Một số khía cạnh so sánh và bình luận các quy định của cisg và luật thương mại Việt Nam về nghĩa vụ nhận hàng và quyền từ chối nhận hàng của người mua
MỘT SỐ KHÍA CẠNH SO SÁNH VÀ BÌNH LUẬN CÁC QUY ĐỊNH CỦA CISG
VÀ LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VỀ NGHĨA VỤ NHẬN HÀNG VÀ QUYỀN
TỪ CHỐI NHẬN HÀNG CỦA NGƯỜI MUA
TS. Nguyễn Thị Thu Hiền1, Phạm Hồng Sơn2
Tóm tắt: Trong lĩnh vực hợp đồng mua bán hàng hoá, cùng với nghĩa vụ thanh toán,
nghĩa vụ nhận hàng là một trong hai nghĩa vụ quan trọng nhất của người mua và thường
được pháp luật về hợp đồng quy định một cách chi tiết. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định
về trường hợp người mua có quyền từ chối nhận hàng nếu người bán giao hàng trước thời
hạn hoặc giao hàng vượt quá số lượng. Tuy nhiên, trong Luật thương mại 2005 của Việt
Nam3,1 các quy định về nghĩa vụ nhận hàng và quyền từ chối nhận hàng của người mua
còn có một số hạn chế, bất cập và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Do vậy, nghiên cứu
này được thực hiện để làm rõ nội dung các quy định về nghĩa vụ nhận hàng và quyền từ
chối nhận hàng của người mua theo CISG4 và Luật thương mại 2005, có sự so sánh, đối
chiếu để từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của Luật thương mại
2005 trong bối cảnh Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của CISG từ ngày
01/01/20075.
Từ khoá: Luật thương mại, CISG, nhận hàng, quyền từ chối nhận hàng, người mua
1. Lời mở đầu
Trong CISG, nghĩa vụ của người mua được quy định tại nhiều chương và điều khoản
khác nhau. Cách thức quy định về nghĩa vụ và trách nhiệm của người bán và người mua
trong CISG đều theo một cấu trúc tương tự nhau. Đầu tiên là đề cập tới những nghĩa vụ
đặc trưng của người bán hoặc người mua. Tiếp theo là trách nhiệm của người bán hoặc
1 Khoa Luật, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
2 Tập đoàn Hưng Thịnh
3 Luật Thương mại được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/6/2005.
4 Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về mua bán hàng hoá quốc tế (CISG).
5 Việt Nam gia nhập CISG theo Quyết định số 2588/2015/QĐ-CTN ngày 24/11/2015 của Chủ tịch nước.
148
người mua nếu vi phạm hợp đồng. Nghĩa vụ đặc trưng của người mua được quy định từ
Điều 53 đến Điều 60 trong Phần III của CISG. Theo Điều 53 CISG, người mua có nghĩa
vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng theo quy định của hợp đồng và của Công ước.
Luật Thương mại 2005 dành 23 điều của Mục 2 Chương II để quy định về quyền và
nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Về nguyên tắc, Luật Thương mại
2005 được soạn thảo theo tinh thần quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược
lại. Hơn nữa, nghĩa vụ của người bán và nghĩa vụ của người mua không được phân tách rõ
ràng và không được xếp vào các mục riêng. Tùy theo nội dung, tính chất của từng điều
khoản mà các quy định này được áp dụng cho mỗi bên, hoặc áp dụng cho cả hai bên. Cách
cấu trúc này khác so với CISG, không có sự tách biệt rõ ràng giữa nghĩa vụ của người bán
và nghĩa vụ của người mua, do đó, dẫn tới một số khó khăn trong việc áp dụng.6 Trong
Luật Thương mại 2005, nghĩa vụ của người mua chủ yếu được quy định tại các điều là
Điều 50 và từ Điều 52 đến Điều 56.
Một điểm cần lưu ý là CISG chỉ điều chỉnh các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc
tế trong khi Luật Thương mại 2005 lại được áp dụng chung cho cả hợp đồng mua bán hàng
hoá nội địa và hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Vì vậy, trong bài viết này, nhóm tác
giả sẽ nghiên cứu nghĩa vụ nhận hàng và quyền từ chối nhận hàng của người mua trong
hợp đồng mua bán hàng hoá nói chung, mà không xem xét quá nhiều đến tính đặc thù của
hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Bằng các phương pháp nghiên cứu chính là phân tích
và so sánh luật, bài viết sẽ tập trung vào việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu như: CISG và
Luật thương mại 2005 quy định về nghĩa vụ nhận hàng và quyền từ chối nhận hàng của
người mua như thế nào, có điểm gì tương đồng và khác biệt? Có cần hoàn thiện các quy
định liên quan trong Luật thương mại 2005 hay không và nếu có thì nên hoàn thiện như thế
nào? Làm thế nào để hạn chế rủi ro cho thương nhân Việt Nam khi thực hiện nghĩa vụ nhận
hàng và quyền từ chối nhận hàng của người mua trong hợp đồng mua bán hàng hoá.
6 Luật Thương mại 2005 của Việt Nam chỉ có một mục chung trong Chương II là Mục II với tên gọi “Quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá”, trong khi đó, CISG phân biệt rõ ràng trong Phần III với hai chương
tách biệt, Chương II quy định “Nghĩa vụ của người bán” và Chương III quy định “Nghĩa vụ của người mua”. Xem
Nguyễn Thị Thu Hiền. (2017). Nghĩa vụ của người mua trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo quy định của
CISG và pháp luật Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo “Thi hành Cꢀng ước về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) tại Việt
Nam và yêu cầu sửa đổi Luật Thương mại 2005 – Bài học kinh nghiệm từ Đức và Nhật Bản”, Trường Đại học Luật
Hà Nội - Viện Friedrich Ebert Việt Nam, Hà Nội. tr. 54.
149
Như vậy, ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính
của bài viết sẽ được cấu trúc thành ba mục: (1) Nghĩa vụ nhận hàng của người mua theo
quy định của CISG và Luật thương mại 2005; (2) Quyền từ chối nhận hàng của người mua
theo quy định của CISG và Luật thương mại 2005 và; (3) Bình luận và kiến nghị.
2. Nghĩa vụ nhận hàng của người mua theo quy định của CISG và Luật thương mại
2005
CISG
Luật thương mại 2005
Điều 56 Nhận hàng
Điều 60
Nghĩa vụ nhận hàng của người mua gồm: Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo thoả
thuận và thực hiện những công việc hợp lý
a. Thực hiện mọi hành vi có thể được mong
để giúp bên bán giao hàng.
đợi một cách hợp lý từ họ để cho phép
người bán thực hiện việc giao hàng và;
b. Tiếp nhận hàng hóa.
Có thể thấy CISG và Luật Thương mại 2005 điều quy định người mua có nghĩa vụ
tiếp nhận hàng và thực hiện các công việc hợp lý để giúp người bán giao hàng. Như vậy,
cả CISG và Luật Thương mại 2005 đều có sự phân biệt rõ ràng giữa hai nghĩa vụ của người
mua là nghĩa vụ nhận hàng (“Obligation to take delivery”) và nghĩa vụ tiếp nhận hàng hoá
(“Obligation to take over the goods”).75 Tất nhiên, thuật ngữ “nghĩa vụ nhận hàng” có nội
hàm rộng hơn hay nói cách khác, theo Điều 60 của CISG, nghĩa vụ nhận hàng của người
mua không chỉ là “tiếp nhận hàng hoá” mà còn phải “thực hiện mọi hành vi có thể được
mong đợi một cách hợp lý từ họ để cho phép người bán thực hiện việc giao hàng” hay với
7 Nghĩa vụ tiếp nhận hàng hóa có thể được hiểu là sự nắm giữ về mặt vật lý không chỉ đối với hàng hóa mà cả chứng
từ, tài liệu có liên quan do người bán giao.
150
cách diễn đạt tương tự trong Điều 56 của Luật Thương mại 2005 là “thực hiện những công
việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng”. Từ đó có thể thấy, việc chỉ sử dụng thuật ngữ
“nhận hàng” trong nội dung diễn đạt “Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo thoả thuận” tại
Điều 56 có thể gây nhầm lẫn với cụm từ “nhận hàng” chỉ nghĩa vụ của người mua nói
chung (bao gồm cả nghĩa vụ “thực hiện những công việc hợp lý để giúp bên bán giao
hàng”) trong chính tên tiêu đề của điều khoản này.
Nghĩa vụ nhận hàng là một trong những nghĩa vụ được xây dựng dựa trên cơ sở
nguyên tắc “Principle of Mutual Cooperation and Acting for Mutual Benefit” (tạm dịch là
nguyên tắc “Hợp tác và hành động vì lợi ích của nhau”).86 Bởi vậy, ngoài nghĩa vụ tiếp
nhận hàng hoá, người mua còn có nghĩa vụ thực hiện các công việc hợp lý để hỗ trợ cần
thiết cho người bán thực hiện nghĩa vụ giao hàng của họ. Tuy nhiên, với những từ ngữ
được sử dụng như “chờ đợi một cách hợp lý” trong CISG hay “những công việc hợp lý”
trong Luật thương mại 2005, nghĩa vụ này nên được xem xét và yêu cầu thực hiện trong
khả năng của người mua. Người mua cần được cung cấp thông tin một cách đầy đủ và
trong một chừng mực nhất định, người bán không được yêu cầu người mua thực hiện các
hành vi mang tính đặc biệt mà người mua không biết đến, ngay cả khi cần thiết để người
bán giao hàng. Trên thực tế, các thương nhân được khuyến cáo là nên thỏa thuận trong hợp
đồng về những công việc mà người mua cần thực hiện để hỗ trợ cho phép người bán giao
hàng hoặc áp dụng đồng thời với các điều kiện thương mại INCOTERMS. Bởi các điều
kiện giao hàng trong INCOTERMS có thể giúp các bên xác định rõ hơn sự hợp tác mà
người mua cần thực hiện để quá trình giao – nhận hàng hoá được thực hiện đúng theo thoả
thuận. Theo các điều kiện trong INCOTERMS, nghĩa vụ này không chỉ là nghĩa vụ thông
báo thời gian, địa điểm nhận hàng mà còn có thể là nghĩa vụ thực hiện các thủ tục thông
quan xuất khẩu, nhập khẩu hoặc các thủ tục hải quan khác v.v. Người mua được yêu cầu
thực hiện có thể từ trách nhiệm đơn giản nhất như thu xếp địa điểm chính xác để giao hàng
cho đến những nghĩa vụ phức tạp hơn như sắp xếp việc vận chuyển hàng hóa v.v. Rõ ràng,
người mua cần có sự quan tâm thích đáng tới nghĩa vụ nhận hàng, bởi lẽ nếu người mua vi
8 Xem Adam Newhouse & Tanaka Tsuneyoshi. (2013). CISG – A Tool for Globalization (2): American and Japanese
Perspectives. Ritsumeikan Law Review 30, p. 43.
151
phạm nghĩa vụ nhận hàng mà cấu thành một vi phạm cơ bản thì người bán có thể tuyên bố
huỷ hợp đồng dựa trên vi phạm cơ bản đó.9
3. Quyền từ chối nhận hàng của người mua theo quy định của CISG và Luật thương
mại 2005
Hành vi từ chối nhận hàng của người mua có thể cấu thành một vi phạm nghĩa vụ
hợp đồng trừ những trường hợp người mua được quyền từ chối nhận hàng.10 Người mua
có quyền từ chối nhận hàng trong những trường hợp như: (i) người bán giao hàng trước
thời hạn hoặc; (ii) giao hàng vượt quá số lượng hoặc; (iii) giao hàng không phù hợp với
hợp đồng hoặc ở một khía cạnh nào đó là trường hợp (iv) người mua tuyên bố huỷ hợp
đồng khi hành vi của người bán đã cấu thành một vi phạm cơ bản hợp đồng v.v.11 Trong
phạm vi bài viết này, nhóm tác giả chỉ tập trung phân tích hành vi từ chối nhận hàng do (i)
người bán giao hàng trước thời hạn hoặc (ii) giao hàng vượt quá số lượng. Tức là, nghĩa
vụ nhận hàng vẫn được người mua thực hiện khi đến thời hạn và nhận đúng số lượng hàng
hoá đã thoả thuận (hợp đồng vẫn được thực hiện tiếp tục). Bài viết không phân tích các
trường hợp có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra, thậm chí vi phạm tới mức cấu thành một
một vi phạm cơ bản để các bên tuyên bố huỷ hợp đồng.
Theo CISG, quyền từ chối nhận hàng của người mua được quy định trong trường
hợp người bán giao hàng trước thời hạn được xác định (Điều 52 (1)) hoặc người bán giao
hàng vượt quá số lượng (Điều 52 (2)). Luật thương mại Việt Nam cũng có các quy định về
quyền từ chối nhận hàng của người mua tại Điều 38 và Điều 43 khi người bán giao hàng
trước thời hạn đã thoả thuận và giao thừa hàng.
9 Xem Henry Gabriel. (2005). The Buyer’s Performance Under the CISG: Articles 53-60 Trends in the Decisions, 25
J.L. & Com. 273. p. 282-83.
10
Xem Peter Huber and Alastair Mullis. (2007). The CISG Textbook for Students and Practitioners. Sellier-European
Law Publishers. tr. 319.
11 CISG có đề cập tới cả 4 trường hợp này ở những mức độ và phạm vi khác nhau. Xem thêm Nguyễn Thị Thu Thảo
& Lê Trần Quốc Công. (2017). Nghĩa vụ nhận hàng và quyền từ chối nhận hàng hóa theo Công ước Liên hợp quốc
về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Tạp chí khoa học pháp lý Việt Nam. Số 07(110)/2017 - 2017.
cập lần cuối ngày 2/7/2021.
152
Ngoài các điều khoản nói trên, CISG có quy định rõ hơn tại Điều 86 về nghĩa vụ
bảo quản hàng hoá của người mua trong trường hợp người mua đã nhận hàng và có ý định
sử dụng quyền từ chối nhận hàng thì người mua phải áp dụng “các biện pháp hợp lý để bảo
quản chúng trong những tình huống như vậy” (“such steps to preserve them as are
reasonable in the circumstances”). Theo đó, nếu người mua có áp dụng “những biện pháp
hợp lý” để bảo quản hàng hoá và có phát sinh chi phí, người mua “có quyền giữ lại hàng
hóa cho tới khi nào người bán hoàn trả cho họ các chi phí hợp lý đó”.12Trong trường hợp,
hàng hóa gửi đi cho người mua “đã được đặt dưới quyền định đoạt của người này tại nơi
đến” và nếu người mua sử dụng quyền từ chối nhận hàng thì họ vẫn phải “giữ hàng hóa
nhân danh người bán” (“take possession of them on behalf of the seller”) với chi phí do
người bán chịu.13 Tất nhiên, người mua chỉ phải thực hiện nghĩa vụ này với điều kiện là
người mua có thể làm việc đó mà “không phải trả tiền hàng và không gặp trở ngại hay các
chi phí không hợp lý” (“without payment of the price and without unreasonable
inconvenience or unreasonable expense”), đồng thời người bán hoặc người đại diện hợp
pháp của người bán không thể hiện diện tại nơi đến để nhận lại hàng hóa của mình. Quy
định này được xây dựng dựa trên cơ sở của nguyên tắc thiện chí khi thực hiện hợp đồng.14
12
3.1. Quyền từ chối nhận hàng của người mua khi người bán giao hàng trước thời hạn
CISG
Luật thương mại 2005
Ðiều 52:
Điều 38. Giao hàng trước thời hạn đã
thỏa thuận
1. Nếu người bán giao hàng trước thời hạn
được xác định thì người mua được quyền Trường hợp bên bán giao hàng trước thời
hạn đã thỏa thuận, thì bên mua có quyền
12 Xem Điều 86 (1) CISG
13 Xem Điều 86 (2) của CISG
14 Xem Nguyễn Thị Thu Hiền. (2017). Nghĩa vụ của người mua trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo quy
định của CISG và pháp luật Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo “Thi hành Cꢀng ước về mua bán hàng (CISG) tại Việt Nam
và yêu cầu sửa đổi Luật Thương mại 2005 – Bài học kinh nghiệm từ Đức và Nhật Bản” Trường Đại học Luật Hà Nội
- Viện Friedrich Ebert Việt Nam, Hà Nội. tr. 58-59.
153
lựa chọn hoặc chấp nhận hoặc từ chối việc nhận hoặc không nhận hàng, nếu các bên
giao hàng đó. không có thoả thuận khác.
Có thể thấy CISG và Luật Thương mại 2005 đều quy định người mua có quyền lựa
chọn, chấp nhận hoặc từ chối nhận hàng, nếu người bán giao hàng trước thời hạn, dù cách
CISG và Luật thương mại 2005 sử dụng thuật ngữ có chút khác biệt khi CISG mô tả việc
giao hàng trước thời hạn được xác định (“before the date fixed”), còn Luật thương mại
2005 lại dùng cụm từ “giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận”. Ngoài ra, Luật thương mại
2005 có bổ sung thêm cụm từ không có trong quy định tương ứng của CISG, đó là “nếu
các bên không có thoả thuận khác”.
Trong CISG, quy định về quyền từ chối nhận hàng của người mua khi người bán
giao hàng trước thời hạn (Điều 52 (1)) có mối liên hệ chặt chẽ và cần được giải thích trong
mối tương quan với Điều 30 và Điều 33 của CISG. Điều 30 của CISG quy định chung rằng
người bán có nghĩa vụ giao hàng theo đúng thoả thuận trong hợp đồng và quy định của
Công ước, còn Điều 33 quy định cụ thể về thời hạn giao hàng. Về nguyên tắc, người bán
không có quyền giao hàng hóa trước thời hạn được xác định trừ trường hợp các bên thỏa
thuận đồng ý về thời hạn giao hàng có thể sớm hơn hoặc theo tập quán thương mại của các
bên đã thiết lập (Điều 9 CISG).
Trong Luật thương mại 2005, quy định về quyền từ chối nhận hàng của người mua
khi người bán giao hàng trước thời hạn (Điều 38) có mối liên hệ chặt chẽ và cần được giải
thích trong mối tương quan với Điều 34 và Điều 37. Nhóm tác giả cho rằng việc sử dụng
cụm từ “giao hàng trước thời hạn đã thoả thuận” trong Luật thương mại 2005 hiện nay là
chưa thống nhất hoặc có thể làm giới hạn các trường hợp được quy định tại Điều 34 và
Điều 37 khi hai điều khoản này đều nhắc tới trường hợp tuân theo quy định của pháp luật
nếu các bên “không có thỏa thuận cụ thể” thì “bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ
liên quan theo quy định của Luật này” (Khoản 2 Điều 34) hoặc nếu “không có thỏa thuận
về thời hạn giao hàng thì bên bán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao
kết hợp đồng” (Khoản 3 Điều 37).
154
Quy định về quyền từ chối nhận hàng của người mua khi người bán giao hàng trước
thời hạn là hợp lý. Bởi lẽ, việc giao hàng trước thời gian quy định có thể đặt người mua
vào tình trạng “bị động” trong việc chuẩn bị các điều kiện để tiếp nhận hàng hoá, làm phát
sinh các chi phí (như chi phí lưu kho bãi, bảo quản v.v) và phát sinh rủi ro v.v. Trường hợp
này cần được hiểu rằng, không phải người mua không nhận hàng (vi phạm nghĩa vụ hợp
đồng) mà là người mua mong muốn nhận hàng hoá khi đến đúng thời hạn theo thoả thuận.
Do đó, nếu người bán giao hàng trước thời hạn được xác định thì người mua có quyền chấp
nhận hoặc từ chối việc giao hàng sớm này. Sau khi người mua từ chối nhận hàng hoá giao
trước thời hạn thì người bán vẫn thực hiện nghĩa vụ giao hàng khi tới thời hạn giao hàng
theo quy định. Điều này dẫn đến việc người bán sẽ phải chịu thêm các chi phí để bảo quản,
lưu giữ hàng hóa giao trước thời hạn này, hoặc người bán cũng có thể phải tốn kém chi phí
vận chuyển hàng hóa về lại kho bãi của mình. Tuỳ từng trường hợp, người mua sẽ cân nhắc
và quyết định chấp nhận việc giao hàng trước thời hạn hay từ chối nhận hàng. Tuy nhiên,
có thể thấy nếu người mua chấp nhận việc giao hàng sớm trên tinh thần thiện chí mà vẫn
đạt được mục đích giao kết hợp đồng thì sẽ có thể giảm thiểu được tổn thất cho người bán
trong trường hợp họ giao hàng trước thời hạn được xác định. Với những từ ngữ trong quy
định tại Điều 52 (1) CISG và Điều 38 Luật thương mại 2005 thì rõ ràng khi lựa chọn sử
dụng quyền từ chối nhận hàng trước thời hạn, người mua sẽ không phải chứng minh rằng
việc chấp nhận hàng hóa sẽ gây ra những bất tiện cho họ. Nhưng dường như, quy định này
cần phải đặt trong mối liên hệ với nguyên tắc thiện chí khi thực hiện hợp đồng.15 Vì vậy
nên đặt ra giới hạn với quyền từ chối nhận hàng của người mua trong trường hợp người
bán giao hàng trước thời hạn được xác định nhưng người mua hoàn toàn có thể nhận hàng
và không gặp phải bất kì sự bất tiện hay chi phí phát sinh nào nếu họ chấp nhận việc giao
hàng sớm này.
3.2. Quyền từ chối nhận hàng của người mua khi người bán giao hàng vượt quá số
lượng
CISG
Luật thương mại 2005
15 Điều 7 (1) CISG: “(1) In the interpretation of this Convention, regard is to be had to its international character and
to the need to promote uniformity in its application and the observance of good faith in international trade”.
155
Ðiều 52:
Điều 43. Giao thừa hàng
2. Nếu người bán giao một số lượng nhiều hơn số lượng 1. Trường hợp bên bán giao
quy định trong hợp đồng, thì người mua có thể chấp thừa hàng thì bên mua có
nhận hay từ chối việc giao số lượng vượt quá, nếu quyền từ chối hoặc chấp nhận
người mua chấp nhận toàn bộ hoặc một phần số lượng
số hàng thừa đó.
vượt quá nói trên thì người mua phải trả tiền cho số
lượng hàng vượt quá được chấp nhận đó. Nếu người
2. Trường hợp bên mua chấp
mua chấp nhận toàn bộ hoặc một phần số lượng vượt
nhận số hàng thừa thì phải
quá nói trên thì người mua phải trả tiền hàng vượt quá
thanh toán theo giá thoả thuận
theo giá hợp đồng quy định.
trong hợp đồng nếu các bên
không có thoả thuận khác.
Có thể thấy CISG và Luật Thương mại 2005 đều quy định người mua có quyền lựa
chọn, chấp nhận hoặc từ chối số lượng hàng vượt quá, nếu người bán giao hàng vượt quá
số lượng. Điều này có nghĩa là, đối với số lượng hàng hóa giao đúng quy định hợp đồng
(bao gồm cả số lượng giao đúng khoảng dung sai trong các hợp đồng có thoả thuận dung
sai, ví dụ +/- 5%), người mua vẫn phải có nghĩa vụ nhận số lượng hàng hóa giao đúng quy
định đó. Nếu không, hành vi không nhận hàng của người mua có thể cấu thành một vi phạm
hợp đồng. Quyền từ chối nhận hàng của người mua trong trường hợp này, nếu có, là áp
dụng đối với số lượng hàng giao vượt quá. Người mua cũng có thể cân nhắc và chấp nhận
số lượng hàng vượt quá này. Nếu người mua chấp nhận toàn bộ hoặc một phần số lượng
hàng vượt quá thì người mua phải trả tiền cho số lượng hàng vượt quá được chấp nhận đó,
cơ bản là theo giá quy định trong hợp đồng.
Ngoài những điểm tương đồng, quy định của CISG và Luật thương mại 2005 về vấn
đề này cũng có chút khác biệt. Trong khi CISG mô tả chi tiết việc giao hàng vượt quá số
lượng “giao một số lượng nhiều hơn số lượng quy định trong hợp đồng” (“a quantity of
goods greater than that provided for in the contract”) thì Luật thương mại 2005 lại dùng
156
cụm từ “giao thừa hàng” và không có bất kỳ sự giải thích cụ thể nào.1614 Ngoài ra, Luật
thương mại 2005 có quy định thêm so với CISG, đó là “nếu các bên không có thoả thuận
khác” khi quy định về việc thanh toán cho số lượng hàng vượt quá được người mua chấp
nhận. Trong khi CISG quy định đơn giá thanh toán cho số lượng hàng hóa vượt quá mà
người mua chấp nhận này là giá của hợp đồng quy định, không phụ thuộc vào giá trên thị
trường tăng hay giảm thì Luật thương mại 2005 để ngỏ một khả năng khác cho các bên
thoả thuận lại về đơn giá áp dụng với số lượng hàng giao vượt quá này, không nhất thiết
phải là giá quy định trong hợp đồng ban đầu. Quy định này của Luật thương mại 2005 theo
nhóm tác giả là hợp lý.
Về nguyên tắc, để người mua có thể từ chối số lượng hàng vượt quá thì số lượng
hàng vượt quá này cần phải tách rời được so với khối lượng hàng giao đúng quy định. Tuy
nhiên, có một vấn đề mà cả CISG lẫn Luật thương mại 2005 đều chưa có quy định rõ ràng,
đó là trường hợp người bán giao hàng vượt quá số lượng nhưng số lượng hàng vượt quá
đó lại không thể tách rời khỏi số lượng hàng giao đúng quy định mà người mua muốn tiếp
nhận. Trong trường hợp này, thay vì sử dụng quyền từ chối nhận hàng đối với số lượng
hàng vượt quá, tuỳ vào tình huống cụ thể, người mua có thể yêu cầu giao hàng thay thế,
hoặc tuyên bố huỷ hợp đồng nếu chứng minh được việc giao hàng quá số lượng đã cấu
thành một vi phạm cơ bản.17
4. Bình luận và kiến nghị
Với sự ra đời của Bộ luật dân sự 201518 và Luật quản lý ngoại thương 201719 cùng
các yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, việc hoàn thiện Luật Thương
mại 2005 là cần thiết. Đối với các quy định về nghĩa vụ nhận hàng và quyền từ chối nhận
hàng của người mua trong hợp đồng mua bán hàng hoá, như đã phân tích tại mục 1 và 2,
về cơ bản, nội dung của Luật Thương mại 2005 và CISG là tương đồng.
16 “Giao thừa hàng” có thể là giao vượt quá số lượng của cùng một loại hàng hoá là đối tượng của hợp đồng mua bán
hoặc có thể là giao thêm một loại hàng hoá khác ngoài hàng hoá là đối tượng của hợp đồng mua bán.
17 Xem thêm Peter Huber and Alastair Mullis. (2007). The CISG Textbook for Students and Practitioners. Sellier-
European Law Publishers. tr. 300.
18 Bộ luật dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 24/11/2015.
19 Luật quản lý ngoại thương được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/6/2017.
157
Trên cơ sở kết quả của nghiên cứu so sánh, để hoàn thiện Luật thương mại 2005 và
hạn chế rủi ro cho thương nhân Việt Nam khi thực hiện nghĩa vụ nhận hàng và quyền từ
chối nhận hàng của người mua trong hợp đồng mua bán hàng hoá, nhóm tác giả có một số
bình luận và kiến nghị như sau:
Thứ nhất, việc hoàn thiện các quy định của Luật thương mại 2005 về nghĩa vụ nhận
hàng và quyền từ chối nhận hàng của người mua trong hợp đồng mua bán hàng hoá cần
phải đặt trong mối tương quan với Bộ luật dân sự 2015 và Luật quản lý ngoại thương
201720. Các quy định liên quan trong Bộ luật dân sự 2015 tại các Điều 278, Khoản 1 và
Khoản 2 Điều 434 và Khoản 1 Điều 437 đều có thể vận dụng cho hợp đồng thương mại
mà không cần quy định lại trong Luật thương mại. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự 2015, trong
nội dung quy định về trường hợp “giao hàng trước thời hạn” thì không nêu rõ quyền từ
chối nhận hàng của người mua mà chỉ sử dụng cách diễn đạt (mang tính suy luận về việc
người mua có quyền từ chối nhận hàng) như “bên có quyền đã chấp nhận việc thực hiện
nghĩa vụ” (Khoản 2 Điều 278) hay phải “được bên mua đồng ý” (Khoản 1 Điều 434). Điều
này cũng có thể dẫn tới những khó khăn trong việc áp dụng đối với những hợp đồng mua
bán hàng hoá có giá trị lớn, đặc biệt là các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Vậy nếu
người mua “không đồng ý” thì xử lý như thế nào? Người mua có phải thông báo về việc từ
chối nhận hàng của họ với người bán hay không? Nếu có, thì nghĩa vụ thông báo đó phải
được thực hiện như thế nào? Người mua có phải giữ và bảo quản hàng hoá không và với
chi phí do ai chịu? v.v. Các nội dung này chưa được quy định rõ ràng. Ngoài ra, Bộ luật
dân sự 2015 cũng không có quy định rõ về nghĩa vụ nhận hàng bao gồm cả nghĩa vụ tiếp
nhận hàng và nghĩa vụ thực hiện những công việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng nên
nội dung này cần tiếp tục được quy định trong Luật thương mại.
Theo nhóm tác giả, trong trường hợp các nhà làm luật muốn sửa Luật thương mại
để làm rõ hơn những quy định về nghĩa vụ nhận hàng và quyền từ chối nhận hàng của
người mua trong hợp đồng mua bán hàng hoá thì nên tập trung vào một số vấn đề như:
20 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều
của Luật quản lý ngoại thương, trong đó có các quy định hướng dẫn chi tiết về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế
nhưng chủ yếu là về thủ tục và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất,
tạm xuất tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh v.v.
158
(i) Nên sửa cụm từ “giao hàng trước thời hạn đã thoả thuận” trong Điều 38 Luật
thương mại 2005 thành “giao hàng trước thời hạn được xác định”;
(ii) Nội dung về nghĩa vụ nhận hàng (hiện được quy định tại Điều 56 Luật thương
mại 2005) nên quy định rõ là “Bên mua có nghĩa vụ tiếp nhận hàng hoá theo thoả thuận
và thực hiện những công việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng” để có sự phân biệt rõ
ràng nghĩa vụ nhận hàng (bao gồm cả nghĩa vụ thực hiện những công việc hợp lý để
giúp bên bán giao hàng) với nghĩa vụ tiếp nhận hàng (chỉ là một nghĩa vụ được bao gồm
trong nghĩa vụ nhận hàng);
(iii) Xác định cách tiếp cận trong việc quy định quyền từ chối nhận hàng của người
mua đối với trường hợp “giao hàng trước thời hạn” và “giao hàng vượt quá số lượng”.
Quyền từ chối này là “tuyệt đối” hay chỉ là “tương đối” (quyền từ chối được thực hiện
với những điều kiện nhất định (ví dụ phải thông báo kịp thời cho người bán trong một
khoảng thời gian hợp lý v.v) hoặc có những giới hạn nhất định (ví dụ những trường hợp
người mua không được từ chối nhận hàng như việc giao hàng trước thời hạn là hợp lý,
người mua hoàn toàn có khả năng nhận hàng tại thời điểm giao sớm đó và việc nhận
hàng trước thời hạn không gây ra bất kỳ sự bất tiện hay chi phí phát sinh nào cho người
mua v.v)? Nếu cách tiếp cận quyền từ chối nhận hàng chỉ là “tương đối” thì nên quy
định cụ thể về điều kiện thực hiện quyền và các giới hạn, nếu có. Ví dụ: người mua phải
có nghĩa vụ thông báo ngay hoặc trong một khoảng thời gian hợp lý cho người bán nếu
người mua từ chối nhận hàng hoặc chỉ chấp nhận một phần số lượng hàng hoá giao vượt
quá; người mua phải có nghĩa vụ bảo quản hàng hoá với chi phí do người bán chịu v.v;
(iv) Làm rõ khái niệm “giao thừa hàng” theo hướng quy định thống nhất với Bộ
luật dân sự 2005 và tương tự như CISG là “giao số lượng nhiều hơn số lượng quy định
trong hợp đồng”;
(v) Nên có quy định cụ thể đối với trường hợp người bán giao hàng vượt quá số
lượng nhưng số lượng vượt quá lại không thể tách rời với số lượng hàng giao đúng quy
định thì người mua có quyền yêu cầu người bán giao hàng thay thế hoặc tuyên bố huỷ
hợp đồng nếu việc giao hàng vượt quá số lượng đã cấu thành một vi phạm cơ bản;
159
(vi) Xây dựng các quy định về nghĩa vụ nhận hàng và quyền từ chối nhận hàng của
người mua trong hợp đồng mua bán hàng hoá trong mối liên hệ với việc tuân thủ nguyên
tắc thiện chí trong thực hiện hợp đồng.
Thứ hai, tăng cường nghiên cứu, sử dụng án lệ để bổ sung cho các quy định của
Luật Thương mại và phù hợp với xu thế giải quyết các tranh chấp về hợp đồng trong thực
tiễn thương mại ở Việt Nam và trên thế giới.
Các quy định của pháp luật luôn đối diện với nguy cơ “lạc hậu” so với thực tiễn cho
dù nó được soạn thảo công phu, kỹ lưỡng bởi những chuyên gia hàng đầu đi chăng nữa.
Không những thế, trong pháp luật về hợp đồng, có rất nhiều khái niệm, thuật ngữ không
thể quy định một cách chi tiết mà cần được giải thích theo từng trường hợp cụ thể (case by
case), ví dụ “khoảng thời gian hợp lý”, “một cách hợp lý” v.v. Các quy định này cũng sẽ
tạo điều kiện cho các thương nhân linh hoạt hơn trong những thoả thuận của họ, tôn trọng
quyền tự do của thương nhân khi giao kết hợp đồng và tăng cường khả năng tranh tụng cho
giới luật sư. Vì vậy, để giải thích những thuật ngữ này, ngoài việc giải thích luật theo đúng
quy định, còn cần thừa nhận, xây dựng, sử dụng nhuần nhuyễn và hiệu quả các nguyên tắc
pháp lý và hệ thống án lệ.
5. Kết luận
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, người mua có nghĩa vụ nhận hàng và cũng có
quyền từ chối nhận hàng khi người bán giao hàng trước thời hạn hoặc giao hàng vượt quá
số lượng theo quy định. Quyền từ chối nhận hàng của người mua trong trường hợp người
bán giao hàng trước thời hạn không dẫn đến việc hủy hợp đồng nên nghĩa vụ giao hàng lại
vào đúng thời hạn của người bán vẫn tồn tại và khi đó, người mua có nghĩa vụ nhận hàng.
Tương tự, trong trường hợp người bán giao số lượng hàng hóa nhiều hơn quy định của hợp
đồng, người mua có quyền chấp nhận hoặc từ chối số lượng hàng hóa vượt quá. Người mua
phải nhận số lượng hàng hóa đúng theo hợp đồng và chỉ được quyền từ chối số lượng hàng
hóa vượt quá mà không có quyền từ chối toàn bộ số lượng hàng hóa đã giao. Một lưu ý là
quyền từ chối nhận hàng của người mua có thể bị hạn chế bởi thói quen thương mại của
các bên hoặc bởi nguyên tắc thiện chí. Quy định của CISG và Luật thương mại 2005 về
nghĩa vụ nhận hàng và quyền từ chối nhận hàng của người mua khi người bán giao hàng
trước thời hạn hoặc giao hàng vượt quá số lượng quy định, về cơ bản, là tương đồng nhưng
160
cũng có một số sự khác biệt. Cần lưu ý là CISG không đặt ra yêu cầu bắt buộc đối với các
quốc gia thành viên phải sửa đổi pháp luật về hợp đồng, bao gồm cả Luật thương mại, để
tương thích hoàn toàn với quy định của Công ước. Do đó, bài viết này tiến hành một nghiên
cứu so sánh để nhận diện những điểm giống và khác biệt trong quy định của hai nguồn
luật, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện Luật thương mại của Việt Nam cho phù hợp với
thông lệ quốc tế, đồng thời có những đề xuất giúp hạn chế rủi ro cho thương nhân Việt
Nam khi thực hiện nghĩa vụ nhận hàng và quyền từ chối nhận hàng của người mua trong
hợp đồng mua bán hàng hoá./.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Văn bản pháp luật Việt Nam
1. Bộ luật dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua
ngày 24/11/2015.
2. Luật quản lý ngoại thương được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thông qua ngày 12/6/2017.
3. Luật Thương mại được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua
ngày 14/6/2005.
4. Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số
điều của Luật quản lý ngoại thương.
5. Quyết định số 2588/2015/QĐ-CTN ngày 24/11/2015 của Chủ tịch nước về việc gia
nhập Công ước của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Điều ước quốc tế
6. Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về mua bán hàng hoá quốc tế (CISG).
Tài liệu tham khảo khác
161
Tiếng Việt
7. Nguyễn Thị Thu Hiền. (2017). Nghĩa vụ của người mua trong hợp đồng mua bán hàng
hoá quốc tế theo quy định của CISG và pháp luật Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo “Thi hành
Cꢀng ước về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) tại Việt Nam và yêu cầu sửa đổi Luật
Thương mại 2005 – Bài học kinh nghiệm từ Đức và Nhật Bản”, Trường Đại học Luật
Hà Nội - Viện Friedrich Ebert Việt Nam, Hà Nội.
8. Nguyễn Thị Thu Thảo & Lê Trần Quốc Công. (2017). Nghĩa vụ nhận hàng và quyền từ
chối nhận hàng theo Công ước Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Tạp chí khoa học pháp lý Việt Nam. Số 07(110)/2017 - 2017.
4966-b354-4834eea0acba.
Tiếng Anh
9. Adam Newhouse & Tanaka Tsuneyoshi. (2013). CISG – A Tool for Globalization (2):
American and Japanese Perspectives. Ritsumeikan Law Review 30.
10. Henry Gabriel. (2005). The Buyer’s Performance Under the CISG: Articles 53-60
Trends in the Decisions, 25 J.L. & Com. 273.
11. Peter Huber and Alastair Mullis. (2007). The CISG Textbook for Students and
Practitioners. Sellier- European Law Publishers.
162
Bạn đang xem tài liệu "Một số khía cạnh so sánh và bình luận các quy định của cisg và luật thương mại Việt Nam về nghĩa vụ nhận hàng và quyền từ chối nhận hàng của người mua", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_khia_canh_so_sanh_va_binh_luan_cac_quy_dinh_cua_cisg.pdf

