Phát triển sinh kế bền vững cho hộ dân phụ thuộc vào rừng tại khu vực vùng cao tỉnh Bắc Kạn

PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG  
CHO HỘ DÂN PHỤ THUỘC VÀO RỪNG  
TẠI KHU VỰC VÙNG CAO TỈNH BẮC KẠN  
Nguyễn Hải Núi, Nguyễn Quốc Chỉnh, Đỗ Quang Giám  
Khoa Kế toán và Quản trị Kinh doanh,  
Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Nguyễn Thanh Lâm  
Khoa Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Tóm tắt  
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải  
pháp phát triển sinh kế bền vững cho hộ dân phụ thuộc vào rừng tại  
khu vực vùng cao tỉnh Bắc Kạn trong bối cảnh duy trì và phát triển  
rừng. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập ở cấp hộ và địa phương qua  
phỏng vấn và thảo luận với 265 hộ dân sống gần rừng. Phương pháp  
thống kê mô tả, so sánh, mô hình hồi quy, logarit thứ bậc và kiểm định  
T-test, χ2-test được sử dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy diện tích  
cũng như tài nguyên rừng đã và đang bị đe dọa bởi các hoạt động  
sinh kế của người dân vùng cao. Sinh kế của hộ phụ thuộc vào rừng  
còn nhiều hạn chế và thiếu bền vững. Thu nhập của hộ còn ở mức  
thấp, hoạt động sinh kế của hộ chưa đa dạng. Điều đó tạo ra những  
rủi ro trong tiếp cận nguồn tài nguyên rừng như sự mâu thuẫn lợi ích  
với các tác nhân khác. Để phát triển sinh kế bền vững cho người dân  
địa phương, bài viết đề xuất một số giải pháp về cải tiến cơ chế tổ  
chức quản lý và nâng cao nguồn lực sinh kế.  
Từ khóa: Phụ thuộc vào rừng; Sinh kế bền vững; Tài nguyên rừng;  
Bắc Kạn.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Rừng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sinh kế của người  
dân nghèo tại các nước đang phát triển. Sự quan trọng của rừng được  
thể hiện ở cả khía cạnh kinh tế và xã hội. Rừng góp phần rất tích cực  
cho kinh tế xanh, giúp tạo ra môi trường sống trong lành, an toàn cho  
con người và tất cả các sinh vật trên Trái đất, hấp thụ và giảm nhẹ  
phát thải khí nhà kính, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ môi trường  
198  
cho phát triển sản xuất và đời sống, cung cấp nơi ở, việc làm, tạo sinh  
kế ổn định và là khởi nguồn đời sống văn hóa tâm linh của những  
cộng đồng sống trong và gần rừng (Kamanga và cs., 2009; Mutamba  
và cs., 2005; Vedeld và cs., 2007). Lâm nghiệp bền vững không chỉ có  
vị trí quan trọng đối với đời sống kinh tế - xã hội của từng quốc gia  
nói riêng và của toàn cầu nói chung, mà còn góp phần đắc lực trong  
việc giảm thiểu tác hại của thiên tai và ứng phó tích cực với biến đổi  
khí hậu trên thế giới, đóng góp quan trọng cho quá trình xây dựng một  
nền kinh tế xanh, hướng tới phát triển bền vững.  
Trong nhiều năm qua, tiếp cận sinh kế được sử dụng nhiều trong  
các vấn đề phát triển nông thôn đối với cộng đồng nói chung và  
nhóm hộ dân phụ thuộc vào rừng nói riêng. Sinh kế bền vững giúp  
hộ có thể đối phó và phục hồi những áp lực và các cú sốc, đồng thời  
có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản, cả ở hiện tại lẫn  
trong tương lai, mà không gây tổn hại đến các nguồn tài nguyên  
thiên nhiên. Khung phát triển sinh kế bền vững chỉ ra các yếu tố  
chính ảnh hưởng đến sinh kế của người dân và các mối quan hệ điển  
hình giữa chúng. Trong đó, thu nhập được xem xét là chỉ tiêu nghiên  
cứu không thể thiếu của kết quả sinh kế. Cải thiện thu nhập cho vùng  
cao là một trong những quốc sách hàng đầu của Đảng và Nhà nước.  
Bên cạnh đó, xây dựng khung năng lực trên cơ sở các nguồn lực sinh  
kế trong bối cảnh xem xét bối cảnh dễ bị tổn thương của hộ góp phần  
quan trọng giảm nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020. Bắc Kạn là  
tỉnh miền núi, diện tích đất lâm nghiệp là 432.387 ha, chiếm 89%  
(Niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn, 2015). Ngành nông - lâm nghiệp  
đóng góp hơn 1/3 GDP toàn tỉnh, hơn 70% lao động của tỉnh là lao  
động nông lâm nghiệp, trong đó, lâm nghiệp chiếm khoảng 13%. Do  
vậy, phát triển sinh kế bền vững cho hộ dân phụ thuộc vào rừng ở  
Bắc Kạn sẽ góp phần quan trọng vào chương trình xóa đói, giảm  
nghèo của quốc gia, cũng như giảm sự tác động tiêu cực tới vấn đề  
duy trì và phát triển diện tích rừng.  
Trên thế giới và ở Việt Nam, đã có khá nhiều nghiên cứu về phát  
triển sinh kế bền vững, như Chambers và Conway (1992), Baumann  
và Sinha (2001), Babulo và cs. (2008), Ludi và Slater (2008),  
Kamanga và cs. (2009), Scoones (2009), Xu và cs. (2015), Nguyen  
Trung Thanh và cs. (2015). Khung phát triển sinh kế bền vững cũng  
đã trở thành phương pháp chủ đạo trong việc thực hiện các hoạt động  
phát triển của một số tổ chức quốc tế lớn như Oxfam, CARE, UNDP,  
DFID. Kết quả nghiên cứu của họ cho mối quan hệ chặt chẽ giữa các  
199  
hợp phần sinh kế, nhằm tạo ra sinh kế bền vững của hộ. Hộ có thể cải  
thiện sinh kế của mình thông qua việc phân bổ sử dụng nguồn lực sinh  
kế hợp lý, quyết định theo đuổi chiến lược sinh kế đúng đắn, giảm sự  
tác động của bối cảnh. Tuy nhiên, nguồn lực, chiến lược và bối cảnh  
sinh kế của các hộ là không đồng nhất, các nghiên cứu cụ thể về phát  
triển sinh kế bền vững của hộ dân phụ thuộc vào rừng bị thiếu hụt. Do  
vậy, sự hiểu biết thực trạng sinh kế, các yếu tổ ảnh hưởng tới kết quả  
sinh kế của hộ, đặc biệt đối với nhóm hộ phụ thuộc vào rừng là cần  
thiết cho cả việc bảo tồn và thực hiện các chính sách phát triển rừng.  
Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng sinh kế, trong đó tập  
trung vào nguồn vốn và kết quả sinh kế. Trên cơ sở đó, đề xuất giải  
pháp phát triển sinh kế bền vững cho hộ dân phụ thuộc vào rừng tại khu  
vực vùng cao tỉnh Bắc Kạn trong bối cảnh duy trì và phát triển rừng.  
1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
1.1. Phương pháp tiếp cận  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận theo khung sinh kế bền  
vững trên cơ sở của Baumann và Sinha (2001) và Ludi và Slater  
(2008), nhằm xem xét tổng hợp từ bối cảnh dễ bị tổn thương, nguồn  
vốn sinh kế, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế của đối tượng nghiên  
cứu. Phương pháp tiếp cận theo mức độ phụ thuộc vào rừng, trên cơ sở  
áp dụng cách tiếp cận của Babulo và cs. (2008), mức độ phụ thuộc vào  
rừng được xác định trên cơ sở tỷ trọng thu nhập từ rừng. Theo đó, mức  
độ phụ thuộc vào rừng được phân thành ba nhóm: cao, trung bình và  
thấp, với lần lượt tỷ trọng thu nhập từ rừng so với thu nhập tương ứng  
là hơn 40%, từ hơn 20% tới 40% và nhỏ hơn hoặc bằng 20%. Đồng  
thời, nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp tiếp cận sinh thái nhân văn  
và tiếp cận theo Chương trình REDD+ (giảm phát thải từ mất rừng và  
suy thoái rừng) nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp. Trong đó, tiếp cận  
sinh thái nhân văn xem xét tổng hòa mối quan hệ giữa con người và  
môi trường rừng. Theo đó, giải pháp nâng cao sinh kế người dân trong  
bối cảnh hướng tới giảm sự phụ thuộc vào rừng của người dân, nhằm  
giảm bớt áp lực cho việc rừng bị mất và suy thoái.  
1.2. Chọn điểm nghiên cứu và thu thập số liệu  
Nghiên cứu được tiến hành tại hai huyện đại diện vùng cao, với  
diện tích rừng và độ che phủ rừng lớn của tỉnh là Na Rì và Ba Bể. Tại  
200  
mỗi huyện, nghiên cứu chọn hai xã điểm thuộc vùng cao. Tại mỗi xã  
nghiên cứu được thực hiện ở những thôn/bản vùng cao - nơi hộ dân có  
quyền sử dụng đất rừng và cơ hội tiếp cận nguồn tài nguyên từ rừng.  
Do số hộ không nhiều, nên nghiên cứu tiến hành điều tra toàn bộ hộ  
tại mỗi thôn/bản, khảo sát bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 265  
hộ dân. Nội dung khảo sát tập trung vào các chỉ tiêu của các hợp phần  
trong khung sinh kế bền vững.  
1.3. Phương pháp phân tích  
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để mô tả thực trạng  
sinh kế của hộ. Các số trung bình, độ lệch chuẩn được sử dụng với chỉ  
tiêu phân tổ là mức độ phụ thuộc vào rừng, tình trạng nghèo, địa bàn  
nghiên cứu, để tổng hợp, phân tích và phản ánh động thái, tính chất  
của từng chỉ tiêu sinh kế. Phân tích ANOVA một chiều, kiểm định  
T-test và χ2-test được sử dụng để đánh giá sự khác biệt của các chỉ tiêu  
nghiên cứu. Chúng tôi sử dụng các mô hình kinh tế lượng để đánh giá  
sự ảnh hưởng của hợp phần sinh kế thu nhập của hộ (mô hình hồi quy  
đa biến), tình trạng nghèo (mô hình logarit). Các tham số được tính  
toán, ước lượng bằng phần mềm Stata 12.0.  
2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
2.1. Bối cảnh dễ bị tổn thương  
Để xem xét thực trạng sự tổn thương của hộ, nghiên cứu này tìm  
hiểu các biến cố mà hộ phải đối mặt. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hộ  
không phải đối mặt với những biến cố quá lớn. Trong những năm qua,  
thiên tai xảy ra rất ít, chỉ có những trận mưa lớn làm ảnh hưởng tới vài  
ba hộ dân sống gần suối. Tuy nhiên, có tới 1/3 hộ dân được điều tra  
cho rằng họ bị mất mùa, trong đó hơn 10% cảm nhận sự mất mùa là  
nghiêm trọng, ảnh hưởng tiêu cực rất lớn tới cuộc sống của hộ. Sự mất  
mùa này chủ yếu xảy ra ở khu vực canh tác thiếu nước và đôi khi cũng  
là do bị úng nước ở khu vực canh tác trũng. Bên cạnh đó, sự ốm đau  
của người dân cũng rất đáng quan tâm. Gần 1/4 hộ được khảo sát cho  
rằng họ gặp phải sự ốm đau, trong đó gần 12% ốm đau nghiêm trọng.  
Sự mất mát đất, vật nuôi và tài sản là không đáng kể. Những hủ tục,  
đám xá... làm hộ phải chi những khoản lớn ngoài mong đợi cũng  
không còn nhiều.  
201  
Bảng 1. Biến cố mà hộ phải đối mặt (%)  
Không  
97,74  
65,41  
76,32  
99,25  
88,72  
97,37  
78,95  
Vừa phải  
1,88  
Nghiêm trọng  
0,38  
Thiên tai  
Mất mùa  
24,06  
12,03  
0,38  
10,53  
11,65  
0,38  
Ốm đau  
Mất đất  
Mất mát vật nuôi  
Mất mát tài sản  
8,27  
3,01  
1,50  
1,13  
Khoản chi lớn ngoài  
mong đợi  
16,54  
4,51  
Khác  
96,99  
2,26  
0,75  
Nguồn: Phân tích từ số liệu phỏng vấn hộ, 2015.  
2.2. Nguồn vốn sinh kế  
2.2.1. Nguồn vốn con người  
Nhìn chung, nguồn vốn con người tại địa bàn nghiên cứu còn  
nhiều yếu kém và không đồng đều giữa các nhóm hộ. Quy mô hộ bình  
quân tại khu vực khảo sát là 4,65 thành viên/hộ, trong đó thành viên  
trong độ tuổi lao động chiếm 66,24%. Con số này khá tương đồng với  
số liệu thống kê của toàn tỉnh năm 2014 (67,38%) và cao hơn khá  
nhiều so với bình quân chung của cả nước (58,86%). Điều này cho  
thấy, Bắc Kạn có lực lượng lao động khá dồi dào, tiềm năng phát triển  
là rất lớn. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, hộ có quy mô lớn, tỷ lệ lao  
động cao mang lại nguồn vốn con người mạnh cho hộ. Kết quả nghiên  
cứu này cũng chỉ ra điều tương tự khi kết quả kiểm định cho thấy, hộ  
nghèo thường là những hộ có quy mô nhỏ, với chỉ là 4,15 thành viên  
(thấp hơn con số 4,92 của hộ không nghèo) và 63,37% người trong độ  
tuổi lao động - thấp hơn gần 5% so với hộ không nghèo.  
Đặc điểm của chủ hộ có sự khác biệt rõ nét giữa các nhóm hộ. Đa  
phần (69%) chủ hộ chỉ học xong cấp 1 và cấp 2, chỉ có chưa tới 1/4  
chủ hộ có trình độ từ cấp 3 trở lên. Trình độ học vấn của chủ hộ có sự  
ảnh hưởng tích cực có ý nghĩa thống kê tới hộ. Chủ hộ có trình độ học  
vấn càng cao, có xu hướng giúp hộ thoát nghèo và giảm sự phụ thuộc  
vào rừng. Tuổi bình quân chủ hộ là hơn 44 tuổi và có sự khác biệt  
giữa các nhóm hộ. Nhóm hộ có mức phụ thuộc cao vào rừng thường là  
những hộ với độ tuổi cao hơn. Điều này có thể được giải thích là do  
chủ hộ có độ tuổi cao ít có cơ hội tiếp thu kiến thức, kỹ năng để đa  
202  
dạng hóa nguồn thu nhập. Họ có xu hướng tiếp cận và khai thác nguồn  
tài nguyên rừng nhiều hơn. Tuy nhiên, chủ hộ có tuổi thấp, chưa có  
nhiều tích lũy, nên thường có xu hướng nghèo hơn.  
Để nâng cao kiến thức, kỹ năng và năng lực lao động, trong thời  
gian qua, các cấp chính quyền địa phương cũng đã thường xuyên tổ  
chức các lớp tập huấn cho các hộ dân. Trên 70% số hộ tham gia hầu  
hết các lớp tập huấn hhi được mời tham gia. Tuy nhiên, vẫn tồn tại  
khoảng 16,23% số hộ rất ít khi tham gia các lớp tập huấn. Những hộ  
này thường là những hộ trẻ, ngại tham gia, hay những hộ không biết  
rõ tiếng phổ thông. Việc tích cực tham gia các lớp tập huấn đã mang  
lại những tín hiệu tích cực cho hộ, nhóm hộ thương xuyên tham gia  
các lớp tập huấn hơn thường là những hộ không nghèo và mức độ phụ  
thuộc vào rừng thấp. Kết quả này ngụ ý rằng các cấp chính quyền địa  
phương bên cạnh việc thường xuyên mở các lớp tập huấn, cũng rất  
cần vận động các nhóm hộ tham gia một cách chủ động, tích cực.  
Bảng 2. Thực trạng nguồn vốn con người của hộ  
Mức độ phụ thuộc  
Mức kinh tế hộ  
vào rừng  
Tính  
Chỉ tiêu  
ĐVT  
chung  
Tr.  
Không  
nghèo  
Cao  
Thấp Nghèo  
bình  
Khẩu/  
hộ  
Số  
nhân  
khẩu  
TB  
4,63  
4,49  
4,77  
3,22  
4,15  
2,63  
4,92  
4,65  
(p) T-test  
0,405  
2,98  
0,000  
Số  
Tr. bình LĐ/hộ 2,99  
3,33  
3,08  
lượng  
lao  
động  
(p) T-test  
0,263  
8,75  
0,000  
Chưa  
xong cấp  
1
%
10,96  
2,68  
9,57  
5,26  
6,79  
Đã xong  
cấp 1  
%
%
%
46,58 41,25 20,54  
34,25 27,50 41,07  
42,55  
31,91  
15,96  
29,24  
36,84  
28,65  
33,96  
35,09  
24,15  
Trình  
độ của  
chủ hộ  
Đã xong  
cấp 2  
Từ cấp 3  
trở lên  
8,22  
22,50 35,71  
0,000  
(p) χ2-test  
0,026  
203  
Mức độ phụ thuộc  
vào rừng  
Mức kinh tế hộ  
Tính  
chung  
Chỉ tiêu  
ĐVT  
Tr.  
Không  
nghèo  
Cao  
Thấp Nghèo  
bình  
Nam  
Nữ  
(p) χ2-test  
%
%
93,15 93,75 95,54  
92,55  
7,45  
95,32  
4,68  
94,34  
5,66  
Giới  
tính  
của  
6,85  
6,25  
4,46  
chủ hộ  
0,0761  
0,351  
Tuổi  
của  
chủ hộ  
Tr. bình  
Năm 46,96 43,70 42,53  
40,68  
23,64  
45,98  
44,10  
27,77  
(p) T-test  
0,018  
0,000  
Tuổi  
bình  
quân  
thành  
viên  
TB  
Năm 28,74 27,26 27,52  
30,05  
(p) T-test  
0,604  
0,000  
Hầu như  
không  
%
%
%
21,92 13,75 14,29  
21,28  
18,09  
60,64  
13,45  
10,53  
76,02  
16,23  
13,21  
70,57  
Mức  
độ  
tham  
gia lớp  
tập  
Thỉnh  
thoảng  
8,22  
17,50 13,39  
Tham gia  
hầu hết  
69,86 68,75 72,32  
0,330  
huấn  
(p) χ2-test  
0,031  
Nguồn: Phân tích từ số liệu phỏng vấn hộ, 2015.  
2.2.2. Nguồn vốn xã hội  
Trong những năm qua, địa phương thường xuyên mở các lớp tập  
huấn, tuy nhiên vẫn không thể đáp ứng được tất cả nhu cầu của người  
dân do kinh phí có hạn. Nguồn vốn xã hội mạnh sẽ giúp hộ tiếp cận  
tốt hơn với các lớp tập huấn. Gần 50% hộ trả lời rằng, họ được mời  
hầu như tất cả các lớp tập huấn tổ chức tại địa phương, nhưng cũng có  
tới hơn 28% số hộ có câu trả lời ngược lại. Tần suất tiếp cận các lớp  
tập huấn cũng có sự khác nhau giữa nhóm hộ. Hộ nghèo có xu hướng  
ít được mời tham gia các lớp tập huấn do ít tham gia các lớp trước đó.  
Vậy nên, đơn vị tổ chức có xu hướng mời những người nhiệt tình  
tham gia hơn. Đây là một cách ứng xử bình thường, tuy nhiên sẽ là  
hữu ích hơn cho người nghèo nếu họ nhận được tần suất mời tham gia  
công bằng với nhóm hộ không nghèo.  
204  
Tổ tuần tra rừng có nhiệm vụ kiểm tra, rà soát, theo dõi diện tích  
rừng của thôn, bản mình quản lý. Tham gia tổ tuần tra rừng cũng mang  
lại lợi ích khá lớn cho người dân, đặc biệt là khi Chương trình chi trả  
dịch vụ môi trường rừng được triển khai. Sự tham gia tổ tuần tra rừng là  
công bằng giữa các nhóm hộ. Điều này ngụ ý sự bình đẳng đối xử của  
chính quyền địa phương với các nhóm hộ. Sự tin tưởng của người dân  
địa phương vào cộng đồng là rất cao và không có sự khác biệt giữa  
nhóm hộ. Tuy nhiên, sự chuyển biến từ việc được tin tưởng đến nhận  
được sự giúp đỡ khi cần thiết lại có sự khác biệt. Kết quả điều tra cho  
thấy, nhóm hộ phụ thuộc cao vào rừng cũng như hộ nghèo khó khăn  
hơn những nhóm hộ còn lại trong việc tìm kiếm sự giúp đỡ của bạn bè  
hàng xóm khi gặp khó khăn, đặc biệt là sự giúp đỡ về vật chất. Điều  
này có thể được giải thích do sự yếu kém từ nguồn lực khác, họ dễ bị  
tổn thương nên bạn bè nhận thấy rủi ro khi giúp đỡ về vật chất.  
Bảng 3. Thực trạng nguồn vốn xã hội của hộ (%)  
Mức độ phụ thuộc  
Mức kinh tế hộ  
vào rừng  
Tính  
Chỉ tiêu  
chung  
Tr.  
bình  
Không  
nghèo  
Cao  
Thấp Nghèo  
Rất ít khi  
Thỉnh  
thoảng  
Hầu như  
tất cả  
39,73 26,25  
20,55 25,00  
23,21  
25,00  
38,30  
26,60  
23,39  
28,68  
23,77  
Tần suất  
được mời  
tham gia  
lớp tập  
22,22  
39,73 48,75  
51,79  
35,11  
54,39  
47,55  
huấn  
(p) χ2-test  
0,180  
67,12 55,00  
32,88 45,00  
0,030  
0,007  
Có  
47,32  
52,68  
59,57  
40,43  
52,63  
47,37  
55,09  
44,91  
Sự tham  
gia tổ tuần  
tra rừng  
Không  
(p) χ2-test  
Không  
Có  
0,277  
Sự tin  
tưởng  
người dân  
địa  
20,55 15,00  
79,45 85,00  
13,39  
86,61  
15,96  
84,04  
15,79  
84,21  
15,85  
84,15  
(p) χ2-test  
0,415  
0,971  
phương  
Hầu như  
không  
Có thể  
Hầu như  
có  
(p) χ2-test  
12,33  
3,75  
3,57  
9,82  
6,38  
23,40  
70,21  
5,85  
11,70  
81,87  
6,04  
15,85  
77,74  
Khả năng  
nhận được  
sự giúp đỡ  
khi cần  
24,66 16,25  
63,01 80,00  
0,003  
85,71  
0,042  
Nguồn: Phân tích từ số liệu phỏng vấn hộ, 2015.  
205  
2.2.3. Nguồn vốn tự nhiên  
Tổng diện tích đất sở hữu bình quân của hộ là 4,05 ha/hộ, trong đó  
phần lớn là đất lâm nghiệp (3,45 ha/hộ), đất phục vụ trồng trọt, chăn  
nuôi và nuôi trồng thủy sản là 0,5 ha/hộ. Đất nhà ở và vườn tạp gắn  
với đất ở bình quân khoảng 1.000 m2/hộ. Tổng diện tích đất sở hữu  
của hộ không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm hộ nghèo  
và không nghèo. Điều này là rất khác biệt so với nhiều nghiên cứu  
khác khi họ chỉ ra rằng, diện tích đất sở hữu có ảnh hưởng rất lớn và  
rõ nét tới thu nhập của hộ. Tuy nhiên, tại địa bàn nghiên cứu, sự tác  
động này là không rõ ràng, vì phần lớn đất lâm nghiệp chưa đem lại  
nhiều thu nhập do giao thông khó khăn. Cũng như kết quả của các  
nghiên cứu khác, diện tích đất nông nghiệp có sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê giữa nhóm hộ nghèo và không nghèo. Khả năng tiếp cận khu  
rừng gần nhất của hộ là khá dễ dàng, do hộ được khảo sát là những  
thôn, bản sống gần rừng. Di chuyển tới bìa rừng, hộ có thể sử dụng xe  
đạp, xe máy. Tuy nhiên, khi đi sâu vào trong rừng, cách duy nhất của  
hộ là đi bộ hoặc sử dụng ngựa thồ.  
Khoảng cách bình quân của hộ tới trung tâm xã và chợ địa  
phương lần lượt là 3,71 km và 9,42 km. Sự khác biệt giữa các nhóm  
hộ là không rõ ràng. Mặc dù đường đi đã được cải thiện nhiều,  
nhưng vẫn còn rất khó khăn, địa hình quanh co, phức tạp. Việc di  
chuyển bằng ôtô vào các thôn, bản vào các thôn vùng cao là đặc  
biệt khó khăn cho dù đó là ôtô cỡ nhỏ. Vào mùa mưa, sự di chuyển  
này là không thể. Đối với việc tiếp cận chợ địa phương để hộ có thể  
mua các nhu yếu phẩm cần thiết, hay trao đổi những nông lâm  
phẩm thu được là không dễ dàng. Tại địa bàn nghiên cứu, một cụm  
xã (thường là 5 xã) mới có một chợ, chợ được họp theo phiên  
(khoảng 3-6 phiên/tháng). Nhằm đảm bảo cuộc sống cho người dân  
vùng cao, trong những năm qua, tỉnh Bắc Kạn cũng đã hỗ trợ, đầu  
tư công trình nước đảm bảo vệ sinh cho người dân. Bình quân, 65%  
hộ dân đã có thể tiếp cận với nguồn nước đảm bảo vệ sinh. Nguồn  
nước của cộng đồng dân cư sống gần rừng chủ yếu là hệ thống ống  
dẫn nước từ thượng nguồn tới thôn, bản được hỗ trợ từ chính quyền  
địa phương, hộ dân cần đầu tư đường ống từ bể nước chung của  
thôn về.  
206  
Bảng 4. Thực trạng nguồn vốn tự nhiên của hộ  
Mức độ phụ thuộc  
Mức kinh tế hộ  
vào rừng  
Tính  
chung  
Chỉ tiêu  
ĐVT  
Không  
nghèo  
Cao  
TB  
Thấp Nghèo  
Diện tích đất  
nông nghiệp  
TB  
ha  
0,50  
0,48  
0,571  
1,60  
0,53  
5,64  
0,15  
6,32  
1,14  
0,37  
2,69  
0,11  
3,16  
1,18  
0,58  
0,51  
3,45  
0,10  
4,05  
1,11  
20,87  
3,71  
(p) T-test  
TB ha  
(p) T-test  
TB ha  
(p) T-test  
0,000  
Diện tích đất  
rừng  
2,11  
0,05  
2,66  
1,13  
3,87  
0,09  
4,54  
1,07  
21,58  
0,000  
0,06  
0,251  
0,769  
0,183  
0,603  
Diện tích đất  
khác  
0,078  
2,15  
Tổng diện tích TB  
đất  
ha  
(p) T-test  
TB km  
(p) T-test  
0,000  
1,04  
Khoảng cách  
từ hộ tới rừng  
0,867  
Khoảng cách  
từ hộ tới rừng  
TB phút 19,66 20,06 22,23 19,57  
(p) T-test  
TB km  
(p) T-test  
0,808  
3,70  
0,574  
Khoảng cách  
từ hộ tới  
trung tâm xã  
3,92  
7,92  
0,75  
3,57  
3,50  
9,69  
0,57  
3,82  
9,27  
0,70  
0,208  
0,064  
0,598  
0,053  
Khoảng cách  
từ hộ tới chợ  
địa phương  
TB  
km  
10,73 9,46  
0,018  
9,42  
0,65  
(p) T-test  
Tỷ lệ hộ tiếp  
cận nước đảm  
bảo vệ sinh  
TB  
%
0,61  
0,62  
(p) T-test  
0,106  
Nguồn: Phân tích từ số liệu phỏng vấn hộ, 2015.  
2.2.4. Nguồn vốn vật chất  
Nguồn lực vật chất được đo lường bằng chỉ tiêu tình trạng nhà ở và  
tài sản của hộ. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng cách tiếp cận  
theo quy trình điều tra, rà soát hộ nghèo theo Thông tư số 21/2012/TT-  
BLĐTBXH của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Sự  
khác biệt về tình trạng và chất lượng nhà ở của hộ nghèo và không  
nghèo là rất rõ ràng. Tương tự, chất lượng nhà ở của hộ không nghèo  
207  
cũng tốt hơn hẳn. Thời gian xây dựng chưa lâu và vật liệu chắc chắn,  
21,05% hộ không nghèo đánh giá nhà của họ đang có chất lượng tốt.  
Tình trạng nhà ở của nhóm hộ phân theo mức độ phụ thuộc vào rừng  
cũng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết quả chỉ ra rằng, hộ có  
mức phụ thuộc càng cao vào rừng thì tình trạng nhà ở thấp hơn.  
Bảng 5. Thực trạng nguồn vốn vật chất của hộ  
Mức độ phụ thuộc  
Mức kinh tế hộ  
vào rừng  
Tính  
Chỉ tiêu  
chung  
ĐVT  
Không  
nghèo  
Cao  
TB  
Thấp Nghèo  
Kiên cố  
%
%
%
30,14 37,50 53,57 29,79  
68,49 55,00 42,86 60,64  
49,12  
49,71  
1,17  
42,26  
53,58  
4,15  
Bán kiên  
cố  
Tình  
trạng  
nhà ở  
Nhà tạm  
1,37  
7,50  
3,57  
9,57  
(p) χ2-test  
0,004  
0,000  
Tốt  
%
%
%
13,70 12,50 19,64  
6,38  
21,05  
77,78  
1,17  
15,85  
74,34  
9,81  
Chấp  
nhận  
được  
Chất  
lượng  
nhà ở  
76,71 78,75 69,64 68,09  
Kém  
9,59  
8,75 10,71 25,53  
0,630 0,000  
Tr. bình Điểm 22,97 26,64 38,30 17,86  
(p) χ2-test  
Điểm  
tài sản  
sinh  
37,54  
30,56  
16,98  
(p) T-test  
0,000  
0,000  
19,84  
hoạt  
Điểm  
tài sản  
sản  
Tr. bình Điểm 14,49 16,20 19,16 11,79  
xuất  
kinh  
(p) T-test  
0,010  
0,000  
doanh  
Nguồn: Phân tích từ số liệu phỏng vấn hộ, 2015.  
Tính chung, điểm tài sản sinh hoạt của hộ đạt 30,56 điểm và có  
sự dao động khá lớn cho thấy sự phân tán của dữ liệu và sự khác  
biệt có ý nghĩa thống kê tại mức 1% giữa các nhóm hộ. Nhóm hộ  
208  
không nghèo có điểm tài sản sinh hoạt cao gấp hơn 2 lần so với hộ  
nghèo. Hộ nghèo đã nghèo về các tài sản phục vụ sinh hoạt, họ  
cũng không có điều kiện nguồn lực để trang bị tải sản đầu tư vào  
sản xuất kinh doanh. Điều này nói lên rằng, nguồn vốn vật chất của  
hộ nghèo yếu hơn rất nhiều so với nhóm hộ không nghèo. Tương  
tự, điểm tài sản sinh hoạt và sản xuất kinh doanh của nhóm hộ phụ  
thuộc thấp vào rừng cao hơn khoảng 1,5 lần so với nhóm hộ có mức  
phụ thuộc vào rừng cao hơn.  
2.2.5. Nguồn vốn tài chính  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguồn vốn tài chính của hộ rất yếu,  
có lẽ là yếu nhất trong 6 nhóm nguồn vốn. Tính chung cho toàn bộ  
mẫu điều tra, 28% số hộ có ít nhất một thành viên có thu nhập ổn  
định. Thành viên này thường là những người tham gia làm cán bộ  
chính quyền địa phương, công nhân của các xưởng sản xuất, nhà  
máy tại địa phương. Họ là thành viên đóng vai trò quan trọng trong  
kinh tế hộ gia đình cả về số lượng và sự bền vững. Do đó, hộ có lao  
động với thu nhập ổn định có xu hướng ít phụ thuộc vào rừng hơn và  
thường là hộ không nghèo. Sự khác biệt này là rất rõ nét với kết quả  
điều tra có ý nghĩa thống kê tại mức 1%. Nghiên cứu này xem xét  
năm nhóm thu nhập của hộ, bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, rừng, phi  
nông - lâm nghiệp và khác. Tính chung cho toàn mẫu điều tra,  
46,79% số hộ có không quá 3 nguồn thu nhập cơ bản là trồng trọt,  
chăn nuôi và rừng. Sự đa dạng nguồn thu nhập của hộ có sự khác  
biệt lớn giữa các nhóm hộ. Nhóm hộ không nghèo có sự đa dạng  
nguồn thu nhập hơn so với nhóm hộ nghèo, trong khi đó, nhóm hộ  
phụ thuộc cao vào rừng có các hoạt động sinh kế ít hơn.  
Mẫu điều tra tập trung vào hộ sống gần rừng, khu vực vùng cao,  
chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, với tỷ lệ hộ nghèo còn lớn. Do  
đó, bình quân toàn bộ mẫu điều tra chỉ có 38% số hộ có thu nhập đáp  
ứng được nhu cầu thiết yếu của mình. Mức độ tiết kiệm là rất thấp  
(11,32%), trong đó chủ yếu là tiếp kiệm trên cơ sở mua sắm công cụ  
sản xuất, tiết kiệm bằng tiền mặt hay gửi các tổ chức tín dụng hầu  
như là không có. Tình trạng mắc nợ của người dân là rất cao (76,6%)  
với việc họ phải nợ các cửa hàng vật tư nông nghiệp trong hoạt động  
sinh kế của mình. Sự khác biệt về nguồn vốn tài chính giữa các  
nhóm hộ là rất rõ nét, với độ tin cậy cao (99%). Có thể kết luận rằng,  
hộ không nghèo, có mức phụ thuộc và rừng thấp, có nguồn vốn tài  
chính mạnh hơn.  
209  
Bảng 6. Thực trạng nguồn vốn tài chính của hộ (%)  
Mức độ phụ thuộc vào  
Mức kinh tế hộ  
rừng  
Tính  
chung  
Chỉ tiêu  
Không  
Cao  
TB  
Thấp Nghèo  
nghèo  
Mức độ  
đáp ứng  
nhu cầu  
tối thiểu  
của hộ  
Thiếu nhiều  
35,62 26,25 19,64  
42,47 42,50 27,68  
42,55  
34,04  
23,40  
16,96  
26,04  
36,23  
37,74  
Thiếu không  
đáng kể  
37,43  
45,61  
Đủ  
21,92 31,25 52,68  
0,000  
(p) χ2-test  
0,000  
Số nguồn Ít hơn 4  
thu nhập nguồn  
72,60 50,00 27,68  
58,51  
40,35  
46,79  
của hộ  
4 nguồn  
20,55 38,75 44,64  
6,85 11,25 27,68  
0,000  
32,98  
8,51  
38,01  
21,64  
36,23  
16,98  
5 nguồn  
(p) χ2-test  
0,004  
Tỷ lệ hộ có  
lao động  
với thu  
nhập ổn  
định  
Tr. bình  
5,48 18,75 48,21  
9,57  
37,43  
27,55  
(p) T-test  
0,000  
0,000  
Tỷ lệ hộ có Tr. bình  
2,74  
8,75  
18,75  
2,13  
16,37  
75,44  
11,32  
76,60  
tiết kiệm  
(p) T-test  
0,002  
0,000  
Tỷ lệ hộ  
mắc nợ  
Tr. bình  
68,49 81,25 78,57  
0,145  
78,72  
0,542  
(p) T-test  
Nguồn: Phân tích từ số liệu phỏng vấn hộ, 2015.  
2.2.6. Nguồn vốn chính trị  
Đa phần các nghiên cứu về sinh kế tiếp cận theo năm nhóm  
nguồn vốn. Nghiên cứu này bổ sung thêm nguồn vốn chính trị  
nhằm xem xét vị thế chính trị của hộ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự  
không đồng đều về nguồn vốn chính trị giữa các nhóm hộ. Tỷ lệ  
tham gia thường xuyên các hoạt động của các tổ chức địa phương là  
khá cao (80,38%) và sự khác biệt giữa các nhóm là không rõ ràng.  
Chỉ tiêu tỷ lệ hộ tham gia họp thôn để nắm bắt tinh thần, chủ  
trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và các quy định của địa  
210  
phương cũng là gần như tuyệt đối (96,23%). Tuy nhiên, sự tham gia  
quân dân chính đảng các cấp có sự khác biệt tại mức ý nghĩa thống  
kê cao (1%) giữa các nhóm hộ. Tổng điểm tham gia quân dân chính  
đảng được đóng góp bởi hơn 50% từ cấp thôn, hơn 33% từ việc  
tham gia Đảng, còn lại gần 17% đến từ cấp xã. Sự biến động dữ  
liệu của các điểm thành phần này cũng tương đồng với tổng điểm  
khi giá trị độ lệch chuẩn cao hơn nhiều so với giá trị trung bình cho  
thấy sự khác biệt rất lớn giữa các hộ.  
Nguồn vốn chính trị mạnh giúp hộ có sinh kế tốt hơn. Kết quả  
kiểm định cho thấy, hộ không nghèo, hộ có mức phụ thuộc vào  
rừng thấp, có nguồn lực chính trị mạnh hơn với các nhóm hộ còn  
lại. Sự khác biệt này do hộ có nguồn vốn chính trị mạnh giúp họ có  
vị thế chính trị, địa vị xã hội và từ đó cải thiện các nguồn vốn khác  
và tăng thu nhập. Bên cạnh đó, nguồn vốn chính trị mạnh giúp họ  
có cơ hội tiếp cận tốt với đường lối của Đảng, chính sách của Nhà  
nước, từ đó họ phát hiện cơ hội sản xuất kinh doanh, tiếp cận đầu  
vào tốt hơn. Đặc biệt, khi nắm giữ những vị trí chủ chốt tại địa  
phương, họ cũng có một nguồn thu nhập, tuy không nhiều những  
rất ổn định. Thứ hai, một luồng ý kiến khác cho rằng, để được tham  
gia vào hàng ngũ quân dân chính đảng tại địa phương, bản thân hộ  
cũng phải có nền tảng tốt, được sự tín nhiệm của bà con. Do đó,  
bản thân hộ cũng đã mạnh từ trước đó rồi, do vậy, tỷ lệ hộ không  
nghèo tham gia quân dân chính đàng nhiều hơn hộ nghèo cũng là  
điều dễ hiểu. Đồng thời, khi đã gia nhập hàng ngũ này rồi, hộ sẽ có  
ý thức vươn lên tốt hơn để làm hình mẫu cho các hộ còn lại - đó là  
động lực rất tốt để hộ phát triển.  
2.3. Chiến lược sinh kế và mức độ phụ thuộc và rừng  
Trong tổng số 265 hộ được khảo sát, có tới hơn 1/4 số hộ lựa chọn  
chiến lược sinh kế với mức phụ thuộc cao vào rừng. Trong khi đó, số  
hộ theo đuổi chiến lược có mức độ phụ thuộc thấp vào rừng chiếm  
42,26%. Tỷ trọng thu nhập từ rừng là 28,9% thể hiện rằng, hộ xác  
định chiến lược sinh kế có mức độ phụ thuộc khá cao vào rừng. Tuy  
nhiên, sự phụ thuộc này là khác nhau giữa các nhóm hộ. Nhóm hộ có  
chiến lược phụ thuộc cao vào rừng thường tiếp cận rừng nhằm thu  
hoạch các lâm sản ngoài gỗ như măng, rau..., đồng thời họ sử dụng  
chất đốt chủ yếu là củi lấy từ rừng.  
211  
Bảng 7. Thực trạng nguồn vốn chính trị của hộ  
Mức độ phụ thuộc  
Mức kinh tế hộ  
vào rừng  
Tính  
chung  
Chỉ tiêu  
ĐVT  
Không  
nghèo  
Cao  
TB  
Thấp Nghèo  
Tỷ lệ hộ  
TB  
%
72,60 81,25 84,82 79,79 80,70  
80,38  
thường xuyên  
tham gia các  
hoạt động  
của tổ chức  
địa phương  
(p) T-test  
0,121  
0,859  
Tỷ lệ hộ  
TB  
%
93,15 97,50 97,32 93,62 97,66  
96,23  
thường xuyên  
tham gia họp  
thôn  
(p) T-test  
0,271  
0,149  
0,06 0,15  
0,107  
0,18 0,53  
0,000  
Điểm tham  
gia quân dân  
chính cấp xã  
TB Điểm  
(p) T-test  
0,08  
0,29  
0,03  
0,018  
0,28  
0,21  
0,58  
0,12  
0,41  
Điểm tham  
gia quân dân  
chính cấp  
thôn  
TB Điểm  
(p) T-test  
0,003  
Điểm tham  
gia Đảng  
TB Điểm  
(p) T-test  
0,16  
0,53  
0,21  
0,015  
0,51  
0,38  
1,17  
0,11  
0,000  
0,35 1,04  
0,36  
0,27  
0,80  
Tổng điểm  
tham gia  
quân dân  
chính đảng  
các cấp  
TB Điểm  
(p) T-test  
0,000  
0,000  
Nguồn: Phân tích từ số liệu phỏng vấn hộ, 2015.  
Thêm vào đó, nguồn thu nhập khác như từ hoạt động phi nông  
nghiệp của nhóm hộ này thường rất hạn chế. Có thể thấy rằng, số  
lượng hộ theo đuổi chiến lược phụ thuộc nhiều vào rừng còn cao và nó  
sẽ tạo ra những trở ngại nhất định cho chương trình hạn chế tiếp cận  
rừng, nhằm bảo vệ và duy trì diện tích rừng của Nhà nước.  
212  
Sự lựa chọn chiến lược sinh kế theo mức độ phụ thuộc vào rừng  
có sự khác biệt rõ nét giữa các nhóm hộ. Nhóm hộ ở huyện Na Rì, với  
điều kiện kinh tế tốt hơn, có sự phụ thuộc vào rừng thấp hơn. Bên  
cạnh việc huyện Na Rì có điều kiện kinh tế tốt hơn, những hộ được  
khảo sát cũng sở hữu rừng sản xuất chủ yếu là rừng chưa được thu  
hoạch, đồng thời một diện tích nhỏ được thu hoạch, nhưng do điều  
kiện giao thông khó khăn, nên hộ cũng chưa thể khai thác được. Theo  
đó, số lượng hộ theo đuổi chiến lược phụ thuộc cao vào rừng ở huyện  
Ba Bể (38,17%) cao hơn gấp hai lần so với huyện Na Rì (17,16%).  
Điều này cho thấy, sự phụ thuộc vào rừng của hộ dân huyện Ba Bể  
cao hơn nhiều so với hộ dân huyện Na Rì. Xét ở khía cạnh mức kinh  
tế hộ, hộ nghèo có xu hướng theo đuổi chiến lược phụ thuộc cao vào  
rừng. Ngược lại, với nhiều lựa chọn và đa dạng hóa hoạt động sinh kế,  
hộ không nghèo có sự phụ thuộc vào rừng thấp hơn.  
Bảng 8. Chiến lược sinh kế và mức độ phụ thuộc vào rừng của hộ  
Huyện  
Mức kinh tế hộ  
Tính  
chung  
Chỉ tiêu  
ĐVT  
Không  
Nghèo  
Ba Bể  
Na Rì  
nghèo  
Tổng số hộ  
Hộ  
Hộ  
%
131  
50  
134  
23  
94  
29  
171  
44  
265  
73  
SL  
Tỷ lệ  
SL  
LS1: Phụ  
thuộc cao  
38,17  
43  
17,16  
37  
30,85  
33  
25,73  
47  
27,55  
80  
LS2: Phụ  
thuộc trung  
bình  
Hộ  
Tỷ lệ  
%
32,82  
27,61  
35,11  
27,49  
30,19  
SL  
Hộ  
%
38  
74  
32  
80  
112  
LS3: Phụ  
thuộc thấp  
Tỷ lệ  
29,01  
55,22  
34,04  
46,78  
42,26  
(p) χ2-test  
0,000  
0,100  
Nguồn: Phân tích từ số liệu phỏng vấn hộ, 2015.  
2.4. Kết quả sinh kế  
2.4.1. Thu nhập của hộ  
Tổng thu nhập bình quân của hộ khảo sát là 34,38 triệu  
đồng/hộ/năm, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 616,13 nghìn  
đồng/người/tháng. Con số này chỉ cao hơn rất ít so với thu nhập của  
213  
hộ cận nghèo ở nông thôn theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của  
Thủ tướng Chỉnh phủ. Trong đó, thu nhập của các hộ có sự khác  
biệt rất lớn cho thấy, sự chênh lệch thu nhập tạo ra hộ rất nghèo với  
thu nhập rất thấp. Thu nhập bình quân của nhóm hộ phụ thuộc cao  
vào rừng có xu hướng thấp hơn nhóm hộ phụ thuộc thấp vào rừng,  
với mức ý nghĩa thống kê là 1%. Thu nhập của hộ nghèo chỉ bằng  
hơn 50% hộ không nghèo và hộ tại huyện Na Rì - nơi có điều kiện  
kinh tế - xã hội phát triển hơn - cũng có thu nhập cao hơn so với hộ  
tại huyện Ba Bể. Nếu coi tổng thu nhập là một chỉ tiêu quan trọng  
đánh giá phúc lợi của hộ, kết quả này khuyến cáo rằng, hộ có mức  
độ phụ thuộc cao vào rừng, hộ nghèo, hộ tại vùng có điều kiện kinh  
tế - xã hội kém phát triển hơn sẽ dễ bị tổn thương hơn so với nhóm  
hộ còn lại, cũng như họ sẽ chịu nhiều tác động tiêu cực từ những  
hạn chế tiếp cận tài nguyên rừng khi thực thi chính sách bảo vệ  
rừng của Chính phủ.  
Nhìn chung, thu nhập của hộ tại vùng nghiên cứu chủ yếu từ  
nông nghiệp như lúa, ngô và các sản phẩm nông nghiệp khác,  
chiếm hơn 60%. Trong đó, cây lương thực như lúa, ngô, sắn vẫn là  
cây trồng chủ lực của địa phương. Tuy nhiên, sản lượng lương thực  
của người dân cũng chỉ đủ phục vụ nhu cầu gia đình, một phần nhỏ  
để lại cho chăn nuôi. Chăn nuôi của địa phương chỉ là các vật nuôi  
truyền thống là lợn, gà và một số ít là trâu, bò phục vụ sản xuất  
nông nghiệp. Vùng nghiên cứu tại vùng cao, sản xuất nông nghiệp  
của hộ dân vẫn chủ yếu là tự cung tự cấp - phục vụ nhu cầu bản  
thân hộ là ưu tiên - việc sản xuất hàng hóa gần như không có. Thu  
nhập bằng tiền của hộ chủ yếu đến từ việc làm thuê và khi cần tiền,  
họ bán các sản phẩm nông nghiệp đơn lẻ như thóc, gà... Thu nhập  
từ rừng của hộ cũng chủ yếu là các lâm sản ngoài gỗ như củi,  
măng, rau để phục vụ sinh hoạt của hộ. Kết quả điều tra cho thấy,  
tất cả các nguồn thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, rừng, phi nông -  
lâm nghiệp và nguồn thu nhập khác của nhóm hộ phụ thuộc vào  
rừng thấp, hộ tại huyện có điều kiện kinh tế phát triển hơn (Na Rì)  
và hộ không nghèo đều cao hơn nhóm hộ còn lại, với độ tin cậy  
cao. Kết quả này dẫn tới tổng thu nhập của họ cao hơn. Để xem xét  
cụ thể các yếu tổ ảnh hưởng tới thu nhập của hộ, nghiên cứu sử  
dụng hàm hồi quy đa biến.  
214  
Bảng 9. Thu nhập và nguồn thu nhập của hộ (triệu đồng)  
Mức độ phụ thuộc  
Huyện  
Mức kinh tế hộ  
Tính  
vào rừng  
Cao TB Thấp Ba Bể Na Rì Nghèo Không nghèo  
6,26 9,09 12,38 8,33 11,05 6,99 11,19  
0,000 0,001 0,000  
0,12 6,39 9,49 5,33 6,60 4,25 6,92  
0,000 0,460 0,103  
11,32 7,62 3,81 7,79 6,29 5,60 7,82  
0,000 0,055 0,004  
0,77 4,78 21,19 5,11 16,00 4,29 14,09  
0,000 0,000 0,000  
0,20 0,35 2,14 0,86 1,26 0,19 1,54  
0,017 0,541 0,008  
18,68 28,23 49,01 27,42 41,20 21,32 41,57  
0,000 0,003 0,000  
Nguồn thu nhập  
chung  
TB  
9,70  
5,97  
Trồng  
trọt  
(p) T-test  
TB  
Chăn  
nuôi  
(p) T-test  
TB  
Rừng  
7,03  
(p) T-test  
Phi nông  
lâm  
nghiệp  
TB  
10,61  
(p) T-test  
TB  
(p) T-test  
TB  
1,06  
Khác  
Tổng  
thu  
nhập  
34,38  
(p) T-test  
Nguồn: Phân tích từ số liệu phỏng vấn hộ, 2015.  
Kết quả ước lượng mô hình hồi quy đa biến sử dụng phần mềm  
Stata 12.0 được trình bày ở bảng trên cho thấy, giá trị kiểm định  
F = 30,187 và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% đã chứng tỏ sự phù hợp  
của mô hình. Các chỉ tiêu nguồn vốn sinh kế giải thích được 65,6%  
(R2 = 0,6560) sự thay đổi của giá trị thu nhập của hộ. Giá trị VIF bình  
quân (1,63) cũng như của các biến thấp (từ 1,29-2,34) cho thấy,  
không có hiện tượng tự tương quan (multicolinearity) của các biến  
độc lập. Thêm vào đó, giá trị kiểm định z và sai số chuẩn mạnh  
(Robust Std. Err) được sử dụng để tránh hiện tượng phương sai thay  
đổi (heteroscedasticity). Kết quả cho thấy, có mười sáu tham số ước  
lượng có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến thu nhập của hộ.  
Hệ số ước lượng của biến mức độ phụ thuộc vào rừng mang dấu  
dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% và 5%. Điều này cho thấy,  
hộ càng có mức phụ thuộc cao, thu nhập của họ càng thấp. Điều này  
ngụ ý rằng, đối với khu vực vùng cao, rừng chủ yếu là rừng phòng hộ,  
rừng đặc dụng được giao cho cộng đồng quản lý, rừng của hộ chủ yếu  
215  
là rừng khoanh nuôi tái sinh, do đó, Nhà nước cần có chính sách nhằm  
giảm bớt sự phụ thuộc vào rừng của hộ, cần có giải pháp hỗ trợ phát  
triển ngành nghề phi lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi hơn là khai  
thác nguồn tài nguyên rừng.  
Bảng 10. Kết quả ước lượng các yếu tố ảnh hưởng  
tới thu nhập của hộ  
Robust  
Hệ số ước  
lượng  
Giá trị kiểm Xác suất  
Tên biến  
định (z)  
(P)  
Std. Err.  
Chiến lược sinh kế b  
2
3
0,315***  
0,269**  
0,323***  
0,093  
0,106  
0,084  
3,380  
0.001  
0.012  
0,000  
2,550  
Thu nhập đáp ứng nhu cầu  
tối thiểu a  
3,850  
Họ có tiết kiệm a  
Hộ có mắc nợa  
Đa dạng nguồn thu nhập a  
0,226*  
- 0,229***  
0,152*  
0,134  
0,082  
0,088  
0,106  
1,690  
- 2,800  
1,730  
0,940  
0,093  
0,006  
0,084  
0,350  
Hộ có lao động với thu  
nhập ổn địnha  
0,099NS  
Trình độ chủ hộb  
2
3
4
- 0,336*  
- 0,339*  
- 0,226NS  
0,297**  
0,153NS  
0,108NS  
0,171  
0,188  
0,195  
0,133  
0,103  
0,073  
- 1,970  
- 1,800  
- 1,160  
2,240  
0,051  
0,074  
0,248  
0,026  
0,139  
0,141  
Log(Số nhân khẩu)  
Log(Tuổi chủ hộ)  
1,490  
Log(Diện tích đất nông  
nghiệp)  
1,480  
Log(Diện tích đát rừng)  
Tiếp cận rừnga  
Tiếp cận nước hợp vệ sinha  
Tình trạng nhà ở d  
Chất lượng nhà ở c  
0,062**  
- 0,056NS  
0,093NS  
0,439NS  
0,454*  
0,263***  
- 0,338*  
0,198***  
0,077NS  
0,113NS  
0,030  
0,070  
0,078  
0,271  
0,258  
0,099  
0,183  
0,070  
0,069  
0,097  
2,070  
- 0,790  
1,190  
1,620  
1,760  
2,660  
- 1,840  
2,840  
1,120  
1,160  
0,040  
0,429  
0,234  
0,107  
0,080  
0,008  
0,067  
0,005  
0,266  
0,246  
1
2
1
3
Log(Tài sản sinh hoạt)  
Log(Tài sản sản xuất)  
Hộ có tham gia tổ tuần tra  
rừnga  
216  
Robust  
Hệ số ước  
lượng  
Giá trị kiểm Xác suất  
Tên biến  
định (z)  
(P)  
Std. Err.  
Hộ nhận được giúp đỡ khi  
cần a  
0,071NS  
0,112  
0,630  
0,529  
Hộ tin tưởng người dân địa  
phương a  
0,302**  
0,131  
2,310  
0,022  
Mức độ tham gia Quân  
Dân Chínha  
1
2
1
2
3
0,056NS  
0,205*  
0,039NS  
0,294*  
0,447*  
7,413***  
0,084  
0,112  
0,093  
0,172  
0,250  
0,615  
0,670  
1,840  
0,420  
1,710  
1,780  
12,050  
0,502  
0,068  
0,673  
0,088  
0,076  
0,000  
Tham gia Đảng a  
Hằng số  
Ghi chú: Number of obs = 218; F(30,187) = 16,10; Prob > F = 0,0000;  
R - quared = 0,6560; *** ** và * lần lượt với mức YNTK 1%, 5% và 10%;  
,
NS: Không có YNTK; a, b, c, d Biến giả, biến cơ sở, lần lượt là 0, 1, 2, 3.  
Nguồn: Phân tích từ số liệu phỏng vấn hộ, 2015.  
Trong các nhóm nguồn vốn, nguồn vốn con người và tài chính có  
ảnh hưởng mạnh hơn tới thu nhập của hộ so với bốn nhóm nguồn vốn  
còn lại. Nguồn vốn con người của hộ như trình độ học vấn, quy mô  
hộ, tuổi bình quân thành viên của hộ có sự ảnh hưởng cùng chiều với  
thu nhập của hộ và có độ tin cậy ở mức 90 đến 99%. Đối với nhóm  
nguồn vốn tài chính, bốn trong năm chỉ tiêu nghiên cứu có ý nghĩa  
thống kê, ngụ ý sự ảnh hưởng rõ nét của nguồn vốn này tới thu nhập  
của hộ. Kết quả hệ số ước lượng chỉ ra rằng, nguồn vốn tài chính  
mạnh sẽ giúp hộ cải thiện thu nhập đáng kể. Điều này cho thấy, nếu  
cải thiện nguồn vốn tài chính, thu nhập của hộ sẽ được tăng thêm.  
Đối với nhóm chỉ tiêu nguồn vốn tự nhiên, chỉ có chỉ tiêu diện tích  
rừng của hộ có ảnh hưởng rõ nét cùng chiều tới thu nhập của hộ, nếu  
các yếu tố khác không đổi, diện tích rừng của hộ tăng 1% sẽ giúp thu  
nhập của hộ tăng 0,062%. Các chỉ tiêu khác, bao gồm diện tích đất  
nông nghiệp, tiếp cận nguồn nước đảm bảo vệ sinh hay sự dễ dàng tiếp  
cận tài nguyên rừng không có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kế tới thu  
nhập của hộ. Đối với nhóm chỉ tiêu nguồn vốn xã hội, chỉ có chỉ tiêu về  
sự tin tưởng có sự ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê tới thu nhập của hộ.  
Điều này thể hiện sự lạc quan của nhóm người có thu nhập cao vào  
cộng đồng địa phương, do đó, họ dễ dàng hơn trong việc phát triển các  
hoạt động nâng cao thu nhập. Ba chỉ tiêu còn lại có ảnh hưởng không rõ  
ràng tới thu nhập của hộ. Nguồn vốn chính trị cũng thể hiện sự ảnh  
217  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 24 trang Thùy Anh 15560 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Phát triển sinh kế bền vững cho hộ dân phụ thuộc vào rừng tại khu vực vùng cao tỉnh Bắc Kạn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_sinh_ke_ben_vung_cho_ho_dan_phu_thuoc_vao_rung_ta.pdf