Vướng mắc, bất cập trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp
QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM
VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP TRONG QUẢN LÝ,
SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TẠI DOANH NGHIỆP
PHẠM THỊ TƯỜNG VÂN
Việc triển khai Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh
nghiệp (Luật số 69/2014/QH13) trong những năm qua đã đạt được một số kết quả nhất định
nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại không ít vướng mắc, bất cập. Việc nhận diện những khó khăn,
vướng mắc trong thực thi Luật số 69/2014/QH13 là yêu cầu cấp thiết, nhằm đề xuất giải pháp
phù hợp, định hướng những nội dung trọng tâm để tháo gỡ khó khăn trong thực tế hoạt động
của doanh nghiệp.
Từ khóa: Vốn nhà nước, doanh nghiệp, Luật số 69/2014/QH13
bao gồm: (i) Đầu tư vốn nhà nước để thành lập mới
DNNN; (ii) Đầu tư vốn nhà nước để bổ sung vốn
điều lệ cho các DNNN đang hoạt động; (iii) Đầu tư
vốn nhà nước để duy trì tỷ lệ Nhà nước nắm giữ tại
các công ty cổ phần, công ty TNHH 2 thành viên trở
lên; (iv) Đầu tư vốn nhà nước để mua lại một phần
hoặc toàn bộ DN. Trong thời gian qua, việc thực
hiện Luật số 69/2014/QH13 đã đạt được một số kết
quả như sau:
Thứ nhất, số lượng DN do Nhà nước nắm giữ
100% vốn điều lệ có xu hướng giảm dần, các công
ty cổ phần có xu hướng tăng. Tính đến năm 2018,
có 505 DNNN nắm giữ 100% vốn điều lệ, giảm 78
DN (số DN giảm chủ yếu là các công ty TNHH
1 thành viên thuộc bộ quản lý ngành, UBND cấp
tỉnh và tổng công ty); Tổng vốn Nhà nước đang
đầu tư giảm hơn 29 nghìn tỷ đồng so với giai đoạn
2011 - 2016.
PROBLEMS AND SHORTCOMINGS ON MANAGEMENT AND
UTILIZATION OF STATE CAPITAL INVESTED IN ENTERPRISE
Pham Thi Tuong Van
Implementing the Law on management and utilization
of State capital invested in enterprise’s manufacturing
and business activities (Law No. 69/2014/QH13) in
recent years has achieved certain results but besides
that, many problems and inadequacies existed. The
identification of difficulties and obstacles in the
implementation of Law No. 69/2014/QH13 is an
urgent requirement, in order to propose appropriate
solutions, orienting focus contents to remove
difficulties and gradually completing legal framework
on management and utilization of State capital
invested in enterprise’s manufacturing and business
activities in the coming time.
Key words: State capital, enterprises, Law No. 69/2014 / QH13
Thứ hai, đầu tư bổ sung vốn điều lệ cho các DNNN
đang hoạt động và đầu tư để duy trì tỷ lệ của Nhà
nước nắm giữ tại công ty cổ phần, công ty TNHH 2
thành viên trở lên vẫn là hoạt động chủ đạo. Trong
đó, đầu tư bổ sung vốn điều lệ là chủ yếu. Trong năm
2018, tổng số DN được đầu tư bổ sung vốn điều lệ là
140 DN với số vốn là 33.036,06 tỷ đồng.
Ngày nhận bài: 10/6/2020
Ngày hoàn thiện biên tập: 19/6/2020
Ngày duyệt đăng: 02/7/2020
Tình hình quản lý, sử dụng vốn nhà nước
đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp
Thứ ba, hoạt động đầu tư ra nước ngoài từ chỗ
Theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vốn các DNNN đầu tư là chủ yếu đã có sự tham gia của
nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh DN có vốn nhà nước chi phối (Nhà nước nắm giữ
nghiệp (DN) (Luật số 69/2014/QH13), Nhà nước trên 50% vốn điều lệ). Đầu tư tiếp tục tập trung vào
thực hiện đầu tư vốn vào DN thông qua 4 hình thức các lĩnh vực viễn thông, thăm dò và khai thác dầu
10
TÀI CHÍNH - Tháng 7/2020
Một số vướng mắc, bất cập
Việc triển khai Luật số 69/2014/QH13 mặc dù đã
khí, trồng cây cao su, khai thác khoáng sản và lĩnh
vực tài chính ngân hàng. Theo đó, tính đến cuối năm
2018 có 19 DN có dự án đầu tư ra nước ngoài, thực đạt được những kết quả tích cực, nhưng vẫn còn một
hiện đầu tư 114 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký số vướng mắc trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước
là 11.964 triệu USD, vốn thực hiện đạt 48,62%/tổng đầu tư vào sản xuất kinh doanh của DN, nguyên nhân
số vốn đăng ký. một phần từ sự chưa đồng bộ giữa Luật số 69/2014/
Thứ tư, hiệu quả kinh tế của hoạt động đầu tư ra QH13 với các luật chuyên ngành như: Luật Đầu tư,
nước ngoài chưa được cải thiện. Năm 2016, 25,5% dự Luật Đầu tư công và sự thay đổi về khái niệm DNNN
án báo lỗ, 29% dự án lỗ lũy kế tính đến 31/12/2016, trong Luật DN sửa đổi... Cụ thể:
46,4% dự án không có báo cáo về doanh thu – lợi
Thứ nhất, quy định về DNNN chưa đồng bộ. Luật
nhuận. Năm 2018, tổng số lỗ phát sinh trong năm của DN 2014 quy định DNNN là DN 100% vốn điều lệ.
các dự án báo lỗ tăng 265% so với năm 2017, tổng lợi Quy định này tương đồng với quy định trong Luật
nhuận của các dự án có lãi giảm 24% do sự biến động số 69/2014/QH13 khi xác định phạm vi vốn Nhà nước
của giá dầu thế giới.
đầu tư vào DN (Khoản 2, Điều 2). Tuy nhiên, với Luật
DN sửa đổi có hiệu lực từ 01/01/2021 quy định về
DNNN đã mở rộng hơn. Theo đó, DNNN bao gồm
các DN do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ,
hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Luật DN
sửa đổi cũng quy định cụ thể các loại DN có vốn sở
hữu Nhà nước theo 2 mức trên 50% vốn điều lệ và
100% vốn điều lệ (Điều 88, Luật DN sửa đổi). Cụ thể:
- DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ gồm:
Công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn
Tính đến năm 2018, có 505 doanh nghiệp nhà
nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, giảm 78 doanh
nghiệp (số doanh nghiệp giảm chủ yếu là các
công ty TNHH 1 thành viên thuộc bộ quản lý
ngành, UBND cấp tỉnh và tổng công ty); Tổng
vốn nhà nước đang đầu tư giảm hơn 29 nghìn
tỷ đồng so với giai đoạn 2011 - 2016.
Thứ năm, các DN sau cổ phần hóa vẫn có xu hướng điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước,
tăng trưởng ổn định, tỷ lệ vốn nhà nước đầu tư tại các công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ
công ty cổ phần có xu hướng dịch chuyển gắn liền với trong nhóm công ty mẹ - công ty con; Công ty TNHH
quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa DNNN. Nhà nước MTV là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ 100%
nắm giữ trên 50% vốn điều lệ tại 180 DN cổ phần, chủ vốn điều lệ.
yếu tập trung tại các tập đoàn, tổng công ty lớn và
các DN cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích sau khi lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên
thực hiện cổ phần hóa. gồm: Công ty TNHH HTV trở lên, công ty cổ phần
- DN do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều
Thứ sáu, kết quả hoạt động của DNNN và DN có do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng
vốn nhà nước đầu tư về cơ bản đã có sự cải thiện, số cổ phần có quyền biểu quyết là công ty mẹ tập
trong đó DN có vốn nhà nước đạt kết quả hoạt động đoàn kinh tế, tổng công ty hoặc trong nhóm công
tốt hơn so với DNNN.
ty mẹ - công ty con; Công ty TNHH MTV trở lên,
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các Công ty cổ phần là công ty độc lập do Nhà nước
DN sau CPH có phần khả quan hơn so với DNNN nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có
cùng với xu hướng tăng trưởng ổn định và phát
triển. Tổng tài sản của các công ty cổ phần, công ty
quyền biểu quyết.
Việc sửa đổi quy định DNNN căn cứ trên cơ sở
TNHH 2 thành viên trở lên có cổ phần, vốn góp của xu hướng của thể giới. Tại nhiều quốc gia trên thế
Nhà nước năm 2016 tăng 3,8 lần so với năm 2011; giới, sau làn sóng tư nhân hoá từ những năm 1980,
tổng vốn chủ sở hữu tăng gần 3 lần; tổng doanh thu DNNN ở các nước này chủ yếu là DN do Nhà nước
tăng 1,7 lần so với năm 2011. Năm 2017, theo báo sở hữu cổ phần chi phối, thậm chí gồm cả những
cáo của 294 DN có vốn nhà nước thì tổng tài sản DN có cổ phần dưới mức chi phối nhưng Nhà nước
theo báo cáo hợp nhất của các DN cổ phần tăng 6% vẫn nắm quyền kiểm soát. Thuật ngữ “DN có vốn
so với thực hiện năm 2016; Vốn chủ sở hữu tăng nhà nước” trên thế giới được hiểu là DNNN với khía
14%; Tổng doanh thu tăng 21%; Tổng lợi nhuận cạnh tỷ lệ vốn nhà nước đầu tư hoặc nắm quyền chi
trước thuế tăng 11% so với số thực hiện năm 2016. phối. Thông thường các DN có 100% vốn nhà nước,
Tổng số phát sinh phải nộp ngân sách nhà nước
tăng 18% so với năm 2016.
trên 50% vốn nhà nước, dưới 50% vốn nhà nước
nhưng nhà nước nắm quyền chi phối đều được coi
11
QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM
là DNNN. Đồng quan điểm này, trong cuốn Hướng dự án đầu tư phát triển của DNNN, Luật Xây dựng
dẫn về quản trị DNNN của OECD (2015) cũng thống và Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công đối với các dự án
nhất khái niệm rằng “Bất kỳ thực thể nào được luật sử dụng vốn Nhà nước (Nguyễn Minh Khoa, EVN).
pháp công nhận là DN, trong đó nhà nước thực thi
Thứ ba, thẩm quyền giám sát vốn của cơ quan đại
quyền sở hữu, thì được coi là một DNNN. Những diện chủ sở hữu nhà nước còn chồng chéo. Luật số
DN này bao gồm CTCP, công ty TNHH, và công ty 69/2014/QH13 quy định “Cơ quan đại diện chủ sở hữu
hợp danh hữu hạn”.
là cơ quan, tổ chức được Chính phủ giao thực quyền,
Như vậy có thể thấy, phạm vi quy định đối trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu (CSH) nhà nước
tượng là DNNN trong Luật số 69/2014/QH13 không đối với DN do mình quyết định thành lập hoặc được
còn phù hợp do chỉ quy định phân chia các loại giao quản lý và thực hiện quyền, trách nhiệm đối với
DNNN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ mà phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công
chưa mở rộng đến đối tượng DN do Nhà nước nắm ty TNHH 2 thành viên trở lên”.
giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có
Thẩm quyền giám sát của cơ quan đại diện CSH
quyền biểu quyết. Tuy nhiên, việc quy định tỷ lệ được quy định tại Điều 57 Luật số 69/2014/QH13. Theo
vốn Nhà nước đầu tư tại DN trên 50% cũng chỉ là đó, cơ quan đại diện CSH có đầy đủ các thẩm quyền
quy định khung, trong quản lý vốn Nhà nước đầu thực hiện giám sát, kiểm tra, thanh tra các hoạt động
tư, mỗi mức tỷ lệ khác nhau sẽ tác động trực tiếp đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DN. Tuy
đến vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của chủ sở hữu nhiên, cơ quan đại diện CSH được tổ chức theo mô hình
trong việc tham gia và quyết định đến hoạt động kết hợp giữa tập trung và phân tán, gồm: Ủy ban Quản
đầu tư, kinh doanh của DN để đảm bảo bảo toàn và lý vốn nhà nước tại DN (Chủ yếu là các DN quy mô
phát triển vốn Nhà nước.
lớn như tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà
nước); bộ, cơ quan ngang bộ và UBND cấp tỉnh (đại
diện CSH của DN do Nhà nước nắm 100% vốn điều lệ
và phần vốn nhà nước đầu tư tại DN, nhưng tập trung
vào các DN thuộc đối tượng các bộ, ngành, UBND cấp
tỉnh được giao thành lập, quản lý; Tổng công ty Đầu tư
và Kinh doanh vốn nhà nước thực hiện quyền đại diện
CSH nhà nước tại các DN được chuyển giao từ các bộ,
ngành, UBND cấp tỉnh. Mỗi cơ quan đại diện CSH khác
nhau về địa vị pháp lý cũng dẫn đến cách thức và đối
Năm 2017, theo báo cáo của 294 doanh nghiệp
có vốn nhà nước thì tổng tài sản theo báo cáo
hợp nhất của các doanh nghiệp cổ phần tăng
6% so với thực hiện năm 2016; Vốn chủ sở hữu
tăng 14%; Tổng doanh thu tăng 21%; Tổng lợi
nhuận trước thuế tăng 11% so với số thực hiện
năm 2016. Tổng số phát sinh phải nộp ngân
sách nhà nước tăng 18% so với năm 2016.
Thứ hai, xác định phạm vi vốn đầu tư cũng như tượng giám sát cũng có những đặc thù nhất định. Từ
xác nhận đại diện chủ sở hữu theo khái niệm DNNN thực trạng thực hiện thẩm quyền của người đại diện
có sự phân tán. Theo quy định của Luật số 69/2014/ hiện nay chưa thật sự hiệu quả cho thấy:
QH13 và theo quy định về khái niệm DNNN trong
Luật DN mới sửa đổi mới chỉ quy định phân loại
sở hữu vốn nhà nước theo tỷ lệ và đầu tư vốn Nhà
- Mô hình giám sát vốn nhà nước vẫn chưa đảm
bảo được yêu cầu về sự tách bạch giữa quyền sở hữu
vốn và quyền quản lý, giám sát vốn nhà nước tại
nước vào DN F1 – là công ty mẹ của tập đoàn kinh DN. Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh vừa có quyền của cơ
tế nhà nước, tổng công ty nhà nước, công ty mẹ - quan đại diện CSH, vừa có quyền quản lý nhà nước
công ty con. Trong trường hợp các công ty F1 mà đối với DN, do đó, vẫn chưa đảm bảo tính khách
Nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ tiếp tục đầu tư quan, minh bạch trong hoạt động giám sát của CSH
vào DN F2, F3 – công ty con, công ty cháu... 100% với giám sát trong vai trò quản lý nhà nước. Điều đó
vốn điều lệ hoặc trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số dễ dẫn đến việc đánh giá hiệu quả của các DN thuộc
cổ phần có quyền biểu quyết – là DNNN sẽ xảy ra
sự quản lý của các cơ quan đại diện CSH khác nhau
các trường hợp: DN F1 mà Nhà nước đầu tư 100% cũng khác nhau.
vốn điều lệ tiếp tục đầu tư vào F2 100% vốn điều lệ;
- Có sự chồng chéo về thẩm quyền giám sát của
DN F1 mà Nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ đầu các cơ quan đại diện CSH hoặc không có cơ quan
tư vào F2 trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần giám sát việc đại diện CSH của các cơ quan này. Hay
có quyền biểu quyết. Như vậy, các DN F2 khi được nói cách khác, chưa có quy định cụ thể về giám sát
coi là DNNN sẽ phải đồng thời tuân thủ quy định
các cơ quan đại diện CSH hiện hành cũng như chưa
tại Luật số 69/2014/QH13, Luật Đấu thầu đối với các có quy định làm rõ thẩm quyền giám sát của Ủy ban
12
TÀI CHÍNH - Tháng 7/2020
Quản lý vốn nhà nước tại DN đối với các DN do SCIC về chuyển giao DN từ các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh
làm đại diện CSH.
về SCIC, gắn liền với đẩy mạnh tiến trình CPH DNNN.
Thứ tư, chưa đồng bộ trong các quy định về thầm Quy định rõ chức năng đầu tư, kinh doanh vốn Nhà
quyền quyết định chủ trương đầu tư của cơ quan đại nước đối với SCIC; chức năng quản lý, giám sát vốn
diện CSH dẫn đến khó xác định cơ quan chủ quản và nhà nước đối với Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại DN
chậm tiến độ thực hiện dự án đầu tư. Đối với các dự án trên cơ sở coi đây là một tổ chức kinh doanh vốn thực
đầu tư công, các dự án lớn, dự án quan trọng quốc gia, sự, kiểm soát mục tiêu về tỉ lệ sinh lời, hệ số tài chính,
Luật Đầu tư 2014 (Luật số 67/2014/QH13) và Luật số cải thiện năng lực công nghệ, năng lực cạnh tranh…,
69/2014/QH13 đều không quy định thẩm quyền quyết chứ không phải là giao và kiểm soát từng dự án đầu tư
định chủ trương đầu tư của cơ quan đại diện CSH với của từng DN (TS. Nguyễn Minh Phong).
các dự án này. Cụ thể, Luật Đầu tư quy định thẩm quyền
quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng diện CSH theo hướng tập trung sở hữu gắn liền với
Chính phủ và UBND cấp tỉnh, nhằm thực hiện chức trách nhiệm và tránh được sự chồng chéo trong chức
Đồng thời, tăng cường giám sát của cơ quan đại
năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu năng quản lý. Theo đó, các quy định về thẩm quyền
tư. Trong khi đó, Luật số 69/2014/QH13 và Nghị định giám sát cần được sửa đổi, hoàn thiện theo hướng
số 10/2019/NĐ-CP về thực hiện quyền, trách nhiệm của quy định rõ cơ quan đại diện CSH chịu trách nhiệm
đại diện chủ sở hữu Nhà nước quy định thẩm quyền cuối cùng về giám sát khi phối hợp giám sát với cơ
của cơ quan đại diện chủ sở hữu trong việc phê duyệt quan quản lý nhà nước.
một số dự án có quy mô nhất định của DN do Nhà nước
Thứ ba, hoàn thiện nội dung, trình tự phê duyệt dự
nắm giữ 100% vốn điều lệ đối với đầu tư, xây dựng mua án đầu tư, thẩm quyền quyết định đầu tư của cơ quan
bán tài sản cố định; đầu tư ra ngoài DN; đầu tư ra nước đại diện CSH trong trường hợp được Thủ tướng Chính
ngoài. Như vậy, mục đích, tính chất, trình tự, thủ tục phủ ủy quyền ra quyết định vào Luật số 69/2014/QH13
quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của Luật đối với các dự án trọng điểm quốc gia, dự án lớn và dự
Đầu tư và thẩm quyền phê duyệt dự án theo quy định
của Luật số 69/2014/QH13 là khác nhau.
án đầu tư công để đảm bảo phù hợp với quy định trong
Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công… nhằm giải quyết khó
khăn cho DN trong việc xác định cơ quan chủ quản và
thẩm quyền ra quyết định đối với các dự án này.
Một số đề xuất, kiến nghị
Để tạo sự đồng bộ giữa các văn bản luật có liên
quan đến hoạt động quản lý, sử dụng vốn nhà nước
Tài liệu tham khảo:
đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại DN và khắc phục 1. Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh
những tồn tại trong các quy định, cần tập trung hoàn
thiện khung pháp lý về quản lý, sử dụng vốn nhà
nước đầu tư vào DN. Cụ thể:
Thứ nhất, thống nhất về khái niệm DNNN trong
Luật sửa đổi, bổ sung Luật số 69/2014/QH13 để phù hợp
với Luật DN sửa đổi vừa được ban hành. Bổ sung thêm
nghiệp 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan;
2. Hồ Thị Hải (2020), Thẩm quyền giám sát vốn nhà nước đầu tư tại DN của
cơ quan đại diện chủ sở hữu theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí công thương,
nuoc-dau-tu-tai-doanh-nghiep-cua-co-quan-dai-dien-chu-so-huu-theo-
phap-luat-viet-nam-67973.htm;
khái niệm DNNN đối với trường hợp DN do Nhà nước 3. Bích Loan, Hoàng Quỳnh (2020), Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV, http://
nắm giữ trên 50% vốn điều lệ. Theo đó, DNNN sẽ bao quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=46375;
gồm cả DN F2, F3 do công ty mẹ do Nhà nước đầu tư 4. Tin nhanh Chứng khoán (2020), Loay hoay nhận diện đại diện chủ sở hữu vốn
100% vốn điều lệ đầu tư vào công ty con 100% vốn điều
lệ hoặc trên 50% vốn điều lệ; Đồng thời, sửa đổi, bổ sung
các quy định liên quan đến quản lý, sử dụng vốn nhà
nước đầu tư tại DN chi tiết cho từng đối tượng.
Thứ hai, rút ngắn giai đoạn quá độ trong việc
chuyển đổi từ mô hình phân tán sang mô hình tập
trung trong sở hữu và quản lý vốn của Nhà nước đầu
tư vào DN, đảm bảo trong giai đoạn tới chỉ còn một tổ
chức quản lý vốn nhà nước đầu tư vào DN. Tách hoàn
toàn chức năng chủ sở hữu với chức năng quản lý Nhà
nước tại các bộ, ngành, sửa đổi các quy định hiện hành
dai-dien-chu-so-huu-von-nha-nuoc-306209.html;
5. Tô Hà và Hồng Anh (2020), Quản lý vốn nhà nước không thể quay lại cơ
item/43673902-quan-ly-von-nha-nuoc-khong-the-quay-lai-co-che-bo-
chu-quan.html;
Thông tin tác giả:
TS. Phạm Thị Tường Vân
Viện Chiến lược và Chính sách tài chính
Email: phamthituongvan@mof.gov.vn
13
Bạn đang xem tài liệu "Vướng mắc, bất cập trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
vuong_mac_bat_cap_trong_quan_ly_su_dung_von_nha_nuoc_dau_tu.pdf

