Góp ý xây dựng nghị định quy định chi tiết về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
GóP ý XÂY DỰNG NGHị ĐịNH QUY ĐịNH CHI TIếT  
VỀ bIỆN PHÁP bảO ĐảM THỰC HIỆN NGHĩA VỤ  
Viện sĩ, PGS. TS. Nguyễn Ngọc Điện  
Hiệu-trưởng-trường-Đại-học-Hoa-Sen-  
Thông tin bài viết:  
Từ khóa: Bảo đảm thực hiện nghĩa  
vụ, Bộ luật Dân sự năm 2015.  
Tóm tắt:  
Chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong Bộ luật Dân sự năm 2015  
được nhìn nhận là kết quả của sự kế thừa Bộ luật Dân sự năm 2005  
và việc vận dụng kinh nghiệm nước ngoài. Tuy nhiên, ở góc nhìn thực  
tiễn, kết quả này chưa đáp ứng được kỳ vọng. Hơn nữa, một số luật  
chuyên ngành như luật đất đai, luật nhà ở, ... quy định về bảo đảm  
thực hiện nghĩa vụ theo những cách thức khác nhau và ít nhiều có  
mâu thuẫn với Bộ luật Dân sự, gây khó khăn cho việc thực thi khung  
pháp lý của bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Trong bối cảnh đó, yêu cầu  
được đặt ra là cần xác định những nội dung của Nghị định quy định  
chi tiết về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhằm thực thi có  
hiệu quả chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong BLDS năm 2015.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 05/11/2020  
: 21/11/2020  
: 25/11/2020  
Article Infomation:  
Key words: Secured transaction,  
Civil Code of 2015.  
Abstract:  
The provisions on the secured transactions inserted in the Civil Code  
of 2015 are acknowlegded to be the result of reprise of the concerned  
part of the Civil Code of 2005 as well as the adaptation of other  
jurisdictions’ achievememts. However, in the practical point of view,  
this result is still unclear as for efficiency and effectiveness. Moreover,  
such special laws such as law on land, law on housing,... regulate the  
secured transactions in their own manners more or less incompatible  
with the current Civil Code, which make difficult the enforcement of  
the legal framework of the secured transactions. In this context, it is  
required that it is to define the provisions under the decree detailing  
measures for the secured transactions so that it is to effectively enforce  
the regulations to the secured transaction in the Civil Code 2015.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 05 Nov. 2020  
: 21 Nov. 2020  
: 25 Nov. 2020  
Approved  
háp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa  
vụ được xây dựng và hoàn thiện trên  
thì chủ nợ có bảo đảm được quyền ưu tiên  
thanh toán từ tiền bán tài sản. Học thuyết  
pháp lý đặt tên nhóm này là nhóm các biện  
pháp bảo đảm nghĩa vụ đối vật. Ví dụ điển  
hình là các biện pháp cầm cố, thế chấp tài sản.  
Nhóm thứ hai là nhóm bảo đảm đối  
nhân, gồm các biện pháp đặc trưng bởi việc  
thừa nhận cho chủ nợ có bảo đảm quyền đòi  
nợ ở một hoặc nhiều người khác ngoài người  
mắc nợ chính. Đối với mỗi người mắc nợ,  
chủ nợ chỉ có các quyền đòi nợ của một chủ  
nợ không có bảo đảm. Tuy nhiên, do có  
quyền đòi cùng một khoản nợ đối với nhiều  
người, khả năng được trả nợ cao hơn so với  
Pcơ sở tư tưởng chủ đạo, theo đó chủ nợ  
được bảo đảm có thể đòi được nợ mà không  
cần sự hợp tác của người mắc nợ. Các biện  
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, tuỳ theo  
cách cụ thể hoá tư tưởng chủ đạo nêu trên,  
được phân thành hai nhóm.  
Nhóm thứ nhất là nhóm bảo đảm đối vật,  
gồm các biện pháp đặc trưng bởi việc thừa  
nhận cho chủ nợ có bảo đảm quyền xử lý một  
hoặc nhiều tài sản cụ thể mà không cần sự  
hợp tác của bất kỳ ai, kể cả người mắc nợ.  
Trong trường hợp tài sản bảo đảm được bán,  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
22  
Số 24 (424) - T12/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
trường hợp chỉ có quyền đòi nợ đối với một  
người: nếu không đòi được nợ ở người này,  
thì chủ nợ đòi ở người khác. Trên thực tế,  
không nhiều trường hợp tất cả mọi người  
mắc nợ đều trong tình trạng không trả được  
nợ và điều đó thể hiện tính chất bảo đảm  
nghĩa vụ của biện pháp. Bảo lãnh là ví dụ  
minh hoạ cho nhóm biện pháp này.  
đó, một số luật chuyên ngành thừa nhận các  
loại chủ thể khác. Chẳng hạn, Luật Đất đai  
năm 2013 coi hộ gia đình là chủ thể quyền  
sử dụng đất.  
Một khi đã kiên định với chủ trương xây  
dựng một hệ thống pháp luật dân sự có tính  
hội nhập, thì việc nói tiếng nói chung với các  
nước là điều cần thiết. Trong lĩnh vực bảo  
đảm thực hiện nghĩa vụ, cần khẳng định chủ  
thể xác lập giao dịch bảo đảm là cá nhân và  
pháp nhân. Có trường hợp vợ, chồng hoặc  
các thành viên của một gia đình cùng đồng  
thuận xác lập giao dịch bảo đảm. Đây là  
trường hợp nhiều cá nhân bảo đảm; mỗi cá  
nhân có lai lịch rõ ràng và chịu trách nhiệm  
bằng tài sản của mình, liên đới hoặc không  
liên đới.  
- Bảo đảm nghĩa vụ của người khác: Về  
mặt lý thuyết, chủ thể có quyền cam kết bảo  
đảm nghĩa vụ của chính mình hoặc bảo đảm  
nghĩa vụ của chủ thể khác. Trong quy định  
hiện hành, chỉ có bảo lãnh được ghi nhận là  
biện pháp bảo đảm nghĩa vụ của người  
khác2. Trên nguyên tắc, quan hệ bảo lãnh  
được xác lập một khi bên bảo lãnh và bên  
nhận bảo lãnh chốt được thoả thuận; theo đó,  
bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho  
bên được bảo lãnh nếu nghĩa vụ đến hạn mà  
bên được bảo lãnh không thực hiện.  
Chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ  
trong Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS năm  
2015) được xây dựng với yêu cầu kế thừa  
BLDS năm 2005 và đồng thời vận dụng kinh  
nghiệm của các nước. Tuy nhiên, các quy  
định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong  
BLDS năm 2005 không dựa trên một triết lý  
rõ ràng1; các biện pháp bảo đảm không rõ  
tính chất đối vật hay đối nhân; việc xử lý các  
mối quan hệ giữa các bên tham gia giao dịch  
bảo đảm và giữa các bên với người thứ ba  
liên quan đến tài sản không được thực hiện  
một cách khoa học, trở nên khó áp dụng.  
Việc BLDS năm 2015 kế thừa tinh thần  
của BLDS năm 2005 về chế định bảo đảm  
thực hiện nghĩa vụ đã khiến chế định này  
không được đổi mới triệt để. Bối cảnh đó đã  
đặt ra yêu cầu cần xác định nội dung của  
nghị định quy định chi tiết về biện pháp bảo  
đảm thực hiện nghĩa vụ để chế định bảo đảm  
nghĩa vụ trong BLDS năm 2015 được áp  
dụng một cách đầy đủ và có hiệu quả.  
Tuy nhiên, có trường hợp các bên thoả  
thuận, theo đó bên bảo lãnh cầm cố hoặc thế  
chấp một hoặc nhiều tài sản của mình để bảo  
đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Đây là  
trường hợp bảo lãnh đặc biệt, gọi là bảo lãnh  
đối vật.  
1. Về chủ thể  
- Xác định rõ chủ thể có quyền xác lập  
biện pháp bảo đảm: BLDS năm 2015 chỉ  
thừa nhận hai loại chủ thể quan hệ pháp luật  
dân sự là cá nhân và pháp nhân; trong khi  
1 Một trong những điểm bất hợp lý của các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong BLDS năm 2005  
là việc thừa nhận “đặt cọc” trong số các biện pháp bảo đảm. Về mặt cấu trúc kỹ thuật, quan hệ bảo đảm  
thực hiện nghĩa vụ đòi hỏi phải có một nghĩa vụ (gọi là nghĩa vụ được bảo đảm) và biện pháp bảo đảm được  
thiết lập nhằm bảo đảm cho bên có quyền thực hiện được quyền yêu cầu của mình theo đúng nội dung của  
quyền mà không cần bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ. Ví dụ điển hình là thế chấp tài sản để bảo đảm  
việc trả nợ. Nếu bên mắc nợ không trả nợ, nghĩa là không giao cho bên chủ nợ một số tiền, thì chủ nợ có  
quyền xử lý tài sản thế chấp bằng cách bán đấu giá để lấy tiền. Trong khi đó, đặt cọc không bảo đảm một  
nghĩa vụ nào: các bên giao và nhận tiền cọc có quyền tiếp tục suy nghĩ về việc chấp nhận hay không chấp  
nhận giao kết hợp đồng; nếu bên đặt cọc không giao kết hợp đồng thì mất tiền cọc; nếu bên nhận cọc không  
chấp nhận giao kết hợp đồng thì phải bồi thường gấp đôi số tiền cọc. Đây thực sự là số tiền chi trả để “mua”  
thời gian suy nghĩ, chứ không phải là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.  
2 Tín chấp cũng là trường hợp đưa ra cam kết liên quan đến nghĩa vụ của một người khác, nhưng tín chấp  
không phải là biện pháp bảo đảm nghĩa vụ đích thực, bởi bên bảo đảm không có gì để bảo đảm việc thực  
hiện nghĩa vụ... ngoài lời hứa suông.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
23  
Số 24 (424) - T12/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
2. Về tài sản bảo đảm  
163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao  
dịch bảo đảm4. Thật ra, ngoại trừ một số dạng  
thức của quyền sở hữu công nghiệp, không  
có tài sản nào trong khung cảnh của luật thực  
định mà quyền sở hữu được xác lập bằng  
cách đăng ký. Rõ hơn, đăng ký quyền sở hữu  
tại cơ quan có thẩm quyền, trên nguyên tắc,  
chỉ có tác dụng tạo thuận lợi cho chủ sở hữu  
trong giao dịch với cơ quan nhà nước có  
thẩm quyền liên quan đến tài sản mà chủ sở  
hữu xác lập quyền sở hữu theo luật chung5.  
Theo quy định của điểm b khoản 2 Điều  
108 BLDS năm 2015, có một loại tài sản  
hình thành trong tương lai là tài sản đã hình  
thành nhưng đang thuộc sở hữu của người  
khác và hai bên xác lập giao dịch với đối  
tượng là tài sản đó. Tình huống bảo đảm  
nghĩa vụ có thể được hình dung như sau: A  
mua một căn hộ đã hình thành và đang thuộc  
quyền sở hữu của B thông qua vai trò của C.  
Hợp đồng mua bán được giao kết giữa A và  
C. Để có tiền chi trả giá mua, A thế chấp  
quyền của bên mua trong hợp đồng nêu trên  
cho ngân hàng.  
Dù thuộc nhóm nào, tài sản hình thành  
trong tương lai có đặc điểm chung là tài sản  
chưa hiện hữu trong sản nghiệp của bên giao  
dịch một cách hoàn hảo. Ở góc nhìn pháp  
luật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bên bảo  
đảm bằng tài sản hình thành trong tương lai  
cam kết bảo đảm bằng giá trị của quyền yêu  
cầu tạo ra tài sản, tương ứng với nghĩa vụ làm  
một việc của ai đó (nhà đầu tư, người môi  
giới,...). Trong trường hợp nghĩa vụ trả nợ  
vay không được thực hiện thì chủ nợ được  
quyền xử lý giá trị của quyền yêu cầu này.  
- Tài sản lưu thông được: Liên quan đến  
việc xử lý tài sản bảo đảm, khoản 2 Điều 303  
BLDS năm 2015 quy định: “Trường hợp  
không có thoả thuận về phương thức xử lý  
tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1  
Điều này thì tài sản được bán đấu gía, trừ  
trường hợp luật có quy định khác”. Quy định  
này cho thấy, tài sản bảo đảm luôn ở trong  
tình trạng “sẵn sàng” về mặt pháp lý để được  
bán đấu giá. Ở góc độ pháp luật tài sản, điều  
đó cũng có nghĩa rằng tài sản bảo đảm là tài  
sản lưu thông được. Nói cách khác, những  
tài sản không lưu thông được, nghĩa là có giá  
trị tiền tệ nhưng không thể được chuyển giao  
cho người khác, thì không thể được dùng  
làm tài sản bảo đảm. Ví dụ điển hình là  
quyền được cấp dưỡng; quyền sở hữu đối  
với tài sản bị cấm chuyển nhượng (chẳng  
hạn cổ phần ưu đãi biểu quyết)3.  
- Trường hợp tài sản hình thành trong  
tương lai: Theo quy định của khoản 2 Điều  
108 BLDS năm 2015, có hai loại tài sản hình  
thành trong tương lai: a) Tài sản chưa hình  
thành; b) tài sản đã hình thành nhưng chủ thể  
xác lập quyền sở hữu tài sản sau khi xác lập  
giao dịch.  
Quy định về tài sản hình thành trong  
tương lai thuộc nhóm a khá rõ ràng. Tuy  
nhiên, quy định về tài sản hình thành trong  
tương lai thuộc nhóm b gây ra cách hiểu  
nhầm rằng, luật muốn nhắc đến trường hợp  
tài sản đã hình hình nhưng chưa được đăng  
ký quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có  
thẩm quyền. Sự hiểu nhầm này có nguồn gốc  
từ chính quy định trong Nghị định số  
3 Theo khoản 3 Điều 116 Luật Doanh nghiệp, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển  
nhượng cổ phần đó cho người khác.  
Tài sản chuyển nhượng trong phạm vi hẹp vẫn được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Ví dụ, có thể thế  
chấp phần vốn góp trong công ty hợp danh. Trong trường hợp cần xử lý phần vốn góp để trả nợ, thì vẫn có  
thể gọi bán đấu giá; nhưng người trúng đấu giá, ngoài điều kiện về giá cao cần thoả mãn, còn phải đáp ứng  
điều kiện về tư cách thành viên hợp danh.  
4 Theo điểm c khoản 2 Điều 4 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày /2006, sửa đổi bởi Nghị định số  
11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012, tài sản hình thành trong tương lai bao gồm tài sản đã hình thành và thuộc  
đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới  
được đăng ký theo quy định của pháp luật.  
5 Tương tự, một người mua một chiếc xe máy có quyền sở hữu đối với xe do đã mua và trả đủ tiền mua. Có  
trường hợp người mua xe máy chỉ mua để trưng bày và không bao giờ sử dụng để đi lại nên không quan  
tâm đến việc đăng ký xe máy tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong luật của Pháp, đăng ký xe máy, ô  
tô chỉ là đăng ký hành chính để quản lý phương tiện lưu hành và được coi là nguồn để truy tìm chủ thể trách  
nhiệm bồi thường khi có tai nạn do xe gây ra, chứ không phải đăng ký quyền sở hữu: A. Bénabent, Droit  
des obligations, Montchrestien, Paris, 2009, tr. 250.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
24  
Số 24 (424) - T12/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
3. Về điều kiện bảo đảm  
không trả nợ, việc bảo đảm thực hiện nghĩa  
vụ diễn ra như sau: chủ nợ có bảo đảm xử lý  
tài sản cầm cố, thế chấp để thu hồi một phần  
nợ với tư cách chủ nợ ưu tiên; đối với phần  
còn lại, chủ nợ có bảo đảm tiếp tục đòi ở bên  
bảo lãnh, nhưng với tư cách chủ nợ thường,  
nghĩa là không có bảo đảm.  
-Nghĩa vụ trả tiền: Trên nguyên tắc, tất  
cả các nghĩa vụ đều có thể được bảo đảm.  
Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng theo  
truyền thống, các biện pháp gọi là bảo đảm  
thực hiện nghĩa vụ được xác lập nhằm mục  
đích bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả một  
số tiền. Việc bảo đảm thực hiện các loại  
nghĩa vụ khác – làm hoặc không làm một  
việc, chuyển giao một tài sản – dựa vào các  
biện pháp khác. Ví dụ, để bảo đảm nghĩa vụ  
giao một vật, các bên thoả thuận về việc giao  
một vật thay thế;...  
- Trường hợp bảo đảm đối vật cho nghĩa  
vụ của người khác (bảo lãnh đối vật): Như  
đã nêu ở trên, các bên trong hợp đồng bảo  
lãnh có thể thoả thuận để bên bảo lãnh cầm  
cố hoặc thế chấp tài sản để bảo đảm việc  
thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Việc cầm cố,  
thế chấp tài sản để bảo đảm việc thực hiện  
nghĩa vụ bảo lãnh khiến người ta đặt vấn đề  
liệu có phải coi giá trị của tài sản cầm cố, thế  
chấp cũng chính là giới hạn phạm vi nghĩa  
vụ bảo lãnh.  
Nếu thừa nhận giá trị tài sản cầm cố, thế  
chấp là giới hạn phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh  
nhưng giá trị này cao hơn hoặc bằng giá trị  
của nghĩa vụ được bảo đảm, thì không làm  
phát sinh vấn đề gì; nhưng nếu giá trị tài sản  
cầm cố, thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ bảo  
lãnh thấp hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo  
lãnh thì phải xác định rằng bên bảo lãnh giới  
hạn nghĩa vụ bảo lãnh trong phạm vi giá trị  
tài sản cầm cố, thế chấp: phần chênh lệch giá  
trị giữa nghĩa vụ được bảo đảm và tài sản  
cầm cố, thế chấp là phần nợ không được bảo  
đảm. Trong trường hợp nợ không được trả,  
thì chủ nợ có bảo đảm xử lý tài sản cầm cố,  
thế chấp để thu hồi một phần nợ; đối với  
phần còn lại, chủ nợ có bảo đảm tiếp tục đòi  
ở bên được bảo lãnh, còn bên bảo lãnh chấm  
dứt nghĩa vụ bảo lãnh của mình. Ngược lại,  
nếu thừa nhận việc cầm cố, thế chấp tài sản  
để bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh chỉ là biện  
pháp củng cố lòng tin đối với chủ nợ có bảo  
đảm, thì trong trường hợp bên được bảo lãnh  
- Quan hệ giá trị giữa nghĩa vụ được bảo  
đảm và tài sản bảo đảm: Theo quy định của  
khoản 4 Điều 295 BLDS năm 2015, giá trị  
của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc  
nhỏ hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm.  
- Một tài sản bảo đảm nhiều nghĩa vụ:  
Việc dùng một tài sản bảo đảm cho nhiều  
nghĩa vụ được minh định trong luật từ rất lâu.  
Tuy nhiên, cho đến nay, việc triển khai quy  
định này vẫn gặp nhiều khó khăn. Lý do chủ  
yếu là hệ thống thông tin về tình trạng pháp  
lý của tài sản chưa được tổ chức tốt khiến cho  
chủ nợ có bảo đảm thường có biện pháp  
mang tính “phòng thủ” để ngăn chặn việc áp  
dụng quy định này, tránh rắc rối do có nhiều  
chủ nợ đòi có quyền ưu tiên đối với tài sản  
bảo đảm. Đặc biệt, trong trường hợp tài sản  
bảo đảm được đăng ký thì chủ nợ có bảo đảm  
giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký với  
nhiều kỳ vọng6: bên bảo đảm không có điều  
kiện để tiếp tục dùng tài sản đó bảo đảm  
nghĩa vụ khác, do... không xuất trình được  
bản chính giấy chứng nhận đăng ký; trong  
trường hợp có yêu cầu xử lý tài sản để thanh  
toán nhiều món nợ, thì việc nắm giữ giấy  
chứng nhận đăng ký cho phép chủ nợ giữ lợi  
thế trong việc nhận tiền thanh toán;...  
- Hình thức xác lập giao dịch bảo đảm:  
Trên nguyên tắc, hợp đồng bảo đảm được  
xác lập theo luật chung. Tuy nhiên, bảo đảm  
nghĩa vụ là một giao dịch quan trọng và có  
thể gây nhiều rủi ro cho bên bảo đảm. Bởi  
vậy, cần có quy định chặt chẽ về hình thức  
xác lập giao dịch để bên bảo đảm có thể có  
được sự cảnh báo về tính chất, tầm quan  
trọng của giao dịch được xác lập; từ đó, có  
sự chuẩn bị cần thiết để quản lý rủi ro. Ví dụ,  
ở Pháp, bên bảo lãnh phải tự ghi một câu gì  
đó thể hiện sự nhận thức đầy đủ về tính chất  
6 Tình trạng “ám thị” của giấy chứng nhận chi phối cả suy nghĩ của người làm luật. Bởi vậy, trong BLDS có  
các quy định về việc giao giấy tờ cho bên nhận bảo đảm không chỉ như một cách xác nhận quan hệ bảo đảm  
mà còn như một cách bảo đảm an toàn tương tự như cầm giữ tài sản (xem ví dụ như khoản 1 Điều 320  
BLDS): một khi giấy chứng nhận đăng ký tài sản được bên nhận bảo đảm nắm giữ, thì quyền sở hữu tài sản  
không thể được chuyển dịch.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
25  
Số 24 (424) - T12/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
của quan hệ, trước khi đặt bút ký vào hợp  
đồng bảo lãnh7.  
vật là quyền cho phép chủ nợ thực hiện các  
quyền được luật thừa nhận cho mình đối với  
tài sản bất kể tài sản đang được chủ thể nào  
nắm giữ với bất kỳ tư cách nào. Quyền truy  
đòi của chủ nợ có bảo đảm chỉ phát sinh  
hiệu lực khi nợ có bảo đảm đã đến hạn và  
không được trả; do đó, cần triển khai thực  
hiện biện pháp bảo đảm để thu hồi nợ. Vấn  
đề không có gì đặc biệt trong trường hợp tài  
sản đang được chủ nợ có bảo đảm nắm giữ  
(như chủ nợ nhận cầm cố) hoặc đang được  
bên bảo đảm nắm giữ (như bên thế chấp).  
Tuy nhiên, sự việc sẽ rắc rối một khi tài sản  
đang nằm trong tay người khác không phải  
là một bên trong quan hệ bảo đảm nghĩa vụ;  
quyền truy đòi có tác dụng giúp chủ nợ có  
bảo đảm giải quyết rắc rối đó.  
- Xử lý tài sản bảo đảm: Theo quy định  
của Điều 301 BLDS năm 2015, trường hợp  
người đang giữ tài sản không giao tài sản thì  
bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu toà án  
giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có  
quy định khác. Quy định này cho thấy,  
quyền truy đòi của chủ nợ có bảo đảm, còn  
đối với vấn đề xử lý như thế nào, thì câu trả  
lời vẫn phải dựa vào các quy định chung về  
bắt buộc trả nợ bằng con đường toà án.  
Ở Pháp, chủ nợ có bảo đảm mà quyền  
chủ nợ được ghi nhận trong một chứng thư  
công chứng có quyền sử dụng chứng thư đó  
như một bản án để yêu cầu tiến hành cưỡng  
chế việc thực hiện quyền của chủ nợ9. Chẳng  
hạn, trong trường hợp tài sản được thế chấp  
và nợ không được trả thì chủ nợ nhận thế  
chấp có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án  
tiến hành cưỡng chế việc xử lý tài sản trong  
khuôn khổ thi hành chứng thư công chứng  
về thế chấp tài sản.  
- Quyền truy đòi: Quyền truy đòi được  
ghi nhận trong BLDS như là một phần hiệu  
lực đối kháng của biện pháp bảo đảm trong  
quan hệ với người thứ ba. Tuy nhiên, BLDS  
năm 2015 không làm rõ nội dung của quyền.  
Hiện nay, có hai cách hiểu rất phổ biến về  
quyền truy đòi: thứ nhất, quyền truy đòi là  
quyền yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với giao  
dịch chuyển nhượng tài sản bảo đảm với lý  
do giao dịch được xác lập mà không có sự  
đồng ý của chủ nợ nhận bảo đảm8; thứ hai,  
quyền truy đòi là quyền yêu cầu người đang  
nắm giữ tài sản giao trả tài sản để trở về tình  
trạng ban đầu. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa  
học luật, hai cách hiểu này đều chưa đúng  
với bản chất của quyền. Ở đây, điều cần nhấn  
mạnh là quyền truy đòi không hề bao hàm  
quyền phủ nhận quyền của chủ thể khác đối  
với tài sản. Chủ thể quyền truy đòi xuất hiện  
trước người nắm giữ tài sản và thực hiện  
quyền của mình mà không bận tâm đến  
quyền, đến tư cách của người nắm giữ tài sản  
trong mối quan hệ với tài sản đó. Nói cách  
khác, quyền truy đòi mở ra hành lang để chủ  
nợ theo đuổi tài sản trong quá trình lưu thông  
và khẳng định quyền của chủ nợ có bảo đảm,  
chứ không được sử dụng để tấn công, phủ  
định quyền của chủ thể khác đối với tài sản  
đó. Về phần mình, chủ thể nắm giữ tài sản  
phải tôn trọng quyền của chủ nợ có bảo đảm.  
Với quyền truy đòi, biện pháp bảo đảm  
nghĩa vụ không gây cản trở đối với sự lưu  
thông của tài sản trong khuôn khổ thực hiện  
các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản, đặc  
biệt là quyền định đoạt. Chủ sở hữu có  
quyền chuyển nhượng tài sản; người nhận  
chuyển nhượng phải biết về tình trạng pháp  
lý của tài sản và phải tự mình xây dựng đối  
sách hợp pháp để quản lý rủi ro.  
Ở Mỹ, luật cho phép chủ nợ có bảo đảm,  
trong trường hợp nợ không được trả, thực  
hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm và xử lý để  
thu hồi nợ10. Quyền thu giữ, gọi là self- help  
trong luật của Mỹ, được thực hiện trong  
Trong luật của Pháp, quyền truy đòi  
(droit de suite) của chủ nợ có bảo đảm đối  
7 Ph. Simler và Ph. Delebecque, Droit civil – Les suretés. La publ  
Luật không quy định rõ một hoặc nhiều mẫu câu thể hiện sự ưng  
đối với bên bảo lãnh, tuỳ trường hợp, để được coi là đã thể hiệ  
quan trọng của việc mình làm. Ví dụ, bảo lãnh việc trả một số  
icité foncière, Dalloz, 2009, tr.125 đến 130.  
thuận. Thực tiễn tự đặt ra những yêu cầu  
n sự nhận thức đầy đủ của bản thân về tầm  
nợ nào đó thì phải ghi “đồng ý bảo lãnh số  
ng chữ.  
nợ ....” sau đó phải ghi nhận giá trị của khoản nợ bằng số và bằ  
8 Xem Đỗ Văn Đại, Vật quyền bảo đảm: kinh nghiệm nước ngoà  
Việt Nam, số 01 (86)/2015, tr. 57-65.  
i cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý  
9
Xem Ph. Simler và Ph, Delebecque, Droit civil – Les sure  
tés. La publicité foncière, đã dẫn, tr. 355-356.  
10 Xem, Nguyễn Ngọc Điện, Quyền tự bảo vệ: điểm mới trong  
BLDS năm 2015, Tạp chí Nghiên cứu lập  
pháp số 1+2 (333+334), 2017.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
26  
Số 24 (424) - T12/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
những điều kiện ngặt nghèo và theo thể thức  
chặt chẽ, ngăn chặn sự lạm dụng, đặc biệt là  
ngăn chặn nguy cơ xung đột dẫn đến bạo  
động, mất trật tự.  
- Quyền ưu tiên lấy trước của một số chủ  
nợ  
Nhiều trường hợp, một số chủ nợ đòi  
quyền được thanh toán ưu tiên từ tiền bán tài  
sản bảo đảm trước cả chủ nợ có bảo đảm với  
lý do có phần tài sản của mình trong tài sản  
bảo đảm. Ví dụ, bên bán vật liệu xây dựng  
đòi được ưu tiên lấy trước chủ nợ nhận thế  
chấp đối với nhà ở được thế chấp với lý do  
nhà được xây dựng bằng vật liệu do bên này  
cung cấp. Trong khoa học luật, yêu cầu của  
bên bán vật liệu xây dựng trong trường hợp  
này được gọi là yêu cầu có quyền ưu tiên lấy  
trước (privilege). Quyền ưu tiên lấy trước  
được thừa nhận cho một số chủ nợ không có  
bảo đảm, cho phép chủ nợ được xếp ưu tiên  
trong thứ tự nhận tiền thanh toán trước cả  
chủ nợ có bảo đảm đối vật. Tuy nhiên, để  
tránh sự đòi hỏi tuỳ tiện, pháp luật thường  
lập sẵn danh sách quyền ưu tiên lấy trước để  
toà án áp dụng, mà không giao cho toà án  
xem xét tuỳ theo trường hợp. Hơn nữa, việc  
thừa nhận quyền ưu tiên lấy trước phải được  
thực hiện trên cơ sở xem xét tính hợp lý.  
Bên bán vật liệu xây dựng có quyền huỷ bỏ  
hợp đồng để lấy lại vật liệu, nếu còn nguyên  
vẹn bằng hiện vật, hoặc nhận lại tiền hay vật  
liệu thay thế; nhưng một khi vật liệu đã được  
chuyển hoá và trở thành tài sản khác thì  
không thể thừa nhận quyền ưu tiên lấy trước  
trên giá trị của tài sản mới; nếu thừa nhận  
quyền ưu tiên cho bên bán vật liệu trong  
trường hợp này, thì phải thừa nhận cả quyền  
ưu tiên cho bên bán nguyên liệu làm gạch và  
cứ như thế sẽ có một loạt chủ nợ ưu tiên xuất  
hiện theo dây chuyền vô tận và cuối cùng,  
quyền ưu tiên được thừa nhận cho chủ nợ có  
bảo đảm trở nên vô nghĩa.  
4. Về các nội dung khác  
- Xác định tài sản có thể cầm cố  
Một khi đã xác định “cầm cố là việc  
giao tài sản”, thì việc cầm cố phải có tác  
dụng vô hiệu hoá việc sử dụng tài sản của  
bên cầm cố. Những tài sản không thể chiếm  
hữu được, nghĩa là không thể giao được về  
phương diện vật lý, không thể cầm cố. Cụ  
thể, không thể cầm cố quyền sở hữu trí tuệ.  
Ngay cả trong trường hợp quyền sở hữu trí  
tuệ được xác lập bằng cách đăng ký theo quy  
định của pháp luật, như trường hợp một số  
quyền sở hữu công nghiệp và chủ sở hữu  
giao bản chính giấy chứng nhận đăng ký  
quyền sở hữu cho chủ nợ để bảo đảm thực  
hiện nghĩa vụ.  
- Tài sản có thể bảo lưu quyền sở hữu  
BLDS năm 2015 không xác định rõ loại  
tài sản nào có thể bảo lưu quyền sở hữu. Tuy  
nhiên, qua các điều luật liên quan, đặc biệt  
là Điều 333 về quyền và nghĩa vụ của bên  
mua tài sản, có thể thừa nhận rằng khi xây  
dựng chế định bảo lưu quyền sở hữu, người  
làm luật quan tâm đến tài sản hữu hình và  
sau khi được chuyển giao cho bên mua thì  
trở thành tài sản đặc định trong sản nghiệp  
của bên mua. Về mặt lý thuyết, bảo lưu  
quyền sở hữu có thể được xác lập đối với bất  
kỳ tài sản nào, kể cả tài sản vô hình, vật cùng  
loại. Điều quan trọng, để việc bảo lưu quyền  
sở hữu thể hiện được tác dụng bảo đảm  
nghĩa vụ, là tài sản mà quyền sở hữu được  
bảo lưu còn hiện hữu trong sản nghiệp của  
bên bảo đảm ở thời điểm cần thực hiện  
quyền của chủ nợ có bảo đảm. Ngay cả trong  
trường hợp, nếu tài sản được chuyển nhượng  
cho người khác, thì chủ nợ có bảo đảm được  
thực hiện quyền truy đòi trong chừng mực  
tài sản còn nhận diện được, trừ trường hợp  
cần bảo vệ người thứ ba ngay tình. Chủ nợ  
có bảo đảm cũng có quyền yêu cầu bên bảo  
đảm hoàn trả tài sản bằng giá trị và bồi  
thường thiệt hại, nếu có. Trong trường hợp  
tài sản mà quyền sở hữu được bảo lưu bị tiêu  
huỷ, thì nên thừa nhận rằng chủ nợ có bảo  
đảm có quyền thực hiện các quyền của chủ  
nợ có bảo đảm đối với số tiền bồi thường do  
tổ chức bảo hiểm chi trả.  
- Sử dụng tài sản thế chấp  
Thông thường tài sản thế chấp để lại cho  
bên thế chấp sử dụng. Sẽ không có vấn đề gì  
nếu bên thế chấp tự mình sử dụng tài sản  
một cách bình thường. Tuy nhiên, nếu bên  
thế chấp đem tài sản cho thuê thì cần phân  
biệt tuỳ theo thời gian cho thuê dài hay ngắn  
so với kỳ hạn trả nợ. Trong trường hợp thời  
gian cho thuê quá dài thì có khả năng tài sản  
bị xử lý trong tình trạng đang cho thuê:  
người nhận chuyển nhượng phải tôn trọng  
hợp đồng thuê11. Điều này cũng có nghĩa là  
tài sản được xử lý không thể được sử dụng  
theo ý riêng của chủ sở hữu. Vì vậy, cần phải  
11 Theo Điều 91 Luật Thi hành án dân sự, trường hợp tài sản kê biên đang cho thuê thì người thuê tiếp tục  
thuê theo hợp đồng đã giao kết.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
27  
Số 24 (424) - T12/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
xác định giới hạn rõ ràng, đặc biệt liên quan  
đến việc cho thuê, cần xác định thời hạn cho  
thuê tối đa để tài sản không bị giảm giá trị  
chuyển nhượng do bị ràng buộc vào một hợp  
đồng thuê quá dài.  
- Xung đột giữa quyền cầm giữ và quyền  
kê biên trong khuôn khổ thi hành án hoặc  
phá sản doanh nghiệp  
BLDS năm 2015 không giải quyết vấn  
đề số phận của quyền cầm giữ trong trường  
trường tài sản bị cầm giữ là đối tượng kê  
biên trong khuôn khổ thi hành án hoặc phá  
sản doanh nghiệp. Trong luật của Pháp1, nếu  
tài sản được đem bán trong khuôn khổ thủ  
tục phá sản hoặc thủ tục thi hành án, thì  
quyền cầm giữ của chủ nợ đối với tài sản  
bằng hiện vật sẽ tự động được chuyển sang  
quyền được nhận tiền thanh toán từ giá bán  
tài sản. Nói cách khác, một khi tài sản được  
xử lý theo thủ tục tư pháp và được đem bán,  
thì số tiền bán phải được ưu tiên trích để chi  
trả cho bên cầm giữ; số còn lại mới được  
dùng để trả cho các chủ nợ khác. Quyền đối  
với giá trị tài sản cầm giữ được thừa nhận  
cho bên cầm giữ là quyền giữ vị trí ưu tiên  
áp đảo tất cả các chủ nợ, kể cả chủ nợ có  
bảo đảm của chủ sở hữu tài sản. Chúng ta  
có thể vận dụng giải pháp này vào thực tiễn  
Việt Nam.  
- Trường hợp chuyển nhượng tài sản thế  
chấp  
BLDS năm 2015 quy định, bên thế chấp  
không được quyền chuyển nhượng tài sản  
thế chấp trừ hai trường hợp: 1) Tài sản thế  
chấp là hàng hoá luân chuyển; 2) Có sự đồng  
ý của bên nhận thế chấp.  
Trong trường hợp thứ hai, cần quy định  
rõ như sau:  
- Nếu bên nhận thế chấp đồng ý cho  
chuyển nhượng và muốn rằng tài sản tiếp tục  
được dùng để bảo đảm nghĩa vụ sau khi  
chuyển nhượng thì phải làm rõ có điều kiện  
bảo đảm nghĩa vụ bằng cách thương lượng  
cụ thể với bên nhận chuyển nhượng;  
- Nếu bên nhận chuyển nhượng đồng ý  
cho chuyển nhượng tài sản bảo đảm mà  
không nói gì về số phận của biện pháp bảo  
đảm thì việc chuyển nhượng đương nhiên có  
tác dụng chấm dứt biện pháp bảo đảm.  
- Xung đột giữa cầm giữ và quyền truy  
đòi  
Tình huống đặt ra như sau: A nhận tài  
sản do B gửi giữ. Tài sản này đã được thế  
chấp cho C để vay một số tiền. Do C không  
trả được nợ, B yêu cầu A giao tài sản để B  
xử lý theo thoả thuận giữa B và C với tư  
cách là chủ thể quyền truy đòi. Vấn đề là ở  
thời điểm này, A đã có quyền cầm giữ đối  
với tài sản để từ chối giao tài sản cho C?  
Theo quy định của khoản 1 Điều 347  
BLDS năm 2015, cầm giữ tài sản phát sinh  
từ thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà  
bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực  
hiện không đúng nghĩa vụ. Trong ví dụ trên,  
thời hạn gửi giữ chưa hết, nghĩa vụ trả phí  
gửi giữ chưa đến hạn thực hiện; bởi vậy, A  
chưa có quyền cầm giữ. Tuy nhiên, theo quy  
định của khoản 2 Điều 347, cầm giữ tài sản  
phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ  
ba kể từ thời điểm bên cầm giữ chiếm giữ tài  
sản. Áp dụng quy định này, thì A lại có  
quyền từ chối giao tài sản cho C do đang  
nắm giữ tài sản và do đó có quyền cầm giữ  
tài sản trong quan hệ với C.  
- Trường hợp bảo lãnh đối vật  
Khoản 3 Điều 336 BLDS năm 2015 quy  
định các bên có thể thoả thuận sử dụng biện  
pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực  
hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Chẳng hạn, bên bảo  
lãnh cầm cố hoặc thế chấp tài sản thuộc sở  
hữu của mình để bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh.  
Khoa học luật gọi đây là bảo lãnh đối vật.  
Vấn đề là trong trường hợp này phạm vi bảo  
lãnh được xác định như thế nào? Vấn đề đặc  
biệt có ý nghĩa một khi giá trị tài sản cầm cố,  
thế chấp nhỏ hơn giá trị của nghĩa vụ được  
bảo lãnh. Do bảo lãnh là việc bảo đảm thực  
hiện nghĩa vụ của người khác, việc xác định  
phạm vi bảo lãnh, trong trường hợp quy định  
của luật và nội dung thoả thuận không rõ,  
nên được thực hiện theo hướng có lợi cho  
bên bảo lãnh. Trong trường hợp bảo lãnh đối  
vật, nếu bên bảo lãnh không chủ động chỉ rõ  
phạm vi bảo lãnh nhưng có cầm cố, thế chấp  
tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo  
lãnh, thì nên thừa nhận rằng giá trị tài sản  
cầm cố, thế chấp cũng đồng thời là giới hạn  
phạm vi bảo lãnh: nếu đã xử lý tài sản cầm  
cố, thế chấp mà nợ được bảo lãnh vẫn chưa  
được trả đủ thì bên bảo lãnh vẫn chấm dứt  
nghĩa vụ bảo lãnh của mình  
n
12 Xem Ph. Simler và Ph. Delebecque, Droit civil 0 Les suretés. La publicité foncière, đã dẫn, tr. 603.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
28  
Số 24 (424) - T12/2020  
pdf 7 trang Thùy Anh 11480 Free
Bạn đang xem tài liệu "Góp ý xây dựng nghị định quy định chi tiết về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgop_y_xay_dung_nghi_dinh_quy_dinh_chi_tiet_ve_bien_phap_bao.pdf