyền, hạn chế sự lạm quyền
vốn dễ xảy ra trong quá trình thực thi.
Nhà nước là chủ thể chính thức và chủ
yếu của quan hệ pháp luật, trong đó có quan
hệ liên quan đến nhân quyền. Quyền được
TGPL là quyền cơ bản, Nhà nước là tổ chức
thích hợp nhất cho việc đáp ứng cam kết,
chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế và sử dụng
nguồn lực, cũng như phát triển các quan hệ
hợp tác trong lĩnh vực TGPL. Bên cạnh đó,
TGPL là hoạt động không sinh lợi trực tiếp
đối với chủ thể thực hiện, nếu không có sự
can thiệp của Nhà nước, các chủ thể khác
có thể không muốn làm hoặc không đủ khả
năng làm, dẫn đến tính bền vững của hoạt
động TGPL bị hạn chế.
- Bảo đảm nguyên tắc không phân biệt,
bình đẳng trong quá trình cung cấp TGPL:
Khi cung cấp dịch vụ TGPL, Nhà nước phải
đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử
về tất cả các khía cạnh: “giới, chủng tộc,
màu da, tôn giáo, tài sản, quan điểm chính
trị và các quan điểm khác, quốc tịch, dân
tộc, tư cách công dân hoặc nơi ở, nơi sinh,
trình độ giáo dục, địa vị xã hội và các vấn đề
khác”3, “bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận
TGPL cho phụ nữ, trẻ em hoặc nhóm người
có nhu cầu đặc biệt, người tị nạn, người di
cư, người dân tộc thiểu số, nạn nhân bị mua
bán, người già và những người khuyết tật”4.
Trách nhiệm TGPL của Nhà nước đã
được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế
như: Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948
(Điều 10), Công ước quốc tế về các quyền
dân sự và chính trị năm 1966 (Điều 14),
Công ước chống phân biệt đối xử với phụ
nữ năm 1981 (Điều 2), Công ước quốc tế
về quyền trẻ em năm 1982 (Điều 37), Công
ước quốc tế về quyền của người khuyết tật...
Trong các văn kiện pháp lý quốc tế nêu
trên, trách nhiệm của Nhà nước là bảo đảm
quyền TGPL của công dân được thể hiện ở
các khía cạnh sau:
- Bảo đảm quyền sớm được tiếp cận
TGPL: Quyền sớm được tiếp cận TGPL là
quyền tiếp cận với TGPL ngay từ thời điểm
mà một người bị tình nghi, bị bắt giữ, bị
tạm giam hoặc bị buộc tội đã phạm tội, tùy
thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Đồng
thời, trong suốt thời gian từ lần tiếp cận
- Chủ động tạo cơ sở pháp lý cho việc
đảm bảo quyền được TGPL của công dân:
Văn kiện quốc tế khẳng định, các quốc
2 Hướng dẫn của Liên hợp quốc (LHQ) về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình sự (Nguyên
nghien-cuu-trao-doi/gioi-thieu-huong-dan-cua-lien-hop-quoc-ve-tiep-can-tro-giup-phap-ly-trong-tu.
3 Luật mẫu trợ giúp pháp lý, Cơ quan phòng, chống tội phạm và ma túy của LHQ chủ trì xây dựng năm 2017,
justice-and-prison-reform/LegalAid/Model_Law_on_Legal_Aid.pdf.
4 Luật mẫu trợ giúp pháp lý, Cơ quan phòng, chống tội phạm và ma túy của LHQ chủ trì xây dựng năm 2017
(Điều 5 Không phân biệt đối xử), Model Law on Legal Aid in Criminal Justice Systems with Commentaries,
12
Số 09(433) - T5/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
TGPL đầu tiên đó, TGPL được tiến hành
liên tục cho tới và trong lần xuất hiện đầu
tiên trước khi có phán quyết bởi thẩm phán
xem người đó sẽ bị tạm giam hoặc được thả
tự do trong thời gian chờ xét xử. Cụ thể, “từ
thời điểm một người nhận thức được mình
là đối tượng điều tra, kể cả trong trường hợp
bị bắt hoặc bị tạm giữ và trong toàn bộ các
giai đoạn của tiến trình tư pháp hình sự”5.
Theo các Nguyên tắc và Hướng dẫn của
Liên hợp quốc (LHQ), quyền được trợ giúp
pháp lý là quyền cần phải được đảm bảo ở
mức cao nhất có thể, một thẩm phán không
nên có những suy luận hoặc kết luận bất
lợi về việc một người bị tình nghi hoặc bị
cáo buộc thực hiện quyền được TGPL. Việc
bảo đảm quyền được tiếp cận sớm TGPL
nhằm giảm thiểu nguy cơ người bị cáo
buộc bị ngược đãi hoặc ép phải nhận tội,
nhất là những người thuộc nhóm yếu thế,
đồng thời, khắc phục được những hạn chế
có thể đến từ sự thiếu kiến thức, nguồn lực
tài chính hoặc năng lực pháp luật của các
chủ thể. Việc đảm bảo quyền tiếp cận sớm
TGPL đòi hỏi Nhà nước có trách nhiệm tạo
cơ chế cho các các luật sư, cán bộ tư pháp,
các tổ chức xã hội tham gia vào hoạt động
giáo dục, phổ biến pháp luật, tăng cường
kiến thức và hiểu biết của công chúng đối
với quyền này.
vấn đề về hành chính, dân sự và hình sự và
các công chức có nghĩa vụ thông báo, giải
thích các khía cạnh về thủ tục và nội dung
của các vấn đề pháp lý cho mọi thành viên
trong xã hội”6. “Chính phủ và các nhà tài
trợ quốc tế đảm bảo rằng các chương trình
hỗ trợ cho hệ thống tư pháp ở cả các quốc
gia đang phát triển và chuyển đổi bao gồm
việc cung cấp thông tin về TGPL và các
biện pháp khác để tăng cường quyền tiếp
cận công lý, đặc biệt là đối với người nghèo
và nhóm đối tượng dễ bị tổn thương một
cách bền vững”7. Sự đa dạng và toàn diện
của các thông tin cần cung cấp phải phù hợp
với các nhóm chủ thể của quyền, liên quan
cả đến các luật hiện hành, các mô hình, quy
trình và thủ tục có thể hỗ trợ trong TGPL.
Việc đảm bảo cung cấp thông tin góp phần
làm gia tăng trách nhiệm của quốc gia trong
quá trình thực hiện nghĩa vụ TGPL.
- Kết nối, tạo điều kiện để xã hội tham
gia TGPL: Nhà nước cần hợp tác với các
chủ thể có liên quan khác như các tổ chức
phi chính phủ, các tổ chức cộng đồng, các
tổ chức từ thiện có hoặc không có tính chất
tôn giáo, các cơ quan, các hiệp hội nghề
nghiệp và các tổ chức nghiên cứu và bảo
đảm sự tham gia có hiệu quả của cộng đồng
trong việc xây dựng các chính sách, chương
trình và pháp luật về TGPL. Các Chính phủ
cần sử dụng nhiều loại chủ thể để thực hiện
TGPL như: văn phòng bào chữa công do
Chính phủ tài trợ, các chương trình sử dụng
luật sư, các trung tâm TGPL, các trung tâm
thực hành nghề luật của trường đại học
cũng như sự hợp tác với các tổ chức xã hội
dân sự và các tổ chức tôn giáo8. Tham gia
- Bảo đảm cung cấp thông tin, thông báo
cho các chủ thể có thẩm quyền liên quan:
Nhằm đảm bảo tính toàn diện của hoạt
động TCPL cũng như đảm bảo quyền của
nhóm được TGPL mang tính đặc thù, “các
Chính phủ có nghĩa vụ đảm bảo việc cung
cấp thông tin pháp luật đối với tất cả các
5 Luật mẫu trợ giúp pháp lý, Cơ quan phòng, chống tội phạm và ma túy của LHQ chủ trì xây dựng năm 2017
(Điều 8 Quyền được tiếp cận sớm), Model Law on Legal Aid in Criminal Justice Systems with Commentaries,
6 Tuyên bố Ky-ép năm 2007 về trợ giúp pháp lý, https://www.legalaidrwanda.org/legal_text/Kyiv_Declaration_
Right_to_Legal_Aid.pdf.
7 Tlđd, https://www.legalaidrwanda.org/legal_text/Kyiv_Declaration_Right_to_Legal_Aid.pdf.
8 Tlđd, https://www.legalaidrwanda.org/legal_text/Kyiv_Declaration_Right_to_Legal_Aid.pdf.
Số 09(433) - T5/2021
13
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
TGPL vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của xã
hội trong tương quan với trách nhiệm TGPL
của Nhà nước, vì “TGPL mang lại lợi ích
cho xã hội bằng cách bảo vệ các cộng đồng
lành mạnh, tiết kiệm nguồn lực, và tạo cảm
giác an toàn cho người dân”9; qua đó, thúc
đẩy TGPL phát triển, hiệu quả.
TGPL, bảo đảm cho luật sư và những người
thực hiện TGPL tránh khỏi sự quấy rầy, dọa
dẫm và đe dọa đối với an ninh, an toàn của
bản thân họ13.
Như vậy, trách nhiệm của Nhà nước đã
được các văn bản pháp lý quốc tế ghi nhận ở
nhiều khía cạnh, từ nghĩa vụ chính thức, đảm
bảo tính chất bền vững, nguồn tài chính cho
TGPL, bảo đảm chất lượng đội ngũ nhân lực,
tạo lập cơ chế để có nhiều chủ thể tham gia
hoạt động TGPL, cho đến việc bảo đảm các
nguyên tắc cần tuân thủ đối với từng nhóm
chủ thể, từng hoạt động TGPL ...
- Bảo đảm cung cấp về mặt tài chính và
đội ngũ nhân lực có chất lượng: Các Chính
phủ cần bảo đảm cung cấp đầy đủ tài chính
và các nguồn lực khác cho dịch vụ pháp
lý dành cho người nghèo và người yếu thế
khác nếu cần thiết10; bố trí nguồn nhân lực
và tài lực cần thiết cho hệ thống TGPL, bảo
đảm biên chế đầy đủ cho hệ thống TGPL
trong toàn quốc và bảo đảm các chuyên gia
làm việc cho hệ thống TGPL quốc gia có
trình độ và được đào tạo phù hợp với dịch
vụ họ cung cấp11; bảo đảm quy trình tố tụng
và cơ chế tiếp cận luật sư thuận lợi, có hiệu
quả và bình đẳng dành cho tất cả mọi người
mà không có bất kỳ sự phân biệt nào12.
2. Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của
Nhà nước theo quy định của pháp luật
Việt Nam
Theo quy định của Điều 2 Luật TGPL
năm 2017, lần đầu tiên TGPL được tiếp
cận dưới góc độ là một hoạt động. Theo
đó, “TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp
lý miễn phí cho người được TGPL trong vụ
việc TGPL”. Sự thay đổi này không những
giúp cho việc xây dựng một cơ chế TGPL
phù hợp, mà còn góp phần xác định cụ thể
được các trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà
nước trong hoạt động TGPL; phân tách
trách nhiệm TGPL với trách nhiệm giáo
dục, phổ biến pháp luật, tránh bỏ sót nhu
cầu TGPL của người dân.
Bảo đảm về tài chính cho TGPL chính
là cách Nhà nước xóa bỏ trở ngại lớn nhất
ngăn cản các chủ thể thụ hưởng quyền
TGPL trong quá trình tiếp cận công lý. Bảo
đảm này cần đặt trong tương quan với bảo
đảm quyền tiếp cận sớm với TGPL.
- Bảo đảm môi trường an toàn cho việc
thực hiện TGPL: Các Chính phủ cần bảo
đảm môi trường an toàn cho việc thực hiện
Khoản 1 Điều 4 Luật TGPL năm 2017
tiếp tục khẳng định, TGPL là trách nhiệm
9
Tiếp cận sớm trợ giúp pháp lý trong các quá trình tố tụng hình sự: Sổ tay cho các nhà hoạch định chính
sách và các nhà thực tiễn, Tuyển tập ấn phẩm về tư pháp hình sự, Cơ quan Phòng, chống ma túy và tội phạm
Vie_final.pdf.
10
Linh-vuc-khac/Nguyen-tac-co-ban-ve-vai-tro-cua-luat-su-1990-275828.aspx.
11 Hướng dẫn số 13, Hướng dẫn của Liên hợp quốc về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình
huong-dan-cua-lien-hop-quoc-ve-tiep-can-tro-giup-phap-ly-trong-tu.
12 Điểm 2, các nguyên tắc của Liên hợp quốc năm 1990 về vai trò của luật sư, https://thuvienphapluat.vn/van-
ban/Linh-vuc-khac/Nguyen-tac-co-ban-ve-vai-tro-cua-luat-su-1990-275828.aspx.
13 Điểm 14 Tuyên bố Ky-ép năm 2007 về trợ giúp pháp lý, https://www.legalaidrwanda.org/legal_text/Kyiv_
Declaration_Right_to_Legal_Aid.pdf.
14
Số 09(433) - T5/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
của Nhà nước”, đồng thời quy định rõ
“chính sách về TGPL” là của “Nhà nước”.
Quy định này bảo đảm phù hợp với chính
sách về TGPL của Nhà nước được quy định
trong các văn bản luật liên quan như: Luật
Tố tụng hành chính (khoản 3 Điều 19); Bộ
luật Tố tụng dân sự (khoản 3 Điều 9); Bộ
luật Tố tụng hình sự (khoản 2 Điều 76).
Mục đích của TGPL cũng được khẳng định,
nhằm: “góp phần bảo đảm quyền con người,
quyền công dân trong tiếp cận công lý và
bình đẳng trước pháp luật”. Trách nhiệm
quản lý nhà nước được giao cho Chính phủ,
Bộ Tư pháp, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh.
năm 2017 quy định theo hướng tăng cường
tính chịu trách nhiệm, hạn chế thành lập ồ
ạt, nhằm TGPL được triển khai chất lượng,
tránh thụ động, hình thức.
Bên cạnh đó, Luật TGPL năm 2017 còn
quy định tiêu chuẩn tham gia thực hiện
TGPL đối với tổ chức hành nghề luật sư,
tổ chức tư vấn pháp luật và quản lý chất
lượng vụ việc TGPL; tiêu chuẩn đối với trợ
giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện TGPL
theo hợp đồng với Trung tâm TGPL nhà
nước và theo phân công của tổ chức tham
gia TGPL. Theo đó, trợ giúp viên pháp lý,
luật sư phải trải qua tập sự, đề cao sự tham
gia của đội ngũ luật sư, tư vấn viên pháp
luật có kiến thức pháp luật, kinh nghiệm,
hiệu quả làm việc tốt; trợ giúp viên pháp lý
là viên chức nhà nước phải có trách nhiệm
tập trung thực hiện vụ việc tố tụng, nếu
không thực hiện trong thời gian 02 năm
liên tục sẽ bị miễn nhiệm, trừ trường hợp do
nguyên nhân khách quan (điểm 1 khoản 1
Điều 22).
Điều 5 Luật TGPL năm 2017 quy định
Nhà nước bố trí kinh phí trong dự toán ngân
sách hằng năm của cơ quan thực hiện quản lý
nhà nước về TGPL theo quy định của pháp
luật về ngân sách nhà nước. Đối với các tỉnh
chưa tự cân đối được ngân sách, Nhà nước sẽ
ưu tiên bố trí ngân sách từ số bổ sung cân đối
ngân sách hằng năm để hỗ trợ cho việc thực
hiện vụ việc TGPL phức tạp, điển hình. Quy
định này nhằm khắc phục tình trạng nhu cầu
TGPL của người dân không được đáp ứng vì
lý do thiếu kinh phí.
Luật TGPL năm 2017 đã mở rộng đối
tượng được TGPL với 14 nhóm người (thay
vì 6 nhóm như trước); tăng người được
TGPL thuộc nhóm yếu thế. Khía cạnh này
thể hiện nhận thức, sự cam kết của Nhà
nước trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý
có chất lượng và công bằng cho mọi nhóm
xã hội.
Luật TGPL năm 2017 cũng quy định cụ
thể trách nhiệm của các cơ quan nhà nước
trong TGPL. Ví dụ, Sở Tư pháp được giao
quyền lựa chọn ký hợp đồng thực hiện TGPL
với các cá nhân, tổ chức có nhu cầu tham
gia hoạt động TGPL; phối hợp với cơ quan
tiến hành tố tụng là Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an
để tạo điều kiện cho người được TGPL được
hưởng quyền TGPL, người thực hiện TGPL
tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật;
các cơ quan nhà nước có liên quan có trách
nhiệm giải thích quyền được TGPL và giới
thiệu đến tổ chức thực hiện TGPL...
Luật TGPL năm 2017 cũng thể hiện
chính sách của Nhà nước đảm bảo đối với
việc tiếp cận sớm với TGPL. Theo quy định
của khoản 3 Điều 31 Luật TGPL 2017,
trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm nhận
được yêu cầu TGPL của người bị bắt, người
bị tạm giữ hoặc trong 24 giờ kể từ thời điểm
nhận được yêu cầu TGPL của bị can, bị cáo,
người bị hại thuộc diện được TGPL, thì cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung
tâm TGPL nhà nước tại địa phương cử
Điều kiện thành lập các chi nhánh Trung
tâm TGPL của Nhà nước được Luật TGPL
Số 09(433) - T5/2021
15
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
người thực hiện TGPL cho bị can, bị cáo
trong thời hạn tạm giữ, tạm giam theo quy
định của pháp luật tố tụng.
quan với quyền được đảm bảo TGPL của
người dân.
Thứ hai, mặc dù Luật TGPL năm 2017
đã mở rộng đối tượng được TGPL, nhưng
quy định hiện hành còn bỏ sót đối tượng cần
được TGPL. Cụ thể: Người từ đủ 16 tuổi
đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình
sự chỉ được TGPL khi khó khăn về tài chính
là chưa tương thích với pháp luật quốc tế
về TGPL.
Đặc biệt, Luật TGPL năm 2017 bổ sung
quy định về quản lý và đánh giá chất lượng
đối với vụ việc TGPL. Các tiêu chí đánh
giá gồm: tuân thủ đầy đủ các quy định của
pháp luật về TGPL; đáp ứng điều kiện, tiêu
chuẩn về kỹ năng, đạo đức, trách nhiệm; đáp
ứng được mục tiêu của hoạt động TGPL;
đáp ứng nhu cầu hợp pháp của người được
TGPL. Quản lý chất lượng bao gồm: thẩm
định chất lượng vụ việc TGPL của tổ chức
thực hiện trợ giúp pháp lý và đánh giá chất
lượng hoạt động của cơ quan quản lý nhà
nước về TGPL.
Thứ ba, pháp luật về TGPL hiện hành
còn thiếu quy định về cơ chế giám sát đối
với những người thực hiện TGPL để ngăn
chặn tham nhũng theo hướng dẫn của Liên
hợp quốc. Quy định hiện nay về giám sát
hoạt động TGPL chủ yếu dừng trong nội bộ
tổ chức hoặc trong hệ thống quản lý; chưa
có quy định về giám sát của một tổ chức có
thẩm quyền hoặc giám sát của xã hội - bên
thứ ba đối với công tác này.
Nhìn chung, quy định của Luật TGPL
năm 2017 đã đáp ứng khá đầy đủ yêu cầu,
chuẩn mực của pháp luật quốc tế đối với
quốc gia trong TGPL. Bên cạnh đó, pháp
luật về TGPL của nước ta còn một số hạn
chế sau đây:
3. Hoàn thiện quy định của pháp luật về
trợ giúp pháp lý
Để bảo đảm nâng cao hiệu quả hoạt động
TGPL ở nước ta hiện nay, bảo đảm quyền
con người, tác giả cho rằng, cần sửa đổi, bổ
sung các quy định của pháp luật hiện hành
về TGPL như sau:
Thứ nhất, theo các quy định hiện hành,
trách nhiệm TGPL của Nhà nước chủ yếu
mới dừng ở góc độ nghĩa vụ pháp lý tích
cực, thể hiện ở các quy định về thẩm quyền
quản lý, nghĩa vụ phối hợp, các quy định
về quyền, nghĩa vụ liên quan (Chương VI
Luật TGPL năm 2017). Còn trách nhiệm
dưới góc độ trách nhiệm pháp lý - hậu quả
bất lợi đối với hành vi vi phạm của các chủ
thể TGPL hầu như không được đề cập, hoặc
nếu có, thì cũng mang tính chung chung,
dẫn chiếu đến các văn bản quy phạm pháp
luật khác. Trong khi đó, các văn bản liên
quan cũng không có chế tài cụ thể cho các
dạng hành vi này, dẫn đến tính răn đe đối
với chủ thể vi phạm rất thấp. Cùng với đó,
các quy định mang tính giới hạn quyền đối
với các chủ thể công quyền (hạn chế sự lạm
quyền) trong quá trình quản lý, thực hiện
TGPL cũng không được thể hiện. Điều này
tạo nên sự thiếu tương thích trong tương
Thứ nhất, bổ sung quy định về trách
nhiệm pháp lý của các chủ thể công đối
với vi phạm hoặc để xảy ra thiệt hại trong
TGPL; bổ sung quy định về giám sát đối
với mọi hoạt động TGPL.
Thứ hai, sửa đổi điểm đ khoản 7 Điều 7
Luật TGPL năm 2017 theo hướng chuyển
đối tượng quy định ở điểm đ thành đối
tượng được TGPL không phụ thuộc vào
điều kiện khó khăn về tài chính.
Thứ ba, sửa đổi, bổ sung quy định nhằm
đơn giản hóa thủ tục hành chính và tạo ra sự
linh hoạt trong hoạt động TGPL; xây dựng
hệ thống phần mền quản lý TGPL nhằm
giảm bớt chi phí, gia tăng hiệu quả hoạt
động TGPL
16
Số 09(433) - T5/2021
Bạn đang xem tài liệu "Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà nước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
trach_nhiem_tro_giup_phap_ly_cua_nha_nuoc.pdf

