Tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong pháp luật hình sự Việt Nam - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hướng dẫn thực hiện
TÁI PHẠM, TÁI PHẠM NGUY HIỂM
TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM -
THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN
NGÔ VĂN LƯỢNG*
Tái phạm, tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) khi
quyết định hình phạt hoặc là yếu tố cấu thành cơ bản ở một số tội danh trong Bộ luật hình
sự (BLHS). Quá trình nghiên cứu và áp dụng trên thực tiễn cho thấy còn nhiều vướng mắc
khi áp dụng các tình tiết này. Bài viết chỉ ra một số bất cập về sự nhận thức không thống
nhất, qua đó kiến nghị hướng dẫn áp dụng kịp thời để giải quyết các vụ án hình sự.
Từ khóa: Tiền án, tái phạm, tái phạm nguy hiểm.
Ngày nhận bài: 23/12/2020; Biên tập xong: 12/01/2021; Duyệt đăng: 09/4/2021
Recidivism and dangerous recidivism is either a circumstance that aggravates
criminal liability in sentence decision or a fundamental element in some crimes in
the Penal Code. By researching and applying in reality, it is shown that there are still
obtacles in applying these two factors. Therefore, this article points out inconsistent
perceptions and proposes timely application instructions to resolve criminal cases.
Keywords: Criminal record, recidivism, dangerous recidivism.
1. Quy định của pháp luật hình sự về tiên của “tái phạm” chính là “sự lặp lại
tái phạm và tái phạm nguy hiểm
1.1. Khái niệm tái phạm và quy định
của tái phạm trong pháp luật hình sự
hành vi phạm tội”. Hành vi phạm tội lặp
lại có thể trùng lặp, cũng có thể không
trùng lặp về hình thức lỗi đối với hành
vi phạm tội trước đó, có thể cùng loại tội
hoặc khác loại tội.
Thuật ngữ “tái phạm” - trong tiếng
Anh là “recidivism” có nguồn gốc từ
“recidivus” trong tiếng Latinh, có nghĩa
là “sự lặp lại”1. Còn theo Từ điển tiếng
Việt của Viện ngôn ngữ học (xuất bản
năm 2010), “tái phạm” được định nghĩa
là “mắc lại tội cũ, sai lầm cũ”2. Hiểu theo
nghĩa rộng, “tái phạm” chính là sự lặp
lại hành vi của chính mình. Đó có thể là
hành vi vi phạm đạo đức, vi phạm pháp
luật hay hành vi phạm tội và thường là
những hành vi mà xã hội không mong
muốn. Xét dưới góc độ pháp luật hình
sự, “tái phạm” được hiểu là hành vi lặp lại
hành vi phạm tội của chính mình. Do đó,
một trong những dấu hiệu bắt buộc đầu
Trong pháp luật hình sự Việt Nam, tái
phạm là một tình tiết tăng nặng TNHS3
đối với chủ thể phạm tội. Do đó, việc ghi
nhận tái phạm với tư cách là một tình tiết
tăng nặng TNHS phản ánh chính sách
hình sự nghiêm khắc và công bằng của
Nhà nước. Đây cũng là một trong những
căn cứ để phân hoá TNHS và cá thể hoá
hình phạt đối với chủ thể phạm tội, đồng
thời là thước đo hiệu quả của hình phạt.
Trong một số trường hợp, tái phạm còn
là một trong những dấu hiệu thuộc cấu
thành cơ bản của tội phạm.
Điều 53 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ
sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS năm 2015)
1ꢀWilliam Collins Sons & Co. Ltd (1986), “Collins English quy định: “Tái phạm là trường hợp đã bị kết
Dictionary”, HarperCollins Publishers, USA, P.1083
án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện
2ꢀ Nghị quyết số 01/2006/NQ – HĐTP ngày 12/5/2006
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân (TAND) tối * Thạc sĩ, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân
cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
Hình sự, Hà Nội. (Nghị quyết số 01/2006/NQ – HĐTP) 3ꢀ Điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015
16 Khoa học Kiểm sát
Số 02 - 2021
NGÔ VĂN LƯỢNG
hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành tội giết người theo khoản 1 Điều 123
vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội BLHS năm 2015. Mặc dù A đã bị kết án
phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý”. Điều nhưng do lần phạm tội trước đây A trong
này cho thấy không phải trường hợp nào
việc lặp lại hành vi phạm tội cũng được
xem là tái phạm mà chỉ trong hai trường
hợp: Một là lần phạm tội mới phải thực
hiện bꢁi hành vi cố ý, hai là nếu phạm tội
mới là hành vi vô ý thì chỉ trong trường
hợp phạm tội rất nghiêm trọng hay đặc
biệt nghiêm trọng4. Trước khi phạm tội
lần này, chủ thể phạm tội đã bị kết án về
một tội phạm và tội phạm đó thuộc trường
hợp chưa được xóa án tích.
độ tuổi 16 đến dưới 18, phạm tội thuộc
trường hợp rất nghiêm trọng do vô ý nên
lần phạm tội sau (giết người) của A không
được xem là tái phạm.
Thứ hai, trường hợp dấu hiệu tội phạm
đã được quy định là dấu hiệu định tội.
Trong BLHS năm 2015 có đến 60/318 Điều
luật quy định lấy tình tiết “đã bị kết án về
tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi
phạm” để xem xét là dấu hiệu cấu thành
tội phạm thì các tiền án đó không được
tính để xác định tái phạm với bị cáo.
Ví dụ: D là người đã có tiền án về một
trong các tội quy định tại các điều 168, 169,
170, 171, 172, 174, 175 hoặc 290 BLHS. Sau
khi chấp hành án phạt tù và chưa được xóa
án tích, D lại trộm cắp tài sản có giá trị dưới
hai triệu đồng. Trong trường hợp này, tiền
án trước đây được xem xét là dấu hiệu cấu
thành tội phạm “đã bị kết án về tội này hoặc
về một trong các tội quy định tại các Điều 168,
169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật
này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” để
truy cứu trách nhiệm hình sự D theo khoản
1 Điều 173 của BLHS mà không được tính
để xác định tái phạm đối với D.6
Khi xác định tái phạm, cần chú ý hai
tình tiết sau:
Thứ nhất, về độ tuổi khi phạm tội lần
đầu. Một số trường hợp không xác định
án tích, cụ thể là khi chủ thể phạm tội
chưa đạt độ tuổi mà pháp luật hình sự
quy định, trong đó người từ đủ 14 đến
dưới 16 tuổi phạm bất kỳ tội phạm nào
hoặc người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội
phạm nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm
rất nghiêm trọng do vô ý hay người bị áp
dụng biện pháp Giáo dục tại trường giáo
dưỡng5 thì mặc dù lần phạm tội sau ꢁ bất
kỳ tính chất, mức độ nào, tội phạm thuộc
lỗi cố ý hay vô ý thì cũng không xác định
là tái phạm.
Ví dụ: A 17 tuổi phạm tội vi phạm quy
định về tham gia giao thông đường bộ
theo khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015, bị
Tòa án phạt 04 năm tù do phạm tội thuộc
trường hợp rất nghiêm trọng do vô ý. Khi
vừa chấp hành xong hình phạt, A phạm
1.2. Khái niệm tái phạm nguy hiểm và
quy định về tái phạm nguy hiểm trong
pháp luật hình sự
Tái phạm nhưng với tính chất tăng
nặng TNHS cao hơn là “tái phạm nguy
hiểm”. Trong lịch sử lập pháp hình sự Việt
Nam, trước khi có BLHS năm 1985 ra đời,
tái phạm nguy hiểm mới được nhắc đến
với tính chất là tình tiết định khung tăng
nặng của một số loại tội (Điều 4 – Pháp
lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản
xã hội chủ nghĩa và Điều 3 – Pháp lệnh
trừng trị các tội phạm xâm phạm tài sản
của công dân ngày 21/10/1970). Trong hai
4ꢀ Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất
và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao
nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định
đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù; Tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất
và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức
cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy
định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm 6ꢀ Xem Mục 7.3. Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày
tù, tù chung thân hoặc tử hình
12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng
dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Hình sự
5ꢀ Xem Điều 107 và 96 BLHS năm 2015
Số 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 17
TÁI PHẠM, TÁI PHẠM NGUY HIỂM...
pháp lệnh trên, khái niệm tái phạm nguy
hiểm chưa được ghi nhận chính thức về
2. Những bất cập trong quá trình áp
dụng quy định về tái phạm và tái phạm
nguy hiểm
2.1. Việc xác định tái phạm, tái phạm
nguy hiểm dựa trên bản án sau cùng của
chủ thể thực hiện hành vi phạm tội hay
xem xét toàn diện những lần bị kết án của
chủ thể phạm tội
Khi xác định tái phạm hay tái phạm
nguy hiểm, cơ quan tiến hành tố tụng dựa
vào việc xác định bản án liền kề trước khi
phạm tội để xác định chủ thể bị kết án
thuộc trường hợp tái phạm hoặc tái phạm
nguy hiểm, hay phải xem xét toàn diện
về những lần chủ thể phạm tội đã bị kết
án trước đây chưa được xóa án tích. Để
phân tích vấn đề này, tác giả đưa ra ví dụ
có nhiều quan điểm trong việc xác định
về tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với
Nguyễn Thành N là người trên 18 tuổi khi
thực hiện ꢁ lần đầu tiên phạm tội:
mặt lập pháp. Khái niệm này lần đầu
tiên được định nghĩa trong trong dự thảo
Thông tư ngày 16/3/1973 của liên bộ Toà
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, Bộ Công an, đó là: “Trường
hợp trước đã bị xử án về một tội nghiêm trọng
sau cũng phạm một tội nghiêm trọng hoặc
trước đã bị xử án về tội không nghiêm trọng
nay phạm vào một tội nghiêm trọng”7.
Trong quá trình pháp điển hóa, từ quy
định tại Điều 40 của BLHS 1985 đến Điều
49 BLHS năm 1999 đã có sự thay đổi về
điều kiện xác định tái phạm nguy hiểm.
Việc thay đổi đó tiếp tục được kế thừa và
quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS năm
2015 như sau:
“2. Những trường hợp sau đây được coi là
tái phạm nguy hiểm:
a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm
trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý,
chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành
vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;
(1) Ngày 26/02/2009, N bị TAND phạt
09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
(2) Ngày 28/9/2010, N trộm tài sản trị
giá 4.500.000 đồng, lần này N bị TAND
xác định phạm tội thuộc trường hợp tái
phạm và bị phạt 02 năm tù về tội “Trộm
cắp tài sản”.
(3) Ngày 20/9/2012, N trộm cắp tài sản
trị giá 5.100.000 đồng. Xác định N phạm
tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm,
TAND tuyên phạt N 03 năm 06 tháng tù
về tội “Trộm cắp tài sản”.
b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà
lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý”.
Quy định trên cho thấy tái phạm
nguy hiểm có tính chất, mức độ phạm
tội của chủ thể thực hiện hành vi phạm
tội nghiêm trọng hơn tái phạm, cụ thể là
phải nhiều lần trꢁ lên bị kết án hay hai lần
phạm tội với tính chất gây nguy hiểm rất
nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng trong trường hợp chủ thể thực
(4) Ngày 10/12/2016, N trộm cắp tài
hiện với ý thức chủ quan là cố ý. Cũng sản trị giá 460.000 đồng và bị TAND phạt
như việc xác định đối với trường hợp tái
phạm, độ tuổi khi phạm tội lần đầu trong
xác định các tái phạm nguy hiểm: Một số
trường hợp không xác định án tích, cụ
thể là khi chủ thể phạm tội chưa đạt độ
tuổi mà pháp luật hình sự quy định, hay
khi lấy tình tiết bị kết án nhiều lần làm
dấu hiệu định tội.
01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài
sản”. Bản án không nhận định N có tình
tiết tăng nặng tái phạm hay tái phạm
nguy hiểm, N chấp hành xong hình phạt
tù ngày 09/6/2018.
(5) Ngày 01/8/2019, N thực hiện hành
vi “trộm cắp tài sản”. Tài sản chiếm đoạt
là 05 triệu đồng.
7ꢀ
Lần phạm tội thứ (5) này, có nhiều
quan điểm khác nhau trong việc xác định
Toà án nhân dân tối cao (1975), Tập hệ thống hoá
luật lệ về hình sự, Hà Nội, tr 240
18 Khoa học Kiểm sát
Số 02 - 2021
NGÔ VĂN LƯỢNG
tình tiết tăng nặng TNHS với N là tái năm 2015, trường hợp được coi là tái
phạm nguy hiểm là “đã tái phạm, chưa được
xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội
do cố ý”. Do đó, dù bản án ngày 17/3/2017
xác định N không có tái phạm, nhưng đến
thời điểm phạm tội mới ngày 01/8/2019, N
vẫn còn 03 bản án chưa xóa án tích. Tính
đến thời điểm phạm tội lần (5), N vẫn là
đối tượng đang bị tái phạm nguy hiểm
của bản án trước, chưa xóa án tích nên
xác định lần này N phải được xem là tái
phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm
b khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015.
phạm hay tái phạm nguy hiểm.
Cơ sꢁ lý luận của quan điểm cho rằng
N phạm tội với tình tiết tăng nặng TNHS
“tái phạm” là tình tiết tăng nặng TNHS
theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm
2015, viện dẫn: Xác định lần phạm tội thứ
(5) N đủ yếu tố cấu thành tội phạm, do
bản án lần thứ (4) Tòa án xác định cho là
N không thuộc trường hợp tái phạm hay
tái phạm nguy hiểm, nên lần phạm tội (5)
này N chỉ thuộc trường hợp tái phạm theo
khoản 1 Điều 53 BLHS năm 2015.
Ngoài ra, đối với việc ra bản án lần thứ
(4), lẽ ra Tòa án phải xác định lần phạm tội
này N được xác định là tái phạm vì các bản
án về tội trộm cắp tài sản trước đây là yếu
tố định tội, riêng bản án về tội “Cố ý gây
thương tích” vẫn được xem là tình tiết tái
phạm theo hướng dẫn của Nghị quyết số
01/2006/NQ-HĐTP. Mặc dù việc Tòa án
không xác định tái phạm là có lợi cho N là
vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng
pháp luật nhưng vì có lợi cho người bị kết
án và quá thời hạn 01 năm nên không kháng
Quan điểm cho rằng N phạm tội thuộc
trường hợp tái phạm nguy hiểm, bꢁi N đã
04 lần bị kết án, trong đó lần bị kết án năm
2012 N đã bị xác định với tính chất là tái
phạm nguy hiểm, các tiền án của N chưa
được xóa. Cụ thể là đến thời điểm N phạm
tội ngày 01/8/2019, những bản án lần (1),
(2) và (3) chưa được xóa án tích theo quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 70 và khoản
2 Điều 73 BLHS năm 20158.
Việc xác định xóa án tích đối với N được
xác định như sau: Do N bị kết án 01 năm nghị Giám đốc thẩm9. Tuy nhiên, việc xác
định có lợi cho N chỉ trong lần phạm tội (5),
không vì không xác định lần phạm tội (5)
này không tái phạm để dựa vào bản án mà
xem xét lần phạm tội sau N không thuộc
trường hợp tái phạm nguy hiểm. Điều này
có nghĩa là nếu N chỉ có 2 tiền án (1) là tội cố
ý gây thương tích và (2) là trộm cắp tài sản,
lần phạm tội thứ (3) Tòa án lấy lần phạm tội
06 tháng tù, đến ngày 09/6/2018 mới chấp
hành xong. Theo quy định tại Điều 70 và
Điều 73 BLHS 2015 thì đến 09/6/2020 N mới
được xóa án tích những lần phạm tội được
xác định ꢁ các bản án lần (1), (2) và (3).
Theo điểm b khoản 2 Điều 53 BLHS
8ꢀĐiều 70. Đương nhiên được xóa án tích
...“2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, thứ (2) làm dấu hiệu định tội và Tòa án ra
nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết
bản án không xác định N tái phạm (do sai
thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành
xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản
án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong
thời hạn sau đây:
lầm trong áp dụng pháp luật) thì đến lần
phạm tội thứ (4), khi có đủ yếu tố cấu thành
tội phạm vẫn phải xác định N thuộc trường
hợp tái phạm nguy hiểm.
b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến
Đồng nhất với ý kiến trên, tác giả cho
rằng N phạm tội thuộc trường hợp tái
phạm nguy hiểm. Tuy nhiên, trên thực
tiễn, nhiều bản án của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật áp dụng chỉ căn cứ vào bản
án sau cùng của chủ thể bị kết án để xác
05 năm;”...
Điều 73. Cách tính thời hạn để xóa án tích
...“2. Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực
hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng
bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án
tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình
phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án
mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành”... 9ꢀ Khoản 1 Điều 379 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Số 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 19
TÁI PHẠM, TÁI PHẠM NGUY HIỂM...
định có tái phạm hay không. Điều này đã phân định tính chất nguy hiểm khác nhau
gây nhiều khó khăn trong việc áp dụng theo Điều 9 của BLHS năm 2015. Đồng
pháp luật hình sự.
nhất nhiều lần phạm tội ꢁ một số tội theo
các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và
290 BLHS năm 2015 để xác định không tái
phạm, tái phạm nguy hiểm là chưa đảm
bảo tính thống nhất và đồng bộ.
2.2. Việc lấy nhiều lần bị kết án khi làm
dấu hiệu định tội phạm, dẫn đến không
xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm
Tuy Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP
Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng
dẫn thi hành một số quy định của BLHS
năm 1999 nhưng văn bản này vẫn được
tham khảo áp dụng cho BLHS năm 2015 vì
chưa có văn bản hướng dẫn mới thay thế.
Do đó, khi một người dù phạm tội nhiều
lần với cùng hay khác tội danh nhưng
trong những tội danh quy định là dấu hiệu
định tội thì các bản án đã bị kết án trước
đây dù chưa xóa án tích nhưng vẫn không
được xác định tái phạm hay tái phạm nguy
hiểm: “Trường hợp các tiền án của bị cáo đã
được xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm
“đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích
mà còn vi phạm” thì các tiền án đó không được
tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm
đối với bị cáo”10.
Hướng dẫn trên cho thấy sự chưa đảm
bảo công bằng trong áp dụng pháp luật.
Bꢁi lẽ, xác định tái phạm hay tái phạm
nguy hiểm đối với trường hợp khác những
tội danh làm dấu hiệu định tội thì phải xác
định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.
Ví dụ 2 tại điểm b mục 7.3 Nghị quyết số
01/2006/NQ-HĐTP ghi rõ: “K có hai tiền án
về tội “cố ý gây thương tích” và tội “cướp tài
sản”, đều chưa được xóa án tích lại trộm cắp
tài sản có giá trị ba trăm năm mươi ngàn đồng.
Trong trường hợp này tiền án về tội “cướp tài
sản” được xem xét là dấu hiệu “đã bị kết án về
tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích
mà còn vi phạm” để xác định cấu thành tội
phạm của lần trộm cắp tài sản. Còn tiền án về
tội “cố ý gây thương tích” phải tính để xác định
tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với K”.
Trꢁ lại Ví dụ 2 trong Nghị quyết số
01/2006/NQ-HĐTP, nếu một chủ thể 03 lần
thực hiện tội phạm trộm cắp tài sản thuộc
trường hợp ít nghiêm trọng thì lần thứ 03
được xác định là tái phạm nguy hiểm, lần
thứ 04 nếu phạm tội dưới 02 triệu đồng
thì xác định không có tái phạm. Nhưng
nếu một chủ thể 02 lần phạm tội “cố ý gây
thương tích”, lần thứ 03 phạm tội trộm cắp
tài sản thì xác định là tái phạm nguy hiểm
và lần thứ 4 phạm tội dù dưới 02 triệu đồng
nhưng vẫn được xác định là tái phạm nguy
hiểm. Điều này thể hiện sự thiếu thống
nhất trong quy định về xác định tính chất
mức độ và quyết định về TNHS.
Theo tác giả, nếu dựa trên các yếu tố
cần thiết cho cấu thành tội phạm thì chỉ
cần sử dụng một căn cứ (bản án, quyết
định), còn các căn cứ khác được vận dụng
vào việc xác định nhân thân chủ thể phạm
tội tái phạm hay tái phạm nguy hiểm.
2.3. Việc không chấp hành các hình
phạt khác trong bản án khi cơ quan thi
hành án không ra quyết định trong trường
hợp thi hành án chủ động, khi người có
quyền lợi không yêu cầu thi hành án
Công văn số 64/TANDTC-PC ngày
03/4/2019 của TAND tối cao giải đáp trực
tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân
sự và tố tụng hành chính (gọi tắt là Giải
thích 64). Tuy không phải là văn bản
hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự
nhưng đây là giải thích của TAND tối cao
- cơ quan được Quốc hội giao thẩm quyền
hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự11.
Điều này cho thấy nếu một chủ thể
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong BLHS thì đều có
Mục 7 Giải thích 64 nêu “Bộ luật hình sự
không quy định trường hợp loại trừ việc người
11ꢀ Điều 3 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017
10ꢀ Điểm a mục 7.3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP của Quốc hội về việc thi hành BLHS
20 Khoa học Kiểm sát
Số 02 - 2021
NGÔ VĂN LƯỢNG
bị kết án chưa chấp xong hành hình phạt bổ thi hành án liên quan đến trách nhiệm của
sung và các quyết định khác của bản án với bất họ phải thực hiện. Điều này góp phần nâng
kỳ lý do gì. Hơn nữa, pháp luật thi hành án dân cao trách nhiệm của người tiến hành tố tụng
và tham gia trong hoạt động tư pháp.
sự quy định nhiều phương thức thi hành để
người phải thi hành án có quyền lựa chọn như:
tự nguyện thi hành, thỏa thuận thi hành án
hoặc nhờ thân nhân nộp thay. Do vậy, trường
hợp người bị kết án (sau này là bị can, bị cáo
trong một vụ án mới) không nhận được thông
báo và quyết định thi hành án của Cơ quan thi
hành án dân sự nên chưa thi hành hình phạt
bổ sung, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm
và các quyết định khác của bản án là chưa chấp
hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định
khác của bản án. Trong trường hợp này, người
bị kết án không đương nhiên được xóa án tích
theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật hình sự”.
3. Kiến nghị, đề xuất
Để pháp luật được thực thi thống nhất,
qua quá trình nghiên cứu và áp dụng pháp
luật, tác giả kiến nghị cơ quan có thẩm
quyền hướng dẫn áp dụng pháp luật hình
sự cần hướng dẫn việc xác định tái phạm,
tái phạm nguy hiểm theo hướng:
Một là, khi xác định trường hợp tái
phạm nguy hiểm không chỉ dựa vào bản
án sau cùng của người bị kết án có tái phạm
hay tái phạm nguy hiểm để quyết định, mà
cần xem xét toàn diện những lần bị kết án
chưa được xác định của chủ thể phạm tội.
Điều này có nghĩa là nếu người bị kết án
chưa thi hành xong tất cả những phần mà
bản án, quyết định đã tuyên thì xem như
chưa thi hành xong, đây là căn cứ để xác
định nhân thân chủ thể phạm tội chưa xóa
án tích để xác định tái phạm, tái phạm nguy
hiểm. Tuy nhiên, trên thực tiễn, có trường
hợp Cơ quan thi hành án không ban hành
quyết định thi hành án chủ động, có thể do
Tòa án không chuyển bản án, quyết định
hoặc lỗi của cán bộ thi hành án trong việc
tiếp nhận bản án hay Cơ quan thi hành án
không ra quyết định thi hành án hoặc có
ra quyết định nhưng không tống đạt cho
người bị kết án… dẫn đến hết thời hiệu thi
hành bản án (05 năm theo điểm a khoản 2
Điều 60 BLHS năm 2015).
Trong Giải thích 64 không quy định
trường hợp Cơ quan thi hành án chưa ban
hành quyết định thi hành án thì có được
xem là người bị kết án đương nhiên xóa án
tích hay không. Điều này dẫn đến việc xác
định chủ thể phạm tội có tái phạm hoặc tái
phạm nguy hiểm đối với lần phạm tội sau.
Hai là, khi cần dấu hiệu định tội “đã bị
kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà
còn vi phạm” đối với lần phạm tội đang
phạm thì chỉ cần một bản án (quyết định)
sau cùng để làm căn cứ định tội. Các bản án
chưa xóa án tích trước được xem làm căn
cứ xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm
đối với chủ thể thực hiện hành vi phạm tội.
Ba là, quá thời hạn về thời hiệu thi
hành bản án chủ thể bị kết án không nhận
được quyết định thi hành án thì xem như
đã hết thời hiệu thi hành và đây là căn cứ
xác định không có án tích theo luật định./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ
sung năm 2017;
2. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
3. Nghị quyết số 01/2006/NQ – HĐTP
ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán
TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy
định của Bộ luật hình sự;
4. Toà án nhân dân tối cao (1975), Tập hệ
thống hoá luật lệ về hình sự, Hà Nội, tr 240;
5. William Collins Sons & Co. Ltd (1986),
“Collins English Dictionary”, HarperCollins
Publishers, USA, P.1083;
Theo tác giả, lỗi ꢁ đây là của cơ quan
nhà nước nên áp dụng nguyên tắc có lợi cho
người bị kết án, xem xét cho họ được đương
nhiên xóa án tích để không xác định họ bị
tái phạm hay tái phạm nguy hiểm trong
6. Một số bản án của TAND đã có hiệu
trường hợp không nhận được quyết định lực pháp luật.
Số 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 21
Bạn đang xem tài liệu "Tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong pháp luật hình sự Việt Nam - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hướng dẫn thực hiện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_pham_tai_pham_nguy_hiem_trong_phap_luat_hinh_su_viet_nam.pdf

