Tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong pháp luật hình sự Việt Nam - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hướng dẫn thực hiện

TÁI PHẠM, TÁI PHẠM NGUY HIỂM  
TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM -  
THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN  
NGÔ VĂN LƯỢNG*  
Tái phạm, tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) khi  
quyết định hình phạt hoặc là yếu tố cấu thành cơ bản ở một số tội danh trong Bộ luật hình  
sự (BLHS). Quá trình nghiên cứu và áp dụng trên thực tiễn cho thấy còn nhiều vướng mắc  
khi áp dụng các tình tiết này. Bài viết chỉ ra một số bất cập về sự nhận thức không thống  
nhất, qua đó kiến nghị hướng dẫn áp dụng kịp thời để giải quyết các vụ án hình sự.  
Từ khóa: Tiền án, tái phạm, tái phạm nguy hiểm.  
Ngày nhận bài: 23/12/2020; Biên tập xong: 12/01/2021; Duyệt đăng: 09/4/2021  
Recidivism and dangerous recidivism is either a circumstance that aggravates  
criminal liability in sentence decision or a fundamental element in some crimes in  
the Penal Code. By researching and applying in reality, it is shown that there are still  
obtacles in applying these two factors. Therefore, this article points out inconsistent  
perceptions and proposes timely application instructions to resolve criminal cases.  
Keywords: Criminal record, recidivism, dangerous recidivism.  
1. Quy định của pháp luật hình sự về tiên của “tái phạm” chính là “sự lặp lại  
tái phạm và tái phạm nguy hiểm  
1.1. Khái niệm tái phạm và quy định  
của tái phạm trong pháp luật hình sự  
hành vi phạm tội”. Hành vi phạm tội lặp  
lại có thể trùng lặp, cũng có thể không  
trùng lặp về hình thức lỗi đối với hành  
vi phạm tội trước đó, có thể cùng loại tội  
hoặc khác loại tội.  
Thuật ngữ “tái phạm” - trong tiếng  
Anh là “recidivism” có nguồn gốc từ  
“recidivus” trong tiếng Latinh, có nghĩa  
là “sự lặp lại”1. Còn theo Từ điển tiếng  
Việt của Viện ngôn ngữ học (xuất bản  
năm 2010), “tái phạm” được định nghĩa  
là “mắc lại tội cũ, sai lầm cũ”2. Hiểu theo  
nghĩa rộng, “tái phạm” chính là sự lặp  
lại hành vi của chính mình. Đó có thể là  
hành vi vi phạm đạo đức, vi phạm pháp  
luật hay hành vi phạm tội và thường là  
những hành vi mà xã hội không mong  
muốn. Xét dưới góc độ pháp luật hình  
sự, “tái phạm” được hiểu là hành vi lặp lại  
hành vi phạm tội của chính mình. Do đó,  
một trong những dấu hiệu bắt buộc đầu  
Trong pháp luật hình sự Việt Nam, tái  
phạm là một tình tiết tăng nặng TNHS3  
đối với chủ thể phạm tội. Do đó, việc ghi  
nhận tái phạm với tư cách là một tình tiết  
tăng nặng TNHS phản ánh chính sách  
hình sự nghiêm khắc và công bằng của  
Nhà nước. Đây cũng là một trong những  
căn cứ để phân hoá TNHS và cá thể hoá  
hình phạt đối với chủ thể phạm tội, đồng  
thời là thước đo hiệu quả của hình phạt.  
Trong một số trường hợp, tái phạm còn  
là một trong những dấu hiệu thuộc cấu  
thành cơ bản của tội phạm.  
Điều 53 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ  
sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS năm 2015)  
1ꢀWilliam Collins Sons & Co. Ltd (1986), “Collins English quy định: “Tái phạm là trường hợp đã bị kết  
Dictionary”, HarperCollins Publishers, USA, P.1083  
án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện  
2ꢀ Nghị quyết số 01/2006/NQ – HĐTP ngày 12/5/2006  
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân (TAND) tối * Thạc sĩ, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân  
cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp  
Hình sự, Hà Nội. (Nghị quyết số 01/2006/NQ – HĐTP) 3ꢀ Điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015  
16 Khoa học Kiểm sát  
Số 02 - 2021  
NGÔ VĂN LƯỢNG  
hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành tội giết người theo khoản 1 Điều 123  
vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội BLHS năm 2015. Mặc dù A đã bị kết án  
phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý”. Điều nhưng do lần phạm tội trước đây A trong  
này cho thấy không phải trường hợp nào  
việc lặp lại hành vi phạm tội cũng được  
xem là tái phạm mà chỉ trong hai trường  
hợp: Một là lần phạm tội mới phải thực  
hiện bꢁi hành vi cố ý, hai là nếu phạm tội  
mới là hành vi vô ý thì chỉ trong trường  
hợp phạm tội rất nghiêm trọng hay đặc  
biệt nghiêm trọng4. Trước khi phạm tội  
lần này, chủ thể phạm tội đã bị kết án về  
một tội phạm và tội phạm đó thuộc trường  
hợp chưa được xóa án tích.  
độ tuổi 16 đến dưới 18, phạm tội thuộc  
trường hợp rất nghiêm trọng do vô ý nên  
lần phạm tội sau (giết người) của A không  
được xem là tái phạm.  
Thứ hai, trường hợp dấu hiệu tội phạm  
đã được quy định là dấu hiệu định tội.  
Trong BLHS năm 2015 có đến 60/318 Điều  
luật quy định lấy tình tiết “đã bị kết án về  
tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi  
phạm” để xem xét là dấu hiệu cấu thành  
tội phạm thì các tiền án đó không được  
tính để xác định tái phạm với bị cáo.  
Ví dụ: D là người đã có tiền án về một  
trong các tội quy định tại các điều 168, 169,  
170, 171, 172, 174, 175 hoặc 290 BLHS. Sau  
khi chấp hành án phạt tù và chưa được xóa  
án tích, D lại trộm cắp tài sản có giá trị dưới  
hai triệu đồng. Trong trường hợp này, tiền  
án trước đây được xem xét là dấu hiệu cấu  
thành tội phạm “đã bị kết án về tội này hoặc  
về một trong các tội quy định tại các Điều 168,  
169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật  
này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” để  
truy cứu trách nhiệm hình sự D theo khoản  
1 Điều 173 của BLHS mà không được tính  
để xác định tái phạm đối với D.6  
Khi xác định tái phạm, cần chú ý hai  
tình tiết sau:  
Thứ nhất, về độ tuổi khi phạm tội lần  
đầu. Một số trường hợp không xác định  
án tích, cụ thể là khi chủ thể phạm tội  
chưa đạt độ tuổi mà pháp luật hình sự  
quy định, trong đó người từ đủ 14 đến  
dưới 16 tuổi phạm bất kỳ tội phạm nào  
hoặc người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi  
bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội  
phạm nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm  
rất nghiêm trọng do vô ý hay người bị áp  
dụng biện pháp Giáo dục tại trường giáo  
dưỡng5 thì mặc dù lần phạm tội sau ꢁ bất  
kỳ tính chất, mức độ nào, tội phạm thuộc  
lỗi cố ý hay vô ý thì cũng không xác định  
là tái phạm.  
Ví dụ: A 17 tuổi phạm tội vi phạm quy  
định về tham gia giao thông đường bộ  
theo khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015, bị  
Tòa án phạt 04 năm tù do phạm tội thuộc  
trường hợp rất nghiêm trọng do vô ý. Khi  
vừa chấp hành xong hình phạt, A phạm  
1.2. Khái niệm tái phạm nguy hiểm và  
quy định về tái phạm nguy hiểm trong  
pháp luật hình sự  
Tái phạm nhưng với tính chất tăng  
nặng TNHS cao hơn là “tái phạm nguy  
hiểm”. Trong lịch sử lập pháp hình sự Việt  
Nam, trước khi có BLHS năm 1985 ra đời,  
tái phạm nguy hiểm mới được nhắc đến  
với tính chất là tình tiết định khung tăng  
nặng của một số loại tội (Điều 4 – Pháp  
lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản  
xã hội chủ nghĩa và Điều 3 – Pháp lệnh  
trừng trị các tội phạm xâm phạm tài sản  
của công dân ngày 21/10/1970). Trong hai  
4ꢀ Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất  
và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao  
nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định  
đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù; Tội  
phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất  
và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức  
cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy  
định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm 6ꢀ Xem Mục 7.3. Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày  
tù, tù chung thân hoặc tử hình  
12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng  
dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Hình sự  
5ꢀ Xem Điều 107 và 96 BLHS năm 2015  
Số 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 17  
TÁI PHẠM, TÁI PHẠM NGUY HIỂM...  
pháp lệnh trên, khái niệm tái phạm nguy  
hiểm chưa được ghi nhận chính thức về  
2. Những bất cập trong quá trình áp  
dụng quy định về tái phạm và tái phạm  
nguy hiểm  
2.1. Việc xác định tái phạm, tái phạm  
nguy hiểm dựa trên bản án sau cùng của  
chủ thể thực hiện hành vi phạm tội hay  
xem xét toàn diện những lần bị kết án của  
chủ thể phạm tội  
Khi xác định tái phạm hay tái phạm  
nguy hiểm, cơ quan tiến hành tố tụng dựa  
vào việc xác định bản án liền kề trước khi  
phạm tội để xác định chủ thể bị kết án  
thuộc trường hợp tái phạm hoặc tái phạm  
nguy hiểm, hay phải xem xét toàn diện  
về những lần chủ thể phạm tội đã bị kết  
án trước đây chưa được xóa án tích. Để  
phân tích vấn đề này, tác giả đưa ra ví dụ  
có nhiều quan điểm trong việc xác định  
về tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với  
Nguyễn Thành N là người trên 18 tuổi khi  
thực hiện ꢁ lần đầu tiên phạm tội:  
mặt lập pháp. Khái niệm này lần đầu  
tiên được định nghĩa trong trong dự thảo  
Thông tư ngày 16/3/1973 của liên bộ Toà  
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân  
dân tối cao, Bộ Công an, đó là: “Trường  
hợp trước đã bị xử án về một tội nghiêm trọng  
sau cũng phạm một tội nghiêm trọng hoặc  
trước đã bị xử án về tội không nghiêm trọng  
nay phạm vào một tội nghiêm trọng”7.  
Trong quá trình pháp điển hóa, từ quy  
định tại Điều 40 của BLHS 1985 đến Điều  
49 BLHS năm 1999 đã có sự thay đổi về  
điều kiện xác định tái phạm nguy hiểm.  
Việc thay đổi đó tiếp tục được kế thừa và  
quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS năm  
2015 như sau:  
“2. Những trường hợp sau đây được coi là  
tái phạm nguy hiểm:  
a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm  
trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý,  
chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành  
vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội  
phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;  
(1) Ngày 26/02/2009, N bị TAND phạt  
09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.  
(2) Ngày 28/9/2010, N trộm tài sản trị  
giá 4.500.000 đồng, lần này N bị TAND  
xác định phạm tội thuộc trường hợp tái  
phạm và bị phạt 02 năm tù về tội “Trộm  
cắp tài sản”.  
(3) Ngày 20/9/2012, N trộm cắp tài sản  
trị giá 5.100.000 đồng. Xác định N phạm  
tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm,  
TAND tuyên phạt N 03 năm 06 tháng tù  
về tội “Trộm cắp tài sản”.  
b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà  
lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý”.  
Quy định trên cho thấy tái phạm  
nguy hiểm có tính chất, mức độ phạm  
tội của chủ thể thực hiện hành vi phạm  
tội nghiêm trọng hơn tái phạm, cụ thể là  
phải nhiều lần trꢁ lên bị kết án hay hai lần  
phạm tội với tính chất gây nguy hiểm rất  
nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm  
trọng trong trường hợp chủ thể thực  
(4) Ngày 10/12/2016, N trộm cắp tài  
hiện với ý thức chủ quan là cố ý. Cũng sản trị giá 460.000 đồng và bị TAND phạt  
như việc xác định đối với trường hợp tái  
phạm, độ tuổi khi phạm tội lần đầu trong  
xác định các tái phạm nguy hiểm: Một số  
trường hợp không xác định án tích, cụ  
thể là khi chủ thể phạm tội chưa đạt độ  
tuổi mà pháp luật hình sự quy định, hay  
khi lấy tình tiết bị kết án nhiều lần làm  
dấu hiệu định tội.  
01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài  
sản”. Bản án không nhận định N có tình  
tiết tăng nặng tái phạm hay tái phạm  
nguy hiểm, N chấp hành xong hình phạt  
tù ngày 09/6/2018.  
(5) Ngày 01/8/2019, N thực hiện hành  
vi “trộm cắp tài sản”. Tài sản chiếm đoạt  
là 05 triệu đồng.  
7ꢀ  
Lần phạm tội thứ (5) này, có nhiều  
quan điểm khác nhau trong việc xác định  
Toà án nhân dân tối cao (1975), Tập hệ thống hoá  
luật lệ về hình sự, Hà Nội, tr 240  
18 Khoa học Kiểm sát  
Số 02 - 2021  
NGÔ VĂN LƯỢNG  
tình tiết tăng nặng TNHS với N là tái năm 2015, trường hợp được coi là tái  
phạm nguy hiểm là “đã tái phạm, chưa được  
xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội  
do cố ý”. Do đó, dù bản án ngày 17/3/2017  
xác định N không có tái phạm, nhưng đến  
thời điểm phạm tội mới ngày 01/8/2019, N  
vẫn còn 03 bản án chưa xóa án tích. Tính  
đến thời điểm phạm tội lần (5), N vẫn là  
đối tượng đang bị tái phạm nguy hiểm  
của bản án trước, chưa xóa án tích nên  
xác định lần này N phải được xem là tái  
phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm  
b khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015.  
phạm hay tái phạm nguy hiểm.  
Cơ sꢁ lý luận của quan điểm cho rằng  
N phạm tội với tình tiết tăng nặng TNHS  
“tái phạm” là tình tiết tăng nặng TNHS  
theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm  
2015, viện dẫn: Xác định lần phạm tội thứ  
(5) N đủ yếu tố cấu thành tội phạm, do  
bản án lần thứ (4) Tòa án xác định cho là  
N không thuộc trường hợp tái phạm hay  
tái phạm nguy hiểm, nên lần phạm tội (5)  
này N chỉ thuộc trường hợp tái phạm theo  
khoản 1 Điều 53 BLHS năm 2015.  
Ngoài ra, đối với việc ra bản án lần thứ  
(4), lẽ ra Tòa án phải xác định lần phạm tội  
này N được xác định là tái phạm vì các bản  
án về tội trộm cắp tài sản trước đây là yếu  
tố định tội, riêng bản án về tội “Cố ý gây  
thương tích” vẫn được xem là tình tiết tái  
phạm theo hướng dẫn của Nghị quyết số  
01/2006/NQ-HĐTP. Mặc dù việc Tòa án  
không xác định tái phạm là có lợi cho N là  
vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng  
pháp luật nhưng vì có lợi cho người bị kết  
án và quá thời hạn 01 năm nên không kháng  
Quan điểm cho rằng N phạm tội thuộc  
trường hợp tái phạm nguy hiểm, bꢁi N đã  
04 lần bị kết án, trong đó lần bị kết án năm  
2012 N đã bị xác định với tính chất là tái  
phạm nguy hiểm, các tiền án của N chưa  
được xóa. Cụ thể là đến thời điểm N phạm  
tội ngày 01/8/2019, những bản án lần (1),  
(2) và (3) chưa được xóa án tích theo quy  
định tại điểm b khoản 2 Điều 70 và khoản  
2 Điều 73 BLHS năm 20158.  
Việc xác định xóa án tích đối với N được  
xác định như sau: Do N bị kết án 01 năm nghị Giám đốc thẩm9. Tuy nhiên, việc xác  
định có lợi cho N chỉ trong lần phạm tội (5),  
không vì không xác định lần phạm tội (5)  
này không tái phạm để dựa vào bản án mà  
xem xét lần phạm tội sau N không thuộc  
trường hợp tái phạm nguy hiểm. Điều này  
có nghĩa là nếu N chỉ có 2 tiền án (1) là tội cố  
ý gây thương tích và (2) là trộm cắp tài sản,  
lần phạm tội thứ (3) Tòa án lấy lần phạm tội  
06 tháng tù, đến ngày 09/6/2018 mới chấp  
hành xong. Theo quy định tại Điều 70 và  
Điều 73 BLHS 2015 thì đến 09/6/2020 N mới  
được xóa án tích những lần phạm tội được  
xác định ꢁ các bản án lần (1), (2) và (3).  
Theo điểm b khoản 2 Điều 53 BLHS  
8ꢀĐiều 70. Đương nhiên được xóa án tích  
...“2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, thứ (2) làm dấu hiệu định tội và Tòa án ra  
nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết  
bản án không xác định N tái phạm (do sai  
thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành  
xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản  
án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong  
thời hạn sau đây:  
lầm trong áp dụng pháp luật) thì đến lần  
phạm tội thứ (4), khi có đủ yếu tố cấu thành  
tội phạm vẫn phải xác định N thuộc trường  
hợp tái phạm nguy hiểm.  
b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến  
Đồng nhất với ý kiến trên, tác giả cho  
rằng N phạm tội thuộc trường hợp tái  
phạm nguy hiểm. Tuy nhiên, trên thực  
tiễn, nhiều bản án của Tòa án đã có hiệu  
lực pháp luật áp dụng chỉ căn cứ vào bản  
án sau cùng của chủ thể bị kết án để xác  
05 năm;”...  
Điều 73. Cách tính thời hạn để xóa án tích  
...“2. Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực  
hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng  
bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án  
tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình  
phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án  
mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành”... 9ꢀ Khoản 1 Điều 379 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015  
Số 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 19  
TÁI PHẠM, TÁI PHẠM NGUY HIỂM...  
định có tái phạm hay không. Điều này đã phân định tính chất nguy hiểm khác nhau  
gây nhiều khó khăn trong việc áp dụng theo Điều 9 của BLHS năm 2015. Đồng  
pháp luật hình sự.  
nhất nhiều lần phạm tội ꢁ một số tội theo  
các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và  
290 BLHS năm 2015 để xác định không tái  
phạm, tái phạm nguy hiểm là chưa đảm  
bảo tính thống nhất và đồng bộ.  
2.2. Việc lấy nhiều lần bị kết án khi làm  
dấu hiệu định tội phạm, dẫn đến không  
xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm  
Tuy Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP  
Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng  
dẫn thi hành một số quy định của BLHS  
năm 1999 nhưng văn bản này vẫn được  
tham khảo áp dụng cho BLHS năm 2015 vì  
chưa có văn bản hướng dẫn mới thay thế.  
Do đó, khi một người dù phạm tội nhiều  
lần với cùng hay khác tội danh nhưng  
trong những tội danh quy định là dấu hiệu  
định tội thì các bản án đã bị kết án trước  
đây dù chưa xóa án tích nhưng vẫn không  
được xác định tái phạm hay tái phạm nguy  
hiểm: “Trường hợp các tiền án của bị cáo đã  
được xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm  
“đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích  
mà còn vi phạm” thì các tiền án đó không được  
tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm  
đối với bị cáo”10.  
Hướng dẫn trên cho thấy sự chưa đảm  
bảo công bằng trong áp dụng pháp luật.  
Bꢁi lẽ, xác định tái phạm hay tái phạm  
nguy hiểm đối với trường hợp khác những  
tội danh làm dấu hiệu định tội thì phải xác  
định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.  
Ví dụ 2 tại điểm b mục 7.3 Nghị quyết số  
01/2006/NQ-HĐTP ghi rõ: “K có hai tiền án  
về tội “cố ý gây thương tích” và tội “cướp tài  
sản”, đều chưa được xóa án tích lại trộm cắp  
tài sản có giá trị ba trăm năm mươi ngàn đồng.  
Trong trường hợp này tiền án về tội “cướp tài  
sản” được xem xét là dấu hiệu “đã bị kết án về  
tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích  
mà còn vi phạm” để xác định cấu thành tội  
phạm của lần trộm cắp tài sản. Còn tiền án về  
tội “cố ý gây thương tích” phải tính để xác định  
tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với K”.  
Trꢁ lại Ví dụ 2 trong Nghị quyết số  
01/2006/NQ-HĐTP, nếu một chủ thể 03 lần  
thực hiện tội phạm trộm cắp tài sản thuộc  
trường hợp ít nghiêm trọng thì lần thứ 03  
được xác định là tái phạm nguy hiểm, lần  
thứ 04 nếu phạm tội dưới 02 triệu đồng  
thì xác định không có tái phạm. Nhưng  
nếu một chủ thể 02 lần phạm tội “cố ý gây  
thương tích”, lần thứ 03 phạm tội trộm cắp  
tài sản thì xác định là tái phạm nguy hiểm  
và lần thứ 4 phạm tội dù dưới 02 triệu đồng  
nhưng vẫn được xác định là tái phạm nguy  
hiểm. Điều này thể hiện sự thiếu thống  
nhất trong quy định về xác định tính chất  
mức độ và quyết định về TNHS.  
Theo tác giả, nếu dựa trên các yếu tố  
cần thiết cho cấu thành tội phạm thì chỉ  
cần sử dụng một căn cứ (bản án, quyết  
định), còn các căn cứ khác được vận dụng  
vào việc xác định nhân thân chủ thể phạm  
tội tái phạm hay tái phạm nguy hiểm.  
2.3. Việc không chấp hành các hình  
phạt khác trong bản án khi cơ quan thi  
hành án không ra quyết định trong trường  
hợp thi hành án chủ động, khi người có  
quyền lợi không yêu cầu thi hành án  
Công văn số 64/TANDTC-PC ngày  
03/4/2019 của TAND tối cao giải đáp trực  
tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân  
sự và tố tụng hành chính (gọi tắt là Giải  
thích 64). Tuy không phải là văn bản  
hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự  
nhưng đây là giải thích của TAND tối cao  
- cơ quan được Quốc hội giao thẩm quyền  
hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự11.  
Điều này cho thấy nếu một chủ thể  
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội  
được quy định trong BLHS thì đều có  
Mục 7 Giải thích 64 nêu “Bộ luật hình sự  
không quy định trường hợp loại trừ việc người  
11ꢀ Điều 3 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017  
10ꢀ Điểm a mục 7.3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP của Quốc hội về việc thi hành BLHS  
20 Khoa học Kiểm sát  
Số 02 - 2021  
NGÔ VĂN LƯỢNG  
bị kết án chưa chấp xong hành hình phạt bổ thi hành án liên quan đến trách nhiệm của  
sung và các quyết định khác của bản án với bất họ phải thực hiện. Điều này góp phần nâng  
kỳ lý do gì. Hơn nữa, pháp luật thi hành án dân cao trách nhiệm của người tiến hành tố tụng  
và tham gia trong hoạt động tư pháp.  
sự quy định nhiều phương thức thi hành để  
người phải thi hành án có quyền lựa chọn như:  
tự nguyện thi hành, thỏa thuận thi hành án  
hoặc nhờ thân nhân nộp thay. Do vậy, trường  
hợp người bị kết án (sau này là bị can, bị cáo  
trong một vụ án mới) không nhận được thông  
báo và quyết định thi hành án của Cơ quan thi  
hành án dân sự nên chưa thi hành hình phạt  
bổ sung, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm  
và các quyết định khác của bản án là chưa chấp  
hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định  
khác của bản án. Trong trường hợp này, người  
bị kết án không đương nhiên được xóa án tích  
theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật hình sự”.  
3. Kiến nghị, đề xuất  
Để pháp luật được thực thi thống nhất,  
qua quá trình nghiên cứu và áp dụng pháp  
luật, tác giả kiến nghị cơ quan có thẩm  
quyền hướng dẫn áp dụng pháp luật hình  
sự cần hướng dẫn việc xác định tái phạm,  
tái phạm nguy hiểm theo hướng:  
Một là, khi xác định trường hợp tái  
phạm nguy hiểm không chỉ dựa vào bản  
án sau cùng của người bị kết án có tái phạm  
hay tái phạm nguy hiểm để quyết định, mà  
cần xem xét toàn diện những lần bị kết án  
chưa được xác định của chủ thể phạm tội.  
Điều này có nghĩa là nếu người bị kết án  
chưa thi hành xong tất cả những phần mà  
bản án, quyết định đã tuyên thì xem như  
chưa thi hành xong, đây là căn cứ để xác  
định nhân thân chủ thể phạm tội chưa xóa  
án tích để xác định tái phạm, tái phạm nguy  
hiểm. Tuy nhiên, trên thực tiễn, có trường  
hợp Cơ quan thi hành án không ban hành  
quyết định thi hành án chủ động, có thể do  
Tòa án không chuyển bản án, quyết định  
hoặc lỗi của cán bộ thi hành án trong việc  
tiếp nhận bản án hay Cơ quan thi hành án  
không ra quyết định thi hành án hoặc có  
ra quyết định nhưng không tống đạt cho  
người bị kết án… dẫn đến hết thời hiệu thi  
hành bản án (05 năm theo điểm a khoản 2  
Điều 60 BLHS năm 2015).  
Trong Giải thích 64 không quy định  
trường hợp Cơ quan thi hành án chưa ban  
hành quyết định thi hành án thì có được  
xem là người bị kết án đương nhiên xóa án  
tích hay không. Điều này dẫn đến việc xác  
định chủ thể phạm tội có tái phạm hoặc tái  
phạm nguy hiểm đối với lần phạm tội sau.  
Hai là, khi cần dấu hiệu định tội “đã bị  
kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà  
còn vi phạm” đối với lần phạm tội đang  
phạm thì chỉ cần một bản án (quyết định)  
sau cùng để làm căn cứ định tội. Các bản án  
chưa xóa án tích trước được xem làm căn  
cứ xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm  
đối với chủ thể thực hiện hành vi phạm tội.  
Ba là, quá thời hạn về thời hiệu thi  
hành bản án chủ thể bị kết án không nhận  
được quyết định thi hành án thì xem như  
đã hết thời hiệu thi hành và đây là căn cứ  
xác định không có án tích theo luật định./.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ  
sung năm 2017;  
2. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;  
3. Nghị quyết số 01/2006/NQ – HĐTP  
ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán  
TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy  
định của Bộ luật hình sự;  
4. Toà án nhân dân tối cao (1975), Tập hệ  
thống hoá luật lệ về hình sự, Hà Nội, tr 240;  
5. William Collins Sons & Co. Ltd (1986),  
“Collins English Dictionary”, HarperCollins  
Publishers, USA, P.1083;  
Theo tác giả, lỗi ꢁ đây là của cơ quan  
nhà nước nên áp dụng nguyên tắc có lợi cho  
người bị kết án, xem xét cho họ được đương  
nhiên xóa án tích để không xác định họ bị  
tái phạm hay tái phạm nguy hiểm trong  
6. Một số bản án của TAND đã có hiệu  
trường hợp không nhận được quyết định lực pháp luật.  
Số 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 21  
pdf 6 trang Thùy Anh 9320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong pháp luật hình sự Việt Nam - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hướng dẫn thực hiện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_pham_tai_pham_nguy_hiem_trong_phap_luat_hinh_su_viet_nam.pdf