Giáo trình Luật môi trường (Phần 1)

ĐẠI HỌC HUẾ  
KHOA LUẬT  
ThS. VÕ THỊ MỸ HƯƠNG (Chủ biên)  
GVC. ThS. NGUYỄN THỊ HÀ  
TÀI LIỆU HỌC TẬP  
LUẬT MÔI TRƯỜNG  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC HUẾ  
Huế - 2013  
Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm cña Th− viÖn Quèc gia ViÖt Nam  
Vâ ThÞ Mü H−¬ng  
Tµi liÖu häc tËp: LuËt M«i tr−êng / Vâ ThÞ Mü H−¬ng (ch.b.), NguyÔn ThÞ Hµ. -  
uÕ : ¹i häc HuÕ, 2013. - 142tr. ; 21cm  
h− môc: tr. 139-140  
H
§
T
1. LuËt M«i tr−êng 2. ViÖt Nam 3. Tµi liÖu häc tËp  
344.59704 - dc14  
DUH0026p-CIP  
Mã số sách: TK/112 – 2013  
LỜI NÓI ĐẦU  
Môi trường và vấn đề bảo vệ môi trường giờ đây không còn là nhiệm  
vụ của từng quốc gia mà là vấn đề của toàn cầu. Muốn bảo vệ tốt môi  
trường cần có ý thức bảo vệ môi trường tốt và hệ thống các văn bản pháp  
luật về bảo vệ môi trường rõ ràng, cụ thể, dễ áp dụng và có các chế tài đủ  
mạnh. Tuy nhiên, để hướng tới những yêu cầu trên đối với lĩnh vực pháp  
luật môi trường quả là khó khăn, bởi lẽ, thực tiễn thi hành pháp luật về bảo  
vệ môi trường ở Việt Nam đã xuất hiện tình trạng “chấp nhận” chịu phạt do  
vi phạm pháp luật môi trường hơn là áp dụng các biện pháp bảo vệ môi  
trường theo quy định của pháp luật. Đây là vấn đề cần được giải quyết triệt  
để trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường  
cũng như việc tổ chức thực hiện lĩnh vực pháp luật này.  
Khoa học Luật Môi trường là lĩnh vực khoa học pháp lý chuyên ngành  
được giảng dạy ở tất cả các chuyên ngành đào tạo luật nhằm cung cấp  
những vấn đề lý luận và thực tiễn về môi trường, bảo vệ môi trường và pháp  
luật về bảo vệ môi trường cho người học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng  
vận dụng các quy định pháp luật về môi trường cho người học từ đó góp  
phần nâng cao ý thức pháp luật bảo vệ môi trường.  
Cuốn tài liệu học tập Luật Môi trường là kết quả nỗ lực thể hiện các  
yêu cầu mang tính chuyên biệt của một lĩnh vực khoa học pháp lý chuyên  
ngành còn khá mới mẻ so với lĩnh vực luật Dân sự, Hình sự, Tố tụng,…  
Mặc dù đã cố gắng hết sức trong quá trình biên soạn, cập nhật kiến thức, tài  
liệu,… song những sai sót là không thể tránh khỏi. Các tác giả mong muốn  
nhận được nhiều ý kiến đóng góp từ phía độc giả.  
Xin trân trọng giới thiệu cuốn tài liệu học tập cùng bạn đọc.  
T/M NHÓM TÁC GIẢ  
Võ Thị Mỹ Hương  
MỤC LỤC  
Trang  
7
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về môi trường, bảo vệ  
môi trường và luật bảo vệ môi trường  
I. Môi trường và tầm quan trọng của môi trường  
II. Khái niệm luật bảo vệ môi trường  
7
23  
29  
Chương 2: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm, suy thoái, sự cố  
môi trường  
I. Khái niệm ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố 29  
môi trường  
II. Kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố 31  
môi trường (kiểm soát ô nhiễm môi trường)  
Chương 3: Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh họci  
50  
50  
54  
63  
I. Tổng quan về đa dạng sinh học  
II . Pháp luật về đa dạng sinh học  
Chương 4: Pháp luật về đánh giá tác động môi trường, đánh  
giá môi trường chiến lược  
I. Khái niệm đánh giá tác động môi trường, đánh giá môi trường 63  
chiến lược  
II. Những nội dung cơ bản của pháp luật về quá trình đánh giá môi 70  
trường  
III. Cam kết bảo vệ môi trường  
79  
81  
Chương 5: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không  
khí, nước, rừng  
A. Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí  
I. Không khí và ô nhiễm không khí  
81  
81  
82  
84  
84  
87  
II. Nội dung pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí  
B. Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nước  
I. Tài nguyên nước và ô nhiễm tài nguyên nước  
II. Nội dung pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước  
C. Pháp luật về kiểm soát suy thoái rừng  
91  
91  
I. Rừng và vấn đề suy thoái rừng  
II. Nội dung pháp luật về kiểm soát suy thoái rừng  
Chương 6: Giải quyết tranh chấp môi trường  
I. Tranh chấp môi trường và những dấu hiệu của tranh chấp môi trường  
II. Cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường  
94  
101  
101  
110  
121  
121  
133  
Chương 7: Thực thi các điều ước quốc tế về môi trường  
I. Tổng quan các điều ước quốc tế về môi trường  
II. Các hội nghị quốc tế quan trọng về môi trường  
III. Sự chuyển hóa nội dung các điều ước quốc tế quan trọng về 135  
môi trường mà Việt Nam tham gia  
Danh mục tài liệu tham khảo  
139  
Chương 1  
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ  
MÔI TRƯỜNG, BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG  
VÀ LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG  
I. MÔI TRƯỜNG VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA MÔI TRƯỜNG  
1. Khái niệm môi trường, vai trò của môi trường đối với cuộc sống  
1.1. Định nghĩa  
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao  
quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển  
của con người và sinh vật.1  
Môi trường được tạo thành bởi các yếu tố (hay còn gọi là các thành  
phần môi trường) sau đây: Không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng  
đất, núi, rừng, sông, hồ, biển, sinh vật, hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản  
xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh,  
di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác. Trong đó, không khí, đất,  
nước, hệ sinh thái... là các yếu tố tự nhiên (các yếu tố này xuất hiện và tồn  
tại không phụ thuộc vào ý chí của con người); khu dân cư, khu sản xuất, di  
tích lịch sử.... là các yếu tố vật chất nhân tạo (các yếu tố do con người tạo ra,  
tồn tại và phát triển phụ thuộc vào ý chí của con người). Các yếu tố tự nhiên  
được xem là yếu tố cơ bản duy trì sự sống của con người, còn các yếu tố vật  
chất nhân tạo có tác dụng làm cho cuộc sống của con người thêm phong phú  
và sinh động. Theo cách định nghĩa trên, con người trở thành trung tâm  
trong mối quan hệ với tự nhiên và dĩ nhiên mối quan hệ giữa con người với  
nhau tạo thành trung tâm đó chứ không phải mối quan hệ giữa các thành  
phần khác của môi trường.  
Theo cách hiểu khác2, môi trường được kết hợp bởi các nhân tố môi  
trường khác nhau như môi trường tự nhiên, môi trường xã hội. Môi trường  
tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn  
1 Khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005.  
2 Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật của Chính phủ (2008), Pháp luật  
về bảo vệ môi trường, tr1-2.  
7
tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của  
con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi, sông, biển cả, không khí, động,  
thực vật, đất, nước... Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất  
để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các  
loại tài nguyên khoáng sản cần thiết cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi  
chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho chúng ta cảnh đẹp để  
giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú.  
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người.  
Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định... ở các cấp  
khác nhau như: Liên hợp quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện,  
cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức  
đoàn thể,... Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo  
một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát  
triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác.  
Ngoài ra, môi trường còn được cấu thành bởi môi trường nhân tạo,  
bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi  
trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công  
viên nhân tạo...  
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã  
hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên  
thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã  
hội...  
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên,  
mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới  
chất lượng cuộc sống con người. Ví dụ: môi trường của học sinh gồm  
nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi,  
phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như: Đoàn, Đội. Các  
hương ước dòng tộc, làng xóm với những quy định thành văn hoặc chỉ  
truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành. Với các cơ quan  
hành chính các cấp thực hiện các quy định của luật pháp, nghị định,  
thông tư. Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho  
ta cơ sở để sống và phát triển.  
8
1.2. Các ảnh hưởng mang tính phổ biến của môi trường  
Tính phổ biến toàn cầu của vấn đề môi trường thể hiện ở các khía  
cạnh sau3:  
- Ảnh hưởng của những tác hại do con người gây ra cho môi trường,  
không chỉ giới hạn trong phạm vi vùng, quốc gia mà còn ảnh hưởng đến các  
nước, các khu vực lân cận.  
- Việc tàn phá môi trường ảnh hưởng đến mọi xã hội bất chấp cơ cấu  
chính trị kinh tế ở đó như thế nào. Không có bất cứ quốc gia nào được loại  
trừ khỏi sự trả thù của thiên nhiên, dẫu đó là quốc gia giàu hay nghèo.  
- Sự xuất hiện các chế định pháp lý quốc tế liên quan đến môi trường  
thể hiện rõ tính chất toàn cầu của vấn đề môi trường nhất là những thập kỷ  
cuối của thế kỷ XX được đánh dấu bằng sự ra đời hàng loạt các tổ chức  
quốc tế và các điều ước quốc tế về môi trường.  
- Vấn đề bảo vệ môi trường đã trở thành một trong các yếu tố của  
chính sách phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Điều kiện về bảo vệ  
môi trường là một trong những diều khoản của các hợp đồng liên doanh,  
đầu tư nước ngoài ký kết thuộc nhiều quốc gia khác nhau.  
1.3. Môi trường và sự phát triển bền vững4  
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc  
gia và là tiêu chí để người dân đánh giá hiệu quả điều hành đất nước của bộ  
3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Môi trường, 2011, tr15-17  
4 Xem thêm:  
- Võ Thị Mỹ Hương (2013), Hoàn thiện Luật Bảo vệ môi trường 2005 nhìn từ yêu cầu phát  
triển bền vững, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 9(241)/tháng 5/2013, tr.48-55  
- Hà Huy Thành, Lê Cao Đoàn (Đồng chủ biên, 2011), Vấn đề môi trường trong phát triển  
xã hội và quản lý xã hội theo hướng bền vững ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội  
- Phạm Thị Ngọc Trầm (Chủ biên, 2006, Quản lý nhà nước đối với tài nguyên và môi  
trường vì sự phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội – nhân văn, NXB Khoa học Xã hội,  
Hà Nội…  
- Phạm Hữu Nghị (2007), Tổ chức thương mại thế giới với vấn đề thương mại-Môi trường  
và những thách thức, cơ hội đối với Việt Nam về thương mại-Môi trường, Tạp chí Nhà  
nước và pháp luật, số 02/năm 2007,tr 35 - 43  
9
máy quản lý nhà nước. Tuy nhiên, ở mức độ phát triển của thế giới như  
hiện nay thì yếu tố môi trường đang là một thách thức lớn nhất cho sự  
sinh tồn của nhân loại, con người đã và đang phải đối mặt với những vấn  
đề nghiêm trọng như: sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi  
trường, biến đổi khí hậu trái đất và sự gia tăng dân số, đói nghèo cùng  
với các tệ nạn xã hội,… gây trở ngại to lớn cho sự phát triển kinh tế, ổn  
định chính trị - xã hội của mỗi quốc gia, đòi hỏi các quốc gia phải gắn  
phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao trách nhiệm  
xã hội của các doanh nghiệp. Bảo vệ môi trường là một nội dung quan  
trọng của phát triển bền vững.  
Phát triển bền vững được hình thành từ những năm giữa của thế kỷ 20.  
Từ đó đến nay, nội dung phát triển bền vững được nghiên cứu và sâu sắc  
hơn. Nội dung cốt lõi của phát triển bền vững là phải bảo đảm có sự phát  
triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ.  
Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà nước, các  
tổ chức xã hội... phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh  
vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường5.  
Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980  
trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn  
Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất  
đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển  
kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác  
động đến môi trường sinh thái học”. Khái niệm này được phổ biến rộng rãi  
vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common  
Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy  
ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là “sự phát triển  
có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại  
đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai...”. Nói cách  
khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã  
hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ6.  
5.http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1t_tri%E1%BB%83n_b%E1%BB%81n_v%E1%BB  
%Afng.  
6.http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1t_tri%E1%BB%83n_b%E1%BB%81n_v%E1%  
BB%Afng.  
10  
Năm 1987, Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED)  
của Liên hợp quốc, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, đã  
định nghĩa Phát triển bền vững là “Sự phát triển đáp ứng được những yêu  
cầu hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các  
thế hệ mai sau”. Năm 2002, Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển  
bền vững (họp ở Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi) đã nêu rõ: Phát triển  
bền vững là “quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài  
hòa giữa ba mặt của sự phát triển: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng  
kinh tế); phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội,  
xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm); bảo vệ môi trường (nhất là  
xử lý, khắc phục tình trạng ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi  
trường, phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng  
tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên)”7.  
Đối với Việt Nam, phát triển bền vững cũng đã được đề cập đến từ khi  
chúng ta thực hiện đổi mới toàn diện đất nước. Cùng với sự phát triển của  
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quan niệm về phát triển  
bền vững ngày càng hoàn thiện hơn. Cụ thể:  
- Quyết định số 187 - CT ngày 12/06/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ  
trưởng (nay là Chính phủ) về triển khai thực hiện “Kế hoạch quốc gia về  
Môi trường và Phát triển bền vững giai đoạn 1991-2000” đã tạo lập nền  
tảng tư tưởng pháp lý đầu tiên cho quá trình lập pháp hướng tới sự phát triển  
bền vững. Trong nội dung văn bản này, Hội đồng Bộ trưởng đã giao trách  
nhiệm cho các cơ quan nhà nước và từng địa phương xây dựng chiến lược  
phát triển bền vững phù hợp với điều kiện và mục tiêu phát triển.  
- Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/06/1998 của Bộ Chính trị về “Tăng  
cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại  
hoá đất nước” xác định nhiệm vụ trọng tâm của quan niệm phát triển bền  
vững chính là nhiệm vụ bảo vệ môi trường, coi bảo vệ môi trường là điều  
kiện tiên quyết bảo đảm cho sự phát triển bền vững.  
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001) của Đảng  
và trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 chỉ rõ: “Phát  
triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện  
7.http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1t_tri%E1%BB%83n_b%E1%BB%81n_v%E1%  
BB%AFng  
11  
tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và “Phát triển kinh tế - xã  
hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa  
môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”  
đã cụ thể hóa mục tiêu của phát triển bền vững, gắn phát triển kinh tế với  
tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường – đây là những trụ cột quan  
trọng của phát triển bền vững.  
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng đã rút ra bài  
học đầu tiên trong 5 bài học kinh nghiệm lớn từ thực tiễn phát triển hơn 20  
năm đổi mới đất nước là “Bài học về phát triển nhanh và bền vững”, đưa  
phát triển bền vững trở thành đường lối, quan điểm của Đảng và định hướng  
chính sách phát triển của nước ta hiện nay.  
- Báo cáo chính trị tại Đại hội XI, Đảng ta đã khẳng định bài học về  
mục tiêu phải bảo đảm phát triển bền vững nền kinh tế, đó là: “Phát triển  
nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu  
xuyên suốt trong Chiến lược”; “Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển  
nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững. Phát  
triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế  
hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội”. Quan điểm phát triển bền  
vững trong Đại hội XI của Đảng đã có nội hàm rộng hơn, gắn kết chặt chẽ  
hợp lý, hài hòa giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường. Đảng ta  
khẳng định: “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình  
tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là yêu cầu  
ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri  
thức; tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển văn hoá, thực  
hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc  
sống của nhân dân; phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và  
cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu”.  
- Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/04/2012 của Thủ tướng Chính  
phủ Phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 –  
2020 khẳng định “Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình  
phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh  
tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc  
phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội”, trong đó nhấn mạnh “Tạo lập  
điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng  
12  
để phát triển, được tiếp cận những nguồn lực chung và được tham gia, đóng  
góp và hưởng lợi, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hóa tốt  
đẹp cho những thế hệ mai sau. Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, đặc  
biệt là loại tài nguyên không thể tái tạo, gìn giữ và cải thiện môi trường  
sống; xây dựng xã hội học tập; xây dựng lối sống thân thiện môi trường,  
sản xuất và tiêu dùng bền vững”.  
Dưới góc độ pháp luật bảo vệ môi trường, phát triển bền vững đã được  
thể hiện ngay từ Luật bảo vệ môi trường năm 1993 – Luật bảo vệ môi  
trường đầu tiên của Việt Nam. Điều này được thể hiện ngay trong lời nói  
đầu Luật BVMT 1993 đã khẳng định bảo vệ môi trường “nhằm bảo vệ sức  
khoẻ nhân dân, bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường  
trong lành, phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của đất nước, góp phần  
bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu”. Nếu như Luật bảo vệ môi trường  
năm 1993 chưa thể hiện rõ quan điểm phát triển bền vững thì Luật bảo vệ  
môi trường năm 2005, phát triển bền vững là một nguyên tắc của Luật bảo  
vệ môi trường. Cụ thể, bảo vệ môi trường phải gắn kết hài hòa với phát triển  
kinh tế và bảo đảm tiến bộ xã hội để phát triển bền vững đất nước; bảo vệ  
môi trường quốc gia phải gắn với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu8.  
Từ những quan điểm, định hướng trên của Đảng Cộng sản Việt Nam  
cũng như quy định pháp luật về phát triển bền vững chúng ta có thể rút ra  
những nhận định cơ bản sau đây:  
Thứ nhất, phát triển bền vững là nội dung quan trọng trong tiến trình  
phát triển của mọi quốc gia, là nhân tố bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh  
tế và giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó, bảo vệ môi trường là một trong  
ba trụ cột của phát triển bền vững.  
Thứ hai, quan niệm về phát triển bền vững của nước ta không khác  
quan niệm của các nước. Theo đó, phát triển bền vững là phát triển đáp ứng  
được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp  
ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà  
giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường9. đây  
là điều kiện thuận lợi để xây dựng, triển khai và thực hiện mục tiêu phát  
triển bền vững phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam trên cơ sở tiếp thu  
8 Khoản 1 Điều 4 Luật BVMT 2005.  
9 Khoản 4 Điều 3 Luật BVMT 2005.  
13  
có chọn lọc kinh nghiệm phát triển bền vững của các nước, đồng thời cũng  
là nội dung pháp lý quan trọng cho việc thực thi pháp luật về bảo vệ môi  
trường theo quan điểm phát triển bền vững.  
1.4. Thực trạng môi trường Việt Nam và thế giới  
1.4.1. Thực trạng môi trường trên thế giới  
Kể từ Hội nghị đầu tiên về môi trường của thế giới (Stockholm 1972)  
đến nay, cộng đồng thế giới đã có nhiều nỗ lực để đưa vấn đề môi trường  
vào các chương trình nghị sự ở cấp quốc tế và quốc gia nhưng hiện trạng  
môi trường toàn cầu được cải thiện không đáng kể. Vấn đề môi trường chưa  
thật sự được lồng ghép với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc  
gia. Dân số toàn cầu tăng nhanh, sự nghèo đói, sự khai thác, tiêu thụ quá  
mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự phát thải quá mức "khí nhà  
kính"v.v... là những vấn đề bức xúc có tính phổ biến trên toàn cầu. Trong  
"tuyên bố Johannesburg về phát triển bền vững" năm 2002 của Liên hợp  
quốc đã khẳng định về những thách thức mà nhân loại đang và sẽ phải đối  
mặt có nguy cơ toàn cầu là: "Môi trường toàn cầu tiếp tục trở nên tồi tệ. Suy  
giảm đa dạng sinh học tiếp diễn, trữ lượng cá tiếp tục giảm sút, sa mạc hoá  
cướp đi ngày càng nhiều đất đai màu mỡ, tác động tiêu cực của biến đổi khí  
hậu đã hiển hiện rõ ràng. Thiên tai ngày càng nhiều và ngày càng khốc liệt.  
Các nước đang phát triển trở nên dễ bị tổn hại hơn. Ô nhiễm không khí,  
nước và biển tiếp tục lấy đi cuộc sống thanh bình của hàng triệu người."  
Thực trạng môi trường thế giới tác động hầu hết đến các quốc gia vì toàn  
cầu sở hữu chung một tài sản là “Trái đất”, cụ thể:  
Thứ nhất, ô nhiễm tầng khí quyển và hiệu ứng nhà kính. Khí thải công  
nghiệp, khí thải của các phương tiện giao thông có động cơ, khí thoát ra từ  
các quá trình sinh học đã là các nguồn chủ yếu gây ô nhiễm môi trường  
không khí. Hàm lượng ngày càng tăng của các loại khí CO2, CH4, ... là loại  
khí thải do các ngành công nghiệp có sử dụng nhiên liệu hoá thạch thải ra đã  
gây hiệu ứng nhà kính với hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả của hiện tượng  
này là sự thay đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao.  
Thứ hai, ô nhiễm biển và đại dương. Ước tính đến năm 2020, tổng  
lượng chất phóng xạ có trong đại dương sẽ tăng nhiều lần so với năm 2000,  
trong đó các chất thoát biến và chất phóng xạ sẽ tăng lên 100 lần, chất triti  
14  
(hiđrô siêu nặng) sẽ tăng 1000 lần. Lượng dầu do đắm tàu, rò rỉ trong vận  
chuyển và phun ra từ giếng khai thác vào các đại dương từ 5 - 10 triệu  
tấn/năm, số dầu do các xí nghiệp công nghiệp thải từ 3 - 5 triệu tấn.  
Thứ ba, thủng tầng ôzôn. Sự phá hoại tầng ôzon là nguy hại rất lớn đối  
với con người và thiên nhiên. Nguyên nhân của sự phá hoại tầng ôzôn là do  
sự sử dụng và thải chất CFC, ngoài ra còn do các hợp chất oxy nitơ được tạo  
ra trong khí thải của máy bay phản lực cỡ lớn và của các loại máy bay khi  
bay vào tầng cao làm phân giải khí ôzôn. Các máy bay cỡ lớn bay ở tầng  
bình lưu tiêu hao hàng chục vạn tấn xăng dầu cũng sẽ thải ra một lượng lớn  
oxit nitơ, có thể phá hoại 10% khí ôzôn.  
Thứ tư, tình trạng chuyển dịch ô nhiễm. Theo tài liệu về quy hoạch  
môi trường của Liên hợp quốc, mỗi năm toàn cầu có 500 triệu tấn rác thải  
nguy hại, trong đó có 98% là của các nước phát triển. Việc một số nước phát  
triển chuyển dịch công nghệ lạc hậu và các chất thải dưới nhiều hình thức  
khác nhau sang các nước đang phát triển là một thực tế cần được chú trọng.  
1.4.2. Thực trạng môi trường Việt Nam10  
Nhận xét tổng thể môi trường ở Việt Nam hiện nay tiếp tục xuống cấp  
nghiêm trọng và cần được bảo vệ khẩn cấp. Điều này được thể hiện trên những  
khía cạnh sau:  
Thứ nhất, rừng đang bị suy thoái và thu hẹp diện tích đến mức đáng  
báo động; tình trạng lâm tặc xâm hại rừng vẫn diễn ra phổ biến và chưa có  
biện pháp khắc phục hiệu quả. Mặc dù trong những năm gần đây, tỷ lệ che  
phủ rừng ở nước ta đã đạt mức khoảng 30% diện tích tự nhiên nhưng tình  
trạng suy thoái rừng vẫn diễn biến theo chiều hướng xấu so với hơn nửa thế  
kỷ trước, chất lượng rừng ngày càng giảm sút. Rừng ngập mặn, đầm phá đã  
bị khai thác quá mức, việc sử dụng rừng ngập mặn để nuôi trồng thuỷ sản  
trên quy mô lớn làm diện tích rừng này ngày càng bị thu hẹp.  
Thứ hai, đa dạng sinh học trên đất liền và dưới biển bị suy giảm: Ðịa  
bàn cư trú của các loài động thực vật hoang dã bị thu hẹp và chia cắt. Nhiều  
loại động vật quý hiếm bị săn bắt. Nhiều loài đã có nguy cơ bị tuyệt chủng.  
Nguồn gien quý hiếm bị suy giảm. Một vấn đề nữa cần đề cập trong nội  
dung này là tình trạng xâm thực của các loài sinh vật lạ đang làm suy thoái  
nguồn đa dạng sinh học của Việt Nam như rùa tai đỏ, ốc bươu vàng…  
10 Chương 10, Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010.  
15  
Thứ ba, chất lượng nguồn nước giảm, nước thải sinh hoạt đô thị, các  
khu công nghiệp xả trực tiếp vào kênh, mương, sông, hồ dẫn đến tình trạng  
ô nhiễm nghiêm trọng môi trường nước ở một số nơi như thành phố Hà Nội,  
thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hải Phòng, thành phố Việt Trì (tỉnh Phú  
Thọ), thành phố Biên Hoà (tỉnh Đồng Nai). Chất lượng nước một số hệ  
thống sông như sông Nhuệ - Đáy, sông Cầu, sông Ðồng Nai và các sông Sài  
Gòn, Cửu Long đã bị suy giảm. Nhiều chỉ tiêu như chất hữu cơ,  
BOD5,COD, NH4,N, P cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Nguy cơ thiếu nước  
cho sinh hoạt và sản xuất ở nhiều vùng ngày càng trầm trọng. Nguy cơ thiếu  
nước vào những thập kỷ tới có khả năng xảy ra.  
Nước biển ven bờ đã bắt đầu có dấu hiệu ô nhiễm. Hàm lượng các  
chất hữu cơ, chất dinh dưỡng, kim loại nặng, vi sinh, hoá chất bảo vệ thực  
vật ở một số nơi vượt tiêu chuẩn cho phép 2-5 lần. Hàm lượng dầu ở một số  
vùng biển vượt quá tiêu chuẩn và đang có xu hướng tăng dần.  
Nước ngầm đang bị cạn kiệt dần về lượng, bị ô nhiễm và suy giảm về  
chất. Mấy năm gần đây đã xảy ra suy giảm mức nước ngầm vào mùa hè ở  
Tây Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc.  
Thứ tư, ô nhiễm môi trường đô thị và khu công nghiệp tăng về số vụ  
và mức độ tàn phá môi trường ngày càng nghiêm trọng hơn. Hiện nay, nước  
ta có 623 thành phố, thị xã, thị trấn, trong đó có 5 thành phố trực thuộc  
Trung ương, 82 thành phố, thị xã thuộc tỉnh. Tỷ lệ dân cư đô thị trên tổng  
dân số năm 1986 là 19%; năm 1990 là 20%; năm 1999 là 23%; năm 2010 là  
33% và dự báo đến năm 2020 là 45%.  
Ô nhiễm môi trường tại các đô thị ngày càng gia tăng. Ở nước ta chưa có  
đô thị nào được công nhận là đô thi sạch/ đô thị xanh (nước sạch, không khí  
sạch, đất sạch). Môi trường ở nhiều đô thị ở nước ta bị ô nhiễm do chất thải rắn  
và chất thải lỏng chưa được thu gom và xử lý theo đúng quy định. Trong khi  
đó, khí thải, tiếng ồn, bụi... của nguồn giao thông nội thị và mạng lưới sản xuất  
quy mô vừa và nhỏ cùng với cơ sở hạ tầng yếu kém càng làm cho điều kiện vệ  
sinh môi trường ở nhiều đô thị đang thực sự lâm vào tình trạng đáng báo động.  
Ðặc biệt hệ thống cấp thoát nước lạc hậu, xuống cấp không đáp ứng được yêu  
cầu. Mức ô nhiễm không khí về bụi và các khí thải độc hại nhiều nơi vượt tiêu  
chuẩn cho phép nhiều lần, đặc biệt tại một số thành phố lớn như Hà Nội, thành  
phố Hồ Chí Minh vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2-5 lần.  
16  
Môi trường các khu công nghiệp, đặc biệt ở các khu công nghiệp cũ, các  
ngành hoá chất, luyện kim, xi măng, chế biến đang bị ô nhiễm do các chất thải  
rắn, nước thải, khí thải và các chất thải độc hại chưa được xử lý theo đúng quy  
định. Các cơ sở công nghiệp do trong nước đầu tư chủ yếu có quy mô nhỏ,  
công nghệ sản xuất lạc hậu (chỉ có 20% xí nghiệp cũ đã đổi mới công nghệ).  
Khoảng 90% cơ sở sản xuất cũ chưa có thiết bị xử lý nước thải.  
Tính đến năm 2009, toàn quốc đã có đến 249 khu công nghiệp được  
thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ nhưng chỉ có khoản  
50% khu công nghiệp là có hệ thống xử lý nước thải tập trung (kể cả hệ  
thống hoạt động chưa có hiệu quả). Hiện nay, khoảng 70% trong tổng số  
hơn 1 triệu m3 nước thải/ngày từ các khu công nghiệp xả thẳng ra các nguồn  
tiếp nhận không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường nước mặt trên diện rộng.  
Bên cạnh đó, các chất thải rắn phát sinh từ các khu công nghiệp ngày càng  
lớn về số lượng, càng đa dạng độc hại về tính chất nhưng tỷ lệ thu gom,  
phân loại và xử lý đúng kỹ thuật môi trường, đặc biệt đối với việc quản lý,  
vận chuyển và đăng ký nguồn thải đối với chất thải nguy hại còn rất nhiều  
bất cập.  
Thứ năm, suy thoái môi trường nông thôn. Môi trường nông thôn đang  
bị ô nhiễm do các điều kiện vệ sinh và cơ sở hạ tầng yếu kém. Việc sử dụng  
không hợp lý các loại hoá chất nông nghiệp cũng gây ô nhiễm môi trường  
nông thôn. Đặc biệt, ô nhiễm môi trường nông thôn đăng ngày một gia tăng  
số lượng lớn về vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật (trung bình là 19.637 tấn/năm)  
hầu như không được thu gom mà bị thải bỏ vương vãi trên đồng ruộng,  
kênh, mương. Đây là nguồn gây ô nhiễm khá nghiêm trọng cho môi trường  
đất và nước. Việc phát triển tiểu thủ công, làng nghề và công nghiệp chế  
biến ở một số vùng do công nghệ sản xuất lạc hậu, qui mô sản xuất nhỏ,  
phân tán xen kẽ trong dân và hầu như không có thiết bị thu gom, xử lý chất  
thải, đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Nước sinh hoạt và vệ sinh là  
vấn đề cấp bách, điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn vẫn chưa được cải  
thiện đáng kể, tỷ lệ số hộ có hố xí hợp vệ sinh chỉ đạt từ 28% đến 30% và từ  
30% đến 40% số hộ ở nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh.  
Thứ sáu, sự cố môi trường diễn ra ngày càng nhiều và mức độ thiệt  
hại đã tăng lên đáng kể. Tai biến thiên nhiên gần đây có xu hướng gia tăng.  
Hiện tượng lũ quét trên các lưu vực sông nhỏ, lũ trên các sông lớn, bão, lốc,  
17  
mưa đá, mưa axit, hạn hán kéo dài, nứt đất, xói lở bờ sông, ven biển trong  
thập niên vừa qua đã gây thiệt hại to lớn về người, nhà cửa, tài sản, mùa  
màng ở nhiều nơi. Trong những năm qua, sự cố tràn dầu vẫn xảy ra nhiều và  
gây thiệt hại lớn. Từ năm 1994 - 2009 đã xác định được đối tượng gây ra 34  
vụ với số lượng dầu tràn trên 4.000 tấn. Hậu quả của chất độc hoá học do  
chiến tranh để lại còn nặng nề. Hàng vạn trẻ em bị dị tật bẩm sinh, hàng  
triệu hécta rừng bị suy thoái nghiêm trọng.  
Thứ bảy, vấn đề mưa a-xít. Mưa a-xít là là do SO2 và NOx do các  
ngành công nghiệp thải ra không khí, sau đó kết hợp với nước, tạo thành các  
a-xít sulfuric và a-xít nitric. A-xít theo nước mưa, tuyết, sương, rơi trở lại  
mặt đất. Mưa a-xít có thể tạo ra ô nhiễm xuyên biên giới, khi di chuyển  
cùng gió và mây từ vùng này sang vùng khác. Những báo cáo của mạng lưới  
quan trắc quốc gia cho thấy, mưa a-xít từ nước ngoài vào Việt Nam đang  
tăng lên. Các hậu quả tiềm tàng của mưa a-xít bao gồm phá huỷ cây trồng,  
rừng và làm giảm sản lượng nông nghiệp, ô nhiễm các dòng sông, các hồ  
ảnh hưởng đến nuôi trồng thuỷ sản và các sinh vật khác, phá huỷ các công  
trình kiến trúc.  
1.4.3. Nguyên nhân của thực trạng môi trường Việt Nam11  
Môi trường ngày càng biến đổi theo chiều hướng xấu và phức tạp, đe  
dọa nghiêm trọng sự sống trên trái đất. Nguyên nhân là:  
- Nhận thức của các cấp, các ngành, các địa phương và trong toàn xã  
hội nói chung về tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường chưa đầy  
đủ và đúng mức. Trong nhiều trường hợp, nhận thức mới chỉ dừng ở mức độ  
thông tin thông thường; chưa trở thành ý thức và hành động cụ thể của từng  
cấp, từng ngành/địa phương và từng người.  
- Hệ thống pháp luật và chính sách về môi trường còn thiếu, chưa  
đồng bộ và có nhiều bất cập. Việc thực thi pháp luật chưa nghiêm, thiếu  
những chế tài đủ mạnh nhằm ngăn ngừa và xử lý kịp thời các hành vi vi  
phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.  
- Đầu tư cho bảo vệ môi trường còn rất thấp, lại dàn trải, chưa tập  
trung vào các trọng tâm, trọng điểm.  
11 Chương 10, Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010.  
18  
- Bộ máy tổ chức quản lý nhà nước về môi trường còn nhiều yếu kém;  
phân công, phân cấp trách nhiệm chưa rõ ràng, thiếu hợp lý, thiếu số lượng  
và hạn chế về năng lực.  
- Kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung và  
của ngành bảo vệ môi trường nói riêng lạc hậu. Nguồn lực bảo vệ môi  
trường của Nhà nước và các doanh nghiệp bị hạn chế.  
2. Bảo vệ môi trường và vai trò của pháp luật  
2.1. Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường và các cấp độ bảo vệ môi trường  
Con người và môi trường có mối quan hệ hữu cơ, vì vậy con người  
muốn bảo vệ an toàn cuộc sống của mình thì phải bảo vệ môi trường. Để  
có thể bảo vệ môi trường, mọi quốc gia trên thế giới đều phải thực hiện  
sự quản lý nhà nước về môi trường vì các lý do: Tầm quan trọng của tài  
nguyên vì nó là yếu tố của môi trường; sự hữu hạn của tài nguyên cần sử  
dụng tiết kiệm chúng. Nhưng sử dụng tiết kiệm là việc khó, bất lợi cho  
người sử dụng nên nói chung việc sử dụng tài nguyên có xu hướng lãng  
phí và dễ xảy ra tranh chấp; bảo vệ tài nguyên và môi trường là sự  
nghiệp toàn dân và lâu dài, đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của nhiều ngành,  
mọi địa phương và nhiều thể chế nối tiếp nhau. Để có sự đồng bộ đó thì  
chỉ có Nhà nước mới có khả năng tổ chức và quản lý các hoạt động đó;  
có một số dạng môi trường mà việc bảo vệ nó không chỉ cần thống nhất  
hành động của cả một quốc gia mà còn cần đến sự thống nhất hành động  
của cả khu vực hay toàn cầu như nguồn nước hay khí quyển... Do đó chỉ  
có Nhà nước nhân danh cộng đồng, quốc gia mới có thể tham gia vào các  
hoạt động chung nhằm bảo vệ nguồn nước chung hay bầu không khí  
chung, bảo vệ tầng ô zôn, giảm hiệu ứng nhà kính... Từ những lý do trên,  
chúng ta thấy rõ việc bảo vệ môi trường là cần thiết và cần được thực  
hiện thông qua Nhà nước. Tuy nhiên không thể phủ nhận vai trò của cộng  
đồng, người dân trong một quốc gia trong vấn đề bảo vệ môi trường. Bảo  
vệ môi trường - yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển các quốc  
gia, được thể hiện dưới các cấp độ khác nhau:  
- Cấp độ cá nhân: Môi trường ảnh hưởng tới từng cá nhân. Vì vậy,  
việc bảo vệ môi trường phải được coi là thuộc trách nhiệm của mỗi cá  
nhân.  
19  
- Cấp độ cộng đồng: Cộng đồng là tập thể người có gắn kết với nhau  
bằng những yếu tố kinh tế, xã hội hoặc tổ chức, chính trị. Ở cấp độ này, các  
biện pháp giáo dục, các hành động tập thể cần được chú trọng.  
- Cấp độ địa phương, vùng: Việt Nam thực hiện theo nguyên tắc địa  
giới hành chính  
- Cấp độ quốc gia: Thông qua hoạt động quản lý thống nhất của nhà  
nước trung ương.  
- Cấp độ quốc tế: Môi trường là vấn đề mang tính toàn cầu, là vấn đề  
chung của mọi quốc gia.  
2.2. Các biện pháp bảo vệ môi trường  
2.2.1. Biện pháp chính trị  
Biện pháp chính trị là việc bảo vệ môi trường thông qua hoạt động của  
Đảng phái, các tổ chức chính trị. Các đảng phái, các tổ chức này đưa ra  
cương lĩnh chủ trương bảo vệ môi trường và lãnh đạo cộng đồng thực hiện  
qua đó vừa nhằm mục đích bảo vệ môi trường vừa nhằm mục đích củng cố  
uy tín địa vị chính trị của tổ chức mình. Từ khuynh hướng này, ở một số  
quốc gia như Cộng hòa liên bang Đức đã xuất hiện Đảng Xanh với những  
đường lối chủ yếu là vận động và thực hiện những chủ trương nhằm bảo vệ  
môi trường. Đảng Xanh được xem là một đảng phái mạnh trong Quốc hội  
nhiều bang và Quốc hội cấp liên bang.  
Vấn đề bảo vệ môi trường bằng biện pháp tổ chức – chính trị ở Việt  
Nam thông qua Đảng cộng sản Việt Nam đưa ra chủ trương đường lối bảo  
vệ môi trường và lãnh đạo nhà nước thực hiện; kiện toàn hệ thống cơ quan  
quản lý nhà nước về môi trường; tổ chức các sinh hoạt chuyên đề về môi  
trường. Cách thức thực hiện này khác các nước khác là nhà nước không  
thành lập đảng phái về môi trường mà là chủ trương đường lối của Đảng  
đưa ra được thể chế hóa về pháp luật. Những văn kiện của Đảng đề cập trực  
tiếp đến vấn đề bảo vệ môi trường bao gồm: Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25  
tháng 6 năm 1998 của Bộ chính trị ban chấp hành trung ương Đảng khóa  
VIII về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa đất nước và Nghị quyết số 41 của Bộ chính trị ngày 15  
tháng 11 năm 2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các văn kiện này khẳng định: Bảo vệ  
20  
môi trường là vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại, là nhiệm vụ có  
tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo ở mỗi  
nước, với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế  
giới. Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Bảo vệ môi  
trường vừa là mục tiêu vừa là nội dung cơ bản của phát triển bền vững.  
2.2.2. Biện pháp kinh tế12  
Đây là biện pháp thị trường hay các cách tiếp cận thị trường đang  
ngày càng được nhiều nước sử dụng, nghĩa là sử dụng sức mạnh của thị  
trường để bảo vệ môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái. Tuy nhiên, khi áp  
dụng biện pháp này cần được cân nhắc một cách chặc chẽ để biện pháp này  
phù hợp với hệ thống tài chính, tập quán, truyền thống và năng lực của hệ  
thống hành chính, hệ thống thể chế của từng nước.  
Biện pháp kinh tế là những chính sách nhằm thay đổi chi phí và lợi ích  
của những hành động kinh tế thường xuyên tác động tới môi trường, tăng  
cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra hủy hoại môi trường. Biện pháp  
này được xem là một trong những phương tiện chính sách được sử dụng để  
đạt tới mục tiêu môi trường thành công do nó mềm dẻo, dễ lựa chọn cho  
người thực hiện.  
Biện pháp này được áp dụng đối với đối tượng gây ảnh hưởng chủ yếu  
và lớn nhất đến môi trường chính là các doanh nghiệp, các dự án phát triển,  
các cơ sở sản xuất – kinh doanh – dịch vụ. Mục tiêu hướng đến của các đối  
tượng này là lợi nhuận bỏ qua lợi ích về môi trường. Vì vậy, khi sử dụng  
biện pháp gắn lợi ích kinh tế với lợi ích bảo vệ môi trường sẽ giúp các đối  
tượng quan tâm hơn đến môi trường. Biện pháp kinh tế làm cho lợi ích kinh  
tế và lợi ích môi trường tạo thành một thể thống nhất. Biện pháp này gồm  
hai hình thức cơ bản là ngân sách bảo vệ môi trường và sử dụng phương  
pháp kích thích lợi ích, cụ thể:  
- Ngân sách bảo vệ môi trường bao gồm chi phí của Nhà nước và các  
giới kinh doanh; Quỹ bảo vệ môi trường; Thuế, phí, lệ phí môi trường, tài  
nguyên với mục đích hạn chế những nhu cầu không quan trọng, xác lập mức  
tối đa về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên hay gây sức ép buộc các nhà  
12 Xem thêm: Trần Thanh Lâm(2006), Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế, NXB Lao  
động, Hà Nội.  
21  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 79 trang Thùy Anh 11460 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật môi trường (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_moi_truong_phan_1.pdf