Pháp luật về bảo vệ quyền tác giả trong giao dịch thương mại điện tử - Vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG GIAO DỊCH THƢƠNG  
MẠI ĐIỆN TỬ - VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO VIỆT NAM TRONG  
BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ  
Trần Thu Hà  
Nguyễn Minh Châu  
TÓM TẮT: Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với trụ cột là Internet kết nối vạn  
vật đã tạo nên một nền kinh tế có cách thức vận hành mới. Đó là nền kinh tế số với  
thương mại điện tử (TMĐT) là xu thế tất yếu của thế giới nói chung và Việt Nam nói  
riêng. Tại Việt Nam, TMĐT đang tăng trưởng bứt phá, đặc biệt theo Báo cáo Thương  
mại điện tử Đông Nam Á 2020 của Google, Temasek và Bain & Company, thương mại  
điện tử Việt Nam tăng 16% và đạt quy mô trên 14 tỷ USD. Song hành với tốc độ phát  
triển vượt bậc này, những vi phạm liên quan đến QTG cũng ngày càng phổ biến, tinh  
vi hơn. Trên thực tế, việc xác định và xử lý hành vi xâm phạm QTG trên nền tảng  
TMĐT không dễ, thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu, cũng như  
gây ra tranh cãi trong dư luận, đặc biệt là các vụ việc liên quan đến lợi ích chung của  
công đồng, quốc gia, vùng miền. Vì vậy, cần nghiên cứu rõ thực trạng xâm phạm và  
pháp luật về bảo vệ QTG trong giao dịch TMĐT tại Việt Nam, từ đó dẫn tới đề xuất  
một số giải pháp góp phần hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ  
QTG trên nền tảng giao dịch TMĐT trong bối cảnh chuyển đổi số.  
Từ khóa: quyền tác giả, pháp luật bảo vệ quyền tác giả, giao dịch thương mại  
điện tử, thương mại điện tử, chuyển đổi số.  
lead, has created an economy with a new way of regulating. It is a digital economy  
with E-commerce as a mainstream of the world in general and Vietnam in particular.  
In Vietnam, E-commerce is growing rapidly, especially according to the Southeast  
Sinh viên Trƣờng Đại học Luật Hà Nội; Email: [email protected]  
 Sinh viên Trƣờng Đại học Luật Hà Nội  
322  
Asia E-commerce Report 2020 of Google, Temasek, and Bain & Company, Vietnamese  
e-commerce increased by 16% and attained a size of over 14 billion USD. Parallel to  
this rapid development, Copyright related violations are also more common and more  
sophisticated. In fact, it is not easy to identify and handle acts of infringement of  
copyright on e-commerce platforms, drawing the attention of regulators and  
researchers, as well as causing contention in public opinion, especially situations  
involving the common interests of the community, country or region. Therefore, it is  
necessary to explicitly research the actual situation of infringement and the law on  
protection of copyright in E-commerce transactions in Vietnam, thereby leading to  
propose some solutions to contribute to the improvement of legal regulations and  
improve the effectiveness of copyright protection on e-commerce trading platforms in  
Keywords: Copyright, law of copyright protection, E-commerce transactions, E-  
commerce, Digital Transformation.  
1. Đặt vấn đề  
Trong bối cảnh chuyển đổi số, Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong quản lý tình  
trạng xâm phạm quyền tác giả (QTG) trong giao dịch trên nền tảng thƣơng mại điện tử  
(TMĐT), bao gồm thông qua các kênh phát trực tuyến, trang web cho phép tải nội  
dung, mạng ngang hàng (Peer to Peer), trang web liên kết, trang web phát trực tiếp  
video, dịch vụ chia sẻ tệp của bên thứ ba, thị trƣờng trực tuyến và mạng xã hội1. Vì  
thế, nghiên cứu để hƣớng tới việc tăng cƣờng quản lý sở hữu trí tuệ nói chung và  
quyền tác giả nói riêng trong môi trƣờng giao dịch TMĐT là điều vô cùng cấp bách.  
2. Thực trạng xâm phạm quyền tác giả trong giao dịch thƣơng mại điện tử tại  
Việt Nam  
Qua khảo sát, hành vi xâm phạm QTG trong TMĐT ở Việt Nam hiện nay ngày  
càng phổ biến, phức tạp ở nhiều lĩnh vực và rất khó kiểm soát, điển hình trong lĩnh vực  
điện ảnh, truyền hình và báo chí, xuất bản.  
* Trong lĩnh vực điện ảnh, truyền hình: Các trang web xâm phạm QTG có  
lƣợng ngƣời truy cập cao hơn rất nhiều so với các trang chính thống của những đơn vị  
1 Liên minh SHTT quốc tế (2021), Báo cáo đặc biệt 301 năm 2021 của Liên minh SHTT quốc tế (IIPA) về thực  
trạng bảo hộ và thực thi bản quyền: Việt Nam Washington D.C: Liên minh SHTT quốc tế,  
323  
phát hành phim tại Việt Nam, bởi hoàn toàn không khó khăn để mua trực tuyến các  
sản phẩm đƣợc sao chép lậu, xâm phạm QTG đang đƣợc bảo hộ tại Việt Nam2. Theo  
báo cáo đặc biệt 301 năm 2021 của Liên minh quốc tế SHTT (IIPA), Việt Nam hiện là  
nơi lƣu trữ một số trang web vi phạm bản quyền phổ biến nhất trên thế giới, chẳng hạn  
nhƣ các trang Phimmoi và Chiasenhac; hơn hết một vấn đề ngày càng gia tăng liên  
quan đến các thiết bị phát trực tuyến vi phạm bản quyền (PDs) và ứng dụng (apps)  
đang đƣợc sử dụng để truy cập nội dung bất hợp pháp. Thời gian vừa qua, các Đài  
Phát thanh và Truyền hình và các Hiệp hội bảo vệ Bản quyền nội dung số, Cục  
PTTH&TTĐT cũng đã công bố danh mục một số webssite có dấu hiệu vi phạm bản  
quyền truyền hình trên mạng Internet bao gồm top 5 website xâm phạm QTG phổ biến  
là phimvtv3.net, tapcuoi.net, phimotv.net, vtvphim.com, phimmoi.info3...  
Hiện nay, Youtube, Facebook, Tiktok... đƣợc coi là những nền tảng hàng đầu, là  
công cụ mà nhiều đơn vị vi phạm bản quyền đang hƣớng tới. Theo đó, với tính năng  
Facebook watch, ngƣời xem dễ dàng bắt gặp những đoạn video vi phạm bản quyền  
trắng trợn. Ví dụ nhƣ vào những khung giờ vàng chiếu những bộ phim thu hút nhiều  
khán giả thì đã có rất nhiều tài khoản Youtube và Facebook đã tự ý phát sóng trực tiếp,  
đồng thời chèn rất nhiều hình ảnh quảng cáo với hàng trăm nghìn lƣợt ngƣời xem trực  
tiếp4.  
* Trong lĩnh vực báo chí, xuất bản:  
Tình trạng sản xuất bản sao tác phẩm mà không đƣợc phép của chủ sở hữu là vấn  
nạn không mới tại Việt Nam, song gần đây việc phân phối các bản sao trái phép giá rẻ  
trên các sàn TMĐT đang khiến cho nhiều đơn vị xuất bản thiệt hại nghiêm trọng về tài  
chính và lòng tin của độc giả. Cụ thể nhƣ: Trong quý I/2021, Công ty Văn hóa và Sáng  
tạo Trí Việt - First News đã phát hiện có đến hàng chục fanpage trên facebook rao bán  
cuốn “Thay đổi cuộc sống với nhân số học” với giá thấp kỷ lục: 75.000đ, thậm chí đồng  
giá 19.000đ và… 1.000đ (trong khi giá sách thật là 248.000đ). First News đã kiên trì theo  
dõi, đặt sách nhiều lần từ các fanpage này nhƣ: Tủ sách Tinh Hoa, Kho sách Việt, Mọt  
2
EUROCHAM (2020), Sách trắng 2020 (Ấn phẩm lần thứ 12) về các ván đề thương mại & đầu tư và khuyến  
nghị. Eurocham tại Việt Nam.  
3 Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục Phát thanh, Truyền hình và thông tin điện tử (2019), Bảo vệ bản quyền nội  
dung,  
quyen-noi-dung-chuong-trinh-truyen-hinh/107009>, truy cập lần cuối ngày 14/08/2021.  
Đình Trƣờng, Lan Nhi (2021), Xử lý tận gốc vi phạm bản quyền trên các nền tảng xuyên biên giới,  
truy cập lần cuối ngày 14/08/2021.  
324  
sách Hà Nội... và chỉ nhận về toàn sách giả, sách kém chất lƣợng”. Ngoài ra, còn rất  
nhiều đầu sách best-seller khác của đơn vị này bị làm giả, nhƣ: “Hành trình về phương  
Đông”, “Đắc nhân tâm”, “Muôn kiếp nhân sinh”5… Có thể thấy, không chỉ là sách giả  
đƣợc rao bán trên mạng, hiện tại đang có nhiều diễn đàn công khai chia sẻ những truyện  
tranh, truyện đọc hoàn toàn miễn phí, sách nói miễn phí... Số truy cập từ vài nghìn đến cả  
trăm nghìn lƣợt cho một bản sách cũng đủ thấy, chất xám của tác giả cũng nhƣ quyền lợi  
của đơn vị xuất bản chân chính đang bị xâm hại nghiêm trọng.  
Các cơ quan chức năng tại Việt Nam hiện nay cũng gặp nhiều khó khăn trong việc  
phát hiện và xử lý các hành vi xâm phạm QTG trong TMĐT, đặc biệt là trong bối cảnh  
chuyển đổi số bởi lẽ các trang TMĐT vi phạm cung cấp các nội dung xâm phạm QTG rất  
đa dạng, bao gồm nhạc, phim, chƣơng trình máy tính, trò chơi và các ấn phẩm điện tử.  
Mô hình hoạt động của các website này bao gồm các webssite lƣu trữ cho phép nghe  
nhạc nhạc trực tuyến và tải xuống nhƣ chiasenhac, zing.vn, nghenhac.info; các liên kết  
sâu (deepliking) cho phép tiếp cận các tài liệu xâm phạm hay các cỗ mãy tìm kiếm hƣớng  
vào các tài liệu xâm phạm QTG nhƣ Bamboo.com, Socbay.com; các webssite diễn đàn  
nhƣ forum.trasua.vn, kenh14.vn... Tuy nhiên, cho tới nay chƣa có vụ án hình sự nào và  
chỉ có một số ít các vụ án dân sự về xâm phạm QTG của các website TMĐT tại Việt  
Nam. Mặc dù cơ chế thực thi phổ biến nhất trong lĩnh vực xâm phạm QTG chủ yếu là xử  
lý hành chính nhƣng chƣa thực sự hiệu quả. Hơn hết, trong trƣờng hợp không có các  
nghĩa vụ rõ ràng theo pháp luật trong việc hỗ trợ các chủ thể quyền, các website  
TMĐT kinh doanh các đối tƣợng đƣợc bảo hộ QTG cũng ít hợp tác với các chủ thể  
quyền trong việc xử lý xâm phạm trên dịch vụ của mình hoặc việc phản hồi các yêu  
cầu dỡ bỏ nội dung xâm phạm. Vì thế vẫn tồn tại một lƣợng lớn các website chủ động  
phân phối các bản ghi xâm phạm QTG hay có hoạt động kinh doanh dựa hoàn toàn  
trên việc phân phối các bản ghi xâm phạm QTG6...  
3. Quy định về bảo vệ quyền tác giả trong giao dịch thƣơng mại điện tử theo pháp  
luật Việt Nam  
Bên cạnh cơ sở pháp pháp lý cho sự phát triển của TMĐT là việc ban hành Luật  
Giao dịch điện tử năm 2005 và Luật Công nghệ thông tin (CNTT) năm 2006, Nghị  
5 Minh Nhiên (2021), Sách giả lộng hành trên không gian mạng,  
ngày 14/08/2021.  
6 Phạm Thị Mai Khanh (2016), Quyền SHTT trong TMĐT, Luận án tiến sĩ, Hà Nội, tr. 114.  
325  
định 52/2013/NĐ-CP về TMĐT (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 08/2018/NĐ-CP) và  
Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông  
tin trên mạng, thì các nội dung liên quan đến xác định phạm vi bảo hộ và bảo vệ QTG  
nói chung và bảo vệ QTG trong TMĐT đã đƣợc quy định khá chi tiết trong Luật Sở  
hữu trí tuệ năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019 (LSHTT) và các văn bản dƣới luật.  
Pháp luật Việt Nam hiện hành đã quy định về quyền sao chép và quyền truyền đạt tác  
phẩm đến công chúng tại Khoản 2 Điều 21 Nghị định 22/2018/NĐ-CP nhằm giải  
quyết các vấn đề liên quan đến hành vi khai thác tác phẩm mới trong TMĐT. Đồng  
thời, LSHTT có quy định hành vi xâm phạm QTG trong TMĐT bao gồm: (i) Nhân  
bản, sản xuất bản sao, phân phối, trƣng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng  
qua mạng truyền thông và các phƣơng tiện kỹ thuật số mà không đƣợc phép của chủ  
sở hữu quyền tác giả; (ii) Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ  
sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình; (iii)  
Cố ý xóa, thay đổi thông tin quản lý quyền dƣới hình thức điện tử có trong tác phẩm;  
(iv) Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê  
thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do  
chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của  
mình7. Tuy nhiên, các quy định hiện hành chƣa có sự phân biệt giữa các bản sao điện  
tử cố định và các bản sao tạm thời trong quá trình truyền đƣa, trình duyệt nội dung  
cũng nhƣ chƣa có án lệ và hƣớng dẫn liên quan tới hành vi xem trực tuyến hay liên kết  
website TMĐT. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chƣa có quy định về ngoại lệ đối với  
việc vô hiệu hóa các biện pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo thực thi các hành vi sử dụng  
hợp lý đƣợc phép theo quy định của luật và không có quy định về ngoại lệ đối với  
hành vi cung cấp các thiết bị có khả năng can thiệp vào các DRM8 những có mục đích  
hợp pháp là chủ yếu9.  
Hơn nữa, Nghị định 131/2013/NĐ-CP đã có nhiều thay đổi tạo điều kiện thuận  
lợi cho việc thực thi QTG trong môi trƣờng TMĐT nhƣ đƣa ra nguyên tắc xác định  
7 Khoản 10, 12, 13, 14 Điều 28 Luật SHTT năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019.  
8
DRM (Digital rights management): một cách kiểm soát bản quyền nội dung dữ liệu số dựa vào mã hóa. Bằng  
cách sử dụng DRM, đơn vị sở hữu bản quyền có thể kiểm soát cách ngƣời dùng (ngƣời mua sản phẩm số) sử  
dụng sản phẩm của họ. Ví dụ nhƣ: giới hạn số lần cài đặt file, giới hạn thời gian sử dụng, giới hạn đối tƣợng sử  
dụng file  
9
Phạm Minh Huyền (2020), Bảo hộ quyền tác giả trong TMĐT - Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Dân chủ và  
Pháp luật – Số chuyên đề 7, tr. 15-20.  
326  
mức xử phạt hành chính đối với xâm phạm QTG dựa trên hành vi xâm phạm chứ  
không phải là giá trị hàng hóa bị xâm phạm QTG; quy định cá nhân, tổ chức thực hiện  
hành vi xâm phạm còn bị buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả theo Điều 3 của  
Nghị định. Đặc biệt, Điều 30 của Nghị định quy định mức phạt đối với hành vi xâm  
phạm quyền áp dụng biện pháp công nghệ để tự bảo vệ QTG dƣới ba dạng (xóa bỏ  
thông tin quản lý quyền, vô hiệu hóa biện pháp kỹ thuật và cung cấp thiết bị hoặc tạo  
điều kiện cho việc can thiệp và vô hiệu hóa DRM) với hai biện pháp khắc phục hậu  
quả là buộc tái xuất và buộc tiêu hủy tang vật vi phạm.  
Luật CNTT năm 2006 đã có cách tiếp cận “theo chiều ngang” liên quan đến cơ  
chế trách nhiệm giới hạn đối với xâm phạm QTG của các ISP10, đó là sử dụng cách  
phân loại và điều kiện miễn trách nhiệm của DMCA11 theo các chức năng chính:  
truyền đƣa (Điều 16), lƣu trữ tạm thời (Điều 17), cho thuê chỗ lữu trữ (Điều 18) và các  
công cụ tìm kiếm thông tin (Điều 18, 19). Theo Luật CNTT, các ISP cũng không phải  
chịu trách nhiệm theo dõi, giám sát thông tin, điều tra các hành vi vi phạm pháp luật  
xảy ra trong quá trình truyền đƣa hoặc lƣu trữ thông tin số của tổ chức, cá nhân khác,  
hay cung cấp thông tin về khách hàng, trừ trƣờng hợp cơ quan nhà nƣớc có thẩm  
quyền yêu cầu (Điều 20). Tuy nhiên, cho dù có quy định về cơ chế thông báo và dỡ bỏ  
liên quan đến điều kiện miễn trách nhiệm của các ISP cho thuê chỗ lƣu trữ và các công  
cụ tìm kiếm thông tin, theo Luật CNTT, các ISP này chỉ phải dỡ bỏ các nội dung xâm  
phạm QTG trong trƣờng hợp tự mình phát hiện hoặc bị bắt buộc theo lệnh của cơ quan  
nhà nƣớc có thẩm quyền.  
Ngoài ra, khi xét đến đối tƣợng áp dụng là các ISP, Thông tƣ liên tịch số  
07/2012/TTLT-BTTTT-BVHTTDL đƣợc ban hành đã có một bƣớc tiến khi đề cập đến  
các ISP “kiểu mới” nhƣ các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến và  
các doanh nghiệp viễn thông. Tuy nhiên, Thông tƣ 07 về cơ bản chỉ quy định trách  
nhiệm của ISP tại Điều 5 và quy định này không có gì mới so với Luật CNTT và  
SHTT. Chính vì việc không quy định trách nhiệm đói với từng loại ISP theo chức năng  
hay hoạt động mà ISP thực hiện đã dẫn đến một số điều khoản của Thông tƣ không có  
khả năng áp dụng. Điển hình nhƣ trách nhiệm “lưu trữ nội dụng thông tin số trong hệ  
10 Internet service provider: nhà cung cấp dịch vụ mạng  
11 Digital Millennium Copyright Act: Luật Bản quyền năm 1998 của Hoa Kỳ  
327  
thống cung cấp dịch vụ của mình chỉ mang tính chất trung chuyển, tạm thời, tự động,  
có thời hạn, đủ để đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của việc truyền tải nội dung” quy định tại  
Điều 5.1 chắc chắn không thể áp dụng với ISP lƣu trữ thông tin số. Tƣơng tự, trách  
nhiệm dỡ bỏ và xóa nội dung thông tin số khi nhận đƣợc yêu cầu của cơ quan có thẩm  
quyền theo Điều 5.3 của Thông tƣ cũng không áp dụng cho các doanh nghiệp truyền  
đƣa đơn thuần hay cung cấp dịch vụ truy cập Internet.  
4. Dự báo xu hƣớng về hành vi xâm phạm và áp dụng biện pháp bảo vệ quyền tác  
giả trong giao dịch thƣơng mại điện tử tại Việt Nam  
Với sự phủ sóng của Internet và sự gia tăng mạnh mẽ của thƣơng mại điện tử,  
trao đổi thông tin và tri thức, hệ thống sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói  
riêng ngày càng trở nên cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển một cách có trật tự của  
xã hội kỹ thuật số. Nhận thức đƣợc vấn đề này, từ lâu, Việt Nam đã ban hành nhiều  
văn bản quy phạm pháp luật và tăng cƣờng thực thi, bảo vệ QTG trong môi trƣờng  
TMĐT. Tuy vậy, mặc dù đã có sự điều chỉnh của pháp luật, hành vi xâm phạm quyền  
tác trong môi trƣờng kinh doanh, giao dịch TMĐT vẫn đã và đang diễn ra thƣờng  
xuyên, càng ngày càng có xu hƣớng gia tăng nghiêm trọng, các hành vi xâm phạm  
càng phức tạp, khó lƣờng hơn. Bởi, khả năng tiếp cận, lƣu trữ, và chia sẻ, phát tán các  
đối tƣợng đƣợc bảo hộ trong môi trƣờng số giữa ngƣời dùng với nhau ngày càng dễ  
dàng, thuận tiện hơn do việc áp dụng công nghệ hiện đại. Hành vi xâm phạm sẽ diễn ra  
với tất cả các loại hình tác phẩm, từ tác phẩm văn học, âm nhạc, điện ảnh, nhiếp ảnh,  
mỹ thuật ứng dụng đến khoa học, chƣơng trình máy tính... Hình thức xâm phạm cũng  
rất đa dạng, từ xâm phạm quyền nhân thân nhƣ quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác  
phẩm, quyền công bố tác phẩm... đến xâm phạm quyền tài sản nhƣ quyền sao chép,  
quyền truyền đạt, phân phối tác phẩm...  
Trong thƣơng mại điện tử, có một số lƣợng lớn hàng hoá, dịch vụ có thể đƣợc  
phân phối, giao dịch trực tiếp thông qua nền tảng số. Và nhƣ đã phân tích, trong số các  
hàng hoá này, các nôi dung đƣợc bảo vệ bởi QTG chiếm tỷ trọng lớn. Mọi thứ trong  
không gian ảo đƣợc cấu thành bởi các bit, mã nhị phân là cơ sở của máy tính. Dƣới  
dạng số, các tác phẩm có khả năng đƣợc sao chép hoàn hảo; không chỉ một lần, mà vô  
hạn lần với chất lƣợng không hề bị giảm sút. Với các phƣơng tiện truyền thông số, một  
bản sao chính là bản gốc. Ngoài ra, sự dễ dàng trong việc thay đổi tác phẩm số cũng đe  
328  
dọa quyền nhân thân của các tác giả. Việc xóa hoặc thay đổi tên tác giả hoặc thay đổi,  
chỉnh sửa nội dung tác phẩm cấu thành xâm phạm quyền nhân thân cơ bản của tác giả,  
đồng thời góp phần phổ biến cho công chúng những thông tin sai lệch và bị điều  
chỉnh. Trong nhiều trƣờng hợp, ngƣời sử dụng không có phƣơng tiện để kiểm tra xem  
cái mà họ nhận đƣợc trên màn hình là tác phẩm nguyên gốc hay một tài liệu đã bị  
chỉnh sửa. Tính nặc danh, tính rộng khắp và bản chất “không biên giới” của các giao  
dịch TMĐT cũng góp phần khiến cho chủ sở hữu tài liệu số không có quyền kiểm soát  
an toàn đối với việc phân phối và sử dụng tác phẩm của mình sau này. Và vì vậy, hành  
vi sao chép, hành vi sửa chữa, cắt xén tác phẩm trái phép sẽ là hành vi xâm phạm hàng  
đầu trong hiện tại và tƣơng lai. Từ hai hành vi trên, dẫn tới việc xâm phạm những  
quyền khác nhƣ mạo danh tác giả, phổ biến tác phẩm đến công chúng. Ngƣời dùng sau  
khi tiến hành hành vi sao chép, cắt xén trái phép sẽ tiếp tục đăng lên nền tảng thƣơng  
mại điện tử. Họ có thể tự ý viết tên mình thành tác giả để đƣa vào các giao dịch nhƣ  
quảng cáo bán sản phẩm, dịch vụ kinh doanh của bản thân. Ngƣời dùng cũng có thể  
thực hiện hành vi khác sau khi sao chép tác phẩm trái phép là tự ý công bố ra công  
chúng hoặc đƣa vào nội dung sản phẩm kinh doanh trên sàn thƣơng mại điện tử nhằm  
mục đích thực hiện các giao dịch nhƣ mua bán, cho thuê....  
Hơn nữa, các cách thức tiến hành hành vi xâm phạm sẽ ngày càng khó lƣờng và  
tinh vi hơn với việc khai thác sự phát triển công nghệ (Peer to Peer, Bit Torrent,...),  
khiến việc xác định và xử lí hành vi xâm phạm gặp khó khăn hơn. Ví dụ nhƣ việc các  
website không trực tiếp lƣu trữ kho tác phẩm hoặc không cho phép ngƣời sử dụng trực  
tiếp nghe nhạc, xem phim trực tuyến hay download tác phẩm mà chỉ đơn giản là cung  
cấp các đƣờng link để ngƣời sử dụng có thể truy cập vào các kho dữ liệu này. Không  
phải trong mọi trƣờng hợp, việc cung cấp các đƣờng Link chia sẻ dữ liệu đều là sự vi  
phạm bản quyền vì nhiều Website cho phép truy cập miễn phí. Việc xác định hành vi  
xâm phạm quyền trong trƣờng hợp này là không đơn giản. Hoặc với mạng ngang hàng  
(Peer to Peer) các máy tính hoàn toàn có thể chia sẻ các dữ liệu với nhau, trong trƣờng  
hợp này không dễ để xác định đƣợc hành vi xâm phạm và quy trách nhiệm đối với  
hành vi vi phạm bản quyền. Hay nhƣ hiện tƣợng các trang web phát tán phim lậu thuê  
các dịch vụ lƣu trữ đám mây của Facebook, Google, Fshare, Openload... Chủ sở hữu  
các trang web phim lậu thƣờng bỏ tiền mua các tài khoản lƣu trữ đám mây không giới  
329  
hạn dung lƣợng với giá rất rẻ để lƣu trữ phim. Mỗi khi một đơn vị cho thuê dịch vụ  
đám mây thay đổi chính sách và có biện pháp ngăn chặn thì các website phim lậu lại  
đổi sang nơi khác để thuê. Tuy các biện pháp công nghệ đã đƣợc áp dụng để ngăn  
chặn hành vi xâm phạm nhƣng các thiết bị và công nghệ để vô hiệu hóa các biện pháp  
bảo vệ cũng đƣợc nghiên cứu và phát triển song song.  
Trƣớc thực trạng xâm phạm QTG trong TMĐT, Việt Nam kịp thời xử lý nhiều  
trƣờng hợp, tuy nhiên hầu nhƣ chỉ dừng lại ở biện pháp tự bảo vệ hoặc xử lý hành  
chính. Trong khi đó, những năm gần đây, Việt Nam đã tham gia vào nhiều hiệp định  
thƣơng mại tự do thế hệ mới, và vấn đề thực thi QTG bằng biện pháp hình sự là một  
trong những nội dung quan trọng đƣợc các nƣớc quan tâm. Các nƣớc phát triển cũng  
có xu hƣớng “hình sự hóa” các hành vi xâm phạm QTG trong môi trƣờng mạng nhƣ  
Hoa Kỳ, Nhật Bản... Vì thế, Việt Nam cũng nên xem xét trong thời gian tới tăng  
cƣờng việc xét xử các chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm theo thủ tục dân sự và hình  
sự để vừa tăng cƣờng tính răn đe vừa bảo vệ đƣợc quyền lợi một cách hiệu quả nhất.  
5. Đề xuất các giải pháp bảo vệ quyền tác giả trong giao dịch thƣơng mại điện tử  
tại Việt Nam  
Thực tế cho thấy, việc bảo hộ QTG trong môi trƣờng số còn nhiều thách thức.  
Vì, không có tổ chức đơn lẻ nào kiểm soát hoàn toàn Internet và Internet cũng không  
có cơ sở tập trung dữ liệu duy nhất. Bản thân Internet cũng không có biên giới. Do đó,  
không ai có thể kiểm soát đƣợc dữ liệu cũng nhƣ nội dung thông tin trên Internet. Với  
những thách thức đó, đòi hỏi cần có nhiều biện pháp kết hợp với nhau để bảo vệ tốt  
nhất QTG trong giao dịch TMĐT.  
Thứ nhất, cần ban hành một văn bản quy phạm pháp luật riêng về bảo hộ  
QTG trong TMĐT  
Hiện nay, các quy định về bảo vệ QTG trong TMĐT đƣợc quy định chung trong  
LSHTT và nhiều văn bản chuyên ngành khác nhƣ Luật CNTT, Luật Giao dịch điện tử  
và các văn bản về TMĐT và rải rác trong một số nghị định khác. Điều này dẫn đến  
thực trạng khó tra cứu và áp dụng thống nhất các quy định pháp luật đặc thù về bảo vệ  
QTG trong TMĐT. Vì thế, học hỏi từ Hoa Kỳ, Việt Nam trong bối cảnh tăng cƣờng  
hợp tác quốc tế và hƣớng tới cuộc cách mạng công nghệ 4.0 cần thiết phải ban hành  
các quy định riêng biệt, độc lập và đƣợc đặt trong một văn bản pháp luật thống nhất về  
330  
bảo hộ QTG trong TMĐT. Điều này không chỉ mang tính hình thức, kỹ thuật mà còn  
thể hiện đƣợc tính chất đặc thù, khác biệt trong việc bảo hộ QTG giữa môi trƣờng  
truyền thống và trong TMĐT. Bởi, bối cảnh chuyển đối số đang diễn ra với tốc độ  
nhanh chóng, vƣợt bậc, trong tƣơng lai, môi trƣờng số nói chung và TMĐT nói riêng  
sẽ trở thành một môi trƣờng chính thống, cần sự can thiệp của pháp luật vào mọi khía  
cạnh.  
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung một số quy định mang tính đặc thù về bảo hộ QTG  
trong giao dịch TMĐT trong LSHTT và các văn bản liên quan.  
Đầu tiên, về khái niệm “công bố lần đầu tiên” khó xác định trong môi trƣờng số.  
Thông thƣờng, tác phẩm đƣợc giới thiệu đến công chúng ở một địa điểm cụ thể nào  
đó. Tuy nhiên, bản chất của môi trƣờng số hay TMĐT là không biên giới, cũng không  
phải môi trƣờng vật chất thông thƣờng. Ranh giới không gian cá nhân và không gian  
công cộng trong môi trƣờng số cũng khó xác định rõ ràng. Vì thế, nếu dùng phƣơng  
thức truyền thống để xác định một tác phẩm kĩ thuật số đƣợc “công bố lần đầu tiên”  
trong môi trƣờng số là rất khó. Thiết nghĩ, nên mở rộng khái niệm “công bố lần đầu  
tiên” và sửa đổi sao cho tƣơng thích với các tính chất của không gian số.  
Tiếp theo, bổ sung các biện pháp chế tài mang tính đặc thù để áp dụng đối với  
riêng hành vi xâm phạm QTG trong TMĐT. So với môi trƣờng truyền thống, việc thu  
thập chứng cứ cũng nhƣ xác định mức độ thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra trong  
môi trƣờng TMĐT thƣờng khó khăn hơn, và mức độ thiệt hại nghiêm trọng hơn bởi  
tốc độ lan truyền, lƣu trữ không giới hạn của không gian mạng. Bên cạnh đó, cơ sở để  
xác định mức độ giảm sút về kinh tế nhƣ thu nhập, lợi nhuận, cơ hội kinh doanh, cơ  
hội tiếp cận ngƣời dùng đối với lĩnh vực QTG trong TMĐT cũng mơ hồ bởi việc sử  
dụng tác phẩm phụ thuộc vào sở thích, tâm lý của công chúng. Vì vậy, cách thức xác  
định thiệt hại và cách tính mức độ bồi thƣờng thiệt hại cũng cần thể hiện rõ điểm khác  
biệt để tƣơng ứng với những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà chủ thể quyền phải  
nhận lấy khi có bị xâm phạm QTG. Biện pháp xử phạt theo đó cũng cần cụ thể đối với  
từng hành vi xâm phạm QTG trong TMĐT. Những biện pháp đó không chỉ mang tính  
trừng trị mà còn có tính răn đe và có thể lan truyền nhằm cảnh báo trên toàn không  
gian mạng.  
331  
Tiếp đó, Việt Nam cần giới hạn trách nhiệm đối với việc vô hiệu hoá và  
tạo điều kiện cho việc vô hiệu hoá các DRMs nhƣ một dạng trách nhiệm đối với  
hành vi tạo điều kiện cho việc xâm phạm các độc quyền tác giả. Việt Nam cũng  
nên có các quy định về ngoại lệ đối với việc vô hiệu hóa các biện pháp kỹ thuật  
nhằm đảm bảo thực thi các hành vi sử dụng hợp lý (ngoại lệ) đƣợc phép theo luật và  
không có quy định về ngoại lệ đối với hành vi cung cấp các thiết bị có khả năng can  
thiệp vào các DRM nhƣng chủ có mục đích hợp pháp là chủ yếu.  
Nghị định 131/2013/NĐ-CP đã có nhiều thay đổi có lợi cho việc thực thi  
QTG trong môi trƣờng internet và TMĐT. Bên cạnh các đổi mới khác, Nghị định  
đã tăng tính khả thi trong việc thực thi QTG khi đƣa ra nguyên tắc xác  
định mức xử phạt hành chính đối với xâm phạm QTG dựa trên hành vi xâm phạm  
chứ không phải là giá trị hàng hóa bị xâm phạm QTG. Đặc biệt, theo Nghị định  
131/2013, cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm còn bị buộc thực hiện biện  
pháp khắc phục hậu quả nhƣ: buộc sửa lại đúng tên tác giả, tác phẩm, tên ngƣời  
biểu diễn; buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm xâm phạm QTG phạm dƣới hình thức điện  
tử, trên môi trƣờng Internet và kỹ thuật số (Điều 3 và các nội dung liên quan). Đặc  
biệt, Điều 20 của Nghị định 131/2013 quy định mức phạt đối với hành vi xâm phạm  
quyền áp dụng biện pháp công nghệ để tự bảo vệ quyền tác giả dƣới ba dạng (xóa  
bỏ thông tin quản lý quyền, vô hiệu hóa biện pháp kỹ thuật và cung cấp thiết bị  
hoặc tạo điều kiện cho việc can thiệp và vô hiệu hóa DRM). Mặc dù vậy, Nghi  
định không đề cập tới khả năng miễn trách nhiệm đối với các hành vi vô hiệu hoá.  
Ngoài ra, để tăng tính kịp thời và nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của chủ thể  
quyền, pháp luật có thể quy định theo hƣớng cho phép chủ thể quyền trực tiếp yêu cầu  
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian (CCDVTG) gỡ bỏ và xoá nội dung thông tin  
vi phạm, đồng thời chủ thể quyền phải gửi đơn thông báo cho cơ quan có thẩm quyền  
về hành vi vi phạm này. Nếu sau một thời hạn nhất định mà doanh nghiệp CCDVTG  
không thực hiện theo yêu cầu của chủ thể quyền thì cơ quan có thẩm quyền sẽ trực tiếp  
yêu cầu doanh nghiệp CCDVTG thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Trong  
trƣờng hợp yêu cầu của chủ thể quyền là không có căn cứ và gây thiệt hại cho doanh  
nghiệp CCDVTG thì chủ thể quyền cũng phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình.  
Tùy mức độ và tính chất của vụ việc, các nhà cung cấp phải chịu tùy loại trách nhiệm  
332  
khác nhau: trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự. Đồng  
thời, pháp luật cũng cần quy định thêm cơ chế giám sát việc gỡ bỏ và xoá nội dung  
thông tin vi phạm của doanh nghiệp CCDVTG. Việc giám sát này có thể đƣợc trao cho  
chính chủ thể quyền hoặc cơ quan có thẩm quyền thực hiện. Nếu doanh nghiệp  
CCDVTG không thực hiện việc gỡ bỏ và xoá nội dung thông tin vi phạm thì cũng cần  
có chế tài đƣợc đặt ra đối với họ.  
Thứ ba, một số biện pháp khác  
Cần tiếp tục thực hiện và đẩy mạnh một số biện pháp nhƣ nâng cao năng lực  
công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý hành vi xâm phạm của các cơ quan nhà nƣớc có  
thẩm quyền. Bên cạnh đó, ý thức ngƣời sử dụng đóng vai trò mấu chốt trong việc tạo  
ra một môi trƣờng mạng tôn trọng sở hữu trí tuệ. Vì thế, cần tuyên truyền trên các  
phƣơng tiện thông tin đại chúng. Cuối cùng, trong môi trƣờng số với tính chất không  
biên giới, việc giao thoa giữa các nền pháp luật của các quốc gia là điều cần thiết. Đặc  
biệt, vấn đề QTG trong môi trƣờng số là một đối tƣợng SHTT có phạm vi sử dụng  
không giới hạn, không chịu sự kiểm soát của bất kì quốc gia nào. Do đó, cần tăng  
cƣờng hợp tác quốc tế với những đất nƣớc có pháp luật và công nghệ kĩ thuật hiện đại  
hơn nhƣ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc. Tất cả nhằm hƣớng tới một Việt Nam phát  
triển về pháp luật nói chung và bảo hộ QTG trong TMĐT nói riêng trong môi trƣờng  
số xuyên quốc gia.  
6. Kết luận  
Bối cảnh chuyển đổi số đòi hỏi Việt Nam cần hoàn thiện pháp luật và quá trình  
thực thi pháp luật ở mọi khía cạnh, đặc biệt là với lĩnh vực QTG trong giao dịch  
TMĐT. Bởi, những hành vi xâm phạm vẫn đang diễn ra từng ngày, từng giờ, với mức  
độ ngày càng trầm trọng. Tạo ra đƣợc một môi trƣờng bảo hộ sở hữu trí tuệ nói chung  
và quyền tác giả nói riêng trong không gian mạng sẽ là nền tảng phát triển một môi  
trƣờng số lành mạnh ở nƣớc ta.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục Phát thanh, Truyền hình và thông tin điện  
tử (2019), Bảo vệ bản quyền nội dung, https://abei.gov.vn/bao-ve-ban-quyen-noi-  
333  
trinh-truyen-hinh/107009, truy cập lần cuối ngày 14/08/2021.  
2. Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2019), Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong thương  
mại điện tử - Kinh nghiệm quốc tế và hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam, Đề tài nghiên  
cứu khoa học cấp Trƣờng, Hà Nội.  
3. EUROCHAM (2020), Sách trắng 2020 (Ấn phẩm lần thứ 12) về các vấn đề  
thương mại & đầu tư và khuyến nghị, Eurocham tại Việt Nam.  
4. Phạm Minh Huyền (2020), Bảo hộ quyền tác giả trong thương mại điện tử -  
Thực trạng và giải pháp, Tại chí Dân chủ và Pháp luật – Số chuyên đề 7, Hà Nội.  
5. Phạm Thị Mai Khanh (2016), Quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử,  
Luận án tiến sĩ, Hà Nội.  
6. Vũ Thị Phƣơng Lan (2017), Môi trường kĩ thuật số và thách thức đối với bảo  
hộ quyền tác giả, Tạp chí Luật học số 11/2017, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.  
7. Liên minh SHTT quốc tế (2021), Báo cáo đặc biệt 301 năm 2021 của Liên  
minh SHTT quốc tế (IIPA) về thực trạng bảo hộ và thực thi bản quyền: Việt Nam  
Washington D.C: Liên minh SHTT quốc tế,  
cuối ngày 14/08/2021.  
8. Minh Nhiên (2021), Sách giả lộng hành trên không gian mạng,  
mang/ , truy cập lần cuối ngày 14/08/2021.  
9. Ngô Trọng Quân, Trần Phƣơng Anh (2019), Trách nhiệm pháp lí của nhà  
cung cấp dịch vụ trung gian với vi phạm quyền tác giả trên Internet, Tạp chí Luật học  
số 1/2019, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.  
10. Đình Trƣờng, Lan Nhi (2021), Xử lý tận gốc vi phạm bản quyền trên các nền  
tren-cac-nen-tang-xuyen-bien-gioi-936217.ldo, truy cập lần cuối ngày 14/08/2021.  
334  
pdf 13 trang Thùy Anh 15800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật về bảo vệ quyền tác giả trong giao dịch thương mại điện tử - Vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphap_luat_ve_bao_ve_quyen_tac_gia_trong_giao_dich_thuong_mai.pdf