Vướng mắc, bất cập trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM  
VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP TRONG QUẢN LÝ,  
SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TẠI DOANH NGHIỆP  
PHẠM THỊ TƯỜNG VÂN  
Việc triển khai Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh  
nghiệp (Luật số 69/2014/QH13) trong những năm qua đã đạt được một số kết quả nhất định  
nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại không ít vướng mắc, bất cập. Việc nhận diện những khó khăn,  
vướng mắc trong thực thi Luật số 69/2014/QH13 là yêu cầu cấp thiết, nhằm đề xuất giải pháp  
phù hợp, định hướng những nội dung trọng tâm để tháo gỡ khó khăn trong thực tế hoạt động  
của doanh nghiệp.  
Từ khóa: Vốn nhà nước, doanh nghiệp, Luật số 69/2014/QH13  
bao gồm: (i) Đầu tư vốn nhà nước để thành lập mới  
DNNN; (ii) Đầu tư vốn nhà nước để bổ sung vốn  
điều lệ cho các DNNN đang hoạt động; (iii) Đầu tư  
vốn nhà nước để duy trì tỷ lệ Nhà nước nắm giữ tại  
các công ty cổ phần, công ty TNHH 2 thành viên trở  
lên; (iv) Đầu tư vốn nhà nước để mua lại một phần  
hoặc toàn bộ DN. Trong thời gian qua, việc thực  
hiện Luật số 69/2014/QH13 đã đạt được một số kết  
quả như sau:  
Thứ nhất, số lượng DN do Nhà nước nắm giữ  
100% vốn điều lệ có xu hướng giảm dần, các công  
ty cổ phần có xu hướng tăng. Tính đến năm 2018,  
có 505 DNNN nắm giữ 100% vốn điều lệ, giảm 78  
DN (số DN giảm chủ yếu là các công ty TNHH  
1 thành viên thuộc bộ quản lý ngành, UBND cấp  
tỉnh và tổng công ty); Tổng vốn Nhà nước đang  
đầu tư giảm hơn 29 nghìn tỷ đồng so với giai đoạn  
2011 - 2016.  
PROBLEMS AND SHORTCOMINGS ON MANAGEMENT AND  
UTILIZATION OF STATE CAPITAL INVESTED IN ENTERPRISE  
Pham Thi Tuong Van  
Implementing the Law on management and utilization  
of State capital invested in enterprise’s manufacturing  
and business activities (Law No. 69/2014/QH13) in  
recent years has achieved certain results but besides  
that, many problems and inadequacies existed. The  
identification of difficulties and obstacles in the  
implementation of Law No. 69/2014/QH13 is an  
urgent requirement, in order to propose appropriate  
solutions, orienting focus contents to remove  
difficulties and gradually completing legal framework  
on management and utilization of State capital  
invested in enterprise’s manufacturing and business  
activities in the coming time.  
Key words: State capital, enterprises, Law No. 69/2014 / QH13  
Thứ hai, đầu tư bổ sung vốn điều lệ cho các DNNN  
đang hoạt động và đầu tư để duy trì tỷ lệ của Nhà  
nước nắm giữ tại công ty cổ phần, công ty TNHH 2  
thành viên trở lên vẫn là hoạt động chủ đạo. Trong  
đó, đầu tư bổ sung vốn điều lệ là chủ yếu. Trong năm  
2018, tổng số DN được đầu tư bổ sung vốn điều lệ là  
140 DN với số vốn là 33.036,06 tỷ đồng.  
Ngày nhận bài: 10/6/2020  
Ngày hoàn thiện biên tập: 19/6/2020  
Ngày duyệt đăng: 02/7/2020  
Tình hình quản lý, sử dụng vốn nhà nước  
đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp  
Thứ ba, hoạt động đầu tư ra nước ngoài từ chỗ  
Theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vốn các DNNN đầu tư là chủ yếu đã có sự tham gia của  
nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh DN có vốn nhà nước chi phối (Nhà nước nắm giữ  
nghiệp (DN) (Luật số 69/2014/QH13), Nhà nước trên 50% vốn điều lệ). Đầu tư tiếp tục tập trung vào  
thực hiện đầu tư vốn vào DN thông qua 4 hình thức các lĩnh vực viễn thông, thăm dò và khai thác dầu  
10  
TÀI CHÍNH - Tháng 7/2020  
Một số vướng mắc, bất cập  
Việc triển khai Luật số 69/2014/QH13 mặc dù đã  
khí, trồng cây cao su, khai thác khoáng sản và lĩnh  
vực tài chính ngân hàng. Theo đó, tính đến cuối năm  
2018 có 19 DN có dự án đầu tư ra nước ngoài, thực đạt được những kết quả tích cực, nhưng vẫn còn một  
hiện đầu tư 114 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký số vướng mắc trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước  
là 11.964 triệu USD, vốn thực hiện đạt 48,62%/tổng đầu tư vào sản xuất kinh doanh của DN, nguyên nhân  
số vốn đăng ký. một phần từ sự chưa đồng bộ giữa Luật số 69/2014/  
Thứ tư, hiệu quả kinh tế của hoạt động đầu tư ra QH13 với các luật chuyên ngành như: Luật Đầu tư,  
nước ngoài chưa được cải thiện. Năm 2016, 25,5% dự Luật Đầu tư công và sự thay đổi về khái niệm DNNN  
án báo lỗ, 29% dự án lỗ lũy kế tính đến 31/12/2016, trong Luật DN sửa đổi... Cụ thể:  
46,4% dự án không có báo cáo về doanh thu – lợi  
Thứ nhất, quy định về DNNN chưa đồng bộ. Luật  
nhuận. Năm 2018, tổng số lỗ phát sinh trong năm của DN 2014 quy định DNNN là DN 100% vốn điều lệ.  
các dự án báo lỗ tăng 265% so với năm 2017, tổng lợi Quy định này tương đồng với quy định trong Luật  
nhuận của các dự án có lãi giảm 24% do sự biến động số 69/2014/QH13 khi xác định phạm vi vốn Nhà nước  
của giá dầu thế giới.  
đầu tư vào DN (Khoản 2, Điều 2). Tuy nhiên, với Luật  
DN sửa đổi có hiệu lực từ 01/01/2021 quy định về  
DNNN đã mở rộng hơn. Theo đó, DNNN bao gồm  
các DN do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ,  
hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Luật DN  
sửa đổi cũng quy định cụ thể các loại DN có vốn sở  
hữu Nhà nước theo 2 mức trên 50% vốn điều lệ và  
100% vốn điều lệ (Điều 88, Luật DN sửa đổi). Cụ thể:  
- DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ gồm:  
Công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn  
Tính đến năm 2018, có 505 doanh nghiệp nhà  
nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, giảm 78 doanh  
nghiệp (số doanh nghiệp giảm chủ yếu là các  
công ty TNHH 1 thành viên thuộc bộ quản lý  
ngành, UBND cấp tỉnh và tổng công ty); Tổng  
vốn nhà nước đang đầu tư giảm hơn 29 nghìn  
tỷ đồng so với giai đoạn 2011 - 2016.  
Thứ năm, các DN sau cổ phần hóa vẫn có xu hướng điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước,  
tăng trưởng ổn định, tỷ lệ vốn nhà nước đầu tư tại các công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ  
công ty cổ phần có xu hướng dịch chuyển gắn liền với trong nhóm công ty mẹ - công ty con; Công ty TNHH  
quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa DNNN. Nhà nước MTV là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ 100%  
nắm giữ trên 50% vốn điều lệ tại 180 DN cổ phần, chủ vốn điều lệ.  
yếu tập trung tại các tập đoàn, tổng công ty lớn và  
các DN cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích sau khi lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên  
thực hiện cổ phần hóa. gồm: Công ty TNHH HTV trở lên, công ty cổ phần  
- DN do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều  
Thứ sáu, kết quả hoạt động của DNNN và DN có do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng  
vốn nhà nước đầu tư về cơ bản đã có sự cải thiện, số cổ phần có quyền biểu quyết là công ty mẹ tập  
trong đó DN có vốn nhà nước đạt kết quả hoạt động đoàn kinh tế, tổng công ty hoặc trong nhóm công  
tốt hơn so với DNNN.  
ty mẹ - công ty con; Công ty TNHH MTV trở lên,  
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các Công ty cổ phần là công ty độc lập do Nhà nước  
DN sau CPH có phần khả quan hơn so với DNNN nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có  
cùng với xu hướng tăng trưởng ổn định và phát  
triển. Tổng tài sản của các công ty cổ phần, công ty  
quyền biểu quyết.  
Việc sửa đổi quy định DNNN căn cứ trên cơ sở  
TNHH 2 thành viên trở lên có cổ phần, vốn góp của xu hướng của thể giới. Tại nhiều quốc gia trên thế  
Nhà nước năm 2016 tăng 3,8 lần so với năm 2011; giới, sau làn sóng tư nhân hoá từ những năm 1980,  
tổng vốn chủ sở hữu tăng gần 3 lần; tổng doanh thu DNNN ở các nước này chủ yếu là DN do Nhà nước  
tăng 1,7 lần so với năm 2011. Năm 2017, theo báo sở hữu cổ phần chi phối, thậm chí gồm cả những  
cáo của 294 DN có vốn nhà nước thì tổng tài sản DN có cổ phần dưới mức chi phối nhưng Nhà nước  
theo báo cáo hợp nhất của các DN cổ phần tăng 6% vẫn nắm quyền kiểm soát. Thuật ngữ “DN có vốn  
so với thực hiện năm 2016; Vốn chủ sở hữu tăng nhà nước” trên thế giới được hiểu là DNNN với khía  
14%; Tổng doanh thu tăng 21%; Tổng lợi nhuận cạnh tỷ lệ vốn nhà nước đầu tư hoặc nắm quyền chi  
trước thuế tăng 11% so với số thực hiện năm 2016. phối. Thông thường các DN có 100% vốn nhà nước,  
Tổng số phát sinh phải nộp ngân sách nhà nước  
tăng 18% so với năm 2016.  
trên 50% vốn nhà nước, dưới 50% vốn nhà nước  
nhưng nhà nước nắm quyền chi phối đều được coi  
11  
QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM  
là DNNN. Đồng quan điểm này, trong cuốn Hướng dự án đầu tư phát triển của DNNN, Luật Xây dựng  
dẫn về quản trị DNNN của OECD (2015) cũng thống và Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công đối với các dự án  
nhất khái niệm rằng “Bất kỳ thực thể nào được luật sử dụng vốn Nhà nước (Nguyễn Minh Khoa, EVN).  
pháp công nhận là DN, trong đó nhà nước thực thi  
Thứ ba, thẩm quyền giám sát vốn của cơ quan đại  
quyền sở hữu, thì được coi là một DNNN. Những diện chủ sở hữu nhà nước còn chồng chéo. Luật số  
DN này bao gồm CTCP, công ty TNHH, và công ty 69/2014/QH13 quy định “Cơ quan đại diện chủ sở hữu  
hợp danh hữu hạn”.  
là cơ quan, tổ chức được Chính phủ giao thực quyền,  
Như vậy có thể thấy, phạm vi quy định đối trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu (CSH) nhà nước  
tượng là DNNN trong Luật số 69/2014/QH13 không đối với DN do mình quyết định thành lập hoặc được  
còn phù hợp do chỉ quy định phân chia các loại giao quản lý và thực hiện quyền, trách nhiệm đối với  
DNNN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ mà phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công  
chưa mở rộng đến đối tượng DN do Nhà nước nắm ty TNHH 2 thành viên trở lên”.  
giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có  
Thẩm quyền giám sát của cơ quan đại diện CSH  
quyền biểu quyết. Tuy nhiên, việc quy định tỷ lệ được quy định tại Điều 57 Luật số 69/2014/QH13. Theo  
vốn Nhà nước đầu tư tại DN trên 50% cũng chỉ là đó, cơ quan đại diện CSH có đầy đủ các thẩm quyền  
quy định khung, trong quản lý vốn Nhà nước đầu thực hiện giám sát, kiểm tra, thanh tra các hoạt động  
tư, mỗi mức tỷ lệ khác nhau sẽ tác động trực tiếp đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DN. Tuy  
đến vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của chủ sở hữu nhiên, cơ quan đại diện CSH được tổ chức theo mô hình  
trong việc tham gia và quyết định đến hoạt động kết hợp giữa tập trung và phân tán, gồm: Ủy ban Quản  
đầu tư, kinh doanh của DN để đảm bảo bảo toàn và lý vốn nhà nước tại DN (Chủ yếu là các DN quy mô  
phát triển vốn Nhà nước.  
lớn như tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà  
nước); bộ, cơ quan ngang bộ và UBND cấp tỉnh (đại  
diện CSH của DN do Nhà nước nắm 100% vốn điều lệ  
và phần vốn nhà nước đầu tư tại DN, nhưng tập trung  
vào các DN thuộc đối tượng các bộ, ngành, UBND cấp  
tỉnh được giao thành lập, quản lý; Tổng công ty Đầu tư  
và Kinh doanh vốn nhà nước thực hiện quyền đại diện  
CSH nhà nước tại các DN được chuyển giao từ các bộ,  
ngành, UBND cấp tỉnh. Mỗi cơ quan đại diện CSH khác  
nhau về địa vị pháp lý cũng dẫn đến cách thức và đối  
Năm 2017, theo báo cáo của 294 doanh nghiệp  
có vốn nhà nước thì tổng tài sản theo báo cáo  
hợp nhất của các doanh nghiệp cổ phần tăng  
6% so với thực hiện năm 2016; Vốn chủ sở hữu  
tăng 14%; Tổng doanh thu tăng 21%; Tổng lợi  
nhuận trước thuế tăng 11% so với số thực hiện  
năm 2016. Tổng số phát sinh phải nộp ngân  
sách nhà nước tăng 18% so với năm 2016.  
Thứ hai, xác định phạm vi vốn đầu tư cũng như tượng giám sát cũng có những đặc thù nhất định. Từ  
xác nhận đại diện chủ sở hữu theo khái niệm DNNN thực trạng thực hiện thẩm quyền của người đại diện  
có sự phân tán. Theo quy định của Luật số 69/2014/ hiện nay chưa thật sự hiệu quả cho thấy:  
QH13 và theo quy định về khái niệm DNNN trong  
Luật DN mới sửa đổi mới chỉ quy định phân loại  
sở hữu vốn nhà nước theo tỷ lệ và đầu tư vốn Nhà  
- Mô hình giám sát vốn nhà nước vẫn chưa đảm  
bảo được yêu cầu về sự tách bạch giữa quyền sở hữu  
vốn và quyền quản lý, giám sát vốn nhà nước tại  
nước vào DN F1 – là công ty mẹ của tập đoàn kinh DN. Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh vừa có quyền của cơ  
tế nhà nước, tổng công ty nhà nước, công ty mẹ - quan đại diện CSH, vừa có quyền quản lý nhà nước  
công ty con. Trong trường hợp các công ty F1 mà đối với DN, do đó, vẫn chưa đảm bảo tính khách  
Nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ tiếp tục đầu tư quan, minh bạch trong hoạt động giám sát của CSH  
vào DN F2, F3 – công ty con, công ty cháu... 100% với giám sát trong vai trò quản lý nhà nước. Điều đó  
vốn điều lệ hoặc trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số dễ dẫn đến việc đánh giá hiệu quả của các DN thuộc  
cổ phần có quyền biểu quyết – là DNNN sẽ xảy ra  
sự quản lý của các cơ quan đại diện CSH khác nhau  
các trường hợp: DN F1 mà Nhà nước đầu tư 100% cũng khác nhau.  
vốn điều lệ tiếp tục đầu tư vào F2 100% vốn điều lệ;  
- Có sự chồng chéo về thẩm quyền giám sát của  
DN F1 mà Nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ đầu các cơ quan đại diện CSH hoặc không có cơ quan  
tư vào F2 trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần giám sát việc đại diện CSH của các cơ quan này. Hay  
có quyền biểu quyết. Như vậy, các DN F2 khi được nói cách khác, chưa có quy định cụ thể về giám sát  
coi là DNNN sẽ phải đồng thời tuân thủ quy định  
các cơ quan đại diện CSH hiện hành cũng như chưa  
tại Luật số 69/2014/QH13, Luật Đấu thầu đối với các có quy định làm rõ thẩm quyền giám sát của Ủy ban  
12  
TÀI CHÍNH - Tháng 7/2020  
Quản lý vốn nhà nước tại DN đối với các DN do SCIC về chuyển giao DN từ các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh  
làm đại diện CSH.  
về SCIC, gắn liền với đẩy mạnh tiến trình CPH DNNN.  
Thứ tư, chưa đồng bộ trong các quy định về thầm Quy định rõ chức năng đầu tư, kinh doanh vốn Nhà  
quyền quyết định chủ trương đầu tư của cơ quan đại nước đối với SCIC; chức năng quản lý, giám sát vốn  
diện CSH dẫn đến khó xác định cơ quan chủ quản và nhà nước đối với Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại DN  
chậm tiến độ thực hiện dự án đầu tư. Đối với các dự án trên cơ sở coi đây là một tổ chức kinh doanh vốn thực  
đầu tư công, các dự án lớn, dự án quan trọng quốc gia, sự, kiểm soát mục tiêu về tỉ lệ sinh lời, hệ số tài chính,  
Luật Đầu tư 2014 (Luật số 67/2014/QH13) và Luật số cải thiện năng lực công nghệ, năng lực cạnh tranh…,  
69/2014/QH13 đều không quy định thẩm quyền quyết chứ không phải là giao và kiểm soát từng dự án đầu tư  
định chủ trương đầu tư của cơ quan đại diện CSH với của từng DN (TS. Nguyễn Minh Phong).  
các dự án này. Cụ thể, Luật Đầu tư quy định thẩm quyền  
quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng diện CSH theo hướng tập trung sở hữu gắn liền với  
Chính phủ và UBND cấp tỉnh, nhằm thực hiện chức trách nhiệm và tránh được sự chồng chéo trong chức  
Đồng thời, tăng cường giám sát của cơ quan đại  
năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu năng quản lý. Theo đó, các quy định về thẩm quyền  
tư. Trong khi đó, Luật số 69/2014/QH13 và Nghị định giám sát cần được sửa đổi, hoàn thiện theo hướng  
số 10/2019/NĐ-CP về thực hiện quyền, trách nhiệm của quy định rõ cơ quan đại diện CSH chịu trách nhiệm  
đại diện chủ sở hữu Nhà nước quy định thẩm quyền cuối cùng về giám sát khi phối hợp giám sát với cơ  
của cơ quan đại diện chủ sở hữu trong việc phê duyệt quan quản lý nhà nước.  
một số dự án có quy mô nhất định của DN do Nhà nước  
Thứ ba, hoàn thiện nội dung, trình tự phê duyệt dự  
nắm giữ 100% vốn điều lệ đối với đầu tư, xây dựng mua án đầu tư, thẩm quyền quyết định đầu tư của cơ quan  
bán tài sản cố định; đầu tư ra ngoài DN; đầu tư ra nước đại diện CSH trong trường hợp được Thủ tướng Chính  
ngoài. Như vậy, mục đích, tính chất, trình tự, thủ tục phủ ủy quyền ra quyết định vào Luật số 69/2014/QH13  
quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của Luật đối với các dự án trọng điểm quốc gia, dự án lớn và dự  
Đầu tư và thẩm quyền phê duyệt dự án theo quy định  
của Luật số 69/2014/QH13 là khác nhau.  
án đầu tư công để đảm bảo phù hợp với quy định trong  
Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công… nhằm giải quyết khó  
khăn cho DN trong việc xác định cơ quan chủ quản và  
thẩm quyền ra quyết định đối với các dự án này.  
Một số đề xuất, kiến nghị  
Để tạo sự đồng bộ giữa các văn bản luật có liên  
quan đến hoạt động quản lý, sử dụng vốn nhà nước  
Tài liệu tham khảo:  
đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại DN và khắc phục 1. Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh  
những tồn tại trong các quy định, cần tập trung hoàn  
thiện khung pháp lý về quản lý, sử dụng vốn nhà  
nước đầu tư vào DN. Cụ thể:  
Thứ nhất, thống nhất về khái niệm DNNN trong  
Luật sửa đổi, bổ sung Luật số 69/2014/QH13 để phù hợp  
với Luật DN sửa đổi vừa được ban hành. Bổ sung thêm  
nghiệp 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan;  
2. Hồ Thị Hải (2020), Thẩm quyền giám sát vốn nhà nước đầu tư tại DN của  
cơ quan đại diện chủ sở hữu theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí công thương,  
nuoc-dau-tu-tai-doanh-nghiep-cua-co-quan-dai-dien-chu-so-huu-theo-  
phap-luat-viet-nam-67973.htm;  
khái niệm DNNN đối với trường hợp DN do Nhà nước 3. Bích Loan, Hoàng Quỳnh (2020), Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV, http://  
nắm giữ trên 50% vốn điều lệ. Theo đó, DNNN sẽ bao quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=46375;  
gồm cả DN F2, F3 do công ty mẹ do Nhà nước đầu tư 4. Tin nhanh Chứng khoán (2020), Loay hoay nhận diện đại diện chủ sở hữu vốn  
100% vốn điều lệ đầu tư vào công ty con 100% vốn điều  
lệ hoặc trên 50% vốn điều lệ; Đồng thời, sửa đổi, bổ sung  
các quy định liên quan đến quản lý, sử dụng vốn nhà  
nước đầu tư tại DN chi tiết cho từng đối tượng.  
Thứ hai, rút ngắn giai đoạn quá độ trong việc  
chuyển đổi từ mô hình phân tán sang mô hình tập  
trung trong sở hữu và quản lý vốn của Nhà nước đầu  
tư vào DN, đảm bảo trong giai đoạn tới chỉ còn một tổ  
chức quản lý vốn nhà nước đầu tư vào DN. Tách hoàn  
toàn chức năng chủ sở hữu với chức năng quản lý Nhà  
nước tại các bộ, ngành, sửa đổi các quy định hiện hành  
dai-dien-chu-so-huu-von-nha-nuoc-306209.html;  
5. Tô Hà và Hồng Anh (2020), Quản lý vốn nhà nước không thể quay lại cơ  
item/43673902-quan-ly-von-nha-nuoc-khong-the-quay-lai-co-che-bo-  
chu-quan.html;  
Thông tin tác giả:  
TS. Phạm Thị Tường Vân  
Viện Chiến lược và Chính sách tài chính  
Email: phamthituongvan@mof.gov.vn  
13  
pdf 4 trang Thùy Anh 7760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vướng mắc, bất cập trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvuong_mac_bat_cap_trong_quan_ly_su_dung_von_nha_nuoc_dau_tu.pdf