Giáo trình Dịch vụ pháp lý - Công tác bầu cử ở cấp huyện và cấp xã

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG LÀO CAI  
BÀI GIẢNG  
MÔN HỌC: CÔNG TÁC BẦU CỬ Ở CẤP HUYỆN VÀ CẤP XÃ  
NGÀNH: DỊCH VỤ PHÁP LÝ  
(Áp dụng cho trình độ Trung cấp)  
LƯU HÀNH NỘI BỘ  
Năm 2017  
Lời nói đầu  
Nền tảng chính trị - pháp lý của mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với cử tri  
là chế độ bầu cử. Trong xã hội dân chủ, bầu cử trở thành “công cụ” hữu hiệu nhất để  
buộc các đại biểu dân cử phải coi trọng lợi ích của cử tri, liên hệ chặt chẽ và có trách  
nhiệm với cử tri, nhất là cử tri ở đơn vị bầu cử. Bài viết phân tích tác động của chế độ bầu  
cử đối với việc xây dựng mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với cử tri và đề xuất các  
kiến nghị hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, góp phần thực hiện chủ trương của  
Đảng về xây dựng “cơ chế để ĐBQH gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm với cử tri”  
Chế độ bầu cử chỉ có thể đóng vai trò nền tảng để xác lập mối quan hệ gắn bó chặt  
chẽ và có trách nhiệm giữa đại biểu với cử tri nếu tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc, tiêu chí  
bầu cử tiến bộ. Bầu cử phải thực sự là công cụ để nhân dân ủy quyền và kiểm soát quyền  
lực. Cử tri có quyền đánh giá, bày tỏ sự tín nhiệm đối với người đại diện và quyết định  
việc trúng cử, tại nhiệm và tái cử của họ thông qua phiếu bầu. Gắn bó chặt chẽ và có  
trách nhiệm với cử tri trở thành nhu cầu tự thân của mỗi đại biểu để thực hiện tốt chức  
năng đại diện trong khi tại nhiệm và bảo đảm khả năng tái cử trong nhiệm kỳ kế tiếp.  
"Viễn cảnh đánh mất quyền lực trong cuộc bầu cử tiếp theo được lịch sử chứng minh tỏ  
ra hiệu quả trong việc ràng buộc các nhân vật được bầu coi trọng lợi ích của cử tri".  
Cùng với quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội nước ta, trong  
những nhiệm kỳ vừa qua, việc xây dựng mối quan hệ giữa ĐBQH với cử tri đã được chú  
trọng, quan tâm. Các quy định pháp luật có liên quan, nhất là các nghị quyết của Ủy ban  
thường vụ Quốc hội (UBTVQH) quy định về tiếp xúc cử tri, tiếp công dân đã được sửa  
đổi, bổ sung, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện mối liên hệ giữa ĐBQH với cử tri.  
Trên thực tế, hoạt động tiếp xúc cử tri định kỳ trước và sau kỳ họp Quốc hội được duy trì  
thường xuyên hơn; công tác tiếp công dân ngày càng đi vào nền nếp. Một số hình thức  
mới về tiếp xúc cử tri bước đầu được vận dụng. Kết quả giải quyết ý kiến, kiến nghị của  
cử tri, đơn thư của công dân đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Nhận thức và ý thức  
trách nhiệm của ĐBQH trước cử tri được nâng lên. Bài giảng “Bầu cử ở cấp huyện và  
cấp xã” sẽ giúp người học có cái nhìn toàn cảnh về công tác bầu cử của nước ta hiện nay.  
Tác giả  
ThS.Phạm Thị Thu Hà – Phó Trưởng khoa Khoa Pháp lý  
TẬP BÀI GIẢNG  
MÔN HỌC: CÔNG TÁC BẦU CỬ Ở CẤP HUYỆN VÀ CẤP XÃ  
Mục tiêu môn học:  
- Về kiến thức: Học phần này trang bị cho người học những kiến thức pháp luật  
và kỹ năng, nghiệp vụ cơ bản về công tác này để có thể tham gia vào công tác tổ chức  
được việc bầu cử đại biểu quốc hội, HĐND cấp huyện, cấp xã và xử lý được các công  
việc có liên quan đến công tác bầucử.  
- Về kỹ năng: Sau khi học xong học phần này, người học có thể phân biệt các bước  
trong tiến trình bầu cử; thực hiện được các bước trong tiến trình bầu cử như: lập danh  
sách cử tri; xác định quyền, nghĩa vụ của các cử tri; xác định số lượng đại biểu, thành  
lập các tổ chức phụ trách bầu cử ở các cấp..; tham mưu xử lý vi phạm và các tình huống  
khác phát sinh trên thực tế tổ chức cuộc bầu cử.  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:  
+ Rèn luyện cho người học khả năng làm việc độc lập, cẩn trọng trong các hoạt  
động nghiệp vụ.  
+ Có tinh thần làm việc nghiêm túc, khoa học, trách nhiệm với công việc được  
giao và có tinh thần làm việc hợp tác, phối hợp với người khác và trong tập thể.  
Chương 1.  
Quy định về bầu cử và tổ chức bầu cử ở cấp huyện và cấp xã  
Mục tiêu: Người học hiểu được tính chất và vai trò của bầu cử và tổ chức bầu cử,  
các quy định của pháp luật về bầu cử ở cấp huyện và cấp xã  
1. Khái niệm và vai trò của bầu cử, tổ chức bầu cử.  
1.1. Khái niệm bầu cử, tổ bầu cử  
1.1.1. Bầu cử  
Bầu cử là Phương thức lựa chọn người làm đại biểu, thay mặt thực hiện quyền lực  
nhà nước trong các xã hội dân chủ theo nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về  
nhân dân.  
Cử tri bỏ phiếu lựa chọn người đại diện cho mình vào cơ quan quyền lực nhà  
nước, chế định quan trọng của luật nhà nước, thể hiện quyền cơ bản của công dân tham  
gia xây dựng chính quyền nhân dân.  
Luật bầu cử đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân quy định bầu cử theo  
nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.  
Quy định quyền bầu cử, ứng cử của công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình  
độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ  
hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân  
trừ những người mất trí và những người bị pháp luật hoặc tòa án nhân dân tước các  
quyền đó.  
1.1.2. Tổ bầu cử  
Đối với các địa phương đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân  
huyện, quận, phường thì việc thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương do Ủy  
ban nhân dân huyện, quận, phường sau khi thống nhất với Ban thường trực Ủy ban Mặt  
trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định (cơ cấu, thành phần của các tổ chức phụ  
trách bầu cử ở các địa phương này không có đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân  
cùng cấp).  
Đối với đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã chỉ có một khu vực bỏ  
phiếu thì vẫn thành lập Ban bầu cử và Tổ bầu cử riêng; thành viên Ban bầu cử có thể  
tham gia làm thành viên Tổ bầu cử.  
Cơ quan cố thẩm quyền thành lập tổ chức phụ trách bầu cử lựa chọn những người  
có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, được quần chúng tín nhiệm, hiểu biết pháp luật và có  
kinh nghiệm thực hiện công tác bầu cử tham gia vào các tổ chức phụ trách bầu cử.  
Chủ tịch Ủy ban bầu cử cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban bầu cử cấp huyện, Chủ tịch Ủy  
ban bầu cử cấp xã; Trưởng ban Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Trưởng ban Ban bầu cử  
đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và Tổ trưởng Tổ bầu cử (sau đây  
gọi chung là người đứng đầu tổ chức phụ trách bầu cử) chịu trách nhiệm phân công  
nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng thành viên tổ chức phụ trách bầu cử cấp mình từ  
giai đoạn chuẩn bị, triển khai, tổ chức ngày bầu cử, các công việc tiến hành sau ngày bầu  
cử cho đến khi kết thúc cuộc bầu cử. Trong đó, phân công một thành viên chịu trách  
nhiệm tổng hợp chung công tác bầu cử của Ủy ban bầu cử và của Ban bầu cử.  
1.2. Vai trò của bầu cử, tổ bầu cử  
Ý chí nhân dân là vấn đề quan trọng nhất của bầu cử, bởi vì, chỉ khi bầu cử mang  
ý chí nhân dân thì ý nghĩa dân chủ đích thực của nó mới đạt được.  
Thứ nhất, bầu cử có vai trò hợp pháp hoá chính quyền  
Chỉ bằng ý chí nhân dân thể hiện trong bầu cử, chính quyền mới được hợp pháp  
hóa. Bầu cử là phương thức hợp pháp hóa chính quyền văn minh tiến bộ và có tính phổ  
biến nhất trong thời đại ngày nay.  
Tại khoản 3 Điều 21 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân  
quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1948 đã nêu rõ: “Ý  
chí của nhân dân là cơ sở tạo nên quyền lực của chính quyền; ý chí  
này được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự, theo  
nguyên tắc bỏ phiếu phổ thông và bình đẳng và được thực hiện qua bỏ phiếu kín hoặc  
qua các thủ tục bỏ phiếu tự do tương tự”.  
Điều 25 của Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (1996) đã trịnh  
trọng tuyên bố: “Mọi công dân, không có bất kỳ sự phân biệt nào… và không có bất kỳ  
sự hạn chế bất hợp lý nào, đều có quyền và cơ hội để: (1) Tham gia điều hành các công  
việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện do họ tự do lựa chọn; (2)  
Bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu,  
bình đẳng và bỏ phiếu kín, nhằm đảm bảo cho cử tri được tự do bày tỏ ý nguyện của  
mình; (3) Được tiếp cận với các dịch vụ công cộng ở đất nước mình trên cơ sở bình  
đẳng”.  
Hội nghị an ninh và hợp tác châu Âu (CSCE) khẳng định: Ý chí của nhân dân  
thông qua bầu cử định kỳ và chân thực là nền tảng cho thẩm quyền và tính hợp pháp  
của quyền lực nhà nước.  
Như vậy, ý chí của nhân dân là nền tảng của quyền lực nhà nước. Thông qua bầu  
cử, nhân dân lựa chọn cho mình người đại diện và uỷ thác quyền lực cho họ.  
Lịch sử phát triển của nhà nước trên thế giới đã trải qua nhiều cách tổ chức chính  
quyền mà không qua bầu cử. Dân chủ, xét dưới góc độ tổ chức bộ máy nhà nước có  
nghĩa nhân dân là chủ thể của quá trình tổ chức. Do vậy, các phương thức tổ chức  
không thể hiện được bản chất đó như truyền ngôi thế tập, sử dụng bạo lực… đang thay  
đổi theo hướng chuyển sang bầu cử. Trong thế giới hiện đại, các chính quyền thành lập  
không qua bầu cử, bất luận dù nhằm mục đích gì (kể cả được coi là chính đáng) thường  
không được các quốc gia, các tổ chức quốc tế công nhận, hoặc có chăng chỉ là sự thừa  
nhận hết sức dè dặt. Ngược lại, một chính quyền do người dân thành lập thông qua bầu  
cử theo những nguyên tắc tiến bộ: tự do, công bằng và trung thực, thì về nguyên tắc,  
chính quyền đó được coi là hợp pháp và được đón nhận một cách tự nhiên trong hoạt  
động chính trị và trong cộng đồng quốc tế.  
Ở Việt Nam, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, ngày 3/9/1945, Chủ  
tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Phải bầu ngay Quốc hội, càng sớm càng tốt. Bên  
trong thì nhân dân tin tưởng thêm vào chế độ mình. Trước thế giới, Quốc hội do dân  
bầu ra sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận được”; “Chỉ có Tổng tuyển cử  
mới để cho dân chúng có dịp muốn nói hết những ý muốn của họ và chỉ có Chính phủ  
lập ra bởi Tổng tuyển cử mới là đại diện chân chính và trung thành của toàn thể quốc  
dân. Sau hết cũng chỉ có Tổng tuyển cử mới có thể cấp cho nước Việt Nam một Hiến  
pháp mới, ấn định rõ ràng quyền lợi của quốc dân và Chính phủ mới phá tan được hết  
những nghi ngờ ở trong cũng như ở ngoài với chính quyền nhân dân”.  
Thắng lợi của Tổng tuyển cứ đánh dấu sự trưởng thành của nhà nước cách mạng  
Việt Nam, mở ra triển vọng của một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước ta có một Quốc hội  
mới, một Chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính  
quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam  
về đối nội và đối ngoại.  
Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, để thực hiện thống nhất nước  
nhà về mặt nhà nước, Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc (từ ngày 15  
đến 21/11/1975) đã quyết định Tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước bầu ra Quốc hội  
chung cho cả nước. Quốc hội xác định thể chế nhà nước, bầu ra các cơ quan lãnh đạo  
của Nhà nước và quy định Hiến pháp mới của nước Việt Nam thống nhất. Do vậy,  
Quốc hội khóa VI do nhân dân cả nước bầu ra (ngày 25/4/1976) là người đại diện hợp  
pháp cho toàn thể nhân dân Việt Nam.  
Thứ hai, bầu cử là nền tảng của nền dân chủ  
Bầu cử kiến tạo chế độ đại diện – phương thức cơ bản thực  
hiện quyền lực nhân dân trong nhà nước pháp quyền. Trong nhà  
nước pháp quyền, ý chí của nhân dân là cội nguồn của quyền lực  
nhà nước. Đối với công dân, bầu cử là quyền chính trị quan trọng  
của họ chỉ khi nó dân chủ và mở rộng (tự do). Bầu cử tự do, dân  
chủ làm tăng tính hiện thực của quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội (đối với  
quyền bầu cử bị động), tăng vai trò thực sự của công dân trong diễn đàn chính trị pháp  
lý để thành lập nhà nước (đối với thực hiện quyền bầu cử chủ động).  
Hiến pháp năm 1946 coi việc “thực hiện một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt  
của nhân dân” là một trong ba nguyên tắc của chính thể mới và nền dân chủ nhân dân.  
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) cũng khẳng định “Nhà nước Cộng hòa XHCN  
Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”.  
Điều này như một nguyên lý phổ biến trên thế giới trong việc xây dựng nhà nước pháp  
quyền thực thi dân chủ.  
Trong một nền dân chủ đại diện, bầu cử tự do và công bằng đóng vai trò nền tảng  
để nhân dân quyết định cơ cấu chính trị và chính sách tương lai của họ. Nếu nhân dân  
không tín nhiệm các nhà lãnh đạo, họ có quyền bỏ phiếu bãi nhiệm các nhà lãnh đạo đó  
vào thời điểm ấn hành các cuộc bầu cử.  
Về bản chất, bầu cử không những là con đường kiến thiết chế độ đại diện mà nó  
cũng chính là phương thức để nhân dân loại bỏ những người đại diện. Do vậy, để nhân  
dân giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước, chế ngự sự tha hóa, lạm quyền của  
quyền lực nhà nước một cách có hiệu quả, đồng thời đối với việc đổi mới chế độ bầu  
cử, cần xây dựng cơ chế cụ thể và hữu hiệu quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử của nhân  
dân. Điều 7 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Đại biểu Quốc hội bị cử tri hoặc Quốc hội  
bãi nhiệm và đại biểu HĐND bị các cử tri và HĐND bãi nhiệm khi đại biểu đó không  
còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”. Chính vì tầm quan trọng của việc khẳng  
định chủ quyền nhân dân, trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới bộ máy  
nhà nước ở nước ta không thể không nói tới đổi mới chế độ bầu cử.  
Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước là một đặc điểm quan trọng của nhà  
nước pháp quyền. Quyền lực của nhân dân là tối thượng. Bản thân nhà nước không tự  
nhiên có quyền mà do nhân dân ủy quyền; quyền lực của người cầm quyền có thể bị  
tước bỏ, quyền lực của nhân dân thì không ai có thể tước bỏ được.  
Mặt khác, bầu cử, thực chất là sự chuyển giao quyền lực nhân dân sang nhà  
nước. Bằng bầu cử, nhân dân lựa chọn thành lập ra cơ quan đại diện và ủy thác quyền  
lực cho họ. Tuy nhiên, cũng chính trong quá trình chuyển giao quyền lực ấy mà phát  
sinh một hệ lụy ngoài mong muốn của nhân dân: mặc dù được nhân dân ủy thác trao  
cho quyền lực, song không phải ở đâu, bao giờ, nhà nước (thông qua các cơ quan nhà  
nước) cũng phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân và không phải bao giờ quyền lực  
nhà nước cũng được thực hiện trong phạm vi, mức độ mà nhân dân trao cho. Do vậy,  
quyền lực nhà nước cần phải được kiểm soát và giới hạn, nhằm loại trừ một nghịch lý là  
quyền lực nhà nước của nhân dân nhưng lại đe dọa chính nhân dân. Vì thế, bầu cử  
không chỉ đơn thuần là việc lựa chọn người đại diện, mà còn là phương thức quan trọng  
để nhân dân giám sát, thậm chí chế ngự quyền lực nhà nước. Bầu cử là phương thức  
giám sát trực tiếp của nhân dân đối với cơ quan dân cử.  
Thứ ba, bầu cử phản ánh tương quan lực lượng chính trị xã hội  
Một chế độ bầu cử dân chủ cần bảo đảm tính cân đối, hợp  
lý, đại diện rộng rãi cho các bộ phận trong cơ cấu xã hội. Đến lượt  
nó, tính cân đối, hợp lý trong bầu cử, trước hết phụ thuộc vào bản  
chất, đặc điểm của chế độ chính trị, phụ thuộc vào tương quan lực  
lượng giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội và phụ thuộc vào  
“thiết kế” của nhà làm luật.  
Chế độ bầu cử dân chủ là chìa khóa cho đồng thuận xã hội, là phương thức quan  
trọng để hòa hợp dân tộc. Diễn biến chính trị ở nhiều quốc gia trong lịch sử thế giới  
hiện đại đã cho chúng ta thấy rằng, để giải quyết khủng hoảng chính trị hay những xung  
đột xã hội, một trong những việc thường được các nước tiến hành là tổ chức tổng tuyển  
cử, vì kết quả bầu cử thể hiện “mẫu số chung” giữa các phe phái, các lực lượng, các bộ  
phận xã hội trong việc lựa chọn chính quyền. Tuy nhiên, cũng cần chú ý rằng, không  
phải tất cả các cuộc bầu cử đều phản ánh ý chí chung đó. Nếu có sự gian lận, dối trá  
trong bầu cử, hay bầu cử được tiến hành trong điều kiện bạo loạn, niềm tin của nhân  
dân bị giảm sút, hoặc việc lựa chọn một “mô hình” bầu cử không phù hợp, thì chế độ  
bầu cử không những không giải quyết được các mâu thuẫn xã hội, mà ngược lại, nó có  
thể lại làm gia tăng các xung đột xã hội. Do vậy, bất luận trong xã hội nào, chế độ bầu  
cử không những cần dựa trên các nguyên tắc của bầu cử tự do, tiến bộ và công bằng,  
mà nó cần được thiết kế phù hợp với điều kiện, đặc điểm của mỗi thể chế chính trị, mỗi  
dân tộc, mỗi quốc gia.  
2. Các quy định về bầu cử và tổ chức bầu cử ở địa phương (cấp tỉnh, huyện,  
xã)  
2.1. Các quy định chung về bầu cử và tổ chức bầu cử o địa phương  
2.1.1.Các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương  
Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Ủy ban bầu cử ở huyện,  
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, Ủy  
ban bầu cử ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban bầu cử).  
Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh,  
Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân  
dân cấp xã (sau đây gọi chung là Ban bầu cử).  
Tổ bầu cử.  
2.1.2. Việc thành lập, cơ cấu, thành phần của Ủy ban bầu cử  
Chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi thống  
nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc  
Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố trực thuộc  
trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban bầu cử ở tỉnh) để thực hiện công tác bầu cử đại  
biểu Quốc hội và tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tại tỉnh, thành phố  
trực thuộc trung ương.  
Ủy ban bầu cử ở tỉnh có từ hai mươi mốt đến ba mươi mốt thành viên gồm Chủ  
tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy  
ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và một số cơ quan, tổ chức  
hữu quan.  
Danh sách Ủy ban bầu cử ở tỉnh phải được gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy  
ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ  
quốc Việt Nam.  
Chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy  
ban nhân dân cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban  
thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành, lập Ủy  
ban bầu cử ở huyện, quận, thị xã, thành, phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành, phố trực  
thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban bầu cử ở huyện), Ủy ban bầu cử ở xã,  
phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban bầu cử ở xã) để tổ chức bầu cử đại biểu  
Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã tương ứng.  
Ủy ban bầu cử ở huyện có từ mười một đến mười lăm thành viên; Ủy ban bầu cử ở  
xã có từ chín đến mười một thành viên. Thành viên Ủy ban bầu cử ở huyện, ở xã gồm  
Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên là đại diện Thường trực Hội đồng nhân  
dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và một số cơ quan,  
tổ chức hữu quan.  
Danh sách Ủy ban bầu cử ở huyện, Ủy ban bầu cử ở xã phải được gửi đến Thường  
trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc  
Việt Nam cấp trên trực tiếp.  
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban bầu cử  
1. Trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội, Ủy ban bầu cử ở tỉnh có các nhiệm vụ,  
quyền hạn sau đây:  
a) Chỉ đạo việc chuẩn bị và tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội ở các đơn vị bầu cử  
đại biểu Quốc hội trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; kiểm tra, đôn đốc  
việc thi hành pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội của Ban bầu cử đại biểu Quốc hội,  
Tổ bầu cử;  
b) Chỉ đạo thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử đại biểu  
Quốc hội ở địa phương;  
c) Chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong cuộc bầu  
cử đại biểu Quốc hội ở địa phương;  
d) Nhận và xem xét hồ sơ của người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã  
hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ  
chức kinh tế ở địa phương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội và hồ sơ của người tự ứng  
cử đại biểu Quốc hội tại địa phương; gửi danh sách trích ngang lý lịch, bản sao tiểu sử  
tóm tắt và bản kê khai tài sản, thu nhập của những người được giới thiệu ứng cử và  
những người tự ứng cử đại biểu Quốc hội đến Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc  
Việt Nam cấp tỉnh để tiến hành hiệp thương; gửi hồ sơ và danh sách người ứng cử đại  
biểu Quốc hội tại địa phương đến Hội đồng bầu cử quốc gia;  
đ) Lập danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo đơn vị bầu cử và  
báo cáo để Hội đồng bầu cử quốc gia quyết định;  
e) Chỉ đạo, kiểm tra việc lập và niêm yết danh sách cử tri;  
g) Nhận tài liệu, phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội từ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và  
phân phối cho các Ban bầu cử đại biểu Quốc hội chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu  
cử;  
h) Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện công tác bầu cử đại biểu  
Quốc hội của Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Tổ bầu cử; khiếu nại, tố cáo về bầu cử đại  
biểu Quốc hội do Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Tổ bầu cử chuyển đến; khiếu nại, tố cáo  
về người ứng cử đại biểu Quốc hội;  
i) Nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội của các  
Ban bầu cử đại biểu Quốc hội; lập biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội ở  
địa phương;  
k) Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội theo yêu cầu  
của Hội đồng bầu cử quốc gia;  
l) Chuyển hồ sơ, biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội đến Hội đồng  
bầu cử quốc gia;  
m) Tổ chức việc bầu cử thêm, bầu cử lại đại biểu Quốc hội theo quyết định của  
Hội đồng bầu cử quốc gia.  
2. Trong việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử ở các cấp có các  
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:  
a) Chỉ đạo việc tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình ở địa  
phương; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân;  
b) Quản lý và phân bổ kinh phí tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân  
ở cấp mình;  
c) Chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử đại biểu Hội đồng  
nhân dân ở địa phương;  
d) Chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong cuộc bầu  
cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương;  
đ) Ấn định và công bố số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng  
đại biểu được bầu của mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp mình;  
e) Nhận và xem xét hồ sơ của những người được tổ chức chính trị, tổ chức chính  
trị - xã hội, tổ chức xã hội; đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, đơn vị sự  
nghiệp, tổ chức kinh tế, thôn, tổ dân phố ở địa phương giới thiệu ứng cử và những người  
tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình; gửi danh sách trích ngang lý lịch, bản  
sao tiểu sử tóm tắt và bản kê khai tài sản, thu nhập của người được giới thiệu ứng cử và  
người tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ  
quốc Việt Nam cùng cấp để tiến hành hiệp thương;  
g) Lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng  
nhân dân cấp mình theo từng đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; xóa tên người  
ứng cử trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp  
mình;  
h) Nhận tài liệu, phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân từ Ủy ban nhân dân  
cùng cấp và phân phối cho các Ban bầu cử chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu cử;  
i) Nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân  
cấp mình ở từng đơn vị bầu cử do các Ban bầu cử gửi đến; lập biên bản tổng kết cuộc bầu  
cử đại biểu Hội đồng nhân dân của cấp mình;  
k) Chỉ đạo việc bầu cử thêm, bầu cử lại đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định  
tại các điều 79, 80, 81 và 82 của Luật này;  
l) Xác nhận và công bố kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; xác nhận tư  
cách của người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân;  
m) Trình Hội đồng nhân dân khóa mới báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội  
đồng nhân dân và kết quả xác nhận tư cách đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp được  
bầu;  
n) Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện công tác bầu cử đại biểu Hội  
đồng nhân dân của Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình, Tổ bầu cử; khiếu  
nại, tố cáo về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình do Ban bầu cử, Tổ bầu cử  
chuyển đến; khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, việc lập danh sách người ứng cử đại biểu  
Hội đồng nhân dân cấp mình;  
o) Bàn giao các biên bản tổng kết và hồ sơ, tài liệu về cuộc bầu cử đại biểu Hội  
đồng nhân dân cho Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp khóa mới.  
2.1.3. Ban bầu cử  
1. Chậm nhất là 70 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi  
thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ  
quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội một  
Ban bầu cử đại biểu Quốc hội có từ chín đến mười lăm thành viên gồm Trưởng ban, các  
Phó Trưởng ban và các Ủy viên là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân  
dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và một số cơ quan, tổ chức hữu quan.  
2. Chậm nhất là 70 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện,  
cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Ủy  
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử đại  
biểu Hội đồng nhân dân cấp mình một Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân gồm đại  
diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội.  
Thành, phần Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có thêm đại diện cử tri ở địa  
phương.  
Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có từ mười một đến mười ba  
thành viên. Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện có từ chín đến mười một  
thành viên. Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có từ bảy đến chín thành viên.  
Ban bầu cử gồm Trưởng ban, các Phó Trường ban và các Ủy viên.  
3. Ban bầu cử có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:  
a) Kiểm tra, đôn đốc việc thi hành pháp luật về bầu cử của các Tổ bầu cử thuộc  
đơn vị bầu cử;  
b) Kiểm tra, đôn đốc việc lập, niêm yết danh sách cử tri và việc niêm yết danh  
sách những người ứng cử ở các Tổ bầu cử thuộc đơn vị bầu cử;  
c) Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc bố trí các phòng bỏ phiếu và công việc bầu cử ở  
các phòng bỏ phiếu;  
d) Nhận và phân phối tài liệu, phiếu bầu cử cho các Tổ bầu cử chậm nhất là 15  
ngày trước ngày bầu cử;  
đ) Nhận, tổng hợp và kiểm tra biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử của các Tổ bầu  
cử; lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử;  
e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện công tác bầu cử của các Tổ  
bầu cử và khiếu nại, tố cáo về bầu cử do các Tổ bầu cử chuyển đến; nhận và chuyển  
đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh khiếu nại, tố cáo về người ứng cử đại biểu Quốc hội; nhận và  
chuyển đến Ủy ban bầu cử tương ứng khiếu nại, tố cáo về người ứng cử đại biểu Hội  
đồng nhân dân;  
g) Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo hướng dẫn, yêu cầu của Hội  
đồng bầu cử quốc gia hoặc theo yêu cầu của Ủy ban bầu cử cùng cấp;  
h) Chuyển hồ sơ, tài liệu về bầu cử đại biểu Quốc hội đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh;  
chuyển hồ sơ, tài liệu về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Ủy ban bầu cử cùng cấp;  
i) Tổ chức thực hiện việc bầu cử thêm, bầu cử lại (nếu có).  
2.1.4. Tổ bầu cử  
1. Chậm nhất là 50 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp xã sau khi thống  
nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc  
Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử để thực  
hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Tổ bầu cử  
có từ mười một đến hai mươi mốt thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy  
viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã  
hội, đại diện cử tri ở địa phương.  
Đối với huyện không có đơn vị hành chính xã, thị trấn thì Ủy ban nhân dân huyện  
sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Ủy ban Mặt  
trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ  
bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy  
viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã  
hội, đại diện cử tri ở địa phương.  
Đơn vị vũ trang nhân dân được xác định là khu vực bỏ phiếu riêng được thành lập  
một Tổ bầu cử có từ năm đến chín thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là  
đại diện chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân của đơn vị vũ trang nhân dân đó.  
Trong trường hợp đơn vị vũ trang nhân dân và địa phương có chung một khu vực  
bỏ phiếu thì Ủy ban nhân dân cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân  
dân, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và chỉ huy đơn vị vũ  
trang nhân dân quyết định thành lập Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt thành  
viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính  
trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, đại diện cử tri ở địa phương, đại diện chỉ huy  
đơn vị và đại diện quân nhân của đơn vị vũ trang nhân dân đó.  
2. Tổ bầu cử có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:  
a) Phụ trách công tác bầu cử trong khu vực bỏ phiếu;  
b) Bố trí phòng bỏ phiếu, chuẩn bị hòm phiếu;  
c) Nhận tài liệu và phiếu bầu cử từ Ban bầu cử; phát thẻ cử tri, phiếu bầu cử có  
đóng dấu của Tổ bầu cử cho cử tri;  
d) Thường xuyên thông báo cho cử tri biết ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu, thời gian bỏ  
phiếu trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử;  
đ) Bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về bầu cử và nội quy  
phòng bỏ phiếu;  
e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của  
Tổ bầu cử quy định tại Điều này; nhận và chuyển đến Ban bầu cử tương ứng khiếu nại, tố  
cáo về người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, khiếu  
nại, tố cáo khác không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tổ bầu cử;  
g) Kiểm phiếu và lập biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử để gửi đến Ban bầu cử  
tương ứng;  
h) Chuyển biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử và toàn bộ phiếu bầu cử đến Ủy  
ban nhân dân cấp xã khi kết thúc việc kiểm phiếu;  
i) Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo quy định của các tổ chức phụ  
trách bầu cử cấp trên;  
k) Thực hiện việc bầu cử thêm, bầu cử lại tại khu vực bỏ phiếu (nếu có).  
Nguyên tắc hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương  
1. Các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương hoạt động theo chế độ tập thể, quyết  
định theo đa số. Các cuộc họp được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành  
viên tham dự; các quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên biểu  
quyết tán thành.  
2. Cơ quan có thẩm quyền thành lập tổ chức phụ trách bầu cử có quyền trưng tập  
cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã  
hội, đơn vị sự nghiệp công lập để giúp thực hiện các công việc liên quan đến tổ chức bầu  
cử.  
Những trường hợp không được tham gia vào các tổ chức phụ trách bầu cử  
Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân không được làm  
thành viên Ban bầu cử hoặc Tổ bầu cử ở đơn vị bầu cử mà mình ứng cử. Nếu đã là thành  
viên của Ban bầu cử hoặc Tổ bầu cử ở đơn vị bầu cử mà mình ứng cử thì người ứng cử  
phải xin rút khỏi danh sách thành viên của tổ chức phụ trách bầu cử đó chậm nhất là vào  
ngày công bố danh sách chính thức những người ứng cử. Trường hợp người ứng cử  
không có đơn xin rút thì cơ quan đã quyết định thành lập Ban bầu cử, Tổ bầu cử đó ra  
quyết định xóa tên người ứng cử khỏi danh sách thành viên của tổ chức phụ trách bầu cử  
và bổ sung thành viên khác để thay thế.  
2.1.5. Thời điểm kết thúc nhiệm vụ của các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa  
phương  
1. Ủy ban bầu cử ở tỉnh, Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Tổ bầu cử hết nhiệm vụ  
đối với bầu cử đại biểu Quốc hội sau khi Hội đồng bầu cử quốc gia kết thúc việc tổng kết  
công tác bầu cử đại biểu Quốc hội trong cả nước và công bố kết quả bầu cử đại biểu  
Quốc hội.  
2. Ủy ban bầu cử hết nhiệm vụ đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân sau khi  
Ủy ban bầu cử đã trình báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và hồ  
sơ, tài liệu về bầu cử tại kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa mới.  
3. Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Tổ bầu cử hết nhiệm vụ đối với bầu cử  
đại biểu Hội đồng nhân dân sau khi Ủy ban bầu cử kết thúc việc tổng kết công tác bầu cử  
và công bố kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.  
Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật và được công bố chậm nhất là 115 ngày trước  
ngày bầu cử.  
2.2. Danh sách cử tri  
2.1.1. Nguyên tắc lập danh sách cử tri  
1. Mọi công dân có quyền bầu cử đều được ghi tên vào danh sách cử tri và được  
phát thẻ cử tri, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 30 của Luật này.  
2. Mỗi công dân chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri ở nơi mình thường trú  
hoặc tạm trú.  
3. Cử tri là người tạm trú và có thời gian đăng ký tạm trú tại địa phương chưa đủ  
12 tháng, cử tri là quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách  
cử tri để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ở nơi  
tạm trú hoặc đóng quân.  
4. Công dân Việt Nam ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ  
sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ,  
thì đến Ủy ban nhân dân cấp xã xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để được  
ghi tên vào danh sách cử tri và nhận thẻ cử tri bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội  
đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (nếu xuất trình tại nơi đăng ký thường trú)  
hoặc bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện  
(nêu xuất trình tại nơi đăng ký tạm trú).  
5. Cử tri là người đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa  
vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được ghi tên vào danh sách cử tri  
để bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi người đó đang bị  
tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai  
nghiện bắt buộc.  
2.1.2. Những trường hợp không được ghi tên, xóa tên hoặc bổ sung tên vào  
danh sách cử tri  
1. Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu  
lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang  
chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự  
thì không được ghi tên vào danh sách cử tri.  
2. Người thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này nếu đến trước thời  
điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ được khôi phục lại quyền bầu cử, được trả lại tự do hoặc  
được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi  
dân sự thì được bổ sung vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri theo quy định tại  
Điều 29 của Luật này.  
3. Trong thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời  
điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, những người thay đổi nơi thường trú ra ngoài đơn vị hành  
chính cấp xã nơi đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì được xóa tên trong danh sách cử  
tri ở nơi cư trú cũ và bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi thường trú mới để bầu đại biểu  
Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã; những người chuyển  
đến tạm trú ở nơi khác với đơn vị hành chính cấp xã mà mình đã được ghi tên vào danh  
sách cử tri và có nguyện vọng tham gia bầu cử ở nơi tạm trú mới thì được xóa tên trong  
danh sách cử tri ở nơi cư trú cũ và bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi tạm trú mới để  
bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.  
4. Cử tri được quy định tại khoản 5 Điều 29 của Luật này, nếu đến trước thời điểm  
bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ mà được trả tự do hoặc đã hết thời gian giáo dục bắt buộc, cai  
nghiện bắt buộc thì được xóa tên trong danh sách cử tri ở nơi có trại tạm giam, cơ sở giáo  
dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, được bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi đăng  
ký thường trú để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện,  
cấp xã hoặc được bổ sung vào danh sách, cử tri tại nơi đăng ký tạm trú để bầu đại biểu  
Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.  
5. Người đã có tên trong danh sách cử tri mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị  
Tòa án tước quyền bầu cử, phải chấp hành hình phạt tù hoặc mất năng lực hành vi dân sự  
thì Ủy ban nhân dân cấp xã xóa tên người đó trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ cử tri.  
2.1.3. Thẩm quyền lập danh sách cử tri  
1. Danh sách cử tri do Ủy ban nhân dân cấp xã lập theo từng khu vực bỏ phiếu.  
Đối với huyện không có đơn vị hành chính xã, thị trấn thì Ủy ban nhân dân huyện  
có trách nhiệm lập danh sách cử tri theo từng khu vực bỏ phiếu.  
2. Danh sách cử tri trong đơn vị vũ trang nhân dân do chỉ huy đơn vị lập theo đơn  
vị vũ trang nhân dân để đưa vào danh sách cử tri của khu vực bỏ phiếu nơi đơn vị đóng  
quân. Quân nhân có hộ khẩu thường trú ở địa phương gần khu vực đóng quân có thể  
được chỉ huy đơn vị cấp giấy chứng nhận để được ghi tên vào danh sách cử tri và tham  
gia bỏ phiếu ở nơi thường trú. Khi cấp giấy chứng nhận, chỉ huy đơn vị phải ghi ngay vào  
danh sách cử tri tại đơn vị vũ trang nhân dân bên cạnh tên người đó cụm từ “Bỏ phiếu ở  
nơi cư trú”.  
Thảo luận:  
1. A sinh ngày 26/5/1998. Hỏi có được quyền bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV  
và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 không?  
2. Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân phải đáp ứng  
những tiêu chuẩn nào?  
3. Ngày Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ  
2016-2021 được quy định là ngày, tháng, năm nào?  
Câu hỏi ôn tập  
1. Hãy nêu khái niệm, vai trò của bầu cử?  
2. Nêu các quy định về bầu cử ở địa phương?  
Chương 2. Tổ chức tuyên truyền bầu cử  
Mục tiêu: Người học nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tuyên truyền  
bầu cử, cách thức để xây dựng và tổ chức kế hoạch tuyên truyền bầu cử  
Nội dung của chương:  
1. Vai trò và sự cần thiết của việc tuyên truyền bầu cử.  
1.1. Vai trò của việc tuyên truyền bầu cử  
Bầu cử sự kiện quan trọng của đất nước, là đợt sinh hoạt chính trị rộng khắp  
trong các tầng lớp nhân dân; là cơ hội để nhân dân trực tiếp tham gia xây dựng nhà  
nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân.  
Trong quá trình tiến hành cuộc bầu cử, công tác tuyên truyền có vai trò quan  
trọng, đóng góp vào thành công của cuộc bầu cử  
1.2. Sự cần thiết của việc tuyên truyền bầu cử  
Làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức rõ mục đích, vai trò, ý nghĩa,  
tầm quan trọng của sự kiện chính trị này là tiếp tục xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà  
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.  
Việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng là đại diện cho ý chí,  
nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân là  
nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân năm 2016.  
Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về quan điểm,  
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bầu cử; tạo sự thống nhất  
trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong toàn xã hội, bảo đảm thực hiện thành công cuộc  
bầu cử; chủ động đấu tranh có hiệu quả với những âm mưu, hoạt động chống phá bầu cử,  
chống phá chế độ, cản trở sự nghiệp đổi mới đất nước của nhân dân ta.  
Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng về công tác bầu cử, bảo  
đảm phát huy dân chủ và sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong công tác cán  
bộ. Làm cho mọi công dân nắm vững quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm trong việc xây  
dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực, hiệu quả, tham gia tự giác, tích cực,  
chủ động để cuộc bầu cử thực sự là ngày hội của toàn dân,  
Công tác tuyên truyền về bầu cử cần được tiến hành song song với lộ trình, bước  
đi của cuộc bầu cử (trước, trong và sau khi bầu cử), hỗ trợ đắc lực cho công tác triển khai  
bầu cử; góp phần cổ vũ tinh thần đoàn kết, chung sức chung lòng, tận dụng mọi thời cơ,  
thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững;  
tạo không khí thi đua yêu nước trong mọi tầng lớp nhân dân thực hiện có hiệu quả Nghị  
quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng.  
2. Xác định đối tượng, nội dung, hình thức và thời gian tuyên truyền bầu cử.  
2.1. Đối tượng, nội dung tuyên truyền bầu cử  
Tổ chức đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến các quy định về Luật bầu cử đại biểu  
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân và các quy định của pháp luật liên quan cho cán  
bộ, công chức, viên chức, người lao động trong thời gian từ ngày 10/3/2016 đến hết ngày  
22/5/2016.  
Nội dung tuyên truyền, phổ biến Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội  
đồng nhân dân tập trung vào các nội dung: nguyên tắc bầu cử; tuổi bầu cử và tuổi ứng cử;  
tiêu chuẩn người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biếu Hội đồng nhân dân; ngày bầu cử;  
quyền bầu cử và ứng cử của công dân; trường hợp được ghi tên, không được ghi tên, xóa  
tên, bổ sung tên vào danh sách cử tri; trách nhiệm của cử tri trong quá trình bầu cử;  
những trường hợp không được ứng cử; vận động bầu cử; các hành vi bị cấm trong vận  
động bầu cử; nội dung tiếp xúc cử tri; chương trình hành động của các ứng cử viên;  
nguyên tắc và trình tự bỏ phiếu; xử lý vi phạm pháp luật về bầu cử, công bô kết quả trúng  
cử....  
1.2. Hình thức và thời gian tuyên truyền bầu cử  
* Hoạt động tuyên truyền, phố biến Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội  
đồng nhân dân thực hiện thông qua các hình thức, biện pháp phong phú, thiết thực, linh  
hoạt, phù hợp với từng đối tượng, trong đó chú ý một sổ hình thức sau:  
- Đăng tải toàn văn Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biếu Hội đồng nhân dân  
và các văn bản hướng dẫn thi hành, các văn bản có liên quan đến công tác bầu cử trên  
cổng thông tin điện tử/Trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị.  
- Tổ chức tập huấn, quán triệt mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử  
đại biểu Quốc hội khóa XIV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; quán triệt,  
phổ biến rộng rãi tinh thần của Luật cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.  
- Tổ chức biên soạn tài liệu tuyên truyền; tăng cường các hoạt động thông tin,  
tuyên truyền thông qua các chuyên mục, tin, bài...; ứng dụng công nghệ thông tin trong  
việc đăng tải và cập nhật các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo...  
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến qua hệ thống áp phích, pa-nô, băng rôn tại cơ  
quan, đơn vị về nội dung Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.  
* Trung tâm công nghệ thông tin có trách nhiệm đăng tải toàn văn Luật bầu cử đại  
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân và các văn bản hướng dẫn thi hành, các văn  
bản có liên quan đến công tác bầu cử trên cổng thông tin điện tử Bộ Giao thông vận tải.  
* Báo Giao thông, Tạp chí Giao thông vận tải có trách nhiệm tăng cường thời  
lượng, lồng ghép tuyên truyền, phổ biến các nội dung cơ bản của Luật bầu cử đại biếu  
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân và quá trình bầu cử đại biếu Quốc hội và đại  
biểu Hội đồng nhân dân các cấp.  
* Các thông tin, tài liệu tuyên truyên, phổ biến về Luật bầu cử đại biểu Quốc hội  
và đại biểu Hội đồng nhân dân và quá trình triển khai tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc  
hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được Bộ Tư pháp cập nhật, đăng tải trên cổng  
thông tin điện tử Bộ Tư pháp, đề nghị các cơ quan, đơn vị truy cập để tham khảo, sử  
dụng.  
Chúng ta đang sống trong thời đại thông tin, nhu cầu thông tin của xã hội ngày  
càng phong phú và đa dạng. Bên cạnh những phương tiện kỹ thuật hiện đại, các phương  
tiện thông tin truyền thống vẫn có vị trí quan trọng đáp ứng như cầu của các loại đối  
tượng tuyên truyền khác nhau. Kết hợp các hình thức phương pháp tuyên truyền truyền  
thống với các phương tiện kỹ thuật, công nghệ hiện đại là giải pháp tốt nhất đưa thông  
tin, tuyên truyền về bầu cử đến với mọi tầng lớp nhân dân. Để thông tin, tuyên truyền về  
bầu cử đến với người dân hiệu quả, cần chú ý các hình thức sau: sinh hoạt của các tổ  
chức, đoàn thể; hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng (nhất là báo nói và  
báo hình); hoạt động cổ động trực quan, văn hóa, nghệ thuật; hệ thống các trường lớp của  
Đảng, Nhà nước, đoàn thể; sách, ấn phẩm, tài liệu tuyên truyền; hoạt động tiếp xúc cử tri;  
hoạt động của báo cáo viên, tuyên truyền viên … Mỗi hình thức tuyên truyền trên đây  
đều có những ưu điểm và hạn chế, cần linh hoạt lựa chọn hình thức phù hợp đối tượng  
tuyên truyền, địa bàn, thời điểm để khai thác tối đa ưu điểm từng loại hình. Thời gian tới  
chúng ta cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng;  
đẩy mạnh tuyên truyền cổ động trực quan trên các đường phố lớn ở Trung ương và các  
tỉnh, thành phố trên toàn quốc; các hoạt động văn hóa, văn nghệ tuyên truyền về bầu cử.  
Công tác thông tin tuyên truyền về bầu cử Quốc hội cũng cần phải kết hợp giữa thường  
xuyên, liên tục với trọng tâm, trọng điểm, nhất là vào ngày bầu cử. Có kế hoạch cho các  
hoạt động tuyên truyền rầm rộ, mang tính chiến dịch, đồng loạt, sâu rộng, nhưng cũng có  
kế hoạch cho những hoạt động chuyên sâu, tỉ mỉ. Nội dung thông tin, tuyên truyền cổ  
động về bầu cử phải được chỉ đạo tập trung, thống nhất từ trên xuống; các hình thức tranh  
cổ động, biểu ngữ, khẩu hiệu, cờ quốc huy, thông báo, lá phiếu, thẻ cử tri, mẫu trang trí  
hòm phiếu …. cần phải đồng bộ. Yêu cầu về thẩm mỹ, nghệ thuật trong công tác thông  
tin, tuyên truyền là một việc cần thiết để góp phần tăng tính hấp dẫn, sinh động, thu hút  
sự quan tâm của cử tri, góp phần làm nên sắc màu ngày hội của toàn dân. Hoạt động  
thông tin, tuyên truyền về bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử HĐND diễn ra sôi nổi trên  
toàn quốc, đặc biệt trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua hoạt động của mạng  
lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên của các tổ chức đảng, đoàn thể, qua hoạt động thông  
tin cổ động, qua hoạt động của các tổ chức giới thiệu ứng cử viên đại biểu Quốc hội…  
gây được sự chú ý của các tầng lớp nhân đân. Công tác biên soạn và phát hành tài liệu  
tuyên truyền, ấn phẩm, tờ rơi, tờ gấp, tranh cổ động về bầu cử…. được đẩy mạnh ở cả  
Trung ương và địa phương.  
3. Xây dựng và tổ chức kế hoạch tuyên truyền bầu cử  
3.1. Xây dựng kế hoạch tuyên truyền bầu cử  
Ví dụ minh họa:  
Kế hoạch tuyên truyền cuộc Bầu cử Đại biểu Quốc hội khoá XIV và Đại biểu  
Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021  
Ngày 04/02/2016, Tỉnh ủy Hà Giang đã ban hành Kế hoạch số 34-KH/TU về việc  
tuyên truyền cuộc Bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV và Đại biểu HĐND các cấp  
nhiệm kỳ 2016-2021. Nhằm giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh  
nhận thức rõ hơn về mục đích, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử, để cuộc  
bầu cử đạt kết quả tốt, thực sự là ngày hội của toàn dân.  
Kế hoạch nêu rõ, t uyên truyền trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức rõ  
mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của sự kiện chính trị này nhằm tiếp tục xây dựng, củng  
cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.  
Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về quan điểm,  
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bầu cử; tạo sự thống nhất  
trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong toàn xã hội, bảo đảm thực hiện thành công cuộc  
bầu cử; chủ động đấu tranh có hiệu quả với những âm mưu, hoạt động chống phá bầu cử,  
chống phá chế độ, cản trở sự nghiệp đổi mới đất nước của nhân dân ta.  
Nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng về công tác bầu cử, đảm  
bảo phát huy dân chủ và sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong công tác cán  
bộ, làm cho mọi người dân nắm vững quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm trong xây dựng  
Nhà nước trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực, hiệu quả, tham gia tự giác, tích cực, chủ  
động để ngày bầu cử thực sự là ngày hội của toàn dân.  
Đồng thời, yêu cầu công tác tuyên truyền về bầu cử cần được tiến hành đồng bộ,  
đúng lộ trình, bước đi của cuộc bầu cử, hỗ trợ đắc lực cho công tác triển khai bầu cử; góp  
phần cổ vũ tinh thần đoàn kết, chung sức, chung lòng, tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi,  
vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững; tạo  
không khí thi đua yêu nước, thi đua lao động sản xuất trong mọi tầng lớp nhân dân nhằm  
thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội  
Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI.  
Việc lựa chọn bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng là đại diện cho  
ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân  
là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân năm 2016.  
Nội dung tập trung tuyên truyền thành 3 đợt cao điểm như sau:  
Đợt 1 : Từ tháng 2/2016 đến ngày 15/4/2016  
Tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử đại biểu  
Quốc hội khoá XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021; phân  
tích, làm rõ bối cảnh, tình hình đất nước thời điểm diễn ra cuộc bầu cử trong đó tập trung  
tuyên truyền: về Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã  
hội; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội  
Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI; Hiến pháp năm 2013 và các Luật về tổ chức bộ máy Nhà nước  
mới được ban hành; những thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực trong công cuộc đổi mới;  
những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đặt ra khi chúng ta hội nhập quốc tế  
ngày càng sâu rộng.  
Giới thiệu các nội dung cốt lõi các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà  
nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử tỉnh; hướng dẫn tổ chức thực hiện  
của các cơ quan chức năng về cuộc bầu cử như: Chỉ thị số 51 -CT/TW ngày 04/01/2016  
của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội  
đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 13/01/2016 của  
Thủ tướng Chính phủ; Hiến pháp năm 2013; Luật tổ chức Quốc hội; Luật tồ chức chính  
quyền địa phương, Luật bầu cử Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; quy trình hiệp  
thương lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc hội và những người ứng  
cử đại biểu hội đồng nhân dân; hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử...  
Đợt 2 : Từ ngày 16/4/2016 đến ngày 22/5/2016  
Tuyên truyền các nguyên tắc bầu cử, tiêu chuẩn người ứng cử đại biểu Quốc hội  
được quy định tại Luật tổ chức Quốc hội, tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân quy  
định tại Luật tổ chức chính quyền địa phương; tiêu chuẩn cán bộ được quy định trong  
chiến lược công tác cán bộ của Đảng; quyền và nghĩa vụ của người ứng cử; quyền và  
nghĩa vụ, trách nhiệm của cử tri đi tham gia bầu cử; các quy định về quy trình, trình tự  
bầu cử và các thể thức bầu cử; đặc biệt những đổi mới của Quốc hội trong hoạt đồng lập  
pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và đổi mới của hội  
đồng nhân dân trong việc thực hiện trách nhiệm của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa  
phương; công tác chuẩn bị bầu cử và hoạt động bầu cử trên địa bàn toàn tỉnh.  
Giới thiệu nội dung Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu hội  
đồng nhân dân năm 2015; làm rõ những điểm mới trong công tác bầu cử đại biểu Quốc  
hội và đại biểu Hội đồng nhân dân đó là: Những điều chỉnh, bổ sung cụ thể về bộ máy  
thực hiện công tác bầu cử từ Trung ương đến địa phương; quy định chặt chẽ hơn về trách  
nhiệm, quyền hạn và sự phối hợp của các cơ quan, đơn vị phụ trách bầu cử; quy trình đề  
cử, ứng cử; việc phân bổ người ứng cử đại biểu Quốc hội do Trung ương giới thiệu; việc  
thẩm định hồ sơ người tự ứng cử; việc tuyên truyền vận động bầu cử, giải quyết khiếu nại  
tố cáo.  
Tuyên truyền về quá trình chuẩn bị và tiến hành bầu cử, quán triệt thực hiện  
nghiêm túc chủ trương của Đảng về bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ trong các cơ quan Nhà  
nước ở Trung ương và địa phương, gắn kết quả nhân sự đại hội đảng các cấp và quy  
hoạch cán bộ với công tác chuẩn bị nhân sự để giới thiệu đại biểu Quốc hội và đại biểu  
Hội đồng nhân dân các cấp.  
Tuyên truyền quyền bầu cử và ứng cử của công dân, nghĩa vụ, trách nhiệm của cử  
tri trong công tác bầu cử; các hoạt động trong quá trình tiếp xúc cử tri.  
Đợt 3: Ngay sau khi kết thúc cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng  
nhân dân các cấp, tập trung tuyên truyền:  
Kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các  
cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021.  
Tuyên truyền về sự tham gia tích cực, chủ động của nhân dân đối với cuộc bầu  
cử; kết quả phong trào thi đua lập thành tích chào mừng bầu cử, biểu dương kịp thời  
những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bầu cử, nhất là bầu cử ở nơi  
biên giới, các vùng còn nhiều khó khăn của tỉnh.  
Hình thức tuyên truyền  
Tổ chức thông tin tuyên truyền bằng các thứ tiếng: Việt, Dao, Mông, Tày... trên  
các loại hình báo chí, trang thông tin điện tử...  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 31 trang Thùy Anh 14701 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Dịch vụ pháp lý - Công tác bầu cử ở cấp huyện và cấp xã", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_dich_vu_phap_ly_cong_tac_bau_cu_o_cap_huyen_va_ca.pdf