Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trần Quốc Minh*
*ThS. Khoa Luật Hình sự, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung trình bày, phân tích cơ sở lý luận
và thực tiễn của việc quy định biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân trong
luật tố tụng hình sự Việt Nam; phân tích quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015 về biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân và chỉ ra những hạn chế
trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân. Trên cơ sở đó, tác
giả đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng
các biện pháp này ở nước ta trong thời gian tới.
Từ khóa: Biện pháp cưỡng chế,
pháp nhân, luật tố tụng hình sự
Việt Nam.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 09/4/2021
: 15/5/2021
: 18/5/2021
Abstract:
Article Infomation:
Within the scope of this article, the author focuses on discussions and
analysis of the theoretical and practical grounds of the provisions of coercive
measures for legal entities in the criminal procedure law of Vietnam;
analysis of the provisions of the Criminal Procedure Code of 2015 on
coercive measures for legal entities and gives out a number of shortcomings
in the application of coercive measures to the legal entities. On that basis, the
author also provides recommendations to improve the law and enhance the
effectiveness of these measures in our country in the coming time.
Keywords: Coercive measures;
legal entities; criminal procedure
law of Vietnam.
Article History:
Received
Edited
: 09 Apr. 2021
: 15 May. 2021
: 18 May. 2021
Approved
Trước đây, theo quy định của Bộ luật Hình
sự năm 1999, pháp nhân không được xem là
chủ thể của tội phạm. Tuy nhiên, theo quy
định của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được
sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là
BLHS năm 2015), pháp nhân thương mại đã
được bổ sung là một trong hai nhóm chủ thể
của tội phạm, bao gồm cá nhân và pháp nhân
thương mại. Cơ sở của việc bổ sung pháp
nhân thương mại là chủ thể của tội phạm xuất
phát từ yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội
phạm đối với tình hình vi phạm pháp luật của
pháp nhân thương mại trong lĩnh vực kinh tế
và môi trường; yêu cầu công bằng trong xử lý
hình sự giữa cá nhân và pháp nhân; yêu cầu
của hội nhập quốc tế, thực hiện cam kết quốc
tế mà Việt Nam tham gia1.
Kể từ ngày 01/01/20182 đến nay, cả nước
chỉ mới khởi tố một vụ án hình sự đối với
pháp nhân thương mại đó là Công ty cổ phần
Tập đoàn bia Sài Gòn Việt Nam. Mặc dù vụ
án chưa được đưa ra xét xử nhưng có thể thấy,
do đây là trường hợp đầu tiên nên vấn đề truy
1 Trần Thị Quang Vinh – Vũ Thị Thúy, Luật Hình sự Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh,
2018, tr.304.
2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.
Số 20(444) - T10/2021
27
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp
nhân thương mại không hề đơn giản, đặc biệt
là vấn đề áp dụng các biện pháp cưỡng chế vì
chưa có tiền lệ trước đó, nhưng đây sẽ là vụ
án đầu tiên mà các cơ quan tiến hành tố tụng
truy cứu TNHS của một pháp nhân thương
mại làm tiền đề cho các vụ án về sau.
được áp dụng đối với bị can, bị cáo mà theo
quy định của BLHS có thể bị phạt tiền hoặc
bồi thường thiệt hại do những chủ thể có thẩm
quyền3 tiến hành. Tuy nhiên, trên thực tế, có
những trường hợp pháp nhân không bị khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử nhưng có tài sản
liên quan đến vụ án và có nghĩa vụ bồi thường
như trường hợp pháp nhân là bị đơn dân sự
trong vụ án thì có áp dụng biện pháp kê biên
tài sản hay không, Luật không có quy định. Ví
dụ như vụ án liên quan đến “Công ty cổ phần
địa ốc Alibaba” do Nguyễn Thái L làm chủ
tịch Hội đồng quản trị, trong đó nhiều lãnh
đạo và nhân viên công ty đã bị khởi tố về tội
lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản và tội rửa
tiền xảy ra vào năm 2019 gây chấn động dư
luận. Mặc dù trong vụ án này, quá trình điều
tra chỉ mới dừng lại ở việc truy cứu THNS các
cá nhân, “Công ty cổ phần địa ốc Alibaba” có
bị truy cứu TNHS về tội rửa tiền theo quy
định tại Điều 324 BLHS năm 2015 hay không
thì đến nay, theo kết luận của Cơ quan điều
tra chỉ dừng lại ở việc truy cứu TNHS các cá
nhân. Mặc dù Công ty không bị khởi tố nhưng
các cơ quan có thẩm quyền đang tiến hành các
biện pháp cần thiết để đảm bảo thi hành án,
trong đó có việc đề xuất áp dụng kê biên tài
sản đối với các dự án của công ty này4. Hoặc
trong vụ án Công ty TNHH giải pháp phần
mềm Nhật Cường (sau đây gọi tắt là Công
ty Nhật Cường) xảy ra năm 2019, nhiều lãnh
đạo công ty và nhân viên đã bị khởi tố về tội
buôn lậu và một số tội danh khác nhưng Cơ
quan điều tra cũng chỉ dừng lại ở việc truy
cứu TNHS của cá nhân mặc dù theo quy định
của BLHS năm 2015, pháp nhân cũng có thể
1. Kê biên tài sản
Việc quy định biện pháp kê biên tài sản
là một trong các biện pháp cưỡng chế có thể
được áp dụng đối với pháp nhân thể hiện
sự phù hợp giữa luật nội dung và luật hình
thức xuất phát từ việc chủ thể của tội phạm
không chỉ có cá nhân mà có thể là pháp
nhân thương mại, trong trường hợp pháp
nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại thì
có thể bị áp dụng hình phạt tiền hoặc bồi
thường thiệt hại. Do đó, việc quy định biện
pháp kê biên tài sản nhằm đảm bảo việc
thực hiện hình phạt của pháp nhân cũng như
trách nhiệm dân sự nếu có.
Theo quy định tại Điều 437 BLTTHS năm
2015, “kê biên tài sản áp dụng đối với pháp
nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội
mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tiền
hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại. Chỉ kê
biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị
tịch thu, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại.
Tài sản bị kê biên được giao cho người đứng
đầu pháp nhân có trách nhiệm bảo quản; nếu
để xảy ra việc tiêu dùng, sử dụng trái phép,
chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại
tài sản bị kê biên thì người này phải chịu trách
nhiệm theo quy định của pháp luật”. Như vậy,
kê biên tài sản là biện pháp cưỡng chế có thể
3
Khoản 4 Điều 437 BLTTHS năm 2015 dẫn chiếu Điều 128, Điều 113 BLTTHS: Chủ thể có thẩm quyền kê
biên tài sản bao gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm
sát, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Hội đồng xét xử và Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa.
4 Theo điều tra của Công an Tp. Hồ Chí Minh, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 311 thửa đất của Công ty Alibaba.
Những thửa đất trên đang bị chặn giao dịch sau khi Công an khởi tố vụ án, khởi tố các bị can để phục vụ công
tác điều tra. Công an Tp. Hồ Chí Minh đề xuất chính quyền tỉnh Đồng Nai hỗ trợ định giá các thửa đất, đồng
thời kê biên tài sản đối với 255 thửa đất của Công ty Alibaba. Nguồn: http://www.antv.gov.vn/tin-tuc/phap-luat/
ke-bien-hang-tram-thua-dat-cong-ty-alibaba-lam-du-an-ma-tai-dong-nai-311358.html, truy cập ngày 22/5/2020.
28
Số 20(444) - T10/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
là chủ thể của tội buôn lậu5. Qua các trường
hợp phân tích nêu trên, tác giả cho rằng, hiện
nay, cơ quan tiến hành tố tụng đang rất dè dặt
trong việc truy cứu TNHS của pháp nhân mặc
dù có nhiều vụ án có dấu hiệu tội phạm của
pháp nhân. Tuy nhiên, vấn đề kê biên tài sản
của pháp nhân trong các vụ án này vẫn được
áp dụng mặc dù pháp nhân không bị khởi tố.
biên đang cho bên thứ ba thuê hoặc giữ; tài
sản bị kê biên đã thế chấp tại ngân hàng hoặc
tổ chức tín dụng và ngân hàng cũng không
quản lý được tài sản thế chấp này; tài sản là
nhà ở, vật kiến trúc trên đất nhưng pháp nhân
không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là
của chủ thể khác; không xác định được tài
sản kê biên đang ở đâu…. Đây cũng là những
trường hợp phát sinh khi kê biên tài sản của
cá nhân. Những vướng mắc này tồn tại trong
suốt thời gian thi hành BLTTHS năm 2003
và sẽ tiếp tục là những khó khăn, vướng mắc
khi thi hành BLTTHS năm 2015. Vì vậy, việc
có hướng dẫn cụ thể thực sự là cần thiết khi
BLTTHS đã có hiệu lực pháp luật”7.
Vụ án gần đây nhất và là vụ án đầu tiên
các cơ quan tiến hành tố tụng ở Việt Nam
truy cứu TNHS một pháp nhân thương mại
theo BLTTHS năm 2015 đó là vụ án Công
ty cổ phần tập đoàn bia Sài Gòn Việt Nam
bị khởi tố, điều tra về tội xâm phạm quyền
sở hữu công nghiệp theo khoản 2 Điều 226
BLHS hiện hành6. Vụ án đang trong giai đoạn
truy tố. Theo quy định tại Điều 226 BLHS thì
hình phạt đối với tội này có thể là phạt tiền,
có nghĩa là đủ điều kiện để áp dụng biện pháp
kê biên tài sản đối với pháp nhân. Tuy nhiên,
theo thông tin đến thời điểm hiện tại thì Cơ
quan tiến hành tố tụng không áp dụng biện
pháp cưỡng chế nào đối với Công ty này.
Đối với vụ án này, tác giả cho rằng việc có
áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với pháp
nhân hay không do các cơ quan tiến hành tố
tụng nhận định và quyết định áp dụng khi cần
thiết nhưng đây cũng là một vụ án điển hình
đối với pháp nhân thương mại phạm tội để các
đọc giả theo dõi và nghiên cứu thêm.
Về trình tự, thủ tục kê biên tài sản: Khi kê
biên tài sản của pháp nhân phải có mặt những
người sau: Người đại diện theo pháp luật của
pháp nhân; đại diện chính quyền xã, phường,
thị trấn nơi pháp nhân có tài sản bị kê biên;
người chứng kiến8. Trình tự, thủ tục kê biên tài
sản được áp dụng theo quy định tại Điều 128
BLTTHS năm 2015.
2. Phong tỏa tài khoản
Theo quy định tại Điều 438 BLTTHS năm
2015, “Phong tỏa tài khoản áp dụng đối với
pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử về tội mà Bộ luật hình sự quy định hình
phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt
hại và có căn cứ xác định pháp nhân đó có
tài khoản tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc
Nhà nước. Phong tỏa tài khoản cũng được áp
dụng đối với tài khoản của cá nhân, tổ chức
khác nếu có căn cứ xác định số tiền trong tài
khoản đó liên quan đến hành vi phạm tội của
pháp nhân”. Phong tỏa tài khoản được biết
Về tài sản bị kê biên, khoản 2 Điều 437
BLTTHS năm 2015 quy định: “Chỉ kê biên
phần tài sản tương ứng với mức có thể bị
tịch thu, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt
hại”. “Trên thực tế, tài sản bị kê biên của pháp
nhân có thể rơi vào các trường hợp sau: thuộc
sở hữu chung của nhiều người; tài sản bị kê
5
cong-ty-nhat-cuong-cung-dong-pham.html, truy cập ngày 22/5/2020.
6
Nguồn: Đông Hà, https://tuoitre.vn/nhai-vo-bia-sai-gon-de-nghi-truy-to-giam-doc-va-ca-cong-ty-bia-sai-
gon-viet-nam-20210117195035349.htm, truy cập ngày 04/3/2021.
7 Nguyễn Hải Ninh, “Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 2, 2018.
8 Điều 437 BLTTHS năm 2015.
Số 20(444) - T10/2021
29
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
đến là một biện pháp khẩn cấp tạm thời trong
tố tụng dân sự9, được áp dụng trong trường
hợp phải thi hành án về nghĩa vụ phải trả
tiền khi họ có tiền gửi trong tài khoản ngân
hàng hoặc tổ chức tín dụng khác thông qua
việc cô lập, đặt tài khoản của người phải thi
hành án trong tình trạng không thể sử dụng
được nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tiền trong
tài khoản10.
tránh việc xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp
pháp của pháp nhân thông qua việc quy định
chặt chẽ các điều kiện, khi áp dụng biện pháp
này đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền trước
khi áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản
phải chứng minh rất nhiều vấn đề như: hành vi
phạm tội của pháp nhân có thuộc trường hợp
tội phạm có hình phạt tiền hoặc bồi thường
thiệt hại; pháp nhân có tài khoản hay không,
bao nhiêu tài khoản, những tài khoản đó ở
ngân hàng hay tổ chức tín dụng nào; xác định
giá trị tài khoản của pháp nhân để áp dụng
biện pháp phong tỏa tài khoản tương ứng hình
phạt tiền hoặc bồi thường tài sản...
Trong tố tụng hình sự, biện pháp phong tỏa
tài khoản được xem là biện pháp cưỡng chế
được thực hiện nhằm kịp thời ngăn chặn việc
tẩu tán tiền trong tài khoản của pháp nhân. Tuy
nhiên, pháp luật tố tụng hình sự cũng quy định
các điều kiện để các chủ thể có thẩm quyền
xem xét áp dụng biện pháp này như sau: i)
Phong tỏa tài khoản áp dụng đối với pháp
nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội
mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tiền
hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại; ii) Có
căn cứ xác định pháp nhân đó có tài khoản tại
tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước; iii)
Chỉ phong tỏa số tiền trong tài khoản tương
ứng với mức có thể phạt tiền hoặc bồi thường
thiệt hại.
Ngoài ra, BLTTHS năm 2015 cũng quy
định những trường hợp tài khoản không phải
của pháp nhân trong vụ án nhưng nếu có căn
cứ cho rằng số tiền trong tài khoản đó có liên
quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân thì
vẫn có thể bị áp dụng biện pháp này. Quy định
này nhằm kịp thời ngăn chặn việc tẩu tán tiền
trong tài khoản và đảm bảo thi hành án; bởi lẽ
trên thực tế, có rất nhiều trường hợp khi thực
hiện hành vi phạm tội, các đối tượng đã lường
trước hậu quả có thể bị áp dụng biện pháp này
nên đã chuyển số tiền phạm pháp vào một tài
khoản khác để tránh bị phát hiện hoặc để bảo
toàn số tiền đó, trốn tránh trách nhiệm thi hành
án khi bị phát hiện. Thiết nghĩ, quy định này
nhằm kịp thời ngăn chặn việc tẩu tán tài sản
của pháp nhân trong quá trình thực hiện hành
vi phạm tội, góp phần khắc phục hậu quả của
hành vi phạm tội do pháp nhân gây ra và để
đảm bảo thu hồi tiền, tài sản thông qua hoạt
động thi hành án.
Như vậy, đối với pháp nhân thương mại
bị truy cứu TNHS về tội mà BLHS quy định
hình phạt tiền hoặc để đảm bảo bồi thường
thiệt hại và có căn cứ xác định pháp nhân đó
có tài khoản tại tổ chức tín dụng hoặc Kho
bạc Nhà nước thì các chủ thể có thẩm quyền11
được quy định tại Điều 129 BLTTHS năm
2015 có quyền áp dụng biện pháp phong tỏa
tài khoản để kịp thời ngăn chặn việc tẩu tán
tài sản dưới mọi thì thức nhằm đảm bảo thi
hành án. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra khi áp dụng
biện pháp này để vừa đảm bảo cho quá trình
giải quyết vụ án hình sự được kịp thời, đầy đủ
nhưng cũng phải đảm bảo tính khách quan,
3. Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của
pháp nhân
Theo quy định tại Điều 439 BLTTHS năm
2015 thì: “Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động
9 Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
10 Phạm Mạnh Hùng, Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nxb. Lao động, 2018, tr.702
11 Điều 129, Điều 113 BLTTHS năm 2015 quy định các chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp phong tỏa
tài khoản bao gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm
sát, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Hội đông xét xử và Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa.
30
Số 20(444) - T10/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
của pháp nhân chỉ áp dụng khi có căn cứ xác
định hành vi phạm tội của pháp nhân gây thiệt
hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến tính
mạng, sức khỏe của con người, môi trường
hoặc trật tự, an toàn xã hội”. Biện pháp này
được đặt ra để kịp thời ngăn ngừa hậu quả cho
xã hội đối với hành vi có dấu hiệu tội phạm
của pháp nhân khi có căn cứ xác định hành
vi của pháp nhân gây thiệt hại hoặc có khả
năng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe
của con người, gây thiệt hại môi trường hoặc
ảnh hưởng đến trật tự xã hội. Đối với căn cứ
áp dụng tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động
của pháp nhân theo Điều 439, tác giả cho rằng
chưa phù hợp. Bởi lẽ, theo quy định thì hành
vi vi phạm pháp luật chỉ bị coi là tội phạm
(“hành vi phạm tội”) khi có bản án kết tội của
Tòa án, còn trong giai đoạn khởi tố, điều tra,
truy tố, thậm chí là giai đoạn xét xử nếu chưa
có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp
luật thì người bị buộc tội được coi là không có
tội theo nguyên tắc suy đoán vô tội và hành
vi bị truy cứu lúc này cũng chưa bị coi là tội
phạm mà có thể chỉ là hành vi có dấu hiệu tội
phạm. Cũng theo quy định tại khoản 1 Điều
này, về thẩm quyên áp dụng bao gồm: Người
có thꢀm quyền quy định tại khoản 1 Điều
113 của Bộ luật này có quyền ra quyết định
tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp
nhân. Quyết định tạm đình chỉ hoạt động của
pháp nhân của những người quy định tại điểm
a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được
Viện kiểm sát cùng cấp phê chuꢀn trước khi thi
hành. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều
113, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp
này bao gồm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ
quan điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng
Viện kiểm sát; Chánh án, Phó Chánh án Tòa
án. Như vậy, có thể thấy việc áp dụng biện
pháp này có thể được tiến hành trong giai
đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trước khi
có bản án của Tòa án. Điều này đồng nghĩa
với việc biện pháp này có thể được áp dụng
đối với người bị buộc tội khi có căn cứ xác
định hành vi có dấu hiệu tội phạm chứ không
phải khi xác định được hành vi phạm tội như
quy định tại Điều 439.
Mặc dù đặc thù TNHS của pháp nhân
thương mại chỉ được đặt ra trong một số tội
phạm về kinh tế, môi trường nhưng thông qua
gây thiệt hại về môi trường nó cũng có khả
năng gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại
cho tính mạng, sức khỏe của con người cần
ngăn chặn kịp thời hậu quả có thể xảy ra. Tuy
nhiên, vấn đề đặt ra là khi pháp nhân thương
mại có hành vi có dấu hiệu tội phạm trong các
lĩnh vực kinh tế, môi trường theo quy định
của BLHS thì cơ quan có thẩm quyền áp dụng
tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp
nhân trên toàn bộ lĩnh vực hay chỉ tạm đình
chỉ những lĩnh vực vi phạm pháp luật hình sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nhằm
xác định TNHS của pháp nhân thương mại,
việc quyết định áp dụng biện pháp tạm đình
chỉ hoạt động của pháp nhân không phải là
tạm đình chỉ hoạt động trong mọi lĩnh vực mà
pháp nhân đó đang hoạt động. Việc tạm đình
chỉ hoạt động của pháp nhân thương mại bị
khởi tố, điều tra, truy tố phải được hiểu là tạm
đình chỉ hoạt động trong một hoặc một số lĩnh
vực hoạt động gây thiệt hại đến tính mạng,
sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh
trật tự, an toàn xã hội. Hiểu và áp dụng như
vậy phù hợp với quy định của BLHS năm
2015 về hình phạt đình chỉ hoạt động có thời
hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn12. Tác giả
cũng đồng quan điểm này; bởi lẽ, khi pháp
nhân được thành lập và hoạt động thì sẽ đăng
ký rất nhiều lĩnh vực hoạt động. Nếu trong
quá trình tổ chức và hoạt động, pháp nhân có
vi phạm pháp luật hình sự gây thiệt hại hoặc
đe dọa gây thiệt hại dẫn đến hậu quả bị truy
cứu TNHS thì có thể áp dụng quy định của
BLTTHS năm 2015 về việc tạm đình chỉ có
12 Nguyễn Hải Ninh, “Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 2, 2018.
Số 20(444) - T10/2021
31
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
thời hạn hoạt động của pháp nhân chứ không
nên vì vi phạm trong lĩnh vực này mà đình
chỉ toàn bộ hoạt động của pháp nhân sẽ gây
ra hệ quả tiêu cực cho pháp nhân cũng như
đối với xã hội như: ảnh hưởng đến hoạt động
bình thường của pháp nhân khi pháp nhân
phải ngừng hoạt động sản xuất, kinh doanh,
thậm chí là ảnh hưởng đến người lao động
khi họ ngừng việc... Do đó, cơ quan có thẩm
quyền khi xem xét áp dụng biện pháp này cần
căn cứ vào các lĩnh vực hoạt động mà pháp
nhân thương mại đăng ký hoạt động và quan
trọng hơn là phải căn cứ vào tính chất, mức độ
hành vi nguy hiểm cho xã hội của pháp nhân
đã thực hiện để xác định rõ tạm đình chỉ hoạt
động trong lĩnh vực nào tránh việc tạm đình
chỉ toàn bộ hoạt động của pháp nhân.
trường hoặc trật tự, an toàn xã hội. Quy định
này nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi gây thiệt
hại hoặc đe dọa gây thiệt hại của pháp nhân
trong quá trình hoạt động của mình.
4. Buộc nộp một khoản tiền để đảm bảo thi
hành án
Theo quy định tại khoản 2 Điều 439
BLTTHS năm 2015, “buộc nộp một khoản
tiền để bảo đảm thi hành án áp dụng đối với
pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
về tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt
tiền hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại”.
Biện pháp này chỉ áp dụng đối với pháp nhân
bị truy cứu về tội mà BLHS quy định hình
phạt tiền hoặc để đảm bảo bồi thường thiệt
hại và chỉ buộc nộp một khoản tiền để bảo
đảm thi hành án tương ứng với mức có thể
bị phạt tiền hoặc để bồi thường thiệt hại. Đây
là biện pháp cần thiết để đảm bảo cho việc
thi hành án của pháp nhân. Tuy nhiên, vấn đề
đặt ra là biện pháp này được áp dụng trong
trường hợp nào khi mà căn cứ áp dụng biện
pháp này gần như tương đồng với biện pháp
kê biên tài sản và phong tỏa tài khoản. Theo
tác giả, biện pháp này được áp dụng trong
trường hợp pháp nhân bị truy cứu TNHS đối
với tội mà BLHS quy định hình phạt tiền hoặc
bồi thường thiệt hại trong hai trường hợp sau
đây: một là, pháp nhân tự nguyện nộp tiền để
không phải chịu áp dụng biện pháp kê biên
tài sản hoặc phong tỏa tài khoản; hai là, pháp
nhân đã bị áp dụng biện pháp kê biên tài sản
hoặc phong tỏa tài khoản hoặc cả hai nhưng
không đủ để thực hiện nghĩa vụ theo quy định
của BLHS. Trường hợp đã áp dụng biện pháp
kê biên tài sản hoặc phong tỏa tài khoản mà
đã đảm bảo cho việc thi hành án thì không cần
thiết phải áp dụng biện pháp này.
Về căn cứ áp dụng, mặc dù BLTTHS năm
2015 không quy định cụ thể về căn tạm đình
chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân,
chỉ quy định nếu có căn cứ xác định hành vi
phạm tội của pháp nhân gây thiệt hại hoặc
có khả năng gây thiệt hại đến tính mạng, sức
khỏe của con người, môi trường hoặc trật tự,
an toàn xã hội. Có quan điểm cho rằng cần bổ
sung thêm căn cứ biện pháp cưỡng chế này
là chỉ áp dụng với pháp nhân thương mại nếu
pháp nhân đó có thể bị áp dụng hình phạt đình
chỉ hoạt động có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt
động vĩnh viễn để phù hợp với quy định về
hình phạt đối với pháp nhân thương mại được
quy định trong BLHS năm 201513. Tuy nhiên,
theo tác giả, quy định của BLTTHS năm 2015
như hiện nay là hợp lý vì có nhiều trường hợp,
pháp nhân có hành vi có dấu hiệu tội phạm
của các tội mà BLHS không quy định bị áp
dụng hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn
hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn mà có thể
chỉ dừng lại là hình phạt tiền thì vẫn có căn cứ
áp dụng biện pháp cưỡng chế này nếu hành vi
đó gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại
đến tính mạng, sức khỏe của con người, môi
Về thẩm quyền áp dụng, theo quy định
tại khoản 2 Điều 439 BLTTHS năm 2015,
thẩm quyền thuộc về Thủ trưởng, Phó Thủ
trưởng Cơ quan điều tra các cấp; trường hợp
13 Nguyễn Hải Ninh, “Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 2, 2018.
32
Số 20(444) - T10/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
này, quyết định buộc nộp một khoản tiền để
bảo đảm thi hành án phải được Viện kiểm sát
cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành; Viện
trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện
kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó
Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó
Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng
xét xử.
vấn đề bổ sung trường hợp kê biên tài sản đối
với pháp nhân không bị khởi tố xuất phát từ
thực tiễn giải quyết vụ án hình sự có liên quan
đến pháp nhân trong ví dụ đã nêu ở phần trên,
tác giả chỉ dừng lại ở việc đề xuất và cần có
những nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này để
kiến nghị các giải pháp phù hợp.
Hai là, về tài sản bị kê biên, khoản 2 Điều
437 BLTTHS năm 2015 quy định: “Chỉ kê
biên phần tài sản tương ứng với mức có thể
bị tịch thu, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt
hại”. Tác giả cho rằng cần có văn bản hướng
dẫn xác định tài sản thuộc đối tượng bị kê
biên theo quy định để tránh những trường hợp
vướng mắc như đã nêu trên.
Về trình tự, thủ tục áp dụng, Chính phủ quy
định chi tiết trình tự, thủ tục, mức tiền phải
nộp để bảo đảm thi hành án; việc tạm giữ,
hoàn trả, nộp ngân sách nhà nước số tiền đã
nộp14. Hiện nay, Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 115/2017/NĐ-CP ngày 16/10/2017
quy định chi tiết trình tự, thủ tục, mức tiền
pháp nhân thương mại phải nộp để bảo đảm
thi hành án; việc tạm giữ, hoàn trả, nộp ngân
sách nhà nước số tiền đã nộp. Nghị định này
đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.
Ba là, đối với biện pháp phong tỏa tài
khoản, để đảm bảo áp dụng thống nhất quy
định tại Điều 129 BLTTHS năm 2015 về thủ
tục phong tỏa tài khoản, tác giả cho rằng cần
có văn bản hướng dẫn thống nhất về chủ thể
được giao biên bản phong tỏa tài khoản trong
trường hợp này. Ngoài ra, cần sớm ban hành
văn bản hướng dẫn quy định rõ thời gian tối
thiểu để các cơ quan, tổ chức thực hiện yêu
cầu của Cơ quan có thẩm quyền đối với lệnh
phong tỏa. Bởi lẽ, việc thực hiện quy định
phong tỏa ngay theo quy định của BLTTHS
hiện nay là rất khó khăn, đồng thời, quy định
rõ trách nhiệm của người đứng đầu ngân hàng,
tổ chức tín dụng trong trường hợp không thực
hiện hoặc thực hiện chậm trễ lệnh phong tỏa
của cơ quan có thẩm quyền
5. Một số đề xuất, kiến nghị
Một là, cần bổ sung đối tượng có thể bị
áp dụng biện pháp kê biên tài sản không chỉ
là bị can, bị cáo mà có thể là pháp nhân tham
gia vụ án với tư cách là bị đơn dân sự hoặc
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
án. Ngoài ra, theo quy định của BLTTHS năm
2015, thủ tục tiến hành kê biên tài sản quy
định tại Điều 128 chỉ phù hợp với kê biên tài
sản của cá nhân, không phù hợp với kê biên
tài sản của pháp nhân như đã phân tích ở trên.
Vì vậy, để việc áp dụng pháp luật thống nhất
và khắc phục những hạn chế, bất cập trong
thực tiễn tiến hành kê biên tài sản đối với các
pháp nhân theo Điều 437 BLTTHS năm 2015,
cần có quy định bổ sung điều luật quy định
về “Thủ tục kê biên tài sản của cơ quan, tổ
chức tiến hành theo quy định tại Điều 437
BLTTHS năm 2015”15. Trong đó, cần nghiên
cứu, bổ sung trường hợp kê biên tài sản đối
với pháp nhân không bị khởi tố. Tuy nhiên, về
Bốn là, đối với biện pháp tạm đình chỉ có
thời hạn hoạt động của pháp nhân, cơ quan
có thẩm quyền khi xem xét áp dụng biện
pháp này cần căn cứ vào các lĩnh vực hoạt
động mà pháp nhân thương mại đăng ký hoạt
động và quan trọng hơn là phải căn cứ vào
tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã
hội của pháp nhân đã thực hiện để xác định
rõ tạm đình chỉ hoạt động trong lĩnh vực nào,
14 Khoản 2 Điều 439 BLTTHS năm 2015.
15 Nguyễn Hải Ninh, “Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 2, 2018.
Số 20(444) - T10/2021
33
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
tránh việc tạm đình chỉ toàn bộ hoạt động
của pháp nhân gây ảnh hưởng đến hoạt động
bình thường của pháp nhân trong các lĩnh vực
khác. Bên cạnh đó, cần sửa quy định tại Điều
439 BLTTHS năm 2015 về căn cứ áp dụng
biện pháp này để đảm bảo về mặt khái niệm
như sau: “Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động
của pháp nhân chỉ áp dụng khi có căn cứ xác
định hành vi có dấu hiệu tội phạm của pháp
nhân gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt
hại đến tính mạng, sức khỏe của con người,
môi trường hoặc trật tự, an toàn xã hội”.
pháp nhân bị truy cứu TNHS. Tuy nhiên, việc
ưu tiên áp dụng biện pháp nào để vừa đảm
bảo kịp thời ngăn chặn, đảm bảo thi hành án
nhưng không ảnh hưởng đến hoạt động bình
thường của pháp nhân. Theo đó, trong bốn
biện pháp cưỡng chế, biện pháp buộc nộp
một khoản tiền để bảo đảm thi hành án là biện
pháp ảnh hưởng ít nhất đến hoạt động của
pháp nhân nên được ưu tiên lựa chọn. Nếu
pháp nhân không có khả năng tài chính để
thực thi biện pháp này thì mới áp dụng phong
tỏa tài khoản và cuối cùng là kê biên tài sản.
Như vậy, sẽ vừa đảm bảo hiệu quả của việc
giải quyết vụ án hình sự, tránh việc tẩu tán tài
sản nhưng cũng vừa hạn chế các ảnh hưởng
của việc áp dụng các biện pháp này đến hoạt
động sản xuất, kinh doanh của pháp nhân.
Ngoài ra, về việc áp dụng biện pháp cưỡng
chế đối với pháp nhân, BLTTHS năm 2015
không quy định về việc có thể áp dụng đồng
thời nhiều biện pháp hay không hoặc trong
trường hợp phải áp dụng nhiều biện pháp thì
ưu tiên áp dụng biện pháp nào. Trong số các
biện pháp cưỡng chế luật định áp dụng với
pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử,
ngoài biện pháp tạm đình chỉ hoạt động của
pháp nhân có mục đích chính và chủ yếu là
ngăn chặn hành vi phạm tội tiếp tục xảy ra,
tiếp tục gây thiệt hại, các biện pháp còn lại
đều nhằm mục đích để bảo đảm cho việc thi
hành hình phạt tiền hoặc bảo đảm bồi thường
thiệt hại. Căn cứ vào quy định của pháp luật,
đối chiếu với thực tế có thể hiểu đối với một
pháp nhân thương mại bị khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử cùng lúc có thể áp dụng nhiều
biện pháp cưỡng chế tố tụng. Bởi lẽ, có thể
áp dụng một biện pháp nhằm ngăn chặn tội
phạm tiếp tục xảy ra đồng thời với một biện
pháp để bảo đảm thi hành án hoặc hai biện
pháp cùng nhằm bảo đảm thi hành án (Ví dụ:
nếu chỉ phong tỏa tài khoản của pháp nhân
thì chưa đủ số tiền tương ứng với mức phạt
tiền hoặc bồi thường thiệt hại và vì vậy cần áp
dụng thêm biện pháp kê biên tài sản…)16. Tác
giả cũng đồng quan điểm cho rằng, cơ quan
có thẩm quyền có quyền lựa chọn áp dụng
một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế đối với
Một vấn đề nữa cũng cần lưu ý, đó là có
nên bổ sung quy định cho các cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng
chế đối với pháp nhân hay không. Bởi lẽ, theo
quy định tại Điều 436 BLTTHS năm 2015 cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bao gồm
cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối
với pháp nhân. Tuy nhiên, khi đi vào các biện
pháp cụ thể được quy định tại các Điều 437,
438, 439 đều không quy định thẩm quyền áp
dụng biện pháp cưỡng chế cho cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra. Tác giả cho rằng, việc truy cứu TNHS đối
với pháp nhân phức tạp hơn rất nhiều so với
truy cứu TNHS cá nhân, trong đó có việc áp
dụng biện pháp cưỡng chế. Do đó, việc quy
định chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp
cưỡng chế hiện nay là hợp lý nhưng cần sửa
đổi quy định tại Điều 436 theo hướng chỉ trao
quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế này
cho Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án
để việc áp dụng pháp luật được thống nhất
16 Nguyễn Hải Ninh, “Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 2, 2018.
34
Số 20(444) - T10/2021
Bạn đang xem tài liệu "Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân theo luật tố tụng hình sự Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bien_phap_cuong_che_doi_voi_phap_nhan_theo_luat_to_tung_hinh.pdf

