Quản lý, sử dụng tài sản công ở cấp chính quyền địa phương trong chế độ sở hữu toàn dân ở Việt Nam

CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG Ở CẤP CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
TRONG CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN Ở VIỆT NAM  
Trần Thị Quang Hồng*  
*TS. Trưởng ban NCPL Dân sự-kinh tế,  
Viện Khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Tài sản thuộc sở hữu toàn dân chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản  
quốc gia ở Việt Nam. Vì vậy, thực thi hiệu quả chế độ sở hữu toàn dân ở  
Việt Nam là yêu cầu cốt lõi để bảo vệ và phát huy giá trị của các nguồn  
lực của quốc gia, đảm bảo phúc lợi xã hội cơ bản cho người dân, đảm bảo  
hạ tầng cho hoạt động kinh tế và từ đó, thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã  
hội của đất nước. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung trình bày,  
phân tích vấn đề pháp lý về quản lý và sử dụng tài sản công ở cấp chính  
quyền địa phương nhằm góp phần hoàn thiện chế độ pháp lý về sở hữu  
toàn dân nói chung ở Việt Nam.  
Từ khóa: Tài sản công, chính  
quyền địa phương, sở hữu toàn  
dân, trách nhiệm chính trị.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 12/01/2021  
: 24/01/2021  
: 26/01/2021  
Abstract:  
Article Infomation:  
Keywords: Public  
local authority, entire people’s  
ownership, accountability  
asset,  
In Vietnam, the assets under the entire people’s ownership account for  
the most part of the country’s assets. Exercising the entire people’s  
ownership effectively, therefore, is an essential requirement to  
preserve and promote the value of the national resources, ensure basic  
social welfare, provide the infrastructure for economic activities and  
accelerate the socio-economic development. This paper focuses on the  
legal issues of public asset management at the local authorities with the  
aim of providing certain suggestions to improve the legal regime for  
the entire people’s ownership in Vietnam.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 12 Jan. 2021  
: 24 Jan. 2021  
: 26 Jan. 2021  
Approved  
1. Tài sản công ở cấp chính quyền địa  
phương và ý nghĩa của việc quản lý, sử  
dụng tài sản công ở cấp chính quyền địa  
phương trong chế độ sở hữu toàn dân ở  
Việt Nam  
các tài sản công khác mà chính quyền địa  
phương có trách nhiệm quản lý để bảo vệ  
và đưa vào khai thác nhằm phát huy giá  
trị, phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã  
hội. Điều này cũng có nghĩa là, việc thực  
hiện quyền quản lý, sử dụng tài sản công  
ở cấp chính quyền địa phương chính là  
một phần quan trọng của việc thực thi chế  
độ sở hữu toàn dân.  
1.1. Tài sản công ở cấp chính quyền  
địa phương  
Tài sản công được giao cho các cấp  
chính quyền địa phương trực tiếp quản  
lý, sử dụng bao gồm tài sản được sử dụng  
với tư cách là nguồn lực phục vụ cho việc  
thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao và  
Chính quyền địa phương được giao  
thực thi những nhiệm vụ quan trọng trong  
phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh,  
quốc phòng tại địa phương và đóng góp vào  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
117  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
việc thực hiện các mục tiêu phát triển chung  
của quốc gia. Nguồn lực cần thiết phục vụ  
cho việc thực hiện các nhiệm vụ này là rất  
lớn. Bên cạnh đó, các tài sản công khác như  
tài nguyên tự nhiên, di sản văn hoá, các  
cơ sở hạ tầng về cơ bản đều toạ lạc ở một  
địa phương cụ thể. Do vậy, tài sản công do  
chính quyền địa phương quản lý chiếm tỷ  
trọng lớn trong tài sản của quốc gia.  
sở hữu toàn dân chính là sự bao trùm của  
khái niệm toàn dân. Sự bao trùm này khiến  
người ta khó có thể xác định cho chủ thể  
này những quyền năng cụ thể để tác động  
vào một hoặc một nhóm tài sản cụ thể. Khả  
năng đó chỉ có thể được thực hiện bởi chí  
ít là một nhóm người trong phạm trù “toàn  
dân” đối với một, một phần tài sản trong  
phạm trù “tài sản công”.  
Vấn đề đặt ra khi xác định các quyền  
năng cụ thể của một nhóm người đối với  
tài sản công là cần đảm bảo với việc thực  
thi các quyền năng đó phù hợp với lợi ích  
chung của chủ sở hữu là toàn dân. Điều này  
đòi hỏi một sự quản lý, sử dụng có tổ chức.  
Tính tổ chức đó có thể khả thi thông qua  
vai trò của chính quyền địa phương. Có hai  
yếu tố chính đảm bảo sự khả thi này: thứ  
nhất, chính quyền địa phương ở vị trí tốt  
hơn chính quyền trung ương trong việc trực  
tiếp tác động đến tài sản công, do các tài  
sản công luôn ở trên một địa bàn cụ thể;  
thứ hai, chính quyền địa phương làm việc  
trực tiếp với một bộ phận dân cư (là những  
người dân địa phương) và điều này cũng  
giúp cho sự tương tác giữa họ với người dân  
gần gũi và thực tế hơn. Chính những yếu tố  
này cho phép cụ thể hoá rõ hơn quyền và  
trách nhiệm trong quản lý, sử dụng tài sản  
công, thông qua việc trao cho chính quyền  
địa phương những thẩm quyền cụ thể trong  
quản lý, sử dụng tài sản công tại địa phương,  
gắn với thẩm quyền đó là trách nhiệm sử  
dụng tài sản hợp lý, hiệu quả, đảm bảo lợi  
ích của người dân, phúc lợi của người dân  
địa phương. Cùng với sự cụ thể hoá về thẩm  
quyền và trách nhiệm của chính quyền địa  
phương là khả năng cụ thể hoá vai trò của  
người dân địa phương trong việc tham gia  
quản lý, bảo vệ tài sản công và giám sát quá  
trình sử dụng tài sản công ở địa phương một  
cách có tổ chức và trách nhiệm.  
1.2. Ý nghĩa của việc phát huy vai  
trò của chính quyền địa phương trong  
quản lý, sử dụng tài sản công  
Việc phát huy vai trò của chính quyền  
địa phương trong quản lý, sử dụng tài sản  
công thuộc sở hữu toàn dân có ý nghĩa quan  
trọng trong việc làm rõ hơn tính thực chất  
của chế độ sở hữu toàn dân, thể hiện ở các  
khía cạnh sau:  
Thứ nhất, phát huy vai trò của chính  
quyền địa phương trong quản lý, sử dụng  
tài sản công giúp làm rõ hơn tính pháp lý  
của chế độ sở hữu toàn dân.  
Cho đến nay, có thể nói rằng một số  
khía cạnh pháp lý của sở hữu toàn dân,  
chẳng hạn như quyền năng của chủ sở hữu  
toàn dân, hay cách thức thực thi quyền của  
chủ sở hữu, đặc biệt đối với các đối tượng  
sở hữu như đất đai, tài nguyên thiên nhiên...  
chưa được làm rõ.  
Thực tế, đã có khá nhiều tranh luận về  
khái niệm“sở hữu toàn dân”. Đáng chú ý là  
ý kiến cho rằng sở hữu toàn dân là một khái  
niệm chính trị1. Ý kiến này lập luận rằng,  
với sở hữu toàn dân thì không xác định  
được người chủ sở hữu cụ thể; trong khi đó,  
cách tiếp cận pháp lý đòi hỏi phải xác định  
rõ chủ thể sở hữu để có thể minh định các  
quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu cũng  
như các đối tượng liên quan trong các giao  
dịch liên quan đến sở hữu. Yếu tố chính gây  
ra những băn khoăn cho việc thực thi quyền  
Su/512441/Can-thay-doi-khai-niem-so-huu-toan-dan.html.  
118  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
Việc quản lý sử dụng này, khi được  
thực hiện dựa trên các quy tắc pháp luật  
chung của quốc gia, sẽ đảm bảo tuân thủ lợi  
ích quốc gia, lợi ích của toàn dân là người  
chủ sở hữu chính thức về mặt pháp lý. Chế  
độ trách nhiệm của chính quyền địa phương  
cũng rõ ràng hơn do họ không chỉ chịu  
trách nhiệm trước chính quyền cấp trên (là  
chủ thể phân cấp) mà còn chịu trách nhiệm  
trước người dân địa phương, là đại diện của  
chủ sở hữu toàn dân ở địa phương.  
viên còn lại. Chính vì vậy, tài sản thuộc sở  
hữu toàn dân phải do “Nhà nước đại diện và  
thống nhất quản lý” (Điều 53 Hiến pháp năm  
2013). Tuy nhiên, ngay cả khi đã chuyển từ  
chủ sở hữu toàn dân mang tính trừu tượng,  
chung chung sang một người đại diện ít trừu  
tượng hơn là Nhà nước, tính trừu tượng này  
vẫn chưa thể được khắc phục. Nhà nước là  
một bộ máy và hệ thống tổ chức bao gồm  
nhiều thiết chế và cơ quan khác nhau, được  
phân thành nhiều cấp hành chính với số  
lượng lớn đội ngũ cán bộ, công chức… Điều  
này đòi hỏi người đại diện cao nhất (Nhà  
nước) phải tiếp tục uỷ nhiệm qua nhiều cấp  
để thực hiện quản lý, sử dụng tài sản công.  
Việc làm rõ vai trò của chính quyền địa  
phương trong quản lý, sử dụng tài sản công  
cũng góp phần làm cho chế độ sở hữu toàn  
dân trở nên thực chất hơn. Thông qua vai trò  
của chính quyền địa phương, người dân địa  
phương thấy được lợi ích trực tiếp của họ từ  
quá trình quản lý, sử dụng tài sản công (như  
quản lý hệ thống hạ tầng đô thị, cây xanh,  
chiếu sáng, công viên và các tiện ích công  
cộng khác, các tài nguyên tại địa phương  
như đất đai, rừng, khoáng sản, di tích lịch  
sử, di sản văn hoá). Lợi ích trực tiếp này  
thúc đẩy sự tích cực trong việc bảo vệ tài  
sản công cũng như giám sát quá trình quản  
lý, sử dụng tài sản công tại địa phương.  
Sự tách rời giữa chủ sở hữu với người  
thực thi quyền năng của chủ sở hữu như trên  
là phù hợp với nguyên lý chung của pháp  
luật dân sự. Theo chế định vật quyền trong  
luật dân sự, quyền đối với vật không chỉ là  
những quyền dành cho chủ sở hữu mà còn  
bao gồm những quyền năng pháp luật công  
nhận cho chủ thể không phải là chủ sở hữu2.  
Nguyên lý này được vận dụng vào việc quản  
lý, sử dụng tài sản thuộc sở hữu toàn dân.  
Khi chủ sở hữu toàn dân không thể tự mình  
thực thi một cách hữu hiệu các quyền của  
chủ sở hữu, các quyền phát sinh từ quyền sở  
hữu phải được phân tách và do các chủ thể  
khác nhau thực hiện. Người sở hữu không  
thực thi được quyền năng và người thực thi  
quyền năng không phải chủ sở hữu.  
Thứ hai, việc quản lý, sử dụng tài sản  
của chính quyền địa phương giúp khắc  
phục sự tách rời chủ sở hữu với người thực  
thi quyền năng của chủ sở hữu trong chế độ  
sở hữu toàn dân.  
Sự tách rời giữa chủ sở hữu với người  
thực thi các quyền năng của chủ sở hữu là  
tất yếu trong chế độ sở hữu toàn dân. Toàn  
dân là một tập hợp nhiều người, cũng có  
nghĩa là bất kỳ công dân Việt Nam nào. Tuy  
nhiên, như đã phân tích, một cá nhân đơn lẻ  
không thể tự mình yêu cầu thực thi quyền sở  
hữu này với tư cách chủ sở hữu thành phần  
của sở hữu toàn dân, bởi việc thực thi đó có  
thể sẽ không đúng với ý chí của các thành  
Sự tách rời chủ thể sở hữu với chủ thể  
thực thi quyền năng của chủ sở hữu làm phát  
sinh hai nguy cơ: thứ nhất, chủ thể thực thi  
quyền năng có thể không được trao đủ quyền  
để thực thi có hiệu quả quyền quản lý, sử  
dụng nhằm phát huy giá trị cũng như bảo  
vệ tài sản khỏi các hành vi xâm phạm; thứ  
hai, người thực thi quyền năng có thể hành  
động ngược với lợi ích của chủ sở hữu hoặc  
2. Lê Thị Hoàng Thanh và nhóm nghiên cứu, Nhận diện lý thuyết vật quyền và vấn đề áp dụng tại Việt Nam,  
Bộ Tư pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ (2018).  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
119  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
không làm hết sức mình trong khi thực thi  
việc quản lý, sử dụng tài sản. Một khi tài sản  
không được xác lập quyền sở hữu rõ ràng  
cùng với đó là sự tách rời giữa chủ thể sở  
hữu và chủ thể quản lý, sử dụng thì những  
người có quyền sử dụng một phần tài sản  
đó thường không tìm cách tối ưu hóa giá  
trị việc sử dụng, dẫn đến tài sản bị lãng phí,  
thất thoát hoặc sử dụng tài sản kém hiệu  
quả. Những nhà kinh tế gọi đây là bi kịch  
của chung (tragedy of the commons)3. Trong  
nhiều trường hợp, việc không đồng nhất về  
lợi ích của người quản lý và chủ sở hữu đối  
với cùng một đối tượng tài sản cũng tiềm ẩn  
nguy cơ tham nhũng.  
là khi họ nhận thức được rằng quá trình quản  
lý, sử dụng tài sản đó trực tiếp tác động đến  
quyền lợi của họ. Điều này cũng giúp nâng  
cao trách nhiệm giám sát cũng như ý thức  
bảo vệ tài sản công của họ. Phát huy vai trò  
của người dân địa phương vào quá trình này  
là một biện pháp quan trọng để khắc phục  
sự cắt khúc giữa quyền sở hữu và quản lý sử  
dụng cũng như khắc phục sự trừu tượng về  
khái niệm chủ sở hữu đối với tài sản công.  
Vai trò của chính quyền địa phương  
trong quản lý, sử dụng tài sản công chỉ thực  
sự phát huy ý nghĩa khi dựa trên một hệ  
thống các quy tắc pháp lý phù hợp. Phần  
dưới đây trao đổi về một số những nội dung  
thiết yếu trong pháp luật về quản lý, sử dụng  
tài sản công ở cấp chính quyền địa phương.  
Chú trọng đến vai trò của chính quyền  
địa phương trong quản lý, sử dụng tài sản  
công sẽ góp phần khắc phục các nguy cơ nêu  
trên. Không chỉ là người được Nhà nước giao  
trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản công phục  
vụ cho hoạt động của mình và những tài sản  
công khác tại địa phương, chính quyền địa  
phương cũng là người chịu trách nhiệm trực  
tiếp trước người dân địa phương. Việc làm rõ  
thẩm quyền cũng như trách nhiệm của chính  
quyền địa phương trong quản lý, sử dụng tài  
sản công ở địa phương không chỉ giúp phát  
huy vai trò của chính quyền địa phương, mà  
còn là cơ sở để khẳng định vai trò của một  
bộ phận chủ thể có thể xác định được - người  
dân địa phương, trong giám sát việc quản  
lý, sử dụng tài sản công tại địa phương. Ở  
đây, người dân địa phương đóng vai trò như  
là chủ sở hữu thành phần của sở hữu chung  
toàn dân. Việc khẳng định vai trò của người  
dân địa phương với tư cách là một bộ phận  
của chủ sở hữu toàn dân kéo người dân lại  
gần hơn với tài sản thuộc sở hữu của họ, nhất  
2. Các nội dung chính của pháp luật về  
quản lý, sử dụng tài sản công ở cấp chính  
quyền địa phương  
Các phân tích về ý nghĩa của quản lý,  
sử dụng tài sản công ở cấp chính quyền địa  
phương cũng cho thấy, pháp luật về vấn đề  
này bao hàm rất nhiều nội dung; trong đó,  
các quy định về vai trò của chính quyền địa  
phương cần có ít nhất ba nhóm nội dung  
sau: quy định về thẩm quyền trong quản lý,  
sử dụng tài sản công; quy định về chế độ  
trách nhiệm; quy định về cơ chế giám sát.  
-Về thẩm quyền quản lý, sử dụng tài  
sản công ở cấp chính quyền địa phương:  
thẩm quyền quản lý, sử dụng tài sản công  
của chính quyền địa phương được xác lập  
dựa trên các phương diện (i) phân cấp hành  
chính, (ii) tổ chức quyền lực nhà nước và  
mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân và  
4
(iii) quyền năng về mặt dân sự  
.
3. Đỗ Thiên Anh Tuấn (Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright), Xây dựng thể chế kinh tế: Hãy bắt đầu từ  
quyền tài sản, Báo Đầu tư (điện tử), 27/10/2015, https://baodautu.vn/xay-dung-the-che-kinh-te-hay-bat-dau-  
4. Phương diện kinh tế, tức là việc thiết lập thẩm quyền của chính quyền địa phương trong quản lý, sử dụng  
tài sản công dựa trên các cân nhắc về chi phí và lợi ích cũng là một yếu tố quan trọng trong cơ chế pháp lý về  
quản lý, sử dụng tài sản ở cấp chính quyền địa phương. Tuy nhiên, do khuôn khổ có hạn của bài viết, phương  
diện này chưa được đề cập.  
120  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
Khía cạnh phân cấp hành chính trong  
quản lý, sử dụng tài sản công thể hiện ở việc  
chính quyền địa phương được chính quyền  
trung ương chuyển giao các quyền hạn và  
trách nhiệm trong quản lý tài sản công. Việc  
phân cấp về mặt hành chính đòi hỏi việc xác  
định thẩm quyền về quản lý tài sản phải phù  
hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan  
được giao quản lý, sử dụng tài sản. Việc  
phân cấp cũng đòi hỏi thiết lập các định  
mức, quy trình quản lý, sử dụng tài sản rõ  
ràng, minh bạch để các cơ quan địa phương  
thực thi thẩm quyền quản lý, sử dụng tài sản  
của mình. Việc phân cấp giúp chính quyền  
trung ương tập trung vào việc hoạch định  
chính sách, xây dựng chiến lược, quy hoạch  
về quản lý tài sản, khi mà các hoạt động  
thực thi về cơ bản đã được chuyển giao  
cho chính quyền địa phương. Chính quyền  
trung ương chỉ ra các quyết định cụ thể đối  
với các tài sản có ý nghĩa quan trọng.  
địa phương bao hàm việc mang lại cho  
chính quyền địa phương quyền chủ động  
tiến hành các giao dịch dân sự, ký kết hợp  
đồng phục vụ cho quá trình quản lý, sử  
dụng tài sản cũng như chịu trách nhiệm  
dân sự (trách nhiệm tài sản) khi thực hiện  
các hành vi này.  
-Về chế độ trách nhiệm: Xuất phát  
từ đặc thù về thẩm quyền như đã nêu ở  
trên, trách nhiệm của chính quyền địa  
phương trong quản lý, sử dụng tài sản  
công bao gồm cả trách nhiệm hành chính,  
trách nhiệm chính trị và trách nhiệm dân  
sự. Trách nhiệm hành chính phát sinh từ  
yêu cầu tuân thủ các quy định về nhiệm  
vụ, thẩm quyền quản lý, sử dụng tài sản;  
yêu cầu tuân thủ các quy trình và định mức  
áp dụng đối với việc quản lý, sử dụng tài  
sản công và yêu cầu tuân thủ các nguyên  
tắc, mục tiêu của việc quản lý tài sản. Việc  
không tuân thủ các quy tắc này sẽ dẫn đến  
việc chủ thể quản lý phải chịu các hình thức  
kỷ luật hoặc có thể bị truy tố về mặt hình  
sự. Ngoài trách nhiệm hành chính, chính  
quyền địa phương cũng phải chịu trách  
nhiệm về mặt dân sự. Đây là trách nhiệm  
đối với các đối tác khi ký kết, thực thi các  
hợp đồng phát sinh từ quá trình quản lý,  
sử dụng tài sản và trách nhiệm ngoài hợp  
đồng đối với những thiệt hại gây ra trong  
quá trình thực thi quyền quản lý, sử dụng  
tài sản.  
Đối với khía cạnh tổ chức quyền lực  
nhà nước và mối quan hệ giữa Nhà nước và  
công dân, việc thực hiện quản lý, sử dụng tài  
sản công ở cấp chính quyền địa phương là  
kênh quan trọng để tăng cường mối quan hệ  
giữa chính quyền và người dân địa phương,  
là cơ sở để chính quyền địa phương thực  
hiện cam kết với người dân địa phương  
trong đảm bảo các dịch vụ công cơ bản  
(giáo dục, y tế, vệ sinh môi trường, chiếu  
sáng. v.v..) bảo vệ, giữ gìn tài nguyên thiên  
nhiên, di sản văn hoá tại địa phương. Điều  
này cũng đòi hỏi bản thân chính quyền địa  
phương phải có một không gian nhất định  
để có thể chủ động ra quyết định phù hợp  
với những điều kiện đặc thù địa phương và  
với các quy tắc chung về quản lý, sử dụng  
tài sản công.  
Bên cạnh các trách nhiệm pháp lý  
hành chính và dân sự, chính quyền địa  
phương cũng phải chịu trách nhiệm chính  
trị, được hiểu là “chế độ trách nhiệm đòi  
hỏi các quan chức (chính trị) phải có  
được sự tín nhiệm của nhân dân hoặc của  
những người đại diện cho nhân dân”.5  
Xem xét mức độ tín nhiệm của người dân  
đối với hoạt động quản lý, sử dụng tài sản  
Ở khía cạnh dân sự, thẩm quyền quản  
lý, sử dụng tài sản công của chính quyền  
5. TS. Nguyễn Sỹ Dũng, Vận hành chế độ trách nhiệm chính trị, Báo Nhân dân (26/10/2018), xem tại https://  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
121  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
của chính quyền địa phương là một trong  
những yếu tố quan trọng để có thể thúc đẩy  
hơn hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công  
của chính quyền địa phương. Trách nhiệm  
chính trị đòi hỏi chính quyền địa phương  
phải giải trình trước người dân địa phương  
trong việc đảm bảo quản lý, sử dụng tài  
sản công tại địa phương đúng mục đích,  
hiệu quả và mang lại lợi ích chung cho  
người dân. Pháp luật cần có những cơ chế  
cần thiết để đảm bảo thực hiện chế độ trách  
nhiệm này.  
quản lý tài sản công nói chung. Từ năm  
1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số  
14/1998/NĐ-CP ngày 06/3/1998 về quản lý  
tài sản nhà nước, sau đó là Luật Quản lý,  
sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 và gần  
đây là Luật Quản lý, sử dụng tài sản công  
năm 2017. Các văn bản này cho thấy, pháp  
luật về quản lý và sử dụng tài sản công ở  
cấp chính quyền địa phương ở Việt Nam  
chủ yếu được nhìn nhận ở góc độ pháp luật  
hành chính, trong đó chủ yếu là tài chính  
công. Theo đó, tài sản do cấp nào quản lý  
thì cấp đó quyết định việc đầu tư, mua sắm,  
sử dụng: Bộ Tài chính thực hiện quản lý  
nhà nước đối với tài sản công tại khu vực  
hành chính sự nghiệp, tài sản của các dự  
án sử dụng vốn nhà nước…; việc quản lý  
nhà nước đối với tài nguyên, đất đai, tài sản  
hạ tầng do các Bộ chuyên ngành thực hiện;  
việc định giá đất do các cơ quan chức năng  
của địa phương xác định và UBND cấp tỉnh  
quyết định…  
- Cơ chế giám sát: Do thẩm quyền và  
trách nhiệm trong quản lý, sử dụng tài sản  
công của chính quyền địa phương không chỉ  
được thiết lập trên phương diện hành chính  
mà cả phương diện chính trị và dân sự, việc  
giám sát không chỉ được thực hiện theo cơ  
chế hành chính, bởi cơ quan cấp trên với cấp  
dưới (từ trên xuống) mà còn cần được thực  
hiện bởi người dân đối với cơ quan quản  
lý ở địa phương (từ dưới lên). Do vậy, bên  
cạnh các quy định về thanh tra, kiểm tra,  
pháp luật cần thiết lập cơ chế giám sát cộng  
đồng đối với quá trình quản lý, sử dụng các  
tài sản công tại địa phương thông qua việc  
trao quyền và tạo động lực. Quá trình quản  
lý, sử dụng tài sản công ở địa phương phải  
được minh bạch hoá, người dân địa phương  
phải được hưởng lợi từ quá trình này, được  
tham gia vào quá trình ra các quyết định  
quan trọng có ảnh hưởng đến lợi ích của họ.  
Để giám sát có hiệu quả, người dân cũng  
cần được yêu cầu cơ quan nhà nước cung  
cấp thông tin về tài sản công, về quá trình  
quản lý, sử dụng các tài sản này và đưa ra  
những ý kiến của mình.  
Cách phân định thẩm quyền như trên  
cho thấy sự chi phối của phương diện phân  
cấp hành chính, trong khi yếu tố chính trị  
hay dân sự chưa được chú trọng một cách  
thích đáng. Sự chi phối của phương diện  
hành chính cũng thể hiện trong các quy  
định về chế độ trách nhiệm và cơ chế giám  
sát đối với quản lý, sử dụng tài sản ở cấp  
chính quyền địa phương. Các quy định về  
chế độ trách nhiệm chủ yếu mang tính hành  
chính, trách nhiệm về dân sự và chính trị  
thiếu rõ nét. Khi thực thi quyền quản lý và  
sử dụng tài sản, chính quyền địa phương  
chủ yếu chịu trách nhiệm trước cấp trên.  
Trách nhiệm dân sự mặc dù đã được quy  
định nhưng chưa rõ ràng và chưa có cơ chế  
đảm bảo thực hiện. Thông thường, việc thực  
hiện các trách nhiệm dân sự, nếu có phát  
sinh, cũng thuộc quyền quyết định của cơ  
quan cấp trên và trong trường hợp cơ quan  
cấp trên chấp thuận, việc thực hiện trách  
nhiệm sẽ được đảm bảo. Ngược lại, nếu cơ  
3. Pháp luật về quản lý, sử dụng tài  
sản công ở cấp chính quyền địa phương  
Pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản  
công ở cấp chính quyền địa phương ở Việt  
Nam đã trải qua một quá trình hoàn thiện  
cùng với quá trình hoàn thiện pháp luật về  
122  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
quan cấp trên không chấp nhận, trách nhiệm  
dân sự sẽ khó được thực hiện. Đặc biệt, việc  
quản lý, sử dụng tài sản của chính quyền địa  
phương cũng ít được gắn với trách nhiệm  
chính trị. Điều này gia tăng sự lệ thuộc của  
chính quyền địa phương vào chính quyền  
trung ương ngay cả trong các quyết định cụ  
thể về quản lý, sử dụng tài sản, trong khi  
chính quyền trung ương không phải lúc nào  
cũng nắm bắt được thực tiễn địa phương.  
phản ánh khá nhiều trên các phương tiện  
thông tin đại chúng, bao gồm tình trạng  
tham nhũng, đặc biệt là việc tham nhũng  
liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai; tình  
trạng khai thác tài nguyên tràn lan, trong đó  
có nạn phá rừng; tình trạng lãng phí trong  
quản lý tài sản công… Đáng chú ý, những  
vụ việc được phát hiện chủ yếu thông qua  
hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan  
cấp trên, ít có trường hợp là kết quả của  
việc người dân lên tiếng. Do vậy, thời điểm  
phát hiện thường khá muộn và hậu quả khó  
khắc phục6. Những vấn đề này có thể được  
giảm thiểu nếu những bất cập về mặt pháp  
lý như trên được khắc phục, bởi khi đó trách  
nhiệm của chính quyền trước người dân địa  
phương rõ ràng hơn và người dân có cơ chế  
đầy đủ hơn để hưởng lợi cũng như tham gia  
một cách hữu hiệu vào quá trình quản lý và  
sử dụng tài sản công tại địa phương.  
Việc giám sát đối với quản lý, sử  
dụng tài sản công ở cấp chính quyền địa  
phương hiện nay chủ yếu được thực hiện  
bằng cơ chế hành chính, thông qua thanh  
tra và kiểm tra hành chính. Vai trò giám  
sát của nhân dân chủ yếu được thực hiện  
bởi cơ chế đại diện, thông qua Hội đồng  
nhân dân, chưa hình thành cơ chế giám  
sát cộng đồng. Hơn nữa, do thiếu cơ sở là  
trách nhiệm giải trình của chính quyền địa  
phương trước người dân nên việc giám sát  
khó có thể đạt hiệu quả.  
4. Hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử  
dụng tài sản công ở cấp chính quyền địa  
phương ở Việt Nam  
Như vậy, ở Việt Nam hiện nay, pháp  
luật về quản lý và sử dụng tài sản công ở  
cấp chính quyền địa phương chủ yếu dựa  
vào cơ chế hành chính. Mặc dù áp dụng cơ  
chế hành chính là cần thiết. Tuy nhiên, việc  
chỉ chú trọng vào yêu cầu tuân thủ, chưa  
chú ý đến phát huy vai trò chủ động của  
chính quyền địa phương cũng như chưa  
chú ý phát huy vai trò của người dân địa  
phương với tư cách là thành phần của sở  
hữu toàn dân và là người trực tiếp tương tác  
với các tài sản công tại địa phương có thể  
coi là điểm thiếu sót trong cơ chế về quản  
lý, sử dụng tài sản công ở cấp chính quyền  
địa phương hiện nay.  
Những phân tích ở trên chỉ ra rằng, việc  
hoàn thiện pháp luật về quản lý và sử dụng  
tài sản công ở cấp chính quyền địa phương  
ở Việt Nam cần đi từ cách tiếp cận. Theo  
đó, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản  
công cần mở rộng cách tiếp cận ở cả góc độ  
dân sự (chú ý đến các cơ chế đảm bảo thực  
thi quyền dân sự của chủ sở hữu và các  
cơ chế về trách nhiệm dân sự) và chính trị  
(chú ý đến mối quan hệ giữa người dân địa  
phương và chính quyền địa phương trong  
quản lý, sử dụng tài sản công) bên cạnh  
các quy tắc mang tính hành chính. Trên cơ  
sở cách tiếp cận đa diện này, các quy định  
về thẩm quyền, chế độ trách nhiệm và cơ  
chế giám sát có thể được hoàn thiện theo  
hướng sau:  
Những bất cập nêu trên phần nào lý  
giải cho những vấn đề nổi cộm phát sinh  
trong thực tiễn quản lý, sử dụng tài sản  
công ở cấp chính quyền địa phương, được  
6. Viện Khoa học pháp lý, Báo cáo Đề tài cấp Bộ: Quản lý và sử dụng tài sản của chính quyền địa phương  
hiện nay ở Việt Nam: Những vấn đề pháp lý đặt ra, Bộ Tư pháp (2020).  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
123  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
- Về mặt thẩm quyền  
đa để thụ hưởng các tài sản này và gắn các  
lợi ích này với việc được trao quyền trong  
việc giám sát, phản biện, bày tỏ ý kiến cũng  
như tham gia vào quá trình ra quyết định  
đối với việc quản lý, sử dụng tài sản thuộc  
địa phương quản lý.  
Việc hoàn thiện pháp luật về thẩm  
quyền quản lý và sử dụng tài sản công ở  
cấp chính quyền địa phương phải được  
thực hiện trên cơ sở phân định quyền và  
trách nhiệm của các chủ thể liên quan trong  
quản lý, sử dụng tài sản công của chính  
quyền địa phương, bao gồm chính quyền  
trung ương, chính quyền địa phương các  
cấp, toàn dân với tư cách chủ sở hữu và  
cộng đồng dân cư địa phương với tư cách  
là thành viên sở hữu. Trong đó, chính  
quyền trung ương tập trung vào vai trò  
hoạch định chính sách, nguyên tắc quản lý,  
sử dụng tài sản và thiết lập các định mức  
quản lý, sử dụng tài sản. Chính quyền địa  
phương cấp trung gian đảm bảo sự thống  
nhất về quản lý tài sản trong phạm vi địa  
phương và đảm bảo phù hợp với chính  
sách tài sản chung của quốc gia và ra quyết  
định về quản lý, sử dụng đối với các tài sản  
công có giá trị ở cấp mình quản lý. Chính  
quyền cấp cơ sở có vai trò quản lý, bảo  
vệ, theo dõi tình trạng tài sản và những  
biến động của tài sản, đồng thời ra quyết  
định về việc quản lý, sử dụng các tài sản  
thuộc thẩm quyền ở cấp cơ sở theo hướng  
phát huy giá trị, phù hợp với chính sách và  
lợi ích chung của quốc gia và lợi ích của  
người dân địa phương.  
Để đảm bảo các quy định về thẩm  
quyền được xây dựng một cách phù hợp,  
cần phân định rõ các loại hình tài sản, bao  
gồm tài sản được giao cho chính quyền địa  
phương với tư cách là điều kiện đảm bảo  
để thực thi nhiệm vụ (trụ sở, phương tiện  
làm việc, ngân sách hành chính) và tài sản  
với tư cách là nguồn lực để đầu tư cho các  
nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội  
tại địa phương (xây dựng các công trình  
hạ tầng đô thị, nông thôn, nguồn lực thực  
hiện chính sách xã hội) và các tài sản là tài  
nguyên thiên nhiên, di sản văn hoá tại địa  
phương (bao gồm cả các tài sản chưa được  
giao quản lý, tài sản mới được phát hiện,  
tìm thấy).  
- Về chế độ trách nhiệm  
Các quy định về chế độ trách nhiệm  
cần bao hàm cả các trách nhiệm về mặt  
dân sự và chính trị bên cạnh trách nhiệm  
hành chính. Do sự đa diện của vấn đề quản  
lý, sử dụng tài sản công ở cấp chính quyền  
địa phương, việc kết hợp các chế độ trách  
nhiệm là cần thiết để đảm bảo hiệu lực và  
hiệu quả đối với hoạt động này.  
Nhân dân với tư cách là người chủ sở  
hữu thực sự về mặt pháp lý được thụ hưởng  
các lợi ích do việc quản lý, sử dụng tài sản  
công mang lại trong điều kiện cho phép,  
được giám sát, phản biện và nêu ý kiến về  
quản lý, sử dụng các tài sản công nói chung  
và được tham gia vào quá trình ra quyết  
định đối với việc quản lý, sử dụng các tài  
sản có ý nghĩa quốc gia.  
- Về cơ chế giám sát  
Đồng bộ với các quy định về thẩm  
quyền và chế độ trách nhiệm, các quy định  
về cơ chế giám sát trong quản lý, sử dụng  
tài sản công ở cấp chính quyền địa phương  
cần đảm bảo phát huy được vai trò của giám  
sát của người dân thông qua cơ chế giám sát  
của cộng đồng. Cần có cơ chế phù hợp để  
đảm bảo người dân có thể thực thi hiệu quả  
quyền giám sát việc quản lý, sử dụng tài sản  
Người dân địa phương với tư cách là  
thành viên của chủ sở hữu và là những người  
trực tiếp tương tác với các tài sản công tại  
địa phương không chỉ được tạo điều kiện tối  
công ở cấp chính quyền địa phương  
124  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
pdf 8 trang Thùy Anh 20580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quản lý, sử dụng tài sản công ở cấp chính quyền địa phương trong chế độ sở hữu toàn dân ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_ly_su_dung_tai_san_cong_o_cap_chinh_quyen_dia_phuong_tr.pdf